1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật

99 1,9K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 507,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng dân tộc là một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. Như một lẽ tất yếu trong truyền thống văn học của dân tộc, thơ đã trở thành vũ khí tinh thần, thành sức mạnh tham gia vào cuộc chiến đấu gắn bó với vận mệnh đất nước, của nhân dân. Có thể nói chưa bao giờ thơ lại phát triển rực rỡ như thời kỳ này, Có rất nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc các tầng lớp, các thế hệ khác nhau, trong và ngoài quân đội đã viết về cuộc sống của con người trong chiến tranh. 2. Cho đến nay đã có một số bài viết về tác phẩm và tác giả Phạm Tiến Duật đăng trên các tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí văn học hoặc các bài viết trong một số giáo trình, sách tham khảo về văn học giai đoạn 45 – 75. Nhiều bài viết đã đi vào tìm hiểu thơ Phạm Tiến Duật trên phương diện nội dung, nghệ thuật,... Tuy nhiên ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật đặc biệt là phong cách ngôn ngữ của thơ ông chưa được khảo sát miêu tả, khái quát một cách cụ thể. 3. Thơ Phạm Tiến Duật đã được chọn vào giảng dạy trong nhà trường (“Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, lớp 9). Cho nên, nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật đặc biệt là phong cách ngôn ngữ thơ của ông cũng góp phần vào việc dạy học thơ Phạm Tiến Duật của giáo viên và học sinh tốt hơn. Trên đây là những lý do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật. Hy vọng sẽ giúp chúng ta hiểu được đầy đủ hơn về một nhà thơ _ chiến sỹ Phạm Tiến Duật.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 3

I Lý do chọn đề tài 3

II Lịch sử vấn đề 4

III Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 6

IV Phương pháp nghiên cứu 7

V Đóng góp của đề tài 7

VI Cấu trúc của đề tài 7

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 8

1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ 8

1.1.1 Khái niệm thơ 8

1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 10

1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ 12

1.1.4 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ 19

1.2 Phạm Tiến Duật – cuộc đời và thơ văn 20

1.2.1 Cuộc đời Phạm Tiến Duật 20

1.2.2 Thơ và sáng tác của Phạm Tiến Duật 22

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC 24

2.1 Đặc điểm về các thể thơ 24

2.1.1 Thể thơ 5 chữ 25

2.1.2 Thể thơ 7, 8 chữ 27

2.1.3 Thể thơ lục bát 31

2.1.4 Thể thơ tự do 33

2.2 Đặc điểm về ngữ âm trong thơ Phạm Tiến Duật 37

2.2.1 Âm điệu 37

2.2.2 Vần điệu 40

2.2.3 Nhịp điệu 48

2.3 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong thơ Phạm Tiến Duật 53

2.3.1 Đặc điểm về tiêu đề 53

2.3.2 Đặc điểm về dòng thơ, câu thơ 55

2.3.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 57

2.3.4 Một số kiểu mở đầu và kết thúc bài thơ 58

2.4 Các biện pháp tu từ đặc sắc trong thơ Phạm Tiến Duật 62

2.4.1 Phép so sánh 62

2.4.2 Phép điệp ngữ 68

Tiểu kết 72

CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN NGỮ NGHĨA 73

3.1 Đặc điểm về các lớp từ ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật 73

3.1.1 Lớp từ chỉ địa danh 73

3.1.2 Lớp từ chỉ đất nước 76

Trang 2

3.1.3 Lớp từ chỉ kháng chiến 77

3.1.4 Lớp từ chỉ màu sắc 79

3.1.5 Lớp từ chỉ anh, em 81

3.2 Một số hình tượng tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật 82

3.2.1 Khái niệm hình tượng thơ 82

3.2.2 Những hình tượng tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật 85

Tiểu kết 93

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 3

MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng dân tộc là một trong những cuộckháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta Như một lẽtất yếu trong truyền thống văn học của dân tộc, thơ đã trở thành vũ khí tinh thần,thành sức mạnh tham gia vào cuộc chiến đấu gắn bó với vận mệnh đất nước, củanhân dân Có thể nói chưa bao giờ thơ lại phát triển rực rỡ như thời kỳ này, Có rấtnhiều nhà thơ, nhà văn thuộc các tầng lớp, các thế hệ khác nhau, trong và ngoàiquân đội đã viết về cuộc sống của con người trong chiến tranh

Mỗi nhà thơ, bằng nỗ lực của mình, đã đem đến một cách nhìn, một cáchviết, một phong cách riêng Nhiều nhà thơ (của thế hệ đi trước) đã tập trung khámphá đề tài về Tổ quốc trong bề rộng của không gian, trong chiều dài của thời gian.Cuộc kháng chiến chống Mỹ được cảm nhận như một cuộc ra quân hùng hậu “Bốnmươi thế kỷ cùng ra trận”, mang sức mạnh, khí thế của “Bốn nghìn năm dồn lạihôm nay” Có người đã bình luận rất thông minh, sắc sảo về chiến tranh, nói tới tầmvóc thời đại, ý nghĩa nhân loại của nó, Tuy vậy, bức tranh toàn cảnh về cuộckháng chiến chống Mỹ vẫn còn khuyết đi một mảng hiện thực rất cần được bổ sung.Người đọc chờ đợi sự xuất hiện của các nhà thơ “trực tiếp” cầm súng, “thật sự”xông vào nơi đạn bom, để tự nói về mình, nói về những đồng đội của mình, qua đó

có thể thấy được gương mặt tinh thần chung của cả thế hệ trẻ cầm súng thời chốngMỹ Giữa lúc đó, Phạm Tiến Duật xuất hiện, đem đến cho nền thơ hiện đại ViệtNam một tiếng nói mới

Ta đi hôm nay đã không là sớm

Đất nước hành quân mấy chục năm rồi

Ta đến hôm nay cũng không là muộn Đất nước, còn đánh giá chưa thôi

Vì vậy, nghiên cứu thơ chống Mỹ luôn là một đòi hỏi của bạn đọc, và đặcbiệt là nhà thơ chiến sĩ như Phạm Tiến Duật, chắc chắn sẽ thu hút được nhiều sựquan tâm

Trang 4

2 Cho đến nay đã có một số bài viết về tác phẩm và tác giả Phạm Tiến Duậtđăng trên các tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí văn học hoặc các bài viết trongmột số giáo trình, sách tham khảo về văn học giai đoạn 45 – 75 Nhiều bài viết đã đivào tìm hiểu thơ Phạm Tiến Duật trên phương diện nội dung, nghệ thuật, Tuynhiên ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật đặc biệt là phong cách ngôn ngữ của thơ ôngchưa được khảo sát miêu tả, khái quát một cách cụ thể.

3 Thơ Phạm Tiến Duật đã được chọn vào giảng dạy trong nhà trường (“Bàithơ về tiểu đội xe không kính”, lớp 9) Cho nên, nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duậtđặc biệt là phong cách ngôn ngữ thơ của ông cũng góp phần vào việc dạy học thơPhạm Tiến Duật của giáo viên và học sinh tốt hơn

Trên đây là những lý do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: Đặc

điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật Hy vọng sẽ giúp chúng ta hiểu được đầy đủ

hơn về một nhà thơ _ chiến sỹ Phạm Tiến Duật “ Con chim lửa của Trường Sơn

huyền thoại”, “Cây xăng lẻ của rừng già”, “Nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ”.

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Có thể nói Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ cathời kỳ kháng chiến chống Mỹ Tuy nhiên qua tìm hiểu tôi thấy có khá ít công trìnhnghiên cứu về con người và thơ của ông Chưa có một cuốn sách nào mà toàn bộcuốn sách chỉ để viết về ông Chúng ta chỉ có thể tìm một số bài viết tương đối ngắn

về ông trong những cuốn sách viết chung với các nhà thơ, nhà văn khác Các bàiviết đó chủ yếu là nghiên cứu dưới góc độ nghiên cứu văn học Cụ thể như sau:

Trong “Văn học Việt Nam hiện đại – tác giả, tác phẩm”, Lưu Khánh Thơtuyển chọn, (NXB ĐHSP, 2006), tác giả Trần Đăng Xuyền với bài viết “Phong cách

thơ Phạm Tiến Duật” đã có những nhận xét về thơ ông như sau: “Thơ Phạm Tiến

Duật đưa người đọc đi vào giữa hiện thực của chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất Thơ anh đã phản ánh được một phần không khí khẩn trương, dồn dập, khốc liệt, sôi động và hào hùng của những năm tháng sôi sục đánh Mỹ” [41; tr 43]

Trang 5

Còn ở “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”, nhiều tác giả (NXB KHXH, Hà Nội,

1984), cũng có những nhận xét xác đáng về thơ Phạm Tiến Duật: “Thơ anh là thơ

viết về chiến trường, lấy đời sống chân thực ở chiến trường làm cốt lỏi Phạm Tiến Duật không né tránh bất kỳ loại chất liệu hiện thực nào, thơ anh không sợ sự thô ráp, bụi bặm, nó không cần một thủ pháp mĩ lệ hóa nào lại, hăm hở và táo bạo Phạm Tiến Duật cố ý chuyển tất cả những hiện thực ông đã trải qua vào thơ Thơ ông do vậy rất gắn bó với đời sống”[42; tr 531]

Với công trình nghiên cứu “ Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại” của tác giả

Mã Giang Lân (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000) lại nhận định: “Các nhà thơ trẻ, từ

thực tế chiến tranh đã có nhiều tứ thơ độc đáo: Phạm Tiến Duật có “ Vầng trăng và những quầng lửa” ” [27; tr 342]

“ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, đáng yêu, có cái say sưa, khinh

nhường nguy hiểm mà không có chút gì là phiêu lưu mạo hiểm” [27; tr 293]

“Lửa đèn đã mở rộng trí tưởng tượng, đã đào sâu, nhào nặn hiện thực, làm nên tương lai” [27; tr 325].

Giáo trình “Văn học Việt Nam hiện đại” (Tập 2), Nguyễn Văn Long chủ biên

(NXB Đại học Sư Phạm) cho rằng: “thơ của Phạm Tiến Duật được coi như “một

bảo tàng tươi sống” về Trường Sơn (Đồ Trung Lai) trong những năm chống Mỹ”.

[44; tr 103]

“ cái giọng thơ như lời nói thường, tài hoa thông minh, tinh nghịch, pha chút ngất ngưỡng, ngang tàng của Phạm Tiến Duật” [44; tr 120]

Trong cuốn “thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại”, tác giả Hà

Minh Đức (NXB Giáo dục, 1998) lại viết: “Phạm Tiến Duật đã giữ lại cách nghĩ,

cách nói “văn xuôi” mộc mạc, nhưng lại chân thực, sinh động và sát đúng với đối tượng miêu tả” [45; tr 31]

Tạp chí “Quân đội nhân dân”, tháng 12 năm 2007, nhà văn Nguyễn Văn Thọ

đã đánh giá về Phạm Tiến Duật: “đọc thơ Phạm Tiến Duật , người ta thấy rõ chân

dung đa diện của con người Trường Sơn, từ những người coi kho đến công binh, thanh niên xung phong, chiến sĩ cao xạ, những chiến sĩ lái xe, mọi thành phần có

Trang 6

mặt trên đường đều được Phạm Tiến Duật khắc họa bằng thơ, chính điều đó đã làm tăng thêm sự lan tỏa của thơ anh Những người lính, đủ mọi thành phần, nhận ra chính họ trong đó và đấy là điều cốt tử để thơ Phạm Tiến Duật mau chóng trở thành một sinh thể có sức sống rất lâu trong tâm hồn của nhiều người Cho mãi tới sau này, khi cuộc chiến đã ngưng, thơ Phạm Tiến Duật vẫn khôn nguôi ám ảnh, giành biết bao nhiêu tình sâu nghĩa nặng cho đồng đội của anh một thời”.

[51; tr27]

Với “thơ ca cách mạng Việt Nam – giai đoạn 1945 – 1975” (Những tác giả,tác phẩm dùng trong nhà trường) do hai tác giả Nguyễn Giao Cư và Hồ Quốc Nhạc

tuyển chọn (NXB Đồng Nai) lại nói về thơ Phạm Tiến Duật như sau: “tiếng thơ của

người chiến sĩ hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn cất lên hào hùng, trẻ tráng và hồn nhiên kì lạ Thơ Phạm Tiến Duật thể hiện hình ảnh thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chống Mỹ qua những hình tượng cô gái thanh niên xung phong, anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn ” [46; tr 139]

Hiện nay trên các báo điện tử cũng đăng một số bài viết của các nhà nghiêncứu về thơ Phạm Tiến Duật như: Đặng Tiến (Đồng chí, Từ núi đôi đến TrườngSơn), Nguyễn Văn Thọ (Phạm Tiến Duật – đây là một con đường), Lê Thị ThanhBình (nhà thơ Phạm Tiến Duật phiêu bạt cùng số phận)

Từ các bài viết trên, một điều dễ nhận ra là thơ Phạm Tiến Duật chủ yếuđược nghiên cứu về nội dung và thường nghiên cứu từng tác phẩm cụ thể, hoặcriêng lẻ từng tập thơ Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đisâu khảo sát đặc điểm thơ Phạm Tiến Duật một cách hoàn chỉnh, toàn diện về cả nộidung lẫn hình thức để đem đến cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về thơ PhạmTiến Duật

III ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này tập trung khảo sát ngôn ngữ trong các tác phẩm thơ của PhạmTiến Duật

Trang 7

Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật về phương diện hìnhthức : về thể thơ, về ngữ âm, về cách tổ chức bài thơ và một số biện pháp tu từ đặcsắc

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật về phương diện ngữnghĩa, ngữ pháp : các lớp từ và các hình tượng nghệ thuật tiêu biểu

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI TƯ LIỆU

1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê – phân loại: dùng khi khảo sát nguồn tư liệu theotừng vấn đề cụ thể

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: làm sáng tỏ từng luận điểm, khái quátthành các đặc điểm cơ bản

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: so sánh đối chiếu với các nhà văn khác

về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phong cách ngôn ngữPhạm Tiến Duật

2 Phạm vi tư liệu

Tư liệu chúng tôi chọn để khảo sát là tập thơ “Vầng trăng và những

quầng lửa” gồm 57 bài (Nhà xuất bản văn học Hà Nội – 1983).

V ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Có thể nói đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm ngônngữ thơ Phạm Tiến Duật một cách toàn diện cả phương diện nội dung lẫn phươngdiện hình thức

VI CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

- Chương I: Những vấn đề chung

Trang 8

- Chương II: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật xét về phương diệnhình thức

- Chương III: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật xét về phương diệnngữ nghĩa

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ

1.1.1 Khái niệm thơ

Trong sự phát triển của văn học nhân loại, thơ là loại thể ra đời sớm hơn cả

và liên tục phát triển mãi cho tới ngày nay Ở nhiều dân tộc trong một thời giantương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ Vì thế trong lịch sửvăn học của nhiều dân tộc từ thế kỷ XVIII trở về trước, nói đến thơ ca là nói đếnvăn học

Vậy thơ là gì? Đã có rất nhiều ý kiến, nhiều quan niệm, nhiều định nghĩađược đưa ra để trả lời cho câu hỏi đó nhưng hầu như các định nghĩa chưa đi đếnthống nhất và chưa có một tiếng nói chung Điều này khá dễ hiểu vì hình như mỗinhà thơ hay mỗi nhà nghiên cứu phê bình về thơ đều có cách định nghĩa riêng Tuynhiên cũng có nhà thơ bất lực trước vấn đề này Nhà thơ Bungari Blaga Đimitrova

viết trong “Ngày phán xử cuối cùng”: “Ôi nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi

chẳng đau khổ thế này”.[17;tr15]

Trước hết chúng ta điểm qua các quan niệm về thơ của các tác giả thời trung

đại Lý luận thơ xưa đã nhấn mạnh “Thi dĩ ngôn chí” như một đặc điểm của thể loại này Phan Phu Tiên trong “Việt âm thi tập Tân San” đã viết: “Trong lòng có điều gì

tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy” Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết tập

thơ “Bạch Vân am” của mình đã nói rõ hơn nội dung của chí: “Có kẻ chí để ở đạo

đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự ẩn dật” Nguyễn Trãi lại nói đến

chí của mình trong thời kỳ ông tham gia kháng chiến chống quân Minh là ở sự

nghiệp cứu nước Có thể nói nguyên tắc “Thi ngôn chí” (thơ nói chí) là nguyên tắc

mỹ học cổ đại mang chức năng giáo hóa Nhưng ở mỗi hoàn cảnh lịch sử, mỗi giai

Trang 9

đoạn mà chức năng của thơ có thể thay đổi, thơ có thể mang chức năng phản ánhnhận thức, thơ phản ánh chí hướng, tình cảm, con người, cuộc sống

Đầu thế kỷ XX đời sống xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc Từ đây xuất hiệnmột lớp người mới với cuộc sống mới, suy nghĩ mới và tình cảm mới Bắt đầu từTản Đà rồi tiếp đến là các nhà thơ mới (1932 – 1945) đã đem đến một luồng sinhkhí mới với những đổi mới, cách tân táo bạo làm thay đổi diện mạo và làm nênthành công rực rỡ của nền thơ ca nước nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ ca vềnội dung Tất nhiên nhiều định nghĩa về thơ cũng sẽ xuất hiện

Thế Lữ cho rằng: “Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm ở bất cứ trường hợp

nào” Lưu Trọng Lư thì cho: “Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít mà ý nhiều và nếu cần phải tối nghĩa vì thi nhân không xuất hiện một cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh” Cực đoan hơn là ý kiến của Hàn Mạc

Tử “Làm thơ tức là điên” Có thể thấy trong thời kỳ này, các định nghĩa về thơ

phần nào đó có những yếu tố rất cơ bản từ những quan niệm của trường phái thơtượng trưng và siêu thực ở Pháp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Họ thường lýtưởng hóa hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ ca và hiện thực cuộc sống Kiểu

như: “thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tươi

đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong tự nhiên” (La Martin).

Sau cách mạng tháng Tám nhất là sau năm 1954 chúng ta lại có điều kiệntiếp xúc với nhiều ý kiến và quan niệm về thơ Trước hết thơ là tiếng nói tâm hồn, làsợi dây tình cảm ràng buộc con người với con người, là hành trình ngắn nhất đi đến

con tim Quan niệm này được thể hiện rõ trong các định nghĩa sau: “Thơ là một tâm

hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”, “Thơ là tiếng nói tri âm” (Tố Hữu) Hoặc

quan niệm thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con người “Thơ biểu hiện cuộc sống

một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống” (Lưu Trọng Lư).

Tiêu biểu cho các định nghĩa về thơ trong giai đoạn này có thể thấy là định

nghĩa của giáo sư Phan Ngọc Trong bài viết “Thơ là gì” tác giả đã nêu lên: “Thơ là

một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ phải

Trang 10

cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này” [33; tr 23] Đây là cách định nghĩa khá lạ so

với thông thường, một cách định nghĩa theo hướng cấu trúc ngôn ngữ Ý kiến nàyđối lập hẳn thơ với cuộc sống hằng ngày và với cả văn xuôi

Nói rằng hình thức ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là nói rằng trong ngôn ngữgiao tiếp không ai tổ chức như thế Ngôn ngữ hằng ngày không tổ chức theo âm tiết,vần, nhịp,

Định nghĩa trên của Giáo sư Phan Ngọc phần nào gặp gỡ quan niệm của tác

giả R.Jakobson (1896 – 1982) Jakobson đã xác định và chứng minh rằng : “Mỗi

chữ trong thơ đều bị biến tính, biến dạng, tức là bị “bóp méo” đi, so với ngôn ngữ hàng ngày” Làm thơ tạo ra một cấu trúc ngôn ngữ đặc dị, trái khoáy, khác thường.

Và chính ở sự khác thường biến dạng đó, nó mới gây “bất ngờ”

Trên đây là những quan niệm, định nghĩa về thơ của tác giả từ thời kỳ Trungđại đến Hiện đại Cuối cùng trong đề tài này chúng tôi xin nêu ra một định nghĩa đểtham khảo khi nghiên cứu về thơ, đó là định nghĩa của nhóm các nhà nghiên cứu

phê bình văn học gồm: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Thơ là hình

thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [15; tr

254]

Định nghĩa này đã nêu rõ thơ thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm xúc, cô đọng

Đặc biệt định nghĩa cũng đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của thơ “sáng tác văn

học bằng ngôn ngữ có nhịp điệu” Đây chính là điểm khác biệt rõ nhất thơ và văn

xuôi Nhịp điệu chính là linh hồn của thơ, có thể nói, thơ là văn bản được tổ chứcbằng nhịp điệu

1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Thơ ca là hiện tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máy nghiêncứu của nó Thơ ca khác với văn xuôi ở chỗ nó là thể loại chỉ dùng một lượng hữuhạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện

tự nhiên và xã hội cũng như tâm sự, tình cảm của cá nhân con người Do đó, thơ ca

như giáo sư Phan Ngọc đã nhận xét “Là một thể loại có hình thức ngôn ngữ quái

Trang 11

đản” Rõ ràng ngôn ngữ thơ khác với lời nói thông thường và khác với ngôn ngữ

văn xuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhưng cảm xúc và ý nghĩa rất phong phú cósức gợi cảm lớn

Ngôn ngữ thơ mang tính hình tượng rất rõ rệt Chẳng hạn nếu viết: “Tôi viết

bài thơ xuân năm một ngàn chín trăm sáu mốt” thì sẽ đưa ra một câu nói, một thông

báo bình thường Nhưng nếu viết:

“Tôi viết bài thơ xuân Nghìn chín trăm sáu mốt”

(Tố Hữu)thì đã là thơ Vì ở đây đã có sự xuất hiện của nhịp điệu, sự đối lập hài hòa của âmvực và thanh điệu, thanh nhịp của lời, cũng là hình tượng âm thanh mang cảm xúccủa tác giả

Do đó, sự láy đi láy lại một bộ phận hay toàn bộ lời nói (hệ hình nhịp, dòng,vần, ) là đặc trưng của ngôn ngữ thơ mà làm cho thơ có một diện mạo đặc thù Từ

đó nó có sức gợi hình ảnh, gợi sự liên tưởng đồng thời gây ấn tượng mạnh, có khảnăng lưu giữ, dễ nhớ, dễ truyền đạt

Trong một công trình về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh còn khảosát cấu trúc thơ trên hai trục: ẩn dụ (trục lựa chọn) và hoán dụ (trục kết hợp) dựa

vào sức liên tưởng của người đọc “nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của

chất liệu ngôn ngữ thơ” [5; tr 92].

Từ đó tác giả đưa ra hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là thao táclựa chọn và thao tác kết hợp Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng của ngôn

ngữ là “các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tương đồng

giữa chúng” [5; tr 16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hoạt động

ngôn ngữ là “các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ

tương cận giữa chúng” [5; tr 24] Cũng theo tác giả nếu như văn xuôi làm việc

trước hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại là một điều tối kỵ thì ngược

lại “chính cái điều văn xuôi rất tối kỵ ấy lại là thư pháp làm việc của thơ: trong

Trang 12

thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo”

Nếu như thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ chọn một đơn vị trong một đơn

vị có giá trị tương đương với nhau có thể thay thế cho nhau trên trục dọc Thì thaotác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sỹ, sau khi đã lựa chọn có thể tạo ra những kếthợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ cho phép Ngườinghệ sỹ sáng tác phải biết chọn lấy một đơn vị nào đó thật phù hợp, có khả năngdiễn tả được cảm xúc, sự đánh giá của mình trước đối tượng

R.Jakobson cũng đã nói rằng: “Cái từ được chọn sẽ kết hợp với nhau thành

chuỗi Việc tuyển lựa được tiến hành trên cơ sở tương đương nghĩa là trên cơ sở của sự tương đồng hay bất tương đồng, tính đồng nghĩa hay phân nghĩa trong sự kết hợp, tức xây dựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận Chức năng của thi

ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp”

[10; tr 83]

Cuối cùng, có thể rút ra kết luận: xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ là mộtchùm đặc trưng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóahiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thi ca

1.1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ

a Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về ngữ âm của thơ (so với văn xuôi) là ở tính nhạc Đặcđiểm về tính nhạc là đặc điểm có tính phổ biến trong hầu hết các ngôn ngữ thơ trênthế giới Tuy nhiên đặc điểm này được thể hiện ra một cách khác nhau tùy vào cơcấu, cách cấu tạo và cách tổ chức khác nhau của mỗi ngôn ngữ Tôma Sepxki đã

nhận xét: “Mỗi một dân tộc, mỗi một ngôn ngữ đều có cách hòa âm của riêng mình.

Cách thức đó dựa theo truyền thống từng dân tộc và hình thức của từng ngôn ngữ cụ thể”.[10; tr 202] Sở dĩ chúng ta thường nhấn mạnh tính nhạc trong thơ là vì ngôn

ngữ của thơ ca giàu nhịp điệu, ngữ điệu, quãng cách và hòa âm so với văn xuôi.Ngôn ngữ thơ Việt Nam nói riêng có một dáng vẻ riêng độc đáo là nhờ đặc tính

Trang 13

giàu có về thanh điệu, nguyên âm và phụ âm Bởi vậy, nghiên cứu các đặc điểm tínhnhạc trong ngôn ngữ thơ không thể không chú ý tới những yếu tố quan trọng đó.

Vì thế, khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý vào những đốilập sau:

- Sự đối lập về trầm – bổng, khép – mở của các nguyên âm

- Sự đối lập về vang – tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc, vô thanhtrong các phụ âm cuối

- Bên cạnh đó còn có sự đối lập giữa cao – thấp, bằng – trắc của các thanhđiệu

Ngoài ra hai yếu tố quan trọng góp phần tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca làvần và nhịp Những yếu tố ngữ âm này là cơ sở và cũng là chất liệu cho sự hòa âmcủa ngôn ngữ thơ ca tạo nên âm hưởng trầm bổng diệu kỳ

Như vậy, hơn bất cứ thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là một thứngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượnghình, chính là thứ ngôn ngữ đầy tính nhạc Bởi vậy, từ ngày xưa nhiều hình thức

ca hát dân gian đã lấy ngay thơ dân gian làm chất liệu sáng tác âm nhạc Nhiều điệu

hò, nhiều bài đồng dao tồn tại cho đến tận hôm nay chính là một minh chứng đầythuyết phục Trong ca dao hiện đại, nhiều bài thơ được lấy làm chất liệu để các nhạc

sỹ sáng tác cho bài hát của mình, như: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Dáng đứng

Việt Nam (Lê Anh Xuân), Em đi chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp),

Nhạc thơ được tạo thành bởi các yếu tố chính sau: âm điệu, nhịp điệu, vần

điệu.

Có thể hiểu âm điệu là sự hòa âm được tạo ra từ sự luân phiên xuất hiện củacác đơn vị âm thanh (tiếng), có những phẩm chất ngữ âm tương đồng và dị biệt trêntrục tuyến tính

Trong tiếng Việt, nhờ tính đối lập mà âm tiết là đơn vị tạo nên âm điệu trong

tho cách luật Việt Nam Ngữ âm tiếng Việt là sự tổng hòa các mặt: cao độ, cường

độ, trường độ, âm sắc Do hoàn cảnh phát ngôn hay do âm lượng của nguyên âm

Trang 14

mà dẫn tới sự khác nhau giữa âm tiết này với âm tiết khác về cường độ Nếu một

âm tiết kết thúc bằng nguyên âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và khả năngkéo dài trường độ lớn hơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh

Bên cạnh âm đầu, vần trong âm tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố thứ hai thểhiện tập trung nhất phẩm chất của thi phẩm Khi nói đến cách hòa âm trong thơ ViệtNam là nói đến cách hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp âm thanh theo mộtkiểu nhất định nào đó Thanh điệu là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nói trong mọi

âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt võ âm thanh của từ và hình vị Cho nên nếungữ điệu là đặc trưng của âm, trọng âm là đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặctrưng của âm tiết Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố siêu đoạn bao trùm toàn bộ

âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiếtnày với âm tiết khác cho nên nó là đối tượng của âm điệu

Thanh điệu phân biệt với nhau theo hai đặc trưng chủ yếu: độ cao và đườngnét vận động Dựa vào đó, chúng ta có thể phân loại các thanh điệu theo hai cách:

- Theo âm vực:

+ Các thanh có âm vực cao: không dấu – ngã – sắc

+ Các thanh có âm vực thấp: huyền – hỏi – nặng

về âm vực, về đường nét các thanh điệu sẽ tạo nên sự khác biệt về cao độ, trường

độ của nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên nhạc tính trong thơ

Trang 15

Vần trong thơ có một vị trí rất quan trọng cả trong sáng tác lẫn trong nghiên

cứu lý luận “Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm

nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh

sự ngừng nhịp” [7; tr 12]

Vần điệu là một hiện tượng hòa âm vần trước hết có chức năng tổ chức, cấutạo Trong thơ, vần là những chiếc cầu bắc qua những dòng thơ, gắn kết các dòng

thơ lại thành từng đoạn, khổ và từng bài hoàn chỉnh “Ở các khổ thơ, bài thơ có

vần, với chức năng tổ chức vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do

đó giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe được thuận tai và làm cho người đọc người nghe dễ thuộc, dễ nhớ.” [7; tr 22] Đó chính là chức năng liên kết của vần thơ.

Vần thơ Việt Nam khác với vần thơ của ngôn ngữ khác không cùng loại hình

là ở đơn vị hiệp vần Trong tiếng Việt, đơn vị hiệp vần là âm tiết Trong thơ ca ViệtNam, với ý thức của người Việt, không bao giờ ta chấp nhận một từ đa tiết có thể

hiệp vần với một từ đơn tiết hay một từ đa tiết khác mà chỉ chấp nhận “sự hiệp vần

giữa tiếng (âm tiết) này với tiếng (âm tiết) khác mà thôi” Trong các vần thơ bao

giờ cũng có sự “cộng hưởng”, sự hòa xướng với nhau của hai âm tiết có vần Để tạo

sự hòa âm cho các cặp vần đồng thời có tác dụng hòa phối , kết hợp, tương hỗ củacác yếu tố cấu tạo âm tiết (chẳng hạn như sự hòa phối âm tiết cuối và thanh điệu,

âm chính với âm cuối ) còn phải kể đến sự hòa xướng, đối lập nhau giữa các yếu tốtương ứng giữa hai âm tiết hiệp vần Đó là sự hòa âm giữa thanh điệu của âm tiếtnày với thanh điệu của âm tiết kia, giữa âm chính, âm cuối của âm tiết này với âmchính, âm cuối của âm tiết kia Cho nên chúng ta thấy rất rõ âm tiết tiếng Việt cò vaitrò rất lớn trong việc tạo lập các vần thơ Việt Nam Tất cả các yếu tố cấu tạo âmtiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránhlặp vần Trong đó thanh điệu và âm chính, âm cuối là những yếu tố chính tham giavào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ

Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định Hìnhthức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô hứng, liên kết gọi nhau của những yếu tố từ

Trang 16

ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ Tính nhạc của thơ cũng bắt đầu từ đó và nóđã tạo nên khả năng mỹ cảm đặc biệt.

Vần tuy là yếu tố quan trọng nhưng không bắt buộc phải có trong một bàithơ, nhất là thơ tự do Ngược lại, sự tồn tại của nhịp – một yếu tố có mối quan hệ

khắng khít với vần – mang lại tính tất yếu phổ quát “Một cách khái quát có thể nói

nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí đoạn thơ” [8;tr64].

Yếu tố tạo nên nhịp điệu quan trọng nhất là những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong sựphân bố mau, thưa hay đa dạng của chúng là độ dài ngắn khác nhau của các quãngnghỉ hơi sau các khổ thơ, dòng thơ Cho đến nay có thể có hai loại ngắt nhịp trongthơ: ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lý, hai loại nhịp này có khi tách bạch có khihòa quyện vào nhau tùy vào cấu trúc ngôn ngữ của dòng thơ, khổ thơ và cảm hứng

Để khảo sát hình thức nhịp điệu của một bài thơ chúng ta có thể dựa vàonhiều đơn vị tổ chức văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, đoạn thơ, trong đócâu thơ (dòng thơ) vẫn là đơn vị cơ bản nhất vì trong câu thơ tập trung một mật độdày đặc về cú pháp, âm điệu (âm điệu của từ, đoạn), về sự hòa âm (hòa âm nhờ luânphiên thanh điệu hay bố trí xem kẽ âm tiết có trọng âm với âm tiết không có trọngâm )

Vì những lý do trên lẽ dĩ nhiên nhịp điệu chính là “năng lượng cơ bản”, “là

xương sống của bài thơ” và nói như GS Mai Ngọc Chừ là “tiền đề cho hiện tượng gieo vần” [7; tr28] Nhịp điệu là kết quả hòa phối âm thanh để tạo ra từ ngắt nhịp và

nhịp điệu liên kết các yếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính, tạo ra sự trầmbổng

Như vậy, cùng với âm điệu, vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm không thểthiếu trong ngôn ngữ thơ Vần và nhịp là hai hiện tượng khác nhau nhưng chúng cómối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau, cái này là tiền đề của cái kia và hơn nữachúng bổ sung cho nhau tạo nên bộ mặt hoàn chỉnh của những yếu tố hình thức thơ

Trang 17

ca Đồng thời chúng có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc quyến rũ chohồn thơ, làm rung lên những sợi tơ mỏng manh của ý tưởng, cảm xúc.

b Về ngữ nghĩa

Ở những phần trước chúng ta đã thấy rõ vai trò của nhạc trong thơ hiểu nhạctheo nhiều phương tiện – có ý nghĩa quan trọng như thế nào Tính nhạc là tính đặcthù đầu tiên, quan trọng nhất, thiếu nó thơ không tồn tại Lẽ dĩ nhiên, chỉ riêng nhạcthôi chưa đủ, chưa thể làm thơ Dấu hiệu thứ hai tạo nên sức ngân vang của thơđứng ở bình diện ngôn từ Bên cạnh ngữ âm thì ngữ nghĩa cũng là yếu tố cấu thànhtác phẩm thi ca Ngữ nghĩa trong thơ khác với ngữ nghĩa trong ngôn ngữ giao tiếpđời thường và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi Ngữ nghĩa trong văn xuôi chủyếu là nghĩa miêu tả, tường thuật, kể chuyện còn ở thơ mỗi từ, ngữ khi đưa vào sửdụng đều rất linh hoạt, phong phú, đa dạng Ngữ nghĩa trong thơ ngoài giá trị biểuhiện nó còn có nhiều giá trị khác Khi đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữnghĩa của ngôn từ không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà

có những nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạng hơn tạo nên tính “nhòe về nghĩa” (chữ của

Nguyễn Phan Cảnh) của thơ Chính đặc tính này đã tạo nên màu sắc lung linh, đanghĩa của hình tượng ngôn ngữ thơ ca Nói rõ hơn đó là tính chất nói bóng và cáchình thức chuyển nghĩa đã được sử dụng một cách đậm đặc ở thể loại này bằngnhững hình thức ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, tượng trưng, nhân hóa, phúng dụ, nóingược đã làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xácđịnh, phải lựa chọn, liên tưởng, tưởng tượng mới có thể giải mã và cảm thụ hết

được vẻ đẹp tối đa của nó Chính tính “nhòe về nghĩa” trong thơ cho phép ngôn

ngữ thơ dung nạp những kiểu cấu trúc đặc biệt, có khi là bất bình thường Đó là sựtĩnh lược thiếu vắng những thành phần ngữ pháp kể cả những thành phần chính củacâu như chủ ngữ, vị ngữ, chính sự thiếu vắng trong thơ tạo nên tính nhòe, mập mờ

về nghĩa và điều đó đưa lại nhiều cảm thụ khác nhau làm nên tính đa nghĩa, hàm

súc, “ý tại ngôn ngoại” trong thơ Đó còn là những hình thức sử dụng các từ phiếm

chỉ, những trường hợp đảo từ, đảo ngữ, đảo cú pháp không tuân theo sự kết hợp từbình thường Và đó còn là những cách ngắt câu khác lạ không cho phép trong cấu

Trang 18

trúc câu văn xuôi Ngoài ra còn rất nhiều hình thức như tả cảnh ngụ tình, lấy mây vẽtrăng, lấy động tả tĩnh, dùng không nói có, dùng thời gian tả không gian, lấy khônggian biểu hiện thời gian Có thể nói rất nhiều biểu hiện của tính nhòe về nghĩa ởtrong thơ Tất nhiên không nên hiểu “nhòe” chỉ với ý nghĩa là nhiều nghĩa, đa nghĩa,hàm nghĩa, mập mờ, không rõ, khó xác định Người ta nói ngôn ngữ thơ là một thứngôn ngữ bí hiểm là theo nghĩa ấy Chính tính chất này giúp thơ có khả năng nói ítgợi nhiều với nhiều màu sắc biểu cảm phong phú trong đó chủ thể nhập vào kháchthể, tính chất hòa vào hiện tượng, hành động hòa vào màu sắc, âm thanh tạo nêncái ý nghĩa bóng bẩy, lung linh, tinh tế của ngôn ngữ thơ ca Và cũng vì nhữngđặc điểm đó mà khi phân tích thơ chúng ta không thể chỉ đi tìm cái nội dung logiccủa nghĩa đen từ đó diễn ý với một nội dung rõ ràng, minh bạch 1,2,3 Điều đókhông phù hợp với đặc trưng thể loại này Cái chính là ở chỗ lật văn bản ngôn từ để

cảm thụ cái ý nghĩa chìm ẩn, để lĩnh hội cái “ý tại ngôn ngoại”, để thưởng thức cái

duyên ngầm, cái âm hưởng và tứ thơ tỏa ra từ những lớp ngữ nghĩa của ngôn từ ởgiữa những dòng chữ, những khoảng trống, giữa những từ, ở sự im lặng, ở nhữngdấu chấm hỏi, chấm lửng, chấm than,

c Về ngữ pháp

Bình diện ngữ pháp trong thơ thể hiện ở những điểm như: sự phân chia cácdòng thơ, câu thơ, những kiểu câu và ở cách sắp xếp tổ chức từ ngữ trong thơ

Trước hết, từ sự phân chia các dòng thơ có người quan niệm dòng thơ tươngứng với câu thơ Tuy nhiên trong thực tế ranh giới giữa dòng thơ và câu thơ có khikhông hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có khi mộtcâu thơ là cả một đoạn thơ dài trong đó mỗi dòng thơ là một bộ phận của câu

Về cách sắp xếp từ ngữ trong thơ cũng khác so với văn xuôi ở chỗ có khi cácthành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Các từ nhiều lúc không sắpxếp theo logic bình thường, nhất là ở hiện tượng câu thơ vắt dòng

Về mặt cấu trúc câu trong thơ cũng khác với văn xuôi, ở chỗ nó không hoàntoàn tuân theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ Nhà thơ có thể sáng tạo và sử dụngnhững kiểu câu “bất bình thường”, những kiểu câu “quái đản” như đảo ngữ, câu vắt

Trang 19

dòng, câu tách biệt, câu trùng điệp và không ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữnghĩa của văn bản Ngược lại, chính sự kết hợp bất thường đó đã mở ra những giátrị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca giúp nhà thơ diễn đạt được những tầng ýnghĩa phức tạp tinh tế vô cùng của sự vật trong hữu hạn của câu chữ thể loại vàđồng thời tạo nên phong cách phong phú riêng của mỗi nhà thơ.

1.1.4 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ

Nội dung và hình thức là hai phương diện cơ bản thống nhất không thể táchrời của tác phẩm văn học Đối với từng tác phẩm nội dung và hình thức là phạm vichủ yếu thể hiện giá trị tư tưởng và nghệ thuật của nó

“Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau” [15; tr 202] Nội dung trong thơ

theo nhà thơ Mai Thánh Du đời Tống (Trung Quốc), chính là cái mà “tác giả cảm

thụ trong lòng , người xem hiểu ngầm bằng ý cơ hồ rất khó nói ra bằng lời” Thơ

phải nói bằng nỗi niềm được cảm nhận rõ rệt nhưng không dễ dàng làm sống lạiđược, truyền đạt được bằng ngôn từ Có khi trong cuộc sống xuất hiện những nỗi

niềm “không bút nào tả xiết” Người nghệ sỹ chính là người vượt qua giới hạn đó

để đưa nỗi niềm kia vào thơ Cũng theo quan niệm của tác giả trong Từ điển thuật

ngữ văn học: “hình thức tác phẩm là cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nội dung tác phẩm” [15; tr 203] Đó là những yếu tố như văn bản

ngôn từ, kết cấu, thể loại Hình thức nghệ thuật của tác phẩm là hiện tượng độcđáo, hoàn toàn không phải là số cộng giản đơn của các thủ pháp và phương tiệnnghệ thuật Trong tính chỉnh thể, hình thức nghệ thuật có nghĩa là hình thái cảmnhận đời sống, là cách tự bộc lộ của nội dung tác phẩm

Một tác phẩm văn học chứa đựng giá trị mỹ học phải dựa trên sự thống nhất

có tính nguyên tắc giữa nội dung và hình thức “không thể có tác phẩm văn học nào

chỉ tồn tại với nội dung của nó mà không có sự tham gia của hình thức” Về mối

Trang 20

quan hệ này nhà phê bình Nga Bêlinxki đã diễn đạt khá rõ ràng “trong tác phẩm

nghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng như vậy” [30; tr 256].

Lý luận văn học Macxit cũng khẳng định mối quan hệ thống nhất đó là

“hình thức biểu hiện nội dung, hình thức phù hợp với nội dung” Ở đây nội dung đi

đầu và có vai trò quyết định Chức năng hình thức là làm định hình và biểu hiện nộidung đó Nội dung quyết định việc lựa chọn hình thức thể loại, ngôn ngữ, chi tiết,nhân vật, cốt truyện, kết cấu Nội dung làm nảy sinh ra hình thức phù hợp để biểuhiện nó Hình thức phù hợp nội dung trở thành tiêu chuẩn để sáng tạo, đánh giá hìnhthức và làm nên giá trị tác phẩm

Thơ là một thể loại văn học đặc thù nên mối quan hệ giữa nội dung và hìnhthức lại thể hiện đặc biệt hơn Vai trò của hình thức thơ có vị trí quan trọng so vớicác thể loại khác, nó có tính năng động và trong một số trường hợp nó có xu hướngtách khỏi nội dung hoặc lấn át nội dung Các nhà hình thức chủ nghĩa trong nghiêncứu thường bỏ qua phương diện nội dung chỉ nghiên cứu tác phẩm như một thủpháp, như một ngôn ngữ, một sự kết hợp các phạm trù ngữ pháp, cũng có trườnghợp các nhà sáng tác loay hoay tỉa tót hình thức tân kỳ để che đậy nội dung nghèonàn

Ngược lại là lối phân tích máy móc tầm thường chỉ thấy trong tác phẩm một

nội dung “tương đương xã hội học” bỏ qua hình thức độc đáo của tác phẩm Ở khía cạnh này, Bêlinxki cũng đã viết “khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn

chặt với nội dung tới mức là nó tách khỏi nội dung có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại tách nội dung khỏi hình thức có nghĩa là hủy diệt hình thức”

[30;tr256]

Như vậy, nội dung và hình thức có sự chuyển hóa vào nhau Hê Ghen đã nói

“nội dung chẳng phải là cái gì khác mà chính là chuyển hóa của hình thức vào nội dung và hình thức cũng chẳng gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung vào hình

Trang 21

thức” [15; tr 257] Chúng ta sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này qua việc tìm hiểu ngôn

ngữ thơ Phạm Tiến Duật trên cả hai phương diện nội dung và hình thức

1.2 Phạm Tiến Duật - Cuộc đời và thơ văn

1.2.1 Cuộc đời Phạm Tiến Duật

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có rất nhiều người con gác bútcầm súng đi chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc Phạm Tiến Duật là một trong số rấtnhiều những người con như thế

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941, quê ở huyện Thanh Ba, tỉnhPhú Thọ Cha là nhà giáo còn mẹ thì làm ruộng Từ nhỏ, Phạm Tiến Duật đã phải đi

bộ đến 10 km để đến trường, đã nuôi trong ông mầm mống của một kẻ phiêu bạt đóđây Đến cấp ba thì ông phải đi ở trọ để theo học tại trường Hùng Vương – PhúThọ

Mang củi, mang gạo từ nhà tới nơi trọ học Một năm đổi chỗ trọ tới vài lần,làm sao để được gần thư viện tỉnh để mượn sách đọc Tính di chuyển, xê dịch đã cótrong Phạm Tiến Duật từ ngày đó báo hiệu một tính cách, một lối sống phiêu bạt.Sau bốn năm học tại trường Đại học sư phạm Hà Nội, năm 1964, ông cùng một sốbạn bè “gác bút nghiên”đi chiến đấu Ông nhập ngũ vào tiểu đoàn 24 pháo cao xạTây Bắc, Phạm Tiến Duật xin chuyển về cục vận tải quân sự - Tổng cục hậu cần.Con đường chiến trận của ông bắt đầu, càng ngày càng dài ra, tiến sâu vào nơi ácliệt Bắt đầu từ Binh trạm 10 Thanh Hóa, sau vào Binh trạm 11 Nghệ An, Binh trạm

12 ở Quảng Bình Lúc bấy giờ trên chỉ thị thành lập Tổng cục Tiền phương gọi tắt

là Bộ tư lệnh 500, sau đó sát nhập với Bộ tư lệnh 559 – Bộ tư lệnh Trường Sơn,Phạm Tiến Duật trở thành lính Trường Sơn Ông đến Trường Sơn lần đầu tiên năm

1965, sau đó có mặt liên tục ở mặt trận này Có lẽ nhờ thế, cộng thêm tài năng trờiphú, mà sau đó đã có một Phạm Tiến Duật với những bài thơ nổi tiếng viết vềTrường Sơn

Học xong 4 năm Đại học, phiêu bạt vào chiến trường 14 năm, ra quân, PhạmTiến Duật mang hàm thiếu úy Rồi chuyển về công tác ở Ban văn nghệ Hội vănnghệ Việt Nam cho đến nay

Trang 22

Trước khi lâm bệnh, Phạm Tiến Duật là chủ tịch quỹ mãi mãi tuổi hai mươi Ông còn là tác giả của hàng ngàn bài báo Từ ngày thôi làm tổng biên tập của Tạp

chí diễn đàn văn nghệ Việt Nam, nhà thơ Phạm Tiến Duật dành nhiều thời gian cho

công tác đối ngoại của Hội nhà văn Việt Nam Vài năm gần đây, khán giả của Đàitruyền hình Việt Nam còn biết đến ông với tư cách là MC của chương trình “Vui,khỏe và có ích” - một sân chơi thú vị cho người cao tuổi

Đến ngày 4 tháng 12 năm 2007, Phạm Tiến Duật trút hơi thở cuối cùng tạiBệnh viện Hà Nội trong niềm tiếc thương vô cùng của gia đình, bạn bè, đồngnghiệp Căn bệnh ung thư phổi đã cướp ông đi khi tài năng, nhiệt huyết với cuộcđời còn mang nặng

“Con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại” giờ đã ngừng bay Thôi đành

ngậm ngùi an ủi và cầu mong ông bình an trong cuộc phiêu bạt cuối cùng này.1.2.2 Thơ và sáng tác của Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật có thơ đăng rải rác từ năm 1964, nhưng đến 1969, qua cuộcthi thơ của báo văn nghệ mà ông đạt giải nhất thì người đọc mới thực sự biết đếnông Cuộc sống bộ đối của Trường Sơn đã tôi luyện con người và bồi đắp hồn thơPhạm Tiến Duật , giúp ông tìm thấy một tiếng nói riêng của mình – để từ đó, tàinăng, phong cách Phạm Tiến Duật nhanh chóng được khẳng định

Năm 1970, sau khi đạt giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ (1969 – 1970),Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Sau hơn bốn mươi năm

cầm bút, Phạm Tiến Duật đã có hàng chục tập sách, mà chủ yếu là thơ : “Vầng

trăng quầng lửa” (thơ, 1970); “Thơ một chặng đường” (tuyển tập, 1994); “Ở hai đầu núi” (thơ,1981); “Vầng trăng và những quầng lửa” (thơ,1983); “thơ một chặng đường” (tuyển tập, 1994); “Nhóm lửa” (Thơ, 1996); “Tiếng bom và tiếng chuông chùa” (Trường ca, 1997); “tuyển tập Phạm Tiến Duật” (in xong đợt đầu

ngày 17 tháng 11 năm 2007 khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)

Một số tác phẩm thơ nổi tiếng của ông như loạt bốn bài thơ đạt giải nhất duy

nhất do báo văn nghệ tổ chức đó là: Lửa đèn; Bài thơ về tiểu đội xe không kính; Gửi

em - cô thanh niên xung phong; Nhớ;

Trang 23

Ngày 19 tháng 11 năm 2007, chủ tịch nước đã ký lệnh tặng thưởng huânchương lao động hạng nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật Đây là sự ghi nhận củaNhân dân, của Đất nước đối với sự cống hiến, lao động hết mình của nhà thơ chovăn học nghệ thuật Những câu thơ của Phạm Tiến Duật còn sống mãi với conđường huyền thoại Hồ Chí Minh.

Việc trao huân chương lao động hạng nhì và giải thưởng văn học của trungtâm văn hóa doanh nhân là ghi nhận sự đóng góp tích cực cùa nhà thơ Phạm TiếnDuật Trước đó, ông đã nhận giải thưởng Nhà nước (đợt 2) về Văn học – Nghệthuật

Tập thơ “Vầng trăng và những quầng lửa” (1983) là một trong những tập

thơ thành công nhất của ông Là tiếng nói của một chiến sỹ trẻ, một hồn thơ phongphú Cuộc sống ở Trường Sơn của những người chiến sỹ lái xe, những cô thanhniên xung phong cùng với tâm trạng, suy nghĩ của họ đã đi vào thơ Phạm Tiến Duậtthoải mái tự nhiên với những nét sinh động

Vì những lý do khác nhau, đề tài của chúng tôi chưa có điều kiện khảo sát vàtìm hiểu hết các tập thơ của Phạm Tiến Duật, mà mới chỉ dừng lại ở việc đi vào tìm

hiểu ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật trong tập thơ “Vầng trăng và những quầng

lửa” Nhưng qua tìm hiểu tập thơ này cũng có thể cho thấy được những nét riêng

trong phong cách thơ ông

Trang 24

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

XÉT VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC

Như đã biết, trong các tác phẩm văn học có giá trị, hình thức luôn thống nhấtphù hợp với nội dung Quá trình sáng tác tạo ra hình thức phù hợp với nội dungkhông phải là một quá trình đơn giản, dễ dàng mà nó đòi hỏi nhà văn phải tìm tòiphát hiện không ngừng Đề tài này đi vào tìm hiểu đặc điểm hình thức được thể hiệntrong thơ Phạm Tiến Duật để phần nào thấy rõ hơn những tìm tòi, phát hiện trongquá trình sáng tạo của nhà thơ đồng thời qua đó thấy rõ hơn phong cách, giọng điệuriêng của thơ Phạm Tiến Duật trong thơ ca nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nóiriêng

Khi xem xét thơ Phạm Tiến Duật về mặt hình thức, chúng tôi đi vào tìm hiểu

ở các khía cạnh khác nhau: đặc điểm về các thể thơ, đặc điểm về ngữ âm, đặc điểm

về cách tổ chức bài thơ và những biện pháp tu từ nghệ thuật đặc sắc trong thơ PhạmTiến Duật

2.1 Đặc điểm về các thể thơ

Các thể thơ cũng như thể văn hình thành dần dần định hình, rồi biến thể Một

số hình thức thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian phát triển lên mà thành Một sốhình thức thơ khác lại từ nước ngoài nhập vào rồi Việt hóa cho phù hợp với quy luậtngôn ngữ và tính cách, tâm hồn người Việt Mặc dù mỗi thể thơ có nguồn gốc khácnhau, nhưng hình thức nào cũng là thành quả của những người đi trước trong quá

Trang 25

trình lâu dài đã tìm tòi thể nghiệm và sáng tạo Ở những bài thành công các hình

thức đó đều chan chứa “tâm hồn và tính cách của người Việt Nam”.

Để phân loại các thể thơ, người ta thường lấy số âm tiết và vần làm căn cứphân loại

Căn cứ vào số âm tiết trong dòng thơ: thơ hai chữ, thơ ba chữ, thơ bốn chữ,thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ lục bát (tổ hợp sáu chữ và tám chữ), thơ

tự do (số âm tiết trong mỗi dòng thơ không đều nhau)

Căn cứ vào vần luật có hai loại:

- Thơ cách luật (thơ có quy tắc và luật lệ ổn định): thơ đường luật, lục bát,song thất lục bát

- Thơ không cách luật (thơ không hạn chế về số tiếng, số câu) có thơ tự do.Trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy nhà thơ Phạm Tiến Duật đã sử dụngkhá nhiều các thể thơ trong số 57 bài có: thơ bốn chữ (1 bài), thơ năm chữ (3 bài),thơ bảy, tám chữ (27 bài), thơ lục bát (5 bài), thơ tự do (21 bài) Nhìn chung, nhàthơ sử dụng chủ yếu các thể thơ: năm chữ; bảy, tám chữ; lục bát và tự do cho nênchúng tôi chỉ đi sâu và tìm hiểu các thể thơ này

2.1.1 Thơ năm chữ

Thơ năm chữ là loại thơ theo thể hát giặm, có nhịp 3/2 là phổ biến (khác vớithơ ngụ ngôn ở Trung Quốc có nhịp 2/3) và vần thơ thay đổi, không nhất thiết làvần liên tiếp, số câu cũng không hạn định Đây là thể thơ phổ biến trong tục ngữ vàhát giặm Nghệ Tĩnh Riêng trong thơ, mãi sau này người ta mới dùng (vào khoảngđầu thế kỷ XX)

Thơ Phạm Tiến Duật có 3 bài làm theo thể thơ này (5,3%) Các bài thơ nămchữ của Phạm Tiến Duật thường là những bài thơ dài, tất cả đều trên 20 dòng Bài

“Mùa cam trên đất Nghệ” có 24 dòng, “Nhớ đồng ca hát đồng ca” có 36 dòng,

thậm chí có bài dài trên 40 dòng như bài “Người ơi người ở” dài 48 dòng.

Thơ năm chữ của Phạm Tiến Duật thường trải dài theo mạch cảm xúcnghiêng về kể chuyện, giải bày tâm trạng Đó là những câu chuyện kể về con người,

về mùa cam trên vùng đất Nghệ và người mẹ thôn Nghi Vạn hết lòng thương yêu

Trang 26

những người con – chiến sỹ cách mạng, về những bài hát sinh hoạt đồng ca, Nhịp

kể rất mộc mạc, tự nhiên

Trong bài “Mùa cam trên đất Nghệ” nhà thơ kể về một lần đi trên đất Nghệ.

Lần đi ngang qua đó ngay lúc đang mùa cam Cam đất Nghệ đúng mùa chín vàng,mọng nước, ngọt như mật ong Đặc biệt là hình ảnh của bà mẹ thôn Nghi Vạnthương yêu những đứa con – chiến sỹ của mình hết mực

Cam xã Đoài mọng nước Giọt vàng như mật ong

Bổ cam ngoài cửa trước Hương bay vào nhà trong

Bà mẹ thôn Nghi Vạn Con tòng quân vắng nhà

Trẩy cam mỗi buổi sáng Bồn chồn nhớ con xa

Tình thương yêu con được mở ra rộng lớn, đó là tình yêu quê hương đấtnước, là lòng căm thù giặc Mỹ xâm lược Chỉ cầm giặc Mỹ bị đánh tơi bời là lòng

mẹ vui rồi

Cam này thơm lại ngọt Các con ăn mẹ gọt Giặc Mỹ thua tơi bời Thế là lòng mẹ vui

(Mùa cam trên đất Nghệ)Nhà thơ đã giải bày tâm trạng của mình một cách rất chân thành

Ra trận là dũng sỹ

Bên mẹ thành trẻ con Bầu sữa quê ta đó Rót vào chùm quả ngon

Trang 27

(Mùa cam trên đất Nghệ)

Ra trận chiến, những đứa con của mẹ trở thành những người anh hùng,những dũng sỹ chiến đấu cho độc lập dân tộc Nhưng khi trở về bên mẹ, trở về vớiquê hương thì chúng con lại trở về làm những đứa con bé bỏng của mẹ mà thôi Mẹ

và quê hương mãi là cái bóng lớn che chở nâng đỡ suốt cuộc đời chúng con

Ở một bài thơ khác, chúng ta chứng kiến cảnh nhà thơ đang say sưa hát đồng

ca cùng các đồng chí trong cánh rừng già

Như chiều nào rừng già

Ngả nghiêng cây gió thổi

(Nhớ đồng ca hát đồng ca)Nhà thơ nhớ từng khuôn ngực, từng nhịp thở, từng giọng hát, từng âm

thanh Tất cả như đang hòa quyện vào bài “Đồng ca”, bài đồng ca của đất nước,

của dân tộc Việt Nam

Những khuôn ngực nhịp nhàng Người người chung nhịp thở Giọng hát tựa vào nhau

Âm thanh càng rực rỡ

(Nhớ đồng ca hát đồng ca)

Hay trong bài thơ “Người ơi người ở” lại là những tình cảm hết sức trân

trọng của ông đối với người nữ bộ đội rừng Trường Sơn Ông ca ngợi những đónggóp thầm lặng của họ đối với cuộc đời này

Anh chẳng nói sai đâu

Em là cây ngải đắng Sống trong triền núi vắng Góp vị thuốc cho đời

(Người ơi người ở)2.1.2 Thơ bảy, tám chữ

Đây là thể thơ được nhà thơ sử dụng nhiều nhất Số lượng các bài thơ làmtheo thể này là 27 bài (47,36%) Ở thể này, Phạm Tiến Duật không sáng tác thuần

Trang 28

nhất là bảy chữ hoặc tám chữ trong một bài Bởi vậy, ngoài ba bài “Vô đề I”, “Buổi

chiều ở Bản”, “Thắng giặc, lên núi Ba Vì”, có một số chữ ổn định là bảy chữ thì

còn lại tất cả bài thơ ở thể này có số chữ ở các dòng khác nhau (từ 7 đến 12 chữ)

Để phân loại, chúng tôi tạm thời căn cứ vào mức độ ổn định của số tiếng trong mộtdòng Nhiều bài tuy có số dòng chín, mười, mười một, mười hai tiếng xem kẽ vàonhưng số dòng đó trong bài thơ không nhiều, mức độ ổn định nhất chỉ dừng lại ởbảy tiếng hoặc tám tiếng nên tôi xếp thành thể thơ bảy, tám chữ Và tôi thấy rằngmặc dù các bài thơ hoặc được sử dụng ở dạng nguyên thể hoặc có tháo gỡ, bồi đắpchút ít nhưng vẫn mang đậm âm hưởng của thể thơ bảy chữ, tám chữ trang trọng,sôi nổi, thiết tha

Bài thơ bảy, tám chữ của Phạm Tiến Duật có nhiều bài rất dài Bên cạnhnhững bài thơ chỉ có một khổ ( 4 dòng) hay hai khổ (8 dòng) có rất nhiều bài dài:

Gửi em cô thanh niên xung phong (58 dòng); Cô bộ đội ấy đã đi rồi (44 dòng); Gửi về Vinh thành phố dọc đường (48 dòng)

Nội dung ở thể thơ này khá phong phú, đa dạng Ở một số bài, nhà thơ kểchuyện về những cuộc đời, con người, những địa danh mà ông đã từng gặp, từng điqua Một số bài khác ca ngợi về những người anh hùng, ca ngợi về tình đồng chíhữu nghị Việt – Lào

Đôi khi cảm xúc của nhà thơ thăng hoa chỉ trong một hoàn cảnh bìnhthường, ấy là khi gặp những cô gái thanh niên xung phong

Có lẽ nào anh lại mê em Một cô gái chưa nhìn rõ mặt

(Gửi em, cô thanh niên xung phong)Cuộc gặp gỡ tình cờ nhưng đã để lại cho nhà thơ nhiều cảm xúc đẹp Đó lànhững cô gái thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ Họ hy sinh tuổi xuân, tìnhnguyện ra chiến trường xan lấp những con đường bị địch tàn phá, giúp giao thôngđược thông suốt Chỉ tính riêng ở tỉnh Hà Tĩnh theo tài liệu của tạp chí Học tập, sốđường làm mới trong ba năm chống Mỹ cứu nước (1965 – 1969) bằng toàn bộ sốđường của cả thế kỷ XIX cộng lại Thế mới biết sức mạnh ghê gớm của những cô

Trang 29

gái thanh niên xung phong này như thế nào Phạm Tiến Duật miêu tả họ với nhữngchi tiết, những hình ảnh thật giản dị, đời thường

Khăn xanh, khăn xanh phơi đầy lán sớm Sách giấy mở tung trắng cả rừng chiều

Hay:

Nào cuốc, nào choòng, xoong nồi xủng xoảng

(Gửi em, cô thanh niên xung phong)Phạm Tiến Duật kể về đời sống chiến trường với một lối nói điềm đạm bìnhthường, nhưng đằng sau nó người đọc vẫn cảm nhận được tính chất ác liệt, dữ dộicủa chiến tranh:

Cạnh giếng nước có bom từ trường

Em không rửa, ngủ ngày chân lấm Ngày em phá nhiều bom nổ chậm Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà

(Gửi em, cô thanh niên xung phong)Cho nên nhà thơ đã thốt nên những lời rất chân thực xuất phát từ trái tim

ông, tình yêu từ lòng cảm phục, thương mến: “thương em, thương em, thương em

biết mấy” Đó là tình yêu, tình thương mến giữa những người đồng chí, đồng đội.

Rất cao đẹp, đáng trân trọng

Ở một bài thơ khác rất nổi tiếng của ông “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”

thì lại là một câu chuyện khác Đó là câu chuyện về những người chiến sỹ trẻ lái xetải xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Bài thơ đặc sắc ở chỗ làm hiện lên những chiếc

xe lạ, những chiếc xe không kính đang vượt qua bom đạn băng băng tiến ra tiềntuyến Thật độc đáo vì xưa nay ít có, ít thấy loại xe không kính qua lại trên một nẻođường Thế mà trên con đường Trường Sơn vẫn có loại xe như vậy, không phải đôi

ba chiếc mà hàng vạn chiếc xe “không kính” đang vượt qua mọi mưa bom bão đạn,

Trang 30

đi qua mọi địa hình: đèo cao, dốc thẳm, khe suối, ngầm sông, chạy trong mưa gió,đêm tối mịt mùng để chở hàng, tiếp viện cho chiến trường miền Nam.

Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi.

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)Cuộc chiến tranh thiếu thốn gian khổ là thế nhưng vượt lên trên hết là tư thế

“ung dung” của người chiến sỹ Một tư thế ngồi lái ung dung tuyệt đẹp: thong thả,

khoan thai Những cái nhìn khoáng đạt, nhìn thấp, nhìn thẳng, nhìn cao, nhìn xa.Dũng mãnh và hiên ngang:

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)Hai câu cuối bài thể hiện sức mạnh chiến đấu, ý chí kiên cường của ngườichiến sỹ lái xe trẻ vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thân yêu, vì sự nghiệp thốngnhất đất nước:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim

(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)

“Trái tim” ấy là trái tim yêu thương, trái tim sục sôi căm giận? Phải chăng

câu thơ của Phạm Tiến Duật khơi nguồn từ câu nói nổi tiếng của Hồ Chủ Tịch kính

yêu : “Miền Nam luôn luôn trong trái tim tôi”.

“Nhớ” là bài thơ viết theo thể bảy, tám chữ của ông cũng rất nổi tiếng,

những người lính Trường Sơn thường đọc cho nhau nghe bài này vì theo nhận xét

nó hay và ngắn, mô tả tâm trạng của người lính lái xe:

Cái vết thương xoàng mà đưa viện Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo

Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo

(Nhớ)

Trang 31

Bài thơ ngắn kết hợp bốn yếu tố đặc biệt trong phong cách Phạm Tiến Duật.Câu 1: lời nói thông thường; Câu 2: chất thực tế trong thơ; Câu 3: giọng cổ điển,

nhắc tới thơ của nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc Lý Bạch với câu thơ: “Cử đầu vọng

minh nguyệt, đê đầu tư cố hương”; Câu 4: chất lãng mạn riêng của người lính trẻ.

Bốn yếu tố này đã hòa quyện vào nhau làm nên thi pháp Phạm Tiến Duật, mà điều 2

là đặc biệt nhất Nó đánh mạnh vào tâm thức người đọc lúc đó, chủ yếu là bộ đội

Trường Sơn “Nhớ” hay và được nhiều người đọc biết đến cũng là vì đó.

2.1.3 Thơ lục bát

Lục bát là một thể thơ dân tộc đã được thử thách theo thời gian trở nên quenthuộc với con người và tâm hồn Việt Nam Đây là thể thơ rất phổ biến trong ca dao,tục ngữ, dân ca và các làn điệu chèo, tuồng, trong các bài vè dài, các tập diễn ca(như Nhị thập tứ hiếu – Lý Vân Phúc), các truyện thơ (Thạch Sanh, Lục Vân Tiên,Truyện Kiều, ) Sau này thể lục bát được dùng vào thể thơ mới và ngày nay trongthơ ca hiện đại, lục bát vẫn chiếm một vị trí quan trọng, được nhiều nhà thơ sử dụng

và quần chúng yêu thích Lục bát có hình thức là một thể tổ hợp giữa câu sáu và câutám, số câu không hạn định, ít thì gồm hai câu gọi là cặp đến bốn câu và nhiềucâu với niêm luật khá giản dị

Thơ lục bát của Phạm Tiến Duật có năm bài (8,8%) Nhìn chung các bài thơmang âm hưởng sôi nổi, trẻ trung, đó là những dòng thơ chứa đựng nhiều tình cảm,cảm xúc của tác giả về con người, về cảnh sinh hoạt nơi chiến trường, về hậuphương, về tình hữu nghị Việt – Lào anh em, về cảnh sắc thiên nhiên, Cũng như ởthể năm chữ, thể bảy, tám chữ, thể thơ lục bát của Phạm Tiến Duật không bị hạnchế, gò bó về độ dài ngắn của tác phẩm Độ dài ngắn của bài thơ thường diễn biếntheo tâm trạng, nương theo cảm xúc của nhà thơ

Bài “Ngủ rừng” nhà thơ miêu tả một cách chân thực cảnh “ngủ rừng” của

ông và các đồng đội Các chiến sỹ trên đường hành quân gặp đâu ngủ đó Một manhvõng mắc vào hai cây là trở thành một cái giường ngủ đầy lý tưởng của họ rồi:

“Dừng chân mắc võng ngủ liền”.

Rồi nhà thơ đưa ra so sánh:

Trang 32

Ngủ giường cũng chỉ giường thôi

Ngủ đất mới thật là nôi của rừng

(Ngủ rừng)Rõ ràng ta thấy nhà thơ đã dành tình cảm ưu ái cho cánh rừng Rừng là nơinhà thơ và các chiến sỹ đang sống và chiến đấu Rừng chở che, bao bọc, bảo vệ họ,tiếp thêm cho họ sức mạnh chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược Bài thơ còn cho tahình ảnh về những người chiến sỹ phải ngủ trong điều kiện khó khăn thiếu thốnnhưng họ luôn lạc quan, tiến về phía trước Lúc nào nhiệm vụ chiến đấu cũng đượcđặt lên tất cả Ngay cả trong giấc ngủ vội vàng, gấp gáp giữa rừng, nhiệm vụ đó vẫnluôn thường trực

Sẵn sàng khẩu súng trên lưng Đất hầm đã lạnh, trông chừng sáng đây

(Ngủ rừng)

Cảnh “ngủ rừng” đã để lại trong nhà thơ những cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm

đẹp Điều đó chứng tỏ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của tác giả, của người lính TrườngSơn, trong mọi hoàn cảnh đều lạc quan, yêu đời, tin tưởng tương lai phía trước

Ở một bài thơ khác, Phạm Tiến Duật mang lại cho chúng ta một hình ảnhđẹp về tình quân dân, hữu nghị Việt – Lào:

Bản Lào chúc phúc cho anh Trắng tinh sợi chỉ hiền lành buộc tay Trong khi cầm sợi chỉ này

Em nhìn mẹ, lại vơi đầy nhìn anh Lạ cho sợi chỉ mong manh Buộc hờ mà trói lòng anh khôn về

(Buộc chỉ cổ tay)Năm 1972, bộ đội Việt Nam sát cánh cùng nhân dân nước bạn Lào anh emquyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Phạm Tiến Duật cũng tham gia vào chiếndịch ấy Ông đã có dịp sang bản Lào, sống và chiến đấu cùng nhân dân Lào Ông vàcác chiến sỹ Việt Nam được nhân dân Lào rất thương yêu, quý mến Để thể hiện

Trang 33

điều đó là một hành động “buộc chỉ cổ tay” Đây là một phong tục tập quán của

người dân Lào thể hiện lòng yêu mến Sợi chỉ mỏng manh nhưng chứa đựng trong

đó bao nhiêu tình cảm của người dân mà ông và những người chiến sỹ khác sẽchẳng bao giờ quên được

Nhiều nhận xét thơ lục bát những năm kháng chiến chống Mỹ bớt đi cáimượt mà, dàn trải, tăng chất trẻ trung – có lẽ đúng với trường hợp lục bát của PhạmTiến Duật Lục bát của ông trẻ trung, khỏe khoắn, đầy cảm hứng ngợi ca với nhữngcảm xúc mãnh liệt

Cách kết thúc bài thơ lục bát cũng theo khuôn mẫu truyền thống, tức câu kếtdừng lại ở câu bát (câu 8)

2.1.4 Thơ tự do

Sau Cách mạng tháng Tám nhất là sau những năm kháng chiến chống Pháp,chống Mỹ, thơ tự do phát triển mạnh mẽ và phong phú Khái niệm thơ tự do nhằmvào những bài thơ không bị ràng buộc vào những quy phạm như niêm, luật, nhịp,vần, lượng câu chữ như ở các thể thơ cổ điển Đó là loại thơ phá vỡ các quy phạm

cổ điển để hình thành một quy phạm mới, quy phạm ngôn ngữ phải tuân theo mạchcảm xúc, gạt bỏ những gì cản trở mạch cảm xúc

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã làm biến đổi cuộc sống,

tư tưởng, tình cảm của con người, dân tộc Việt Nam Điều này cũng đóng góp phầnquyết định đến sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại cả về nội dung lẫn hìnhthức biểu hiện Bên cạnh những đổi mới ở các thể thơ dân tộc, thơ tự do cũng pháttriển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thơ ca đ sát cuộc sống và thể hiện nhữngcách nhìn nghệ thuật mới của nhà thơ

Chính vì những đặc điểm trên mà số lượng thơ tự do của Phạm Tiến Duậtcũng khá nhiều, bao gồm 21 bài (36,8%) Trong thơ tự do của Phạm Tiến Duật câuthơ, khổ thơ có sự co giãn, thu hẹp, hoặc nới rộng rất đa dạng để phù hợp với nộidung phản ánh

Dòng thơ tự do có thể là 3, 4, 5 chữ hoặc có lúc kéo dài

Đã ngã xuống rồi

Trang 34

Hàng cây tình tự Hơi thở yêu đương còn thơm dòng nhựa.

(Chuyện hàng cây yêu thương)Khảo sát 653 dòng thơ tự do của Phạm Tiến Duật tôi thấy có 81 dòng thơgồm năm từ trở xuống (12,4%), còn lại 572 dòng dài hơn năm từ (87,6%) Câu thơ ,dòng thơ chen phối nhau dài ngắn được đặt cạnh nhau làm cho bài thơ trở nên linhhoạt phù hợp với nội dung được nhắc tới

Có lúc lời thơ tươi trẻ, lãng mạn Đó là khi nhà thơ bắt gặp hình ảnh nhữngchiếc áo thanh niên xung phong đang phơi ở nông trường

Áo thanh niên xung phong phơi ở nông trường Cái túi cheo làm sao mà lẫn được

Trời sắp mưa rồi, người bỏ đi đâu?

( ) Cái hôm con đường chiến dịch mới vừa xong Bộ đội với thanh niên cười mặt lấm,

Áo khét thuốc bom, áo nồng bụi bậm Giờ áo giặt rồi, hơi cũ khó tìm ra

(Áo của hôm nào người của hôm nay)Bài thơ này được tác giả viết năm 1974, là lúc gian khổ nhất của đất nước ta,bom đạn, khói lửa là thế, ấy thế mà trong lời thơ của Phạm Tiến Duật, các ông vẫntình cảm thế kia, các bà vẫn lãng mạn thế kia

Trong một bài thơ khác, nhà thơ kể một câu chuyện rất hóm hỉnh về “lá lạc

tiên”, về cô gái đi hái lá này Cô gái lo lắng tưởng ông bị ốm nên đã trèo đèo lội

suối đi hái cho bằng được lá này đem về sắc thuốc cho ông uống Ông miêu tả chân

dung cô gái thật đáng yêu, ngộ nghĩnh: “Ống quần rách tướp, tước cả da tay” Cảm động trước tình cảm chân thành của cô gái thế cho nên “uống vào ngỡ chừng ngủ

được nào ngờ lại thao thức mấy đêm ngày lá ơi”.

Ở một bài thơ khác nữa ta lại thấy Phạm Tiến Duật quan sát, miêu tả rấtchăm chú về các loài cây trong rừng:

Trang 35

Anh đi trong rừng, lá vỗ trên cao Gió bốn bề cây; cây ngả nghiêng chào, Lay bóng đậm gió thổi vào đốm nắng.

Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay;

Cây bồng bềnh cười vui suốt ngày, Thân thẳng cây chô, cành ngang cây bứa;

Cây nhựa trắng là cây si, cây sữa, Nhựa vàng cây dọc, nhựa đỏ cây nò

Cây nứa mọc đứng, cây giang mọc bò, Cây tầm gửi mọc ngồi đỏng đảnh, Cây lim uy nghi, sa nhân mỏng mảnh, Dạ hương của đêm, mắc cỡ của ngày

Da bàn tay thường chạm với da cây Khuôn mặt người chạm vào mặt lá

Rừng ơi rừng! Ta bỗng gần gũi quá!

Không có những ngày này hồ dễ đã quen nhau?

Phạm Tiến Duật là nhà thơ, nên nhìn vào cái gì, đụng đến cái gì, cái ấy cũngthành thơ: Từ cây cúc dại mọc bên bờ suối, đến cây chô, cây si, cây sữa, cây nứa,

cây tầm gửi, cây lim, cây sa nhân, Tất cả hiện lên thật đẹp, thi vị “Những ngày

này” là thời chiến tranh Nhưng đoạn thơ “cây” trên chứng tỏ nơi Phạm Tiến Duật

một tâm hồn phong phú, giàu nhân đạo, yêu thiên nhiên, tài hoa và đa cảm Không

có chiến tranh, vẫn sẽ có thơ Phạm Tiến Duật Thơ ông sẽ khác đi, khó nói trước là

hay hơn hoặc dở hơn, nhưng không thể để khẳng định “thì hình như tôi không có

thơ” như ông đã tuyên bố, hoặc vì từ tốn, hoặc vì phát ngôn cho đúng bài bản!!

Thơ tự do có phân hai nhánh, đó là thơ tổng hợp nhiều thể loại (hợp thể) vàthơ bậc thang Trong thơ Phạm Tiến Duật thơ tự do được sáng tác ở dạng hợp thểnghĩa là thơ ông thường tổng hợp nhiều thể loại, chủ yếu vẫn tự do nhưng đan xen

Trang 36

các thể thơ khác như thơ năm chữ, bảy chữ, Chẳng hạn trong bài “đi trong rừng”

người đọc rất dễ nhận thấy thể thơ bảy chữ được sử dụng rất nhiều trong bài thơ

Đi trong rừng hong hanh tháng nắng Ở với rừng dai dẳng tuần mưa

Sống với rừng cái tuổi say sưa Những vùng rừng dài hàng ngàn cây số

Đoạn giữa bài thơ tác giả lại sử dụng thể thơ bốn chữ

Đếm tiếng tắc kè Biết mưa biết nắng Biết ngọt rau đắng Biết chất củ nâu Biết thơm cỏ mật Biết ngái rau bầu Biết ngứa lá han

Đi cùng thời gian

Đi cùng sắt thép

Kết thúc bài thơ lại trở về với thể bảy, tám chữ

( )Như tiếng vọng rừng ơi! Anh gọi

Anh gọi rừng! Mở cửa rừng ơi!

(Đi trong rừng)Thơ tự do của Phạm Tiến Duật có sự mở rộng hay co giãn của câu chữ, dòngthơ nhưng chủ yếu vẫn đảm bảo được tính nhịp nhàng của nhịp điệu Đặc điểm nàygóp phần chuyển tải những hình ảnh, những con người, những sự kiện thời sự nónghổi, những suy nghĩ mạnh mẽ, cảm xúc ào ạt Cùng với cách gieo vần ngắt nhịptrong câu thơ, dòng thơ một cách linh hoạt, nhà thơ đã tạo nên những bài thơ hay,tươi trẻ, khỏe khoắn, phản ánh được thực thế chiến tranh phong phú, bề bộn Có lẽthơ tự do chính là sự thể hiện khá rõ rệt quy luật nội dung thống nhất, gắn bó vớihình thức hình thức phù hợp với nội dung mà tôi đã đề cập ở phần lý thuyết Thơ tự

do có ưu thế, khả năng phản ánh rộng rãi hơn bất kỳ một thể thơ nào khác và nhờ

Trang 37

vậy nó rất gần trong cuộc sống thời hiện đại nhất là trong điều kiện chống Mỹ cứunước và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) Thực tế đất nước không ngừng biếnđổi, những chiến công vang dội cả hai miền, những con người mới mang phẩm chấtanh hùng, những nếp sống và tư tưởng mới đã tác động đến nội dung và hình thức.

2.2 Đặc điểm về ngữ âm trong thơ Phạm Tiến Duật

Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với tư cách là mộtngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hòa âm, tiết tấu, giàu từ láy âm, tượnghình chính là một thứ ngôn ngữ có cơ cấu để làm chỗ dựa cho các phương phápdiễn đạt âm nhạc

2.2.1 Âm điệu

Âm điệu là một khái niệm khá rộng và cho đến nay nó vẫn chưa thực sự ổnđịnh Trong nhiều trường hợp khác nhau người ta có thể sử dụng khái niệm này như

âm điệu bài ca, âm điệu khúc hát, âm điệu làng quê Trong phạm vi của đề tài này

có thể hiểu âm điệu là một cái gì đó thuộc về giai điệu của âm thanh

Thơ Phạm Tiến Duật có nội dung rất phong phú Ông viết về cuộc khángchiến chống Mỹ; về quê hương miền Bắc, miền Trung; về người lính và sinh hoạtchiến đấu của họ; về thiên nhiên đất nước; về tình hữu nghị Việt – Lào, Thơ ôngkhông vì cái bề bộn, ngổn ngang của chiến trường và lao động sản xuất mà mất đivẻ lãng mạn Thơ ông gần gũi và giản dị với cuộc sống thường ngày nhưng chứachan nhiệt huyết của tuổi trẻ Trong khung cảnh ác liệt ấy, ta vẫn thấy hiện lênnhững hình ảnh đầy lạc quan, tươi trẻ: đó là hình ảnh của những chiến sỹ lái xeTrường Sơn Xe không kính, bụi thì phun trắng xóa, khiến tóc nhìn như người già,

thế nhưng tất cả đều như không có gì, họ vẫn nhìn nhau “cười ha ha”; hay hình ảnh

của những cô thanh niên xung phong ngày đêm miệt mài làm việc trên những tuyếnđường nối liền mạch máu giao thông của Tổ quốc; Của ông già thuốc Bắc bỏ nghềtham gia dân quân chiến đấu bảo vệ quê hương; Một cái áo thanh niên xungphong phơi, một bài đồng ca, Chính những chất liệu rất đỗi bình thường của cuộc

Trang 38

sống và con người trong chiến tranh ấy đã làm cho nhà thơ tràn đầy cảm xúc và viếtnên những dòng thơ, câu thơ này Thơ ông vì thế khi thì mang âm điệu bay bổnglãng mạn, khi mênh mang như đất trời vào xuân, khi thì mang nhịp điệu gấp gápcủa những trận đánh, những đợt tấn công, những đêm phá đường

Trong những năm tháng chiến đấu, nhà thơ đã đi qua nhiều miền quê, ởnhững nơi đó nhà thơ đã được nhân dân đùm bọc, cưu mang Nhà thơ nhớ nhất và

cảm động nhất đó chính là hình ảnh người mẹ Trong bài thơ “Nhớ bà mẹ ở Nam

Hoành” nhà thơ đã bày tỏ những tình cảm rất đỗi chân thành

Bưng lưng cơm, điện trong phòng bật sáng Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành, nước mắt trào ra

(Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành)Câu thơ cho thấy cái cảm giác nghèn nghẹn Nhà thơ bưng cơm ăn trong nơiphòng sáng bỗng chạnh lòng nhớ tới người mẹ Nam Hoành khi xưa Ký ức lại hiện

về Đó là một đêm vượt sông Lam, được mẹ che chở, cưu mang, nhà thơ ngồi dướihầm tối và được mẹ nấu cơm cho ăn Nhà thơ nghe mẹ kể về cuộc đời mẹ

Ngọn đèn dầu chỉ sáng lom đom Soi một dáng lưng còng vất vả Cha con bị bom đêm đánh cá

Em gái con mẹ cho nó tòng quân

(Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành)

Thì ra người mẹ già “dáng lưng còng vất vả” ấy, chồng thì bị bom Mỹ giết chết, có cô con gái duy nhất cũng đi “tòng quân” đánh giặc Dù phải sống trong cảnh thiếu thốn hết sức khó khăn nhưng “mẹ” luôn tâm niệm

Thà ăn muối suốt đời Còn hơn là có giặc

(Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành)Thật đáng kính biết bao những người mẹ Việt Nam như thế Âm điệu câu thơnhẹ nhàng, sâu lắng như tiếng lòng của người mẹ Nam Hoành, xúc động, đáng trântrọng

Trang 39

Ở những bài thơ khác, Phạm Tiến Duật lại đưa độc giả trở về không khí làmviệc hối hả, khẩn trương của quân và dân ta trong những ngày cả nước đánh Mỹ

Cục tác chiến báo sang tin cuối cùng Về số máy bay rơi trong ngày và tàu chiến cháy, Nhà khí tượng báo tin cơn bão tan

Bộ Nông nghiệp báo tình hình vụ cấy

Trong những tờ trình thủ tướng ký đọc trong đêm Còn có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiên

(Công việc hôm nay)Hoặc có khi ta bắt gặp một tâm hồn thơ lãng mạn, một giọng thơ tình tứ sâulắng Đẹp và thơ mộng biết bao

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm

Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây

(Trường Sơn đông Trường Sơn tây)

Có lẽ đồng cảm với Phạm Tiến Duật, nhạc sỹ Hoàng Hiệp và Hoàng Tạo đã

phổ nhạc bài thơ này của ông rất thành công, đó là bài hát “Trường Sơn đông

Trường Sơn tây” Ngoài ra thơ ông còn được khá nhiều các nhạc sỹ khác phổ nhạc

như là Lê Lôi, Trần Tiến, Huy Thục, Huy Loan, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Việt Hòa

Rời trường Đại học, tạm xa giấy bút, Phạm Tiến Duật bước vào chiến trườngvới một tấm lòng phơi phới rộn ràng không hề đắn đo suy tính Bản thân ông đã lănlộn khắp các chiến trường miền Nam Có lẽ vì thế ông hiểu nó hơn ai hết Nhữngcuộc hành quân xuyên rừng, những giờ nghỉ ngơi, những lần gặp gỡ với đồng

Trang 40

bào Tất cả đã đi vào thơ ông với một không khí mới, một giọng thơ mới, không bilụy, không đau thương mà tràn đầy tin yêu, lạc quan, tươi trẻ với một cảm hứng chủđạo bao trùm: cảm hứng ngợi ca Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, vẫn còn rất nhiềunhững khó khăn gian khổ, mất mát, hy sinh mà những người lính như ông phải gánhchịu Thế nhưng điều ấy không làm tắt đi niềm tin của ông trước thời cuộc Vì vậy

ta vẫn thấy thơ ông lúc trữ tình lãng mạn thiết tha, lúc lại sôi nổi, gấp gáp Nhiều bàithơ ở giai đoạn này đọc tên ta thấy da diết như chính nỗi lòng của tác giả Đó là nỗi

nhớ trẻ con trong bài “Nhớ về lũ trẻ”

Mười năm ta ở rừng Mười năm đi tìm giặc Mười năm xa con đường xa lắc

Có nỗi nhớ nào không một bóng trẻ con

(Nhớ về lũ trẻ)

Đó là những suy nghĩ rất thật của người chiến sỹ Phạm Tiến Duật Mười nămnhà thơ rời quê hương đi chiến đấu Bắt đầu cuộc sống mới Ở đó không có nhữngcon đường, những phố phường quen thuộc Và đặc biệt nhất là không hề có bóngdáng trẻ con Cũng chính từ nỗi nhớ ấy đã nhắc nhở ông một nhiệm vụ:

Bỗng nhắc nhớ con đường ngày mai Con đường ta đi suốt đời không hết Trận đánh này và trận đánh tiếp Tất cả vì trẻ con với mai sau

(Nhớ về lũ trẻ)2.2.2 Vần điệu

Dựa vào những tiêu chí khác nhau người ta có cách phân loại vần khác nhau

Ở Việt Nam xưa nay vẫn thường phân loại theo ba cách :

- Phân loại dựa vào vị trí của tiếng gieo vần ở trong mỗi dòng thơ, khổ thơ(thành các vần lưng, vần chân, vần chân liền nhau, vần chân ôm nhau, vần chân đanchéo nhau)

Ngày đăng: 14/07/2015, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristore, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, NXB Văn học, H Khác
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa kỷ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H Khác
3. Diệp Quang Ban (Chủ biên), (2000), Tiếng Việt 10, NXB Giáo dục, H Khác
4. Nguyễn Nhã Bản (2004), Đặc trưng cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, NXB Văn hóa – Thông tin, H Khác
5. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H Khác
6. Vũ Thị Sao Chi (2005), Một số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam, Tạp chí ngôn ngữ (số 3) Khác
7. Mai Ngọc Chừ (1991), Vầng thơ Việt Nam dưới ánh sáng của ngôn ngữ học, NXB Đại học giáo dục chuyên nghiệp, H Khác
8. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội Khác
9. Đinh Xuân Dũng (2003), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, NXB Quân đội nhân dân, H Khác
10. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H Khác
11. Đại học quốc gia Hà Nội – Trường viết văn Nguyễn Du – Tạp chí văn nghệ quân đội (1996), 50 năm Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng 8, NXB Đại học quốc gia,H Khác
12. Hà Minh Đức (1998), Khảo luận văn chương, NXB Khoa học xã hội, H Khác
13. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Minh Thuyết, Đoàn Thiện Thuật (1999), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, H Khác
14. Phê bình, bình luận văn học Bằng Việt- Phạm Tiến Duật- Nguyễn Duy, NXB báo Văn nghệ Khác
15. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1998), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục,H Khác
16. Nguyễn Thị Thu Hiền (2005), đặc điểm ngôn ngữ thơ Thanh Hải, luận văn Thạc sỹ ngữ văn, Đại học Vinh Khác
17. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn Việt Nam, H Khác
18. Nguyễn Thái Hòa (2005), từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học, NXB Giáo dục,H Khác
19. Bùi Công Hùng (2000), quá trình sáng tạo thơ ca, NXB Văn hóa thông tin,H Khác
20. Nguyễn Thị Dư Khánh, Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp, NXB Giáo dục,H Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w