1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)

286 423 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 286
Dung lượng 4,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu) (LA tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ một công trình nào./

Tác giả luận án

Đồng Hoàng Hƣng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

1.2 Thơ và ngôn ngữ thơ 12

1.3 Thi học 15

1.4 Thi luật 18

1.5 Đặc điểm của ngữ âm tiếng Việt 20

1.6 Thi vận, thi tiết, thi điệu 22

1.7 Thơ thất ngôn và thơ bảy chữ hiện đại 31

1.8 Thống nhất cách hiểu về một số khái niệm trong luận án 33

1.9 Tiểu kết 39

CHƯƠNG 2 HIỆP VẦN TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI 40

2.1 Vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại 40

2.2 Các kiểu loại vần trong thơ bảy chữ hiện đại 44

2.3 Chức năng tạo vần của các yếu tố cấu thành âm tiết 58

2.4 Sự phân bố của thanh thanh điệu trong hiệp vần 64

2.5 Giá trị nghệ thuật của vần trong thơ bảy chữ hiện đại 69

2.6 Tiểu kết 73

CHƯƠNG 3 NGẮT NHỊP TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI 76

3.1 Cơ sở của việc ngắt nhịp 76

3.2 Kết quả khảo sát các loại nhịp 102

3.3 Giá trị nghệ thuật của nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại 110

3.4 Tiểu kết 116

CHƯƠNG 4 HÀI THANH TRONG THƠ BẢY CHỮ HIỆN ĐẠI 118

4.1 Cách tổ chức thanh điệu trong thơ bảy chữ hiện đại 118

4.2 Bước đầu tìm hiểu về niêm trong thơ bảy chữ hiện đại 134

4.3 Bước đầu tìm hiểu về đối thanh điệu bằng - trắc trong thơ bảy chữ 138

4.4 Giá trị của hài thanh trong thơ bảy chữ hiện đại 141

4.5 Tiểu kết 143

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

+ -a-a: Câu 2 và câu 4 có cùng vần

+ -aa-: Câu 2 và câu 3 có cùng vần

+ abab: Câu 1 và câu 3 cùng vần, câu 2 và câu 4 cùng vần

+ abba: Câu 1 và câu 4 cùng vần, câu 2 và câu 3 cùng vần

+ aabb: Câu 1 và câu 2 cùng vần, câu 3 và câu 4 cùng vần

+ a a: Câu 1 và câu 4 cùng vần

+ a-aa: Các câu 1,3,4 có cùng vần

+ -aaa: Các câu 2,3,4 có cùng vần

+ aaaa: Các câu 1,2,3,4 có cùng vần

+ a-a-: Câu 1 và câu 3 có cùng vần

- Đối với các kiểu loại vần:

Trang 6

+ N14, 23: Trường hợp 1, câu 1 niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3

+ N12: Trường hợp 2, câu 1 niêm với câu 2

+ N34: Trường hợp 3, câu 3 niêm với câu 4

+ N123: Trường hợp 4, câu 1,2, 3 niêm với nhau

+ N234: Trường hợp 5, câu 2, 3,4 niêm với nhau

+ N123: Trường hợp 6, câu 1,2, 3, 4 niêm với nhau

+ N12,34: Trường hợp 7 (N12,34), câu 1 niêm với câu 2, câu 3 niêm với câu 4 + N0: Trường hợp 8, không có niêm

- Đối với trường hợp có đối thanh điệu:

+ TH1: Trường hợp 1, 2 câu đầu đối thanh điệu còn 2 câu cuối không đối thanh điệu + TH2: Trường hợp 2, 2 câu cuối đối thanh điệu còn 2 câu đầu không đối thanh điệu + TH3: Trường hợp 3, câu 1 đối thanh với câu 2, câu 3 đối thanh với câu 4

+ TH4: Trường hợp 4, không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng trắc giữa các câu trong khổ thơ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1: Thống kê vị trí hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại

2 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát các loại vần trong thơ bảy chữ hiện đại

3 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát các kiểu loại vần chính trong thơ bảy chữ hiện đại

4 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát các kiểu loại vần thông trong thơ bảy chữ hiện đại

5 Bảng 2.5: Sự xuất hiện của các kiểu âm tiết trong thơ bảy chữ hiện đại

6 Bảng 2.6: Bảng thống kê tình hình phân bố của các âm cuối

7 Bảng 2.7: Sự xuất hiện của nhóm phụ âm vang và nhóm phụ âm vô thanh

8 Bảng 2.8: Bảng thống kê các nguyên âm làm âm chính

9 Bảng 2.9: Bảng thống kê sự tham gia hiệp vần của các nguyên âm

10 Bảng 2.10: Bảng thống kê số lượng các nguyên âm cùng hàng tham gia hiệp vần

11 Bảng 2.11: Các nguyên âm cùng bậc âm lượng hiệp vần

12 Bảng 2.12: Bảng thống kê số lượng các thanh điệu tham gia hiệp vần

13 Bảng 3.1 Bảng kết quả sử dụng từ láy trong thơ bảy chữ hiện đại

14 Bảng 3.2 Bảng các loại nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại

15 Bảng 4.1: Bảng phân bố bằng trắc trong thơ bảy chữ hiện đại

16 Bảng 4.2: Bảng phân bố thanh điệu theo khuôn truyền thống

17 Bảng 4.3: Bảng phân bố thanh điệu không theo khuôn truyền thống

18 Bảng 4.4: Bảng các kiểu thanh điệu phân theo số lượng bằng, trắc

19 Bảng 4.5: Bảng thống kê các trường hợp niêm

20 Bảng 4.6: Bảng thống kê các trường hợp đối thanh điệu bằng - trắc

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây mà trực tiếp là văn hóa Pháp, thơ Việt Nam trong thế kỷ XX đã có nhiều cách tân, đổi mới sáng tạo so với thơ truyền thống Điển hình cho sự cách tân này phải kể đến Phong trào Thơ Mới Từ Phong trào Thơ Mới đến nay, thơ Việt Nam đã phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, trong đó có những khuynh hướng hiện đại, mang đậm dấu ấn của sự đổi mới, của sự tự

do hóa Sự biến động của xã hội Việt Nam ở thế kỷ XX, sự phát triển về tư tưởng ảnh hưởng đến nghệ thuật, làm cho văn bản thơ đã có nhiều biến động, phá vỡ những khuôn hình thơ truyền thống ở các thể loại, trong đó có thơ bảy chữ hiện đại

1.2 Mỗi một dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn liền với những thể loại văn học nhất định Những đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại thơ ca thể hiện tập trung nhất đặc điểm tâm lí - thẩm mỹ trong đời sống tinh thần của một dân tộc, của một thời

kỳ Thể thơ không phải là kết quả của một tác động cơ học mà là một sự chọn lọc tự nhiên của cảm xúc con người trước hiện thực Điều này được Nguyễn Phan Cảnh khẳng định rất rõ trong chuyên luận "Ngôn ngữ thơ" Đối với người Việt Nam, bên cạnh thơ lục bát, thơ bảy chữ cũng có một vị trí quan trọng trong đời sống văn học và ghi dấu ấn đậm nét về từng thời kỳ lịch sử của dân tộc

1.3 Thể thơ bảy chữ trong thơ ca hiện đại có dáng dấp của thơ Đường luật thất ngôn Thơ thất ngôn Đường luật du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ đầu xã hội phong kiến Đây là một thể thơ bác học, do quy định khắt khe về niêm, luật nên chủ yếu được giới trí thức phong kiến sử dụng để sáng tác Sang thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, nhiều khuôn vần, nhịp, thanh của thơ thất ngôn được phá vỡ, thơ bảy chữ trở thành một thể loại phổ biến được giới trí thức Tây học dùng để sáng tác một cách linh hoạt đầy sáng tạo Từ đây, thơ bảy chữ đã không ngừng phát triển và khẳng định vị trí của mình trong tiến trình văn hóa Đỉnh cao của thời kỳ này phải kể đến

Phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) Trong "Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh - Hoài Chân đã khẳng định: "Thất ngôn và ngũ ngôn rất thịnh Không hẳn là cổ phong Cổ

phong ngày xưa đã thúc lại thành Đường luật Thất ngôn và ngũ ngôn bây giờ lại do luật đường giãn và nới ra, cho nên êm tai hơn Cũng có lẽ vì nó ưa vần bằng hơn vần trắc"[114,tr.44] Đến nay, thơ bảy chữ đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những

đóng góp của các tác giả tên tuổi như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc

Trang 9

Tử, Tố Hữu,… Khi một thể thơ đồng hành cùng tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì

nó cũng đồng thời trở thành một tài sản văn hóa có giá trị ổn định Vì vậy, phát triển thơ bảy chữ cũng chính là trau dồi bản sắc và phát triển văn hóa dân tộc

1.4 Khi một thể thơ đã có chỗ đứng trong dòng chảy của văn hóa dân tộc, với tên tuổi của những nhà thơ nổi tiếng, nó trở thành đối tượng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu

Đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu đến sự phát triển, đặc điểm của thơ bảy chữ, nhưng đa số lại tập trung vào xem xét từ bình diện lí luận phê bình văn học như:

“Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại" (1971) của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức; "Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" (1974) của Hà Minh Đức

Trong các chuyên luận, thơ bảy chữ cũng chỉ được dành một phần rất ít số trang chứ chưa trở thành một chuyên luận có tính chuyên sâu hoặc bàn riêng về thể thơ này Chỉ

có một số ít tác giả chú trọng đến tiến trình thể loại Cho đến nay, thơ bảy chữ hiện đại với thành tựu to lớn của nó vẫn chưa có được một chuyên luận nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học Chính vì vậy vấn đề đặt ra là cần phải chọn những thi phẩm bảy chữ hiện đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ để đi đến những nhận thức cần thiết về những đặc điểm của thể thơ này

Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi đã chọn bốn tác giả là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu làm dẫn liệu chủ yếu Từ đó đối sánh với thơ thất ngôn truyền thống để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại

Với những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài "Đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ

hiện đại (trên tác phẩm của một số nhà thơ tiêu biểu)"

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Với luận án này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Chỉ ra những đặc điểm chính của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi

học và thi luật về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm ở 3 phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi

điệu), hài thanh (thi tiết)

- Góp phần làm sáng tỏ những cách tân, sáng tạo, những đóng góp về mặt cơ cấu/

tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại thế kỉ XX

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

Trang 10

- Làm rõ một số khái niệm có liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi học và thi luật (cơ cấu/tổ chức ngữ âm), bao gồm: Thơ, ngôn ngữ thơ, thi học, thi luật, vần (thi vận), nhịp (thi điệu), hài thanh (thi tiết)

- Miêu tả những đặc điểm ngôn ngữ về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ hiện đại trên cứ liệu các tập thơ cụ thể của 4 nhà thơ: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên Trên cơ sở ấy, luận án sẽ nghiên cứu chi tiết đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại ở 3 phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi điệu), hài thanh (thi tiết)

- Khái quát nên những đặc điểm về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ bảy chữ hiện đại, thấy được sự cách tân sáng tạo, sự biến đổi của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại

so với thơ thất ngôn Đường luật

Thơ bảy chữ Việt Nam chịu ảnh hưởng của thơ thất ngôn Đường luật Trung Quốc vốn có kết cấu chặt chẽ, không thay đổi về mặt hình thức Khi vào Việt Nam, thơ bảy chữ đã được vận dụng và biến đổi theo lịch sử Bên cạnh đó, đặc điểm ngôn ngữ của một thể thơ tập trung ở vần, nhịp, sự hài thanh Do vậy, luận án chỉ tập trung nghiên cứu thơ bảy chữ Việt Nam thế kỷ XX nhằm chỉ rõ những đặc điểm về mặt hình thức của thơ bảy chữ thông qua sự biến đổi về vần, nhịp, hài thanh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại Việt Nam ở thế kỉ XX trên cơ sở tư liệu của bốn tác giả là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu `

Nói đến ngôn ngữ thơ, người ta thường đề cập đến 3 bình diện: Ngữ âm, ngữ pháp

và ngữ nghĩa Trong 3 bình diện này, bình diện ngữ âm là nổi trội tạo nên đặc điểm về mặt hình thức của thơ bảy chữ hiện đại Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ Việt Nam thế kỷ XX dưới góc độ thi

học và thi luật về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm ở 3 phương diện: vần (thi vận), nhịp (thi

điệu), hài thanh (thi tiết) Đây chính là 3 đặc điểm ngữ âm quan trọng nhất tạo nên cái chất riêng của thơ bảy chữ hiện đại, đồng thời cũng có những biến đổi nhất so với thơ thất ngôn truyền thống

Trong thế kỉ XX, thơ bảy chữ hiện đại đã có một vị trí quan trọng, có những ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc với sự đóng góp của nhiều nhà thơ lớn mà tác phẩm của họ đã ghi lại dấu ấn không thể phai mờ Luận án không có tham vọng khảo sát với một diện rộng, việc làm này là rất khó khăn Trong

Trang 11

khuôn khổ của luận án, chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát tư liệu với tác phẩm của 4 nhà thơ: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên với tổng số 361 bài với 6154 câu thơ, cụ thể:

+ Chế Lan Viên: 85 bài, 642 câu thơ

+ Hàn Mặc Tử: 58 bài, 731 câu thơ

+ Tố Hữu: 62 bài, 1110 câu thơ

+ Xuân Diệu: 156 bài, 3671 câu thơ

Ở đây, số lượng câu thơ của 4 tác giả được đưa ra thống kê có sự chênh lệch nhau Luận án căn cứ vào việc tính toán tỷ lệ % của từng tác giả để làm cơ sở so sánh đối chiếu và đưa ra những nhận định về thơ bảy chữ hiện đại

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Đây là một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ thơ nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo

là một hệ phương pháp của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thơ bảy chữ hiện đại Xuất phát từ mục đích cũng như đối tượng nghiên cứu, trên nguyên lý chung là quy nạp, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thao tác nghiên cứu sau:

- Phương pháp mô tả: Luận án mô tả kết hợp với phân tích về cách gieo vần, các kiểu loại vần, chức năng tạo vần của các yếu tố cấu thành âm tiết, sự phân bố của thanh điệu, mô tả về các khả năng ngắt nhịp, luật niêm, phép đối thanh điệu bằng - trắc Luận án tiến hành mô tả định lượng để có những nghiên cứu định tính về vần, nhịp, hài thanh của thơ bảy chữ hiện đại

- Phương pháp thống kê: Thống kê cách gieo vần ở từng khổ thơ, các kiểu loại vần chính, vần thông, vần ép, điệp vận, chức năng tạo vần của các yếu tố cấu thành âm tiết,

sự phân bố về thanh điệu, các cách ngắt nhịp, luật niêm trong các khổ thơ, đối thanh điệu bằng - trắc trong các khổ thơ Việc thống kê đó dựa trên cơ sở xử lý tư liệu của 4 nhà thơ: Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Chế Lan Viên Luận án tiến hành tính số lượng, tỷ lệ phần trăm, các kiểu mô hình (nếu có) cho từng nội dung Kết quả thống kê

đó được sử dụng để phục vụ cho việc miêu tả, so sánh, nhận xét, đánh giá về hiệp vần, ngắt nhịp và hài thanh trong thơ bảy chữ hiện đại

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được tiến hành ở hai bình diện: so sánh giữa 4 nhà thơ với nhau để thấy được sự giống nhau và khác nhau giữa các nhà thơ giúp cho việc khẳng định phong cách của mỗi nhà thơ; so sánh giữa khuôn mẫu truyền thống

Trang 12

của thơ bảy chữ với thực tế sử dụng vần, nhịp, hài thanh của 4 nhà thơ để chỉ rõ sự cách tân

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đây là luận án đầu tiên khảo sát khảo sát đặc điểm ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại

về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm (góc độ thi học và thi luật), do vậy, sẽ góp phần làm sáng

tỏ thêm một số vấn đề:

- Lý thuyết về việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ dưới góc độ thi học và thi luật

- Đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học Việt Nam, hướng hẳn vào

việc nghiên cứu chuyên sâu về mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ (thi học và thi luật)

- Sự cách tân về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại nhằm đáp ứng sự phát triển về

tư tưởng và sự đổi mới về nội dung

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần việc đổi mới cách dạy môn Ngữ văn trong trường học ở các bậc học khác nhau

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Lần đầu tiên thơ bảy chữ hiện đại được khảo sát dưới góc độ cơ cấu/tổ chức ngữ

âm Các tư liệu cùng với những nhận xét đánh giá của luận án giúp người đọc nhận biết khá đầy đủ những nét đặc sắc về ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại về mặt vần, nhịp và hài thanh Sự đổi mới về hình thức của thơ bảy chữ hiện đại là một sự vận động tất yếu để phù hợp xu hướng phát triển của thời đại, đáp ứng nhu cầu về tư tưởng và sự đổi mới về nội dung của thơ Việt Nam thế kỷ XX

Các kết quả của luận án còn giúp người đọc thấy được những đóng góp của thơ bảy chữ hiện đại trên con đường tự do hoá ngôn ngữ thơ thế kỷ XX Với thơ bảy chữ hiện đại, vần, nhịp, hài thanh không phải chỉ là bằng bằng trắc trắc đơn thuần mà nó còn thể hiện thế giới nội tâm phong phú, những biến thái tinh vi của cuộc sống qua lăng kính của nhà thơ Vần thơ bảy chữ phong phú, đa dạng được tạo nên thông qua những yếu tố tương đồng, tương dị Cách ngắt nhịp phi truyền thống đã chiếm một tỷ lệ đáng

kể, tạo ra những nét đặc sắc, bất ngờ

Một thể thơ có dáng dấp từ thơ Đường luật thất ngôn nhưng đã được làm mới, tạo

ra những nét rất riêng, rất Việt Nam Các kết quả của luận án đã giúp người đọc thấy được những đóng góp của thơ bảy chữ hiện đại trong việc làm phong phú thêm các thể loại thơ Việt Nam ở thế kỷ XX Qua đây, chúng ta khẳng định thể thơ bảy chữ hiện đại

Trang 13

sẽ trường tồn, không ngừng phát triển và được làm mới vì nó đã được minh chứng bởi các nhà thơ có tên tuổi trong thế kỷ XX

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung luận án được triển khai trong 4 chương: Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Hiệp vần trong thơ bảy chữ hiện đại

Chương 3: Ngắt nhịp trong thơ bảy chữ hiện đại

Chương 4: Hài thanh trong thơ bảy chữ hiện đại

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Thi ca nói chung từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, nhưng những thành tựu đã đạt được lại không bao giờ làm cho họ thỏa mãn hoàn toàn Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đã đứng trên nhiều bình diện khác nhau để khám phá vẻ đẹp riêng của thi ca theo nhiều góc độ khác nhau Ở mỗi bình diện, các nhà nghiên cứu đã thu được những kết quả đặc thù và có đóng góp làm

sáng tỏ nhiều vấn đề Ở luận án này chúng tôi tổng quan tình hình ngiên cứu vấn đề ở

hai góc độ: lí luận phê bình văn học và ngôn ngữ học Tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, ranh rới giữa hai góc độ này nhiều khi hòa vào nhau

1.1.1 Từ góc độ lí luận phê bình văn học

Có thể khẳng định rằng Arixtote và Lưu Hiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ ca như một nghệ thuật trong đời sống tinh

thần [1] Năm 1943, Dương Quảng Hàm với tác phẩm "Việt Nam văn học sử yếu" đã đề

cập đến một cách căn bản lịch sử của các thể loại thi ca tiếng Việt [42] Trên cơ sở kế

thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước như Phan Kế Bính trong "Việt

Hán văn khảo" (1918), Bùi Kỉ trong "Quốc văn cụ thể" (1932), Dương Quảng Hàm

trong "Việt Nam văn học sử yếu", năm 1971, Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã

nghiên cứu chỉ ra cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu về lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung (trong đó có thơ bảy chữ) Năm 1974, Hà Minh Đức với tác phẩm

"Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" đã mang đến cho người đọc một cái

nhìn đầy đủ hơn về thơ, vấn đề ngôn ngữ thơ đã được bàn luận đến khá nhiều ở chuyên luận này, nhịp điệu và thanh điệu trong thơ cũng được tác giả quan tâm thể hiện Việc nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức được xem như là một bước tiến quan trọng đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu thể loại thơ ca nói chung, ngôn ngữ thi ca nói riêng, như là cái gạch nối giữa hai xu hướng lí luận phê bình và ngôn ngữ học

Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Lý Hoài Thu, Lê Lưu Oanh, Mã Giang Lân, Trần Khánh Thành, Bùi Công Hùng đều hướng tới một, hoặc một vài tác giả, tác phẩm (có cả trung đại và hiện đại) với một số nội dung chính như: (i) tiến trình văn học, (ii) phê bình lí luận văn học, (iii) sự cách tân thơ

Trang 15

văn, (iv) nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học văn học Trần Đình Sử với chuyên luận

"Thi pháp thơ Tố Hữu" (1995) và "Những thế giới nghệ thuật thơ" (1997), Trần Khánh Thành với "Thi pháp thơ Huy Cận" (2001) đã nghiên cứu thi pháp thơ và loại hình thơ

dựa trên sự phân tích những cứ liệu cụ thể của tác phẩm văn chương

Ngoài những công trình nghiên cứu có bề dày về lí luận và phê bình văn học nói trên, trong những năm gần đây có không ít những bài phê bình tuy nhỏ nhưng khá hấp dẫn trên diễn đàn văn học Các đặc điểm của thơ Việt Nam, đặc biệt là thơ Việt Nam

thế kỷ XX được quan tâm bàn luận nhiều như: "Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về

ngôn từ thơ Việt đương đại" (Trần Ngọc Hiếu), "Cấu trúc trong thơ trẻ sau 1975" (Trần

Quang Đạo), "Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong thơ đương đại - ghi nhận qua một số

hiện tượng" (Trần Ngọc Hiếu),

Nhìn chung trên bình diện lí luận phê bình đã có một số thành tựu được ghi nhận

về sự đóng góp công lao to lớn trong công cuộc khám phá thi ca nước nhà Tuy nhiên cần phải có cái nhìn từ nhiều phía mới đảm bảo tính khách quan và toàn diện Vì vậy, bình diện ngôn ngữ sẽ là một góc nhìn khác có thể làm đối trọng để sự đánh giá tác phẩm văn chương ngày càng khoa học và chính xác hơn

1.1.2 Từ góc độ ngôn ngữ học

Các công trình và bài viết nói trên đã đề cập đến "ngôn từ" và "ngôn ngữ" khi bàn

về thơ Việt Nam thể kỉ XX Thực ra, việc nghiên cứu chú ý đến cách tiếp cận nghệ thuật mới về nghệ thuật thi ca và các yếu tố ngôn ngữ trong thơ đã có mầm mống ở Nga từ đầu thế kỉ XX Vào đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga đã đưa ra những cách tiệp cận mới về nghệ thuật thi ca Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức để lí giải nội dung ý nghĩa Đây có thể coi là bước nhảy vọt rất đáng ghi nhận về quan điểm và nhận thức của giới nghiên cứu văn học Lấy những yếu tố mang tính phân biệt về hình thức giữa thơ và văn xuôi như âm luật, vần, câu thơ, đoạn thơ… làm đơn vị khảo sát, trường phái này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ Đó là sự cụ thể hóa cái cơ bản nhất của các loại hình văn chương nằm trong định nghĩa mang tính khái quát:

“Văn học là nhân học” (văn học là khoa học về tính "người”) của M.Gooki

Các nhà hình thức Nga như R.Jacobson, V.Girmunxki đã đi sâu nghiên cứu các yếu

tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống Những quan điểm nghiên cứu của trường phái này thể hiện rõ nét và

tập trung nhất trong bài viết về thi phẩm “Những con mèo” của Ch Baudelaire [58] Bên

Trang 16

cạnh đó có thể thấy những luận điểm của R.Jacobson về chức năng của ngôn ngữ thơ có vai trò như một cánh cửa gợi mở đường hướng cho các nhà nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ Việt Nam nói chung, thơ Việt Nam thế kỉ XX nói riêng: nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lý thuyết về chức năng ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu theo hướng cấu trúc - chức năng mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh vực thi ca thỏa mãn hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng một lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thơ có thể thực hiện tốt những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới

Ở Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc độ

ngôn ngữ, tiêu biểu là chuyên luận "Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện

Kiều" (1985) của Phan Ngọc Với những thao tác định lượng, định tính trong nghiên

cứu ngôn ngữ, Phan Ngọc đã không sa vào sự lí giải chung chung mà tập trung thỏa đáng cho những mặt nổi trội về ngôn ngữ đã cho Truyện Kiều trở nên nổi tiếng Đây là một hướng đi hợp lí trong việc đánh giá một tác phẩm thơ

Ngoài Phan Ngọc với công trình nói trên, đối với việc nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học hoặc ngôn ngữ học, còn phải kể đến một số tên tuổi tiêu biểu như: Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ, Bùi Công Hùng, Lý Toàn Thắng

Năm 1983, Bùi Công Hùng đã cho ra mắt cuốn "Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ

ca" Trong đó tác giả đã rất cố gắng đưa ra tập hợp những nguyên tắc chung về thi ca

dưới ánh sáng của những luận điểm đã được tổng kết trước đó về kết cấu hình thức và lí thuyết hệ thống Bùi Công Hùng đã chỉ ra các bình diện, cấp độ, các cấu trúc trong thơ, tuyệt đối hóa mặt hình thức, tạm thời không quan tâm đến cơ chế sản sinh và cơ chế vận động để lí giải các biểu hiện của ngôn ngữ thơ

Năm 1987, Nguyễn Phan Cảnh cho ra đời tác phẩm "Ngôn ngữ thơ" Tiếp thu

những luận điểm trong tư tưởng của R.Jacobson về chức năng của ngôn ngữ thi ca, Nguyễn Phan Cảnh đã chú trọng đi vào một số bình diện của ngôn ngữ thơ như tính đa trị của tín hiệu ngôn ngữ (nhờ phương thức tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa), nhạc thơ, mức độ và cách thức hoạt động của trường nét dư trong vận động tạo thể….[9.tr165]

Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng cho lí thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi)

Trang 17

Năm 1988, Hữu Đạt cho ra mắt chuyên luận "Ngôn ngữ thơ Việt Nam" Ở chuyên

luận này, Hữu Đạt đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ tiếng Việt trên

cơ sở sử dụng các lí thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn Trong đó tác giả đã đưa

ra được những luận điểm quan trọng như kết cấu mảng miếng, nhạc thơ, một số đặc

trưng của thơ lục bát [22] Ngoài ra còn kể đến các cuốn "Phong cách học và các

phong cách chức năng tiếng Việt" (2000), "Phong cách học tiếng Việt hiện đại" (2001),

"Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học" (2002) của tác giả này

cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu về văn học nói chung, thơ ca nói riêng từ phương diện phong cách học của ngôn ngữ học

Với cuốn "Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng của ngôn ngữ học" (2005), tác giả

Mai Ngọc Chừ đã khai thác tương đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam trong đó có thơ bảy chữ Đây là một công trình khẳng định được vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt, dù mới chỉ đi sâu vào cấp độ vần thơ

Nhà nghiên cứu hải ngoại Đặng Tiến với công trình "Thơ: thi pháp và chân dung"

(2009) là những cảm nhận và phân tích mà ông thể hiện từ thời trẻ về Bà Huyện Thanh Quan, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng, Hoàng Trúc Lý Cùng với điều đó, chúng ta nhận thấy sự suy ngẫm từ rất sớm, và ngày càng sâu sắc của tác giả về lý thuyết thơ, khi ông tìm hiểu và vận dụng quan niệm của những nhà thi pháp học hàng đầu như Roman Jakobson, Claude Levi-strauss, Nguyễn Tài Cẩn vào công việc phê bình văn học

Gần đây có một loạt các bài báo, các công trình nghiên cứu chuyên sâu của tác giả

Lý Toàn Thắng về vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ thơ như: "Bằng trắc Thơ Bảy chữ Xuân

Diệu" (2002), "Thử đo đếm Thơ" (2005), "Đọc lại Tống Biệt Hành của Thâm Tâm"

(2006), "Âm điệu trong thơ Hàn Mạc Tử"(2007), "Thanh Bằng, vần Bằng trong thơ

Bích Khê" (2010) Đặc biệt là một loạt các bài viết về "thi học", "thi luật" đã mở ra

hướng nghiên cứu được cho là có hiệu quả và sát hợp khi nghiên cứu về ngôn ngữ thơ:

"Đường vào Thi học: khái niệm và phương pháp" (2011), "Mấy vấn đề thi học và thi

luật đại cương" (2011), "Đường vào Thi học: các hệ thống thi luật" (2011), "Bàn về tiết điệu qua thơ lục bát" (2012), "Khảo nghiệm nhịp thơ lục bát trong Truyện Kiều"

(2012), "Trở lại câu chuyện “vần" trong Truyện Kiều" (2012), "Khảo nghiệm tiết điệu

thơ Lục Bát trong Truyện Kiều" (2014), "Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều"

(2015) Ở đây, tác giả đề cập đến câu chuyện ngôn ngữ (nghệ thuật) của tác phẩm thơ; cần phải nghiên cứu liên ngành, ít nhất cũng là liên ngành giữa văn học (lý luận và phê

Trang 18

bình) với ngôn ngữ học "Nghệ thuật ngôn từ của thơ ca được khuôn lại hẹp hơn, trở thành đối tượng nghiên cứu của một phân môn mới thuộc vào thi pháp - đó là thi học:

nó chuyên sâu hẳn vào mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ, và chính ở phân môn mới

này ngày càng thấy rõ vai trò của con mắt và cái tai thứ hai: ngôn ngữ học" "Thi học phải nghiên cứu và chỉ tập trung nghiên cứu những đặc trưng âm thanh/ngữ âm của Thơ!" Nhiều khái niệm đã được tác giả làm sáng tỏ như: thi học, thi luật, thi vận, thi điệu, thi tiết

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX

(trên cứ liệu các tập thơ của một số tác giả)" (2008), chuyên luận "Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX" (2014) của Nguyễn Thị Phương Thùy đã nghiên cứu

về ngôn ngữ thơ theo hướng thi pháp học Công trình đã góp phần tìm hiểu sâu hơn về sự

tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt thế kỷ XX trong đó có thơ bảy chữ Tác giả đã chỉ ra sự tự

do hóa ngôn ngữ thơ diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: bài thơ, khổ thơ, câu thơ Sự tự do hóa diễn ra ở nhiều khía cạnh trong đó có vần, nhịp điệu, thanh điệu

Ngoài các công trình nói trên, còn phải kể ra đây một số Luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ học của Trường Đại học Vinh có quan tâm đến việc tìm hiểu về nhịp điệu của thơ

bảy chữ trong Phong trào Thơ Mới như: "Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ của Xuân

Diệu" (2006) của Nguyễn Thị Hồng Nhung, "Nhịp điệu trong thơ mới bảy chữ" (2008)

của Nguyễn Thị Đào

Những năm gần đây, thơ bảy chữ được nhiều người quan tâm nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn Tuy nhiên, việc nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở một số tác phẩm đơn lẻ của một số tác giả hoặc tập trung vào một khía cạnh nào đó của thơ bảy chữ trong Phong trào Thơ Mới (như về nhịp điệu) Thơ bảy chữ được đề cập đến trong một

số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ mới chỉ là một phần, một nội dung nhỏ và chưa có một sự bàn luận sâu ở một phạm vi lớn hơn

Trong khi đã có khá nhiều chuyên luận nghiên cứu thi ca hiện đại nói chung, thơ bảy chữ hiện đại nói riêng từ góc độ thi pháp, lí luận và phê bình thì vẫn còn quá ít các chuyên luận tiếp cận chúng từ góc độ ngôn ngữ Hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại một cách quy mô, hệ thống và chuyên sâu

hẳn vào mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm (thi học) Vì vậy, một công trình nghiên cứu đưa

ra được những đánh giá đầy đủ, mang tính thuyết phục về thơ bảy chữ hiện đại dưới

góc độ cơ cấu/tổ chức ngữ âm (thi học) là hết sức cần thiết

Trang 19

1.2 Thơ và ngôn ngữ thơ

1.2.1 Thơ là gì?

Lịch sử phát triển của thơ ca bằng chính chiều dài của lịch sử phát triển văn học nhân loại Khi con người nhận thức được mối liên hệ giữa mình với thực tại và có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Có thể nói, thơ là một hình thức sáng tạo văn học đầu tiên của loài người và trong một thời gian dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học

Vậy thơ là gì? Để trả lời câu hỏi này và tìm được một định nghĩa thâu tóm được

toàn bộ bản chất thơ ca không phải là dễ Xung quanh khái niệm về thơ, từ trước tới nay

đã có nhiều cách lý giải khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau, trong đó nổi lên ba khuynh hướng sau:

Khuynh hướng thứ nhất là thần thánh hóa thơ ca, cho rằng bản chất của thơ ca và hoạt động sáng tạo thơ ca gắn với những điều thiêng liêng, huyền bí Từ thời cổ đại, Platôn đã xem bản chất của thơ ca thể hiện linh cảm - những cảm giác thiêng liêng nhất giữa thế giới cao xa của thần thánh và thế giới con người Và nhà thơ là người trung gian có năng lực cảm giác và biểu đạt điều đó Trong khuynh hướng này, các nhà thơ lãng mạn phương Tây thường lý tưởng hóa thơ hoặc đối lập một cách cực đoan giữa thơ

ca và hiện thực cuộc sống Levi-Strauss với quan điểm về thơ như một cứu cánh, mang

giá trị thẩm mỹ Lamáctin cho rằng: "Thơ là sự hiện thân của những gì thầm kín nhất

của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên" Ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX,

nhóm Xuân Thu Nhã Tập cũng đã có định nghĩa về thơ: "Thơ là cái gì huyền ảo, tinh

khiết, thâm thuý cao siêu" [Dẫn theo 66,tr.7] Thơ gần với trong, đẹp, thật "Thơ là đạo,

là tôn giáo, là tình yêu" Chế Lan Viên trong lời tựa của tập Điêu Tàn đã cho rằng:

"Làm thơ là sự phi thường" "Thi sĩ không phải là người, nó là người Mơ, người Say,

người Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát thực tại Nó xáo trộn dĩ vẵng Nó ôm trùm tương lai Người ta không hiểu được nó, vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý" [Dẫn theo 66,tr.9] Hay cực đoan hơn, Hàn

Mặc Tử cho rằng: "Làm thơ tức là điên" [Dẫn theo 66,tr.9]

Như vậy, các quan niệm trên đều coi quá trình sáng tạo thơ như là một cái gì đó thần bí, thiêng liêng, nó đi liền với một thứ đạo - đạo sáng tác và coi người nghệ sỹ là người khác thường, siêu phàm

Trang 20

Khuynh hướng thứ hai cho rằng thơ gắn liền với cuộc sống, với thời đại, bản chất của thơ ca được thể hiện trong việc gắn sứ mệnh của thơ ca với đời sống xã hội Cuộc sống chính là sân băng cho thơ cất cánh nhưng cũng là đích đi tới của thơ ca Lưu

Trọng Lư cho rằng: "Thơ là sự tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống" Tố Hữu cũng đã nêu ra quan niệm của mình: "Thơ là biểu hiện tinh chất của cuộc sống", "Thơ

chỉ trào ra khi trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy" Hay như đánh giá của Sóng Hồng:

"Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp nhất" Chính vì thơ gắn liền

với cuộc sống nên thơ trở thành sợi dây tình cảm ràng buộc mọi người với nhau, do vậy

"thơ còn là tiếng nói tri âm", "thơ là chuyện đồng điệu", nhờ đó thơ thể hiện được sắc màu muôn vẻ của cuộc sống của con người và sứ mệnh của thơ là phục vụ cuộc sống Khuynh hướng thứ ba là hình thức hóa thơ ca, xem bản chất của thơ thuộc về những nhân tố hình thức Ở khuynh hướng này, các nhà nghiên cứu đã đánh giá tính chất sáng tạo trong thơ là sáng tạo ngôn ngữ hoặc tổ chức kết cấu hơn là nhân tố nội dung Có nghĩa là bình diện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét bản chất thơ ca là cấu trúc ngôn ngữ thơ Jacobson - đại diện cho trường phái cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu trong tiểu luận

"Thơ là gì?" đã viết: "Nhưng tính thơ được biểu hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ ngữ những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng" [59]

Dưới góc nhìn của cấu trúc, giáo sư Phan Ngọc trong bài "Thơ là gì" cũng đưa ra quan niệm: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận

phải nhớ, phải cảm xúc, phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này" [80]

Chữ "quái đản" được Phan Ngọc giải thích là khác lạ so với thông thường

Theo Nguyễn Hữu Đạt thì: "Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng

hình thức ngắn ngọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật"

Bùi Công Hùng trong "Góp phần tìm hiểu về nghệ thuật thi ca" khẳng định thơ

quan trọng về vần và điệu, trong đó điệu chính là cách tổ chức, hòa phối ngữ âm

Tóm lại, mỗi khuynh hướng đã chọn cho mình con đường đi riêng nhưng tất cả đều

nỗ lực kiếm tìm lời giải về bản chất của thơ ca và vai trò của người sáng tác trong quá

Trang 21

trình sáng tạo nghệ thuật Trong số các cách hiểu về thơ nói trên cũng có những cách hiểu mang tính chất chung chung, khái quát, chưa làm rõ được bản chất của thơ Có những cách hiểu quá coi trọng về mặt hình thức của thơ, có những cách hiểu chỉ quan tâm đến nội dung của thơ mà không chú ý đến hình thức Một cách hiểu mà chúng tôi thấy là hợp

lý đó là chú ý đến cả hai mặt nội dung và hình thức của thơ Với cách hiểu này, theo chúng tôi cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển Thuật ngữ văn học có thể xem là chung nhất, khái quát nhất cho tất cả những quan niệm đã nêu trên: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu" [41, tr.210] Định nghĩa này đã bao quát được đầy đủ các tiêu chí về cả nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ, hơn nữa nó còn chỉ ra đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ để khu biệt với ngôn ngữ trong các thể loại văn học khác

1.2.2 Ngôn ngữ thơ là gì?

Văn học được gọi là nghệ thuật ngôn từ Cách sáng tạo và thưởng thức một tác phẩm văn chương chính là tư duy trên chất liệu ngôn ngữ Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn

học "ngôn ngữ nghệ thuật được dùng trong văn học" [41, tr.185] Nhưng thơ ca có cơ

chế vận hành bộ máy ngôn ngữ rất độc đáo Với một lượng đơn vị ngôn ngữ hữu hạn, thơ có khả năng biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống, cái phong phú đa dạng, dồi dào cảm xúc, tình cảm con người

Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa

ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ Jacobson đã từng nói rằng: "chức năng của thi ca

đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp" [Dẫn theo 22,

tr.83], ông đã nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ

chế kết hợp Bên cạnh đó trên các nguyên lý của F.de.Sassure trong giáo trình Ngôn

ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan

trọng Ông nhấn mạnh các yếu tố âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan

trọng trong việc nhận diện ngôn ngữ thơ

Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cũng đã dựa vào lý thuyết hệ hình để xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất [9, tr 51,70] Ông còn nêu ra lý

Trang 22

thuyết trường nét dư, trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ trường nét

dư chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận các kết cấu "lạ"

do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà ra

Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ thể là "được

trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ có vần điệu

và các qui luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ" [22, tr.25]

Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ, ta có thể đi đến kết luận: Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức

riêng của thơ ca Và lâu nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ thường được đi theo lối này,

vì vậy việc tiếp cận thơ dưới góc độ ngôn ngữ học hay lý luận phê bình văn học thường không có ranh giới rõ ràng, thường bị đan xen, hòa vào nhau Ở luận án này, chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại dưới góc độ thi học tức là chuyên sâu về mặt

cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ

1.3 Thi học

Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói riêng là quá trình khám phá tìm hiểu ngôn ngữ thơ trong hoạt động hành chức của nó

Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ thơ khác nhau như: ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, tu từ v.v Có cách tiếp cận thiên về việc nghiên cứu trên nền tảng, cơ sở lý thuyết văn học (lý luận và phê bình) Có cách tiếp cận thiên về việc nghiên cứu trên nền tảng, cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học

Theo quan điểm của Lý Toàn Thắng: "đối với văn chương nói chung, và nhất là ngôn ngữ thi ca nói riêng, cần phải được nghiên cứu liên ngành; ít nhất cũng là liên ngành giữa văn học (lý luận và phê bình) với ngôn ngữ học, và rộng hơn là giữa văn học với ký hiệu học, nhân học, tâm lý học, và gần đây nữa là với "nhận thức học" hay

Trang 23

Ở Việt Nam, "thi pháp học" được coi là khoa học nghiên cứu “hệ thống các

phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học” [41]

Trên thế giới, sự xuất hiện trường phái hình thức Nga ở thế kỉ XX đã đưa ra những cách tiệp cận mới về nghệ thuật thi ca Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức để lí giải nội dung ý nghĩa Roman Jakobson là người có những đóng

góp quan trọng về vấn đề này Với công trình "Ngôn ngữ học và thi pháp học", thi pháp

mới được xem như có liên quan với ngôn ngữ học - khi mà Jakobson lần đầu tiên nói đến chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ, một chức năng độc lập quan trọng vốn bộc lộ rõ nhất trong ngôn ngữ thơ ca [60]

Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp, nhưng tựu trung lại chúng đều đề cập đến ba vấn đề sau đây: (i) Sự sáng tạo thơ ca, các hình thức và nguyên lý của nó; (ii) Cơ cấu/cấu trúc của các tác phẩm văn chương nói chung; và (iii) Hệ thống các phương tiện, thủ pháp biểu đạt (ngôn ngữ, âm thanh, chữ viết, biểu tượng v.v.) được sử dụng trong nghệ thuật thơ ca

Tuy nhiên, sự phát triển của thi pháp về sau này đã có những sự biến động về ranh giới và phạm vi nghiên cứu của nó Có lúc người ta thu hẹp lại và chỉ chú tâm nghiên cứu các quy tắc thơ Có khi thì mở rộng tới độ hầu như phủ lấp cả văn học hay mỹ học,

và đôi khi còn đi xa hơn nữa Tình hình này có thể thấy rất rõ thông qua các tên sách

chuyên khảo trong và ngoài nước như: "Những vấn đề thi pháp Dostoevsky" của Bakhtin (1972); "Thi pháp Không gian" của Gaston Bachelard (1992); "Thi pháp Điện

ảnh" của David Bordwell (2007); "Thi pháp thơ Tố Hữu" của Trần Đình Sử (1995);

"Thi pháp thơ Đường" của Quách Tấn (1998); "Thi pháp thơ Huy Cận" (2001) của Trần

Khánh Thành

Đây chính là cơ sở, tiền đề để cho thi học ra đời Nghệ thuật thơ ca được khuôn lại hẹp hơn, trở thành đối tượng nghiên cứu của thi học (một phân môn thuộc vào thi

pháp) Từ đây, thi học chuyên sâu hẳn vào mặt cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ (cơ sở

lý thuyết của ngôn ngữ học)

Ở Việt Nam, lâu nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ nói chung và thơ bảy chữ nói riêng vẫn nghiêng nhiều về lý luận phê bình Một số nhà nghiên cứu đã bước đầu đi theo đường hướng của "thi pháp học cấu trúc", nhưng lại chưa chuyên sâu vào cơ cấu/tổ chức ngữ âm của thơ Chính vì vậy, thi học chưa được các nhà ngôn ngữ học và các nhà

Trang 24

văn học quan tâm đúng mức Ngay một công trình đổi mới, rất có giá trị của Nguyễn Phan Cảnh về "ngôn ngữ thơ" (1987), tác giả chủ yếu áp dụng những tư tưởng của Roman Jakobson về "thi pháp", về "ngôn từ thi ca" và "chức năng thi ca" - đặc biệt là cái nguyên lí, cái công thức về kỹ thuật thơ nổi tiếng của Jakobson: “chức năng thi ca đem nguyên tắc tương đương của trục lựa chọn chiếu lên trục kết hợp”

Đến đây chúng ta có thể xác định được đối tượng, phạm vi nghiên cứu của thi học bao gồm các phương diện như vần điệu, nhịp điệu, tiết điệu (phối thanh bằng trắc), các kết hợp thanh âm, các kiểu loại âm tiết Đây là những yếu tố thuộc về hình thức, cơ cấu tổ chức ngữ âm của thi ca Vì vậy việc tìm hiểu về thi học là hết sức quan trọng và cần thiết Nó là cơ sở, tiền đề lý thuyết để chúng ta khảo sát các phương diện nói trên của ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại

Vậy, "thi học" là gì?

Mục đích đầu tiên của thi học là dạy cho người ta biết cách làm thơ như thế nào Sang đến thế kỷ XIX, thi học mới trở thành một khoa học (một phân môn của thi pháp), nghiên cứu xem thơ ca được sáng tác ra như thế nào với mục đích cuối cùng là xác lập

vị trí của cấu trúc âm thanh trong cấu trúc chung của cả thi phẩm, cũng như xác lập mối liên hệ của cấu trúc đó với các cấu trúc ngôn ngữ và hình tượng [132]

Đặc trưng nổi bật của ngôn ngữ thơ là ở sự tổ chức âm thanh một cách hài hoà và

có quy luật chặt chẽ Do đó, ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu hình ảnh và có nhạc điệu Tổ chức của ngôn ngữ thơ được chia cắt ra thành phần ngắn hay dài theo âm luật Các thành phần này được chia ra thành câu thơ và thường thường lại chia thành các dòng thơ nhỏ hơn Nhịp điệu là yếu tố quan trọng để gắn kết các thành phần lại với nhau Nói đến thơ người ta nghĩ ngay đến tính nhạc Tính nhạc của thơ được tạo thành từ nhiều yếu tố và đặc biệt là ba yếu tố cơ bản vần, thanh điệu và nhịp điệu Về vấn đề này, tác giả Lý Toàn Thắng đã khẳng định: "Với thi học hiện đại, thơ là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật, có tổ chức nhất về phương diện âm thanh, được tạo thành từ những tiết đoạn liên quan với nhau, tương đương với nhau, thông ước với nhau và có thể so sánh được với nhau thông qua nhịp điệu" [126]

Về mặt lý thuyết, thi học có đối tượng, phạm vị nghiên cứu khá rộng như trên Nhưng trên thực tế, do các đặc trưng của thơ ca thể hiện ra rõ nhất trong tổ chức âm thanh của nó, nên đối tượng nghiên cứu được thu hẹp lại Thi học chỉ tập trung nghiên cứu đến bốn vấn đề lớn là: (i) Thi âm: nghiên cứu cách thức tổ hợp các âm (thanh), các

Trang 25

âm tiết; (ii) Thi tiết: nghiên cứu các âm tiết và cách tổ hợp các âm tiết; (iii) Thi điệu: nghiên cứu cấu trúc nhịp điệu thơ; và (iv) Thi đoạn: nghiên cứu sự tổ hợp các câu thơ thành khổ thơ, đoạn thơ

Tuy nhiên có một số quan niệm mà đối tượng, phạm vi nghiên cứu của thi học được mở rộng ra bao gồm cả: Nhịp điệu ở văn xuôi, chỉnh thể nhịp điệu của văn bản nghệ thuật, thi luật âm tiết, thi luật điệu tính/thanh tính, thi luật âm tiết - điệu tính, các hình thức kịch thơ ở các nước Với cách nhìn nhận này sẽ có những khái niệm phức tạp và ít có liên quan tới thi ca tiếng Việt Chính vì vậy, việc nghiên cứu tập trung vào bốn vấn đề vừa nêu ở trên là sát hợp và rất có ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Việt Đây là xuất phát điểm, là cơ sở để "thi học" Việt Nam phát triển, là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu ngôn ngữ thơ bảy chữ hiện đại

1.4 Thi luật

Như chúng ta đã biết sự khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi - đó chính là ở mặt tổ chức âm thanh (ngữ âm) của chúng Chính vì vậy, thi học phải tập trung nghiên cứu những đặc trưng âm thanh/ngữ âm của thơ

Thơ là tiếng nói của tâm hồn tình cảm con người Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Trong thơ, các đặc trưng về ngữ âm được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý

để tạo nên tính nhạc Những đặc trưng ngữ âm của ngôn ngữ thơ thường được nhắc đến

đó là: âm (nguyên âm, phụ âm), thanh (như các thanh điệu trong tiếng Việt), âm tiết, chỗ ngắt, ngữ điệu, nhịp (điệu),

Các đặc trưng ngữ âm có một vai trò, chức năng quan trọng trong việc tạo dựng nên cấu trúc, tổ chức âm thanh của một bài thơ Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu chúng ta không thể tách rời, riêng lẻ từng đặc trưng; chúng cần phải được kết nối lại, tập hợp lại trong những khái niệm, những phạm trù chung nào đấy Tức là, chúng ta cần tìm ra các quy tắc, các kỹ thuật, các luật lệ ngữ âm khi sử dụng Nói như tác giả Lý Toàn Thắng đó

"là các luật lệ ngữ âm hay thi luật - mà nhà thơ phải tuân theo khi sáng tác ra đứa con

ngôn từ nghệ thuật của mình" [132,tr17-18]

Hiện nay trên thế giới có khá nhiều cách hiểu về thi luật, thể hiện ở một số quan điểm như sau:

- Các học giả Pháp chú tâm vào việc phân biệt giữa thi luật với thi pháp/thi học Họ

đã đưa ra được điểm khác biệt cơ bản giữa thi luật với thi pháp/thi học ở chỗ: thi pháp

Trang 26

học chú tâm đến những quan niệm mỹ học về thơ ca Còn thi luật thì khảo sát các kỹ thuật liên quan đến câu thơ, đến sự nhóm họp câu thơ thành khổ thơ, đến nhịp điệu và âm hưởng Tức là các học giả Pháp quan tâm tới một phẩm chất âm học, đặc biệt của các âm Với thơ quan trọng nhất là nhịp điệu, là số lượng âm tiết, là trọng âm, là các chỗ ngưng nghỉ, …Đây là những yếu tố tạo nên tính nhạc trong thơ và cuốn hút người đọc

- Các học giả Mỹ khẳng định, thi luật là nghệ thuật làm thơ hay lý thuyết về cấu trúc và đặc trưng của thơ, liên quan trước hết đến tiết điệu và nhịp điệu Có học giả còn tuyệt đối hóa vai trò của thi tiết/tiết điệu khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ Trong các đặc trưng ngữ âm thì âm tiết là quan trọng như: số lượng âm tiết, mức năng lượng và độ dài thời gian khi phát âm, hay độ cao của chúng v.v Đây là yếu tố để thi ca có thể được tổ chức lại trong một mô hình cân đối và có trật tự

- Các học giả Nga quan niệm, thi luật nghiên cứu trước hết là các đặc điểm (ngữ âm) và cách thức tổ chức của ngôn ngữ thơ, đặt trong sự phân biệt với ngôn ngữ văn xuôi Khi nghiên cứu thi luật họ quan tâm đến cơ cấu âm thanh của ngôn ngữ Đây chính là cái tiền đề quan trọng nhất để phân biệt ra ngôn ngữ của thơ và ngôn ngữ văn xuôi Các học giả Nga đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi thể hiện ở chỗ:

+ Thứ nhất, ngôn ngữ thơ được chia cắt ra thành các chiết đoạn nhỏ hơn - các câu

thơ có liên quan với nhau, tương đương và thông ước với nhau (tức là có thể đo đạc, so sánh được với nhau)

+ Thứ hai, văn bản thơ không bắt buộc người làm thơ phải chia đoạn tách câu sao

cho đúng ngữ pháp như một văn bản văn xuôi Chính vì vậy mà trong văn bản thơ, câu thơ được biến đổi rất linh hoạt: có thể gồm một dòng thơ hoặc hơn một dòng thơ, có thể vắt dòng v.v Câu thơ cũng có thể chỉ là một âm tiết hoặc nhiều âm tiết Tính thông ước với nhau của các câu thơ trong một bài thơ là điều quan trọng nhất Để làm được điều này các câu thơ thường được làm cho dài bằng nhau hay gần bằng nhau và được sắp xếp theo một cách nào đó (sát liền nhau hay cách dòng) tùy theo các yếu tố âm thanh - trước hết và chủ yếu là các âm tiết Điều này lý giải vì sao thi ca có nhiều thể loại từ 4 âm tiết đến 8

âm tiết và thơ tự do ngày càng được ưa chuộng và xuất hiện ngày càng nhiều

Trong các quan niệm trên, chúng tôi thấy quan niệm của các học giả Nga là tổng quan, đầy đủ và sát hợp hơn cả khi tìm hiểu về thi luật Họ đã nhìn thấy được các đặc điểm

Trang 27

(ngữ âm) và cách thức tổ chức của ngôn ngữ thơ, đặt trong sự phân biệt với ngôn ngữ văn xuôi và yếu tố để làm được điều này chính là cơ cấu âm thanh của ngôn ngữ

Từ cách hiểu về thi luật nói trên chúng ta thấy, mỗi nền thi ca được sáng tác bằng các ngôn ngữ khác nhau, đều có những hệ thống thi luật riêng Ngay ở một nền thi ca nào đó, vào những thời kỳ lịch sử khác nhau, cũng có thể xuất hiện một lối thi luật mà trước hay sau giai đoạn đó không còn thấy bóng dáng của nó nữa Thí dụ như trường phái thơ tượng trưng, thơ điên của Phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) trong thơ Việt Nam ở thế kỉ XX

Vậy hệ thống thi luật của một thứ tiếng được thể hiện ra như thế nào? Theo tác giả

Lý Toàn Thắng: "Hệ thống thi luật của một thứ tiếng, như các nhà thi học đã chỉ ra, có thể bộc lộ qua việc chúng ta tiến hành khảo sát năm phương diện chính yếu sau đây:

(i) Cách thức tổ hợp các âm (thanh), các âm tiết - gọi là “thi âm”

(ii) Nghiên cứu các âm tiết và cách tổ hợp âm tiết - gọi là “thi tiết”

(iii) Nghiên cứu cấu trúc nhịp điệu câu thơ (khổ thơ, bài thơ) - gọi là “thi điệu”

(iv) Quy tắc về vần điệu của câu thơ ( khổ thơ, bài thơ) - gọi là “thi vận”

(v) Cách thức tổ hợp các câu thơ thành khổ thơ, đoạn thơ - gọi là “thi đoạn” [127]

Đây là một quan điểm khoa học và rất phù hợp khi tìm hiểu thi luật của một nền thi ca nào đó và phù hợp khi tìm hiểu về thi luật trong thơ ca tiếng Việt

Từ những lý giải trên có thể khẳng định rằng, tổ chức ngữ âm của ngôn ngữ thơ không hề đơn giản; nó được kiến tạo từ rất nhiều phương diện, rất nhiều đặc trưng âm thanh của ngôn ngữ được sử dụng để sáng tạo ra bài thơ đó, và với không ít những lề luật nghiêm ngặt Điều này đòi hỏi chúng ta phải hiểu sâu về thi học, thi luật để làm cơ

sở cho việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ

1.5 Đặc điểm của ngữ âm tiếng Việt

Khi nói đến đặc điểm cơ bản nhất của ngữ âm tiếng Việt, người ta phải nói đến đặc

điểm âm tiết tính hay nói một cách khác là khi giao tiếp người nói tiếng Việt phải nói từng âm tiết (hay còn gọi là tiếng) Đặc điểm cơ bản và quan trọng này là cơ sở để xếp tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn tiết mang thanh điệu Có thể khẳng định, âm tiết

với tư cách là đơn vị ngữ âm, có vai trò đặc biệt, chi phối tất cả các đặc điểm khác về từ vựng, ngữ pháp, dụng học của tiếng Việt

Bàn về các nội dung này, theo trình tự thời gian, phải kể đến các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Hàm Dương (1966), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Đoàn Thiện Thuật (1977),

Trang 28

Cao Xuân Hạo (1985, 2001), Nguyễn Quang Hồng (1976, 2012, 2014, 2017) Tất cả các

tác giả tiêu biểu mà chúng tôi đã nêu đều nhất trí và xác nhận vai trò của âm tiết: cho dù

là đơn vị ngữ âm, nhưng âm tiết (tiếng) là đơn vị cơ bản nhất và quan trọng nhất tạo nên đặc điểm loại hình đơn lập tiếng Việt

Nguyễn Hàm Dương là tác giả đầu tiên nêu lên vai trò của âm tiết tiếng Việt qua

bài “Âm tiết tiếng Việt, một đơn vị tín hiệu cơ bản” (1966) Trong bài viết, tác giả

chứng minh âm tiết trong tiếng Việt là đơn vị phát âm tự nhiên nhất và có chức năng không chỉ đối với ngữ âm mà còn đối với cả từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt

Tiếp tục tư tưởng này, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt Tiếng – Từ ghép – Đoản

ngữ (1975), Nguyễn Tài Cẩn khi bàn về đơn vị cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt, đã chỉ

ra đầy đủ vai trò của âm tiết mà ông gọi là tiếng với tư cách là một thể nhưng thống nhất ba ngôi: tiếng đồng thời là âm tiết (ngữ âm), là từ cơ bản (từ vựng) và là hình vị

(ngữ pháp) Rõ ràng đặc trưng đơn tiết thể hiện ở tất cả các cấp độ của tiếng Việt và là đặc trưng không thể phủ nhận

Cao Xuân Hạo, ngay từ bài viết Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng (1985) đã chứng minh cho luận điểm “trong tiếng Việt, tiếng vừa là âm vị, vừa là hình vị vừa là

từ” và “tôi có chứng minh rằng trong tiếng Việt đơn vị có cương vị ngôn ngữ học của

âm vị là tiếng chứ không phải là âm tố như các ngôn ngữ châu Âu” Tác giả duy trì

quan điểm của mình về việc tiếng không thể phân xuất thành những thành phần nhỏ

hơn trong công trình Âm vị học và tuyến tính (2001): Nói cách khác tiếng là một khối,

không có cấu trúc ngữ âm nội tại Đây là quan điểm độc đáo về cấu trúc âm tiết tiếng

Việt khác với tất cả các tác giả khác khi bàn về đơn vị này

Nguyễn Quang Hồng là người có nhiều bài viết sâu sắc về âm tiết tiếng Việt, đặc

biệt là vai trò của nó trong thi ca Việt Nam Có thể kể đến các khảo sát Âm tiết tiếng

Việt, chức năng và cấu trúc của nó (1976); Âm tiết và loại hình ngôn ngữ (2012); Âm tiết tiếng Việt và sự thể hiện chức năng thi ca (2014) và mới nhất là cuốn sách Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca (2017) Ông cho rằng âm tiết được người Việt gọi theo cách

gọi truyền thống là tiếng tức là xét về mặt âm thanh hoặc là chữ xét về mặt chữ viết

(theo quan niệm chữ tượng hình truyền thống) Âm tiết, xét từ góc độ ngữ âm, là một chỉnh thể âm thanh trọn vẹn, không biến đổi trong quá trình giao tiếp và do vậy nó thỏa

mãn đặc điểm loại hình đơn tiết: đơn lập về cơ cấu hình thái và âm tiết tính về cơ cấu

ngữ âm Về mặt chức năng, tác giả cho rằng: “Sự tương đương nhất định về mặt chức

Trang 29

năng (tạo lập vỏ tiếng các đơn vị mang nghĩa) giữa âm tiết tiếng Việt, tiếng Hán với

âm vị trong các ngôn ngữ biến hình đã dẫn ta đến chỗ thừa nhận âm tiết hay đúng hơn

- tiết vị (xi-la-bem - thuật ngữ của E.D Pô-li-va-nốp) là đơn vị ngữ âm cơ bản trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt, tiếng Hán và các ngôn ngữ cùng loại hình” (1976) Về mặt

cấu trúc, tuy là một đơn vị trọn vẹn về ngữ âm nhưng âm tiết vận có thể được phân

thành những đại lượng ngữ âm nhỏ hơn: âm đầu, vần và thanh bằng các qui tắc hình

thái học của tiếng Việt theo quan điểm âm vận học truyền thống

Đoàn Thiện Thuật ít bàn về chức năng mà chủ yếu bàn về cấu trúc của âm tiết tiếng Việt Trong cuốn Ngữ âm tiếng Việt (1977) tác giả quan niệm âm tiết tiếng Việt ở

bậc đầu tiên được chia thành 3 phần: phụ âm đầu, vần và thanh điệu Tiếp theo, ở bậc thứ hai, phần vần lại được trược chia thành: âm đệm, âm chính và âm cuối Nhìn tổng

thể, âm tiết gồm năm phần hợp thành nhưng ở hai bậc quan hệ, trong đó có bốn thành

phần chiết đoạn: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và một thành phần siêu đoạn:

thanh điệu

Với tư cách là “viên gạch” xây nên những đơn vị ở bậc cao hơn, âm tiết tiếng Việt

là đơn vị âm thanh tiêu biểu của giao tiếp bằng lời tiếng Việt Mặt khác, chính âm tiết gồm hai phần chiết đoạn (âm đầu và vần) và phần siêu đoạn (thanh điệu) có thể tách ra bằng các thủ pháp hình thái học cho nên âm tiết cũng là phương tiện trong sáng tạo thi

ca Trong thơ ca truyền thống, các qui tắc vần, hài thanh, ngắt nhịp đều được những người sáng tạo học thuộc và vận dụng Trong âm nhạc dân gian, người sáng tạo cũng dựa vào những đặc điểm vần, thanh điệu vốn có trong âm tiết (âm vực và âm điệu) để tạo nên những giai điệu của các bài dân ca

1.6 Thi vận, thi tiết, thi điệu

1.6.1 Thi vận (vần thơ)

Vần (hay: Vần điệu) là đối tượng nghiên cứu của một phân môn trong thi học được gọi là thi vận Trong văn học xưa nay, vần được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất của thi ca, là yếu tố xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ góp phần tạo nên tính nhạc của thơ Chính vì vậy, vần được các nhà nghiên cứu phê bình văn học chú tâm khảo sát từ lâu, đặc biệt là đối với những thể thơ cách luật truyền thống

Ở nước ta, giới nghiên cứu - phê bình văn học đã xem xét, phân tích vần của thơ dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả: Dương Quảng Hàm, Bùi Kỷ, Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, …

Trang 30

Trong giới ngôn ngữ học cũng đã có những nghiên cứu sâu sắc về vần của các tác giả như: Phan Ngọc, Nguyễn Tài Cẩn, Võ Bình, Nguyễn Phan Cảnh, … trong đó nổi

bật lên chuyên khảo công phu của Mai Ngọc Chừ “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng

của ngôn ngữ học” (1991) Công trình này đã mang đến cho người đọc có một cái nhìn

tương đối đầy đủ khi tìm hiểu về vần của thơ trong đó có thơ bảy chữ

Theo tác giả Lý Toàn Thắng: "Trong thi luật đại cương, khi định nghĩa về sự hiệp vần giữa hai từ hay hai âm tiết, người ta thường hay nói đến sự tương hợp, sự tương đồng, sự cộng hưởng, sự hài hoà và sự lặp lại của các đặc trưng về nguyên âm, phụ âm, trọng âm, thanh điệu v.v của hai từ hay hai âm tiết được hiệp vần" "Sự hiệp vần giữa hai từ hay hai âm tiết, theo các nhà thi học, phải tuân thủ một nguyên lí chung, một cơ chế hiệp vần nhất định, cơ chế nhị nguyên “đồng - dị” (tương đồng - tương dị): giữa hai

âm tiết vừa phải có chỗ giống nhau vừa phải có chỗ khác nhau Tương đồng chủ yếu là

để có được sự hài hòa, cộng hưởng về âm thanh; tương dị chủ yếu là để đa dạng, tránh lặp vần, đơn điệu." [130]

Với cách nhìn nhận trên, tác giả Mai Ngọc Chừ đã đưa ra định nghĩa về vần rất sát

hợp: "Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định

giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp" [15, tr.12]

Về các chức năng của vần, theo tác giả Mai Ngọc Chừ, vần có 3 chức năng sau: (i) Chức năng tổ chức (cấu tạo) của vần: Nó như “sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho việc đọc được thuận miệng, nghe được thuận tai và làm cho người đọc dễ nghe, dễ nhớ” (tr.31); nó có “chức năng liên kết văn bản” thơ

(ii) Chức năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp của dòng thơ, biểu hiện ở chỗ “nhịp khi có sự

hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng, chỗ ngắt trở nên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn” (tr 39-40) Vần còn có chức năng "phân giới" dòng thơ, vì nó “là một tín hiệu báo rằng đấy là điểm cuối cùng, điểm ngừng, điểm ngắt nhịp dòng thơ” (tr.41)

(iii) Chức năng làm tăng sức mạnh biểu đạt ý nghĩa cho những từ, những tiếng mang vần, chúng trở thành những “tiêu điểm”, “điểm ngời sáng” trong dòng thơ (tr.44- 63), nhờ vào các biện pháp chủ yếu: Gieo vần vào những tiếng, những từ mang lượng thông tin cao của dòng thơ; Đặt vần vào những vị trí thích hợp mà cụ thể; Vận dụng khéo léo các yếu tố cấu tạo âm tiết như thanh điệu, âm chính và âm cuối trong chức năng tạo vần

Trang 31

Từ góc nhìn của thi luật và âm luật, theo suy nghĩ của chúng tôi, đơn vị biểu diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết bao gồm: âm đoạn tính và siêu đoạn tính (thanh điệu) Xét về chức năng tạo nên sự tương đồng, sự hòa âm thì các yếu tố cấu tạo nên âm

tiết có vai trò không giống nhau: "Ở đây thanh điệu, âm cuối rồi đến âm chính là những

yếu tố giữ vai trò quyết định của sự hòa âm Vai trò thứ yếu thuộc về âm đệm và yếu tố cuối cùng là âm đầu" [15, tr.115]

Trước hết, ta xét đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) chức năng hòa âm của thanh điệu trong các vần thơ được biểu hiện chủ yếu ở chỗ: các âm tiết hiệp vần chỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc) Đó là nét cơ bản của vần thơ Việt Nam

Xét về mặt âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể đến âm cuối

"Trong một âm tiết, giữa các yếu tố tạo nên phần vần thì âm cuối là yếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả" [15, tr.100] Âm cuối là cơ sở để người ta phân loại các vần

(khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính tính chất của những loại vần giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm Với âm cuối, sự hòa âm của vần thơ sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm và âm vị

zê rô) hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vang mũi (m, n, ng, nh), hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c)

Âm chính "là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết cho nên

âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [15, tr.105] Để

góp phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các vần thơ: Các nguyên âm là âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc (trầm hoặc bổng), đặc trưng về âm lượng (nhỏ, lớn)) Ngoài ra, có những trường hợp âm chính không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần là nhờ âm cuối giống nhau

Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ để tránh lặp vần Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, đắp đổi của

âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì âm đầu nào trong âm tiết

cũng không ảnh hưởng đến sự hào âm Từ đó, ta thấy rõ một điều: "âm đầu có tham gia

cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không đáng

Trang 32

kể” [15,tr.112] Còn âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà sự có

mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ

Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong đó thanh điệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn âm tiết và do đó quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần.Âm đệm không có chức năng tạo vần nhưng

có chức năng phân biệt và tạo nên sự phong phú, đa dạng của vần

1.6.2 Thi tiết (tiết điệu)

Từ xa xưa, trong thi pháp học cổ đại Hy Lạp, thuật ngữ "tiết điệu" đã được nói đến Trong “Nghệ thuật thơ ca”, Aristote có viết : “…còn loại nghệ thuật mà chỉ dùng

ngôn từ - hoặc không có cách luật hoặc có cách luật, thêm nữa hoặc xen lẫn cách luật

với nhau hoặc chỉ dùng một thứ, thì đến bây giờ loại nghệ thuật ấy vẫn còn bởi chính vì chúng ta không thể đặt một tên chung nào cho những bài mimes của Sophron và Xenarquen, hay những bài đối thoại của Socrate, kể cả sự mô phỏng bằng thể thơ ba chân, thể thơ bi ca, hoặc những loại thơ tượng tự” [1]

Ở Nga, đến thế kỉ XVIII, tiết điệu bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và bàn luận, Lomnosov và Trediakovski là những người có công đầu tiên trong vấn đề này Với cuộc cải cách về thi luật tiết điệu "âm tiết - trọng âm" do hai ông khởi xướng nên đã có sự khảo cứu bài bản, nghiêm túc về các qui tắc âm luật thơ Nga Đầu thế kỉ XX là thời kì ghi nhận nhiều đóng góp của các học giả Nga về vấn đề này Trường phái Hình thức Nga, với tên tuổi lớn như: Jakobson v.v đã có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Những vấn đề như "âm điệu", "nhịp điệu", „"tiết điệu",… đã được đặt ra một cách mạnh mẽ, khoa học trong sự nghiên cứu thi ca

Ở Trung Quốc, tiết điệu cũng được quan tâm nghiên cứu ở thế kỉ XX Năm 1958, học giả Vương Lực trong cuốn "Hán ngữ thi luật học" đã nghiên cứu những vấn đề như luật "Bằng-Trắc", cách gieo vần, nhịp điệu/tiết tấu v.v của các thể loại thơ ca Trung Hoa (như: ngũ ngôn, thất ngôn, từ khúc v.v.) thuần túy từ góc nhìn ngôn ngữ học Ở đây, tác giả không đề cập đến mối quan hệ giữa hình thức và nội dung của thơ ca, mà chỉ nghiên cứu thuần túy thi luật Để làm nổi bật sự luân phiên "Bằng - Trắc" trong thơ tiếng Hán, Vương Lực đã có sự so sánh tiếng Hán với các thứ tiếng Châu Âu như tiếng Anh, tiếng Pháp Từ sự so sánh này, tác giả đã đi đến một nhận xét quan trọng: nếu ở thơ tiếng Anh cơ sở của tiết tấu (tức nhịp điệu) là sự luân phiên "khinh trọng âm" (âm

Trang 33

tiết có mang trọng âm và không mang trọng âm) thì trong thơ tiếng Hán đó là sự luân phiên Bằng - Trắc

Ở Việt Nam, có thể khẳng định, Dương Quảng Hàm là người đầu tiên nói một cách bài bản đến chuyện "tiết điệu" trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” (1950) Tuy nhiên, tiết điệu được nhìn nhận dưới góc độ của "âm luật", "luật thơ" v.v Theo ông, luật thơ là

“cách sắp đặt tiếng bằng tiếng trắc trong các câu của một bài thơ” [40,tr.118] Nhà thơ Nguyễn Đình Thi trong bài “Mấy ý nghĩ về thơ” (1949) đã viết: “Nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm của tiếng đàn êm tai

… Ngâm thơ véo von mới làm cho ta nghe thấy tiếng bổng trầm của bằng trắc” [145] Trong giới ngôn ngữ học, theo tìm hiểu của chúng tôi, Võ Bình và Nguyễn Tài

Cẩn là những người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này Trong "Vần trong thơ lục bát"

(1985), hai ông đã nhận ra sự cần thiết phải phân biệt giữa nhịp điệu và tiết điệu trong thơ lục bát Ở đây, hai ông không dùng thuật ngữ "cấu trúc tiết điệu" mà dùng một thuật ngữ khác là: "kết cấu vận luật” Khái niệm về "bước thơ" đã được bàn đến ở bài viết này và điều đáng quan tâm là: quan niệm của hai ông về "bước thơ" rất giống với quan

niệm về "bước thơ" và "chân thơ" trong thi học đại cương (Do điều kiện, ở luận án này

chúng tôi không bàn sâu đến khái niệm "bước thơ" và "chân thơ") Theo hai ông, căn

cứ chủ yếu dùng để cắt dòng thành bước là qui tắc chi phối sự nhấn mạnh và sự luân

phiên thanh điệu ở các tiếng ở vị trí chẵn (2, 4, 6, 8) Trong dòng thơ, bước với bước

(cũng như tiếng/âm tiết với tiếng/âm tiết) được nối với nhau nhờ sự luân phiên bằng - trắc Tác giả cũng đã đề cập đến những biến thể vận luật ở các bậc dòng thơ, bậc bước thơ và bậc vị trí [8]

Gần đây nhất là các công trình nghiên cứu của Lý Toàn Thắng như: Bàn về tiết

điệu qua thơ lục bát (2012), Khảo nghiệm tiết điệu thơ Lục Bát trong Truyện Kiều

(2014), Bằng trắc Thơ Bảy chữ Xuân Diệu (2002), Âm điệu trong thơ Hàn Mạc Tử

(2007) Ở những bài viết này, tác giả đã bàn rất sâu về vấn đề này, nhiều khía cạnh liên quan đến "tiết điệu" đã được tác giả làm rõ và cung cấp cho người đọc một phông kiến thức cơ bản khi tìm hiểu về "tiết điệu" của thơ Đây là những cơ sở khoa học tin cậy mở ra một hướng nghiên cứu mới về tiết điệu của thơ

Thế nào là "tiết điệu"?

Theo tác giả Lý Toàn Thắng: "Nói đến tiết điệu trước hết là nói đến cái cấu trúc tiết điệu của dòng thơ, đến sự trắc lượng dòng thơ theo thời gian Đơn vị của tiết điệu là

Trang 34

"mét" (meter) vốn gốc tự chữ Hy Lạp, được dùng trong công chuyện trắc lượng/đo đạc Đơn vị này được các nhà nghiên cứu thi học chuyển sang để trắc đạc dòng thơ, câu thơ về mặt tiết điệu; nó được xem như một chỉnh thể bao gồm các vị trí “mạnh” và “yếu” (thường là do các âm tiết đảm trách) được sắp xếp một cách có quy luật trong thơ" [132, tr131]

Nguồn gốc của khái niệm này có từ thi luật Hy Lạp - La Mã cổ đại Đến ngày nay, với sự phát triển của thi học hiện đại, các nhà nghiên cứu thường dùng nó bằng các thuật ngữ “bước thơ” và “chân thơ”

Trong thi học hiện đại có nhiều quan niệm khác nhau về tiết điệu Sự khác biệt này là vì các nền thi ca trên thế giới có nhiều hệ thống thi luật khác nhau và tùy theo các đặc trưng ngữ âm của ngôn ngữ đó mà nổi trội một kiểu loại thi điệu nào đó Có thể kể

ra đây một số quan niệm như sau:

- Trong thi ca tiếng Anh, người ta coi "tiết điệu" là đơn vị nhịp điệu cơ sở của một câu thơ hay của các dòng thơ trong câu thơ đó

- Trong thi ca tiếng Nga, người ta xem “tiết điệu” là đơn vị cấu trúc của dòng thơ,

là một nhóm chân thơ được liên kết lại bằng một đỉnh thơ tức là trọng âm nhịp điệu chủ đạo của dòng thơ

- Trong thi ca tiếng Pháp, người ta coi “tiết điệu” là câu chuyện về số lượng các

âm tiết (hay các nguyên âm)

Như chúng ta đã biết, tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu Xét về mặt ngữ

âm, thanh điệu là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của tiếng Việt Xuất phát

từ những vấn đề đã nêu ở trên, ở các thể thơ cách luật, có thể thấy thi luật và tiết điệu của tiếng Việt thuộc loại "âm tiết - thanh điệu", tức là bao gồm cả hai phương diện, đó là: Số lượng âm tiết và sự bố trí, sắp xếp các âm tiết mang thanh điệu là thanh bằng hay thanh trắc Điều này là hoàn toàn phù hợp khi nghiên cứu về tiết điệu trong ngôn ngữ thơ Việt Nam

Về vấn đề này, chúng tôi đồng tình với quan điểm của tác giả Lý Toàn Thắng Tác giả cho rằng: " ở các thể thơ cách luật, có thể thấy thi luật và tiết điệu của nó thuộc loại

"âm tiết - thanh điệu", tức là bao gồm cả hai phương diện:

(i) Số lượng âm tiết: thí dụ thơ thất ngôn là thể thơ bảy chữ, thơ lục bát là thể thơ một dòng 6 một dòng 8;

Trang 35

(ii) Sự bố trí, sắp xếp các âm tiết mang thanh điệu: là thanh Bằng hay thanh Trắc ở các vị trí nhất định trong dòng thơ, theo những mô hình âm luật nhất định" [132, tr.132]

Khi vận dụng vào tìm hiểu thơ Việt Nam chúng ta nhận thấy một điều, câu thơ Việt cũng có một cấu trúc tiết điệu, gồm số lượng âm tiết trong một dòng thơ và sự bố trí, sắp xếp các âm tiết mang thanh Bằng hay thanh Trắc ở các vị trí nhất định

1.6.3 Thi điệu (nhịp điệu)

Nói đến thơ, ngoài vần và tiết điệu người ta nghĩ ngay đến nhịp điệu Ở đây, chúng ta cần phân biệt giữa nhịp điệu và tiết điệu (nói gọn hơn, giữa nhịp và điệu) Theo tác giả Lý Toàn Thắng: "Điệu - trước hết có được là nhờ sự sắp xếp một cách tuần hoàn, lặp lại các âm thanh mạnh/yếu, dài/ngắn, cao/thấp theo những khuôn thước nhất định Nhịp - có được là nhờ những chỗ ngừng/chỗ ngắt giữa các dòng thơ và trong một dòng thơ, tạo thành những cái được gọi là khúc nhịp hay đoạn tiết tấu và thường là những khúc đọan này có độ dài ngang nhau (hay gần ngang bằng nhau), được tiếp nối, lặp lại một cách đều đặn có tính chu kỳ Đối với cấu trúc thơ, tiết điệu tạo ra một áp lực ngữ âm mạnh mẽ Ngược lại, nhịp điệu chịu sự chi phối mạnh mẽ của nội dung ngữ nghĩa và hình thức ngữ pháp; vì tình ý nơi nhà thơ mà sự ngắt nhịp có thể không tuân theo sự phân đoạn tiết điệu thông thường [132, tr.243-244] Theo nhà thi học Philip Hobsbaum: “Tiết điệu là bản thiết kế; nhịp điệu là tòa nhà không người ở Tiết điệu là

bộ xương; nhịp điệu là cơ thể đang chuyển động Tiết điệu là bản đồ; nhịp điệu là khu đất" [Dẫn theo 132, tr.244]

Thơ ca muốn trở thành khúc nhạc lòng, nhạc hồn không thể không có tiết tấu, nhịp điệu uyển chuyển Khi quan niệm về nhịp, các nhà thi học quan tâm đến sự "lặp đi lặp lại có trật tự đều đặn" và "tính chu kì" của "các yếu tố tương đồng" Ở đây là tương đồng chứ không phải là đồng nhất vì giữa hai yếu tố phải có sự khác biệt Theo tác giả

Lý Toàn Thắng: "Khác với vần thơ là sự đồng vọng ; nhịp thơ là sự chuyển động tiệm tiến về phía trước với những khúc đoạn tương đương Khác với tiết điệu là những cấu trúc khuôn thước cứng nhắc theo lề luật trong cơ cấu tổ chức nội bộ của một dòng thơ ; nhịp điệu là một sự chuyển động thanh âm mềm mại, biến hóa thường xuyên của các

khúc đoạn được tạo nên nhờ những chỗ ngưng nghỉ có quy luật giữa dòng hay cuối

mỗi dòng thơ Nhịp điệu vì thế không phải là một cái gì đó thường hằng như tiết điệu và

Trang 36

do đó không thể coi nó là cái yếu tố, cái chỗ dựa căn bản nhất của thơ, làm cho khác với văn xuôi" [132, tr.248]

Trong bất cứ nền thi ca nào, câu thơ bao giờ cũng có cấu trúc nhịp điệu Tuy nhiên, do ở mỗi ngôn ngữ có những cơ sở ngữ âm khác nhau nên nhịp điệu không hoàn toàn giống nhau Điều này dễ nhận thấy nhất giữa nền thi ca của ngôn ngữ có trọng âm

và ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Việt

Có nhiều cách quan niệm về nhịp (điệu) của thơ tiếng Việt, tuy nhiên các nhà nghiên cứu khá thống nhất về hai đặc điểm quan trọng nhất của nó (cũng như trong quan niệm của nhiều nhà thi học trên thế giới), đó là: "tính lặp lại" và "tính chu kì" của

"các yếu tố tương đồng" Ở đây có thể dẫn ra một số quan niệm:

Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển

thuật ngữ văn học: "Nhịp điệu là một phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ

thuật trong văn học, dựa trên sự lặp lại có tính chu kì, cách quãng hoặc luân phiên của các yếu tố có quan hệ tương đồng trong thời gian hay quá trình nhằm chia tách và kết hợp các ấn tượng thẩm mĩ Vì vậy, mỗi thể thơ có nhịp điệu riêng Dòng thơ lại có kiểu ngắt nhịp của luật thơ, có độ dài ngắn cân đối hoặc không cân đối khác nhau

Nhịp điệu của thể thơ và luật thơ tạo thành cái nền nhịp điệu, trên đó nhà thơ tạo dựng

nên nhịp điệu riêng cho thơ mình, gắn với các phương diện ngữ nghĩa” [41, tr238]

Theo Hữu Đạt “Nhịp thơ là kết quả của sự chuyển động nhịp nhàng, sự lặp lại đều đặn

những âm thanh nào đó trong thơ” [24, tr.36] Theo Phan Huy Dũng: “Nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng chỗ ngắt của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ thậm chí đoạn thơ [20]

Như vậy, nhịp được đánh dấu bởi những chỗ ngừng, chỗ ngắt trong dòng thơ, đoạn thơ Sự ngừng ngắt ấy không chỉ được tạo bởi cấu trúc ngôn ngữ mà còn chịu sự

ảnh hưởng chi phối của tình cảm, cảm xúc của nhà thơ “ngay những khoảng lung linh

giữa chữ những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động” [145]

Nhịp điệu là nơi cộng hưởng của những yếu tố bên trong tham gia vào cấu tạo hình thức của thơ Đơn vị biểu diễn của nhịp thơ là dòng thơ (câu thơ) Ở dạng đơn giản nhất, một dòng thơ là một nhịp, nhưng phần lớn một dòng thơ được phân thành nhiều nhịp Sự ngừng nhịp trong dòng thơ phụ thuộc vào nội dung ý nghĩa và từng thể thơ cụ thể Nói một cách khác, nhịp thơ có tính đặc trưng của từng thể loại Trên nền nhịp cơ

Trang 37

bản của thể thơ, nhà thơ sẽ có những lựa chọn và sáng tạo riêng của mình để thể hiện rõ nét, tự nhiên nhất những cung bậc cảm xúc của tâm hồn qua thi phẩm

Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc, đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác với nhịp trong văn xuôi V.Tưinianop

phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ: "Trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói),

thời gian được cảm thấy rõ, hiển nhiên đó không phải là những tương quan về thời gian

có thực giữa các sự kiện mà chỉ là những tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề đều được cân bằng bởi cấu trúc của thơ” [35, tr.42]

Như vậy, cách tạo nhịp, ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu, tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang phong cách của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp

Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu Một điều dễ nhận thấy rằng, thơ tiếng Việt là sự phối điệu các âm tiết mang thanh điệu Bằng và thanh điệu Trắc, do vậy nhịp

thơ Việt có thể gọi là "nhịp thanh điệu" [132,tr.259] Vì thế, nhịp thơ Việt nghe lên

bổng xuống trầm du dương, réo rắt hơn nhịp thơ của ngôn ngữ có trọng âm

Khi bàn về nhịp điệu, tác giả Lý Toàn Thắng quan tâm đến những cách thức biến hóa nhịp điệu Thơ hay nhịp điệu phải đa dạng, nghĩa là phải có sự thay đổi, biến hóa trong cách ngắt nhịp Thật khó hình dung, một bài thơ dài mà chỉ lặp đi lặp lại một kiểu khuôn nhịp duy nhất, với cùng một loại khúc đoạn tiết tấu duy nhất Vì thế, các nhà thơ tài danh thường hay biến hóa nhịp, nhiều khi ngay trong một khổ thơ, thậm chí trong từng câu thơ Theo các nhà thi học, có ba cách thức biến hóa nhịp điệu hay gặp sau đây: (i) Dễ thấy nhất là sử dụng các chỗ "ngắt" và chỗ "ngừng/nghỉ" ở cuối dòng thơ và nhất là trong dòng thơ Chỗ "ngắt" là một yếu tố của cấu trúc tiết điệu, nghĩa là

nó bắt buộc, khi đọc câu thơ lên ta phải dừng ở đó Khác với "chỗ ngắt", chỗ

"ngừng/nghỉ" nói chung có vị trí linh hoạt, nhà thơ hay người đọc thơ có thể ngắt nhịp tùy nghi, theo ngữ pháp - ngữ nghĩa của câu thơ (ii) Độ dài của câu thơ cũng là một nhân tố quan trọng khiến nhà thơ phải có những lựa chọn khi ngắt nhịp: chẳng hạn, thể thơ 4-5 chữ thì cấu trúc nhịp điệu của nó ắt phải khác với thể thơ 8-10 chữ (iii) Thay

đổi các "khúc nhịp" là một biện pháp rất quan trọng để câu thơ có thể biến hóa về cấu

trúc nhịp điệu Thường gặp hai cách sau ở các nhà thơ: a) Cách thứ nhất: Giữ nguyên độ

Trang 38

dài (tức số lượng âm tiết) của câu thơ; chỉ biến hóa ở các "khúc nhịp" liên quan b) Cách thứ hai: Thay đổi cả các khúc nhịp lẫn độ dài (tức số lượng âm tiết) của dòng thơ, khiến cho dòng thơ biến hóa rõ rệt về cấu trúc nhịp điệu so với thông thường" [132, tr.264-272]

Người Việt ưa sự cân đối hài hòa, do vậy trong các thể thơ truyền thống, cách luật, nhịp chẵn thường chiếm ưu thế (ví dụ như thơ lục bát), sự xuất hiện nhịp lẻ cũng là nhịp

lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với văn xuôi, không có vần thì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sức ngân vang rất lớn cho thơ Bản thân nhịp nhiều lúc cũng chứa nội

dung trong đó: "Nhịp chẵn gợi lên sự hài hòa, bình yên, tĩnh lặng, nhịp lẻ thường báo

hiệu những tai ương, mắc mớ uẩn khúc ” [38, tr.10] Đến đây ta có thể thấy rõ nhịp

chính là năng lượng cơ bản, là xương sống của bài thơ

Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Vần và nhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là tiền đề cho hiện tượng gieo vần, nhịp nâng cao hiệu quả hòa âm

của vần, một chiều khác chính vần cũng có tác động trở lại nhịp "Sự tác động này được

biểu hiện khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng, chỗ ngắt trở lên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp" [15, tr.36], đặc biệt hơn trong thơ

tự do thì "vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người ta ngừng nhịp đúng chỗ”

Trang 39

bài Thơ thất ngôn có hai thể: thể bằng (từ thứ hai của câu đầu là thanh bằng) - biến thể, thể trắc (từ thứ hai của câu đầu là thanh trắc) - chính thể

Thơ Đường áp dụng ở Việt Nam không quá phức tạp mà chỉ tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Cụ thể là cách gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh

* Về vần

- Thường dùng vần bằng

- Suốt bài thơ chỉ hiệp theo một vần, đó là lối độc vận Nếu gieo vần sai hẳn, không hiệp nhau gọi là lạc vận và gieo gượng không được hiệp lắm thì gọi là cưỡng áp

- Vần chỉ đặt ở cuối câu, không gieo ở giữa câu Trong thơ thất ngôn bát cú thì có

5 vần ở cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8 Còn trong thơ thất ngôn tứ tuyệt thì có 3 vần ở cuối các câu 1, 2 và 4

* Về nhịp:

Thơ thất ngôn thường ngắt nhịp theo loại nhịp cố định là 4/3

* Về hài thanh

Trong thơ thất ngôn Đường luật, thanh điệu liên quan đến hai vấn đề là luật và niêm

- Thứ nhất, luật thơ là cách sắp xếp tiếng bằng và tiếng trắc trong các câu của một bài thơ Ở thơ thất ngôn Đường luật, đa phần các câu có sự hài hoà, cân xứng về thanh điệu Sự phân bố thanh bằng và thanh trắc ở đây tương đối đều đặn Có 4 khuôn mẫu thanh điệu nhất định của câu thơ thất ngôn: BBTTTBB, TTBBTTB, BBTTBBT, TTBBBTT Tuy nhiên trong đó chỉ yêu cầu các vị trí "nhị, tứ, lục phân minh", cho nên

sẽ có hai khuôn với "nhất tam ngũ bất luận" như sau: BTB và TBT

- Thứ hai, niêm là sự phù hợp về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Hai câu thơ niêm với nhau khi chữ thứ hai của hai câu thơ theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc

Thể thất ngôn bát cú: câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt: câu 1 niêm với câu 4, còn 2 niêm với 3

1.7.2 Thơ bảy chữ hiện đại

Thơ bảy chữ xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, đỉnh cao là Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) Thơ bảy chữ hiện đại trên cơ sở tiếp thu truyền thống của thơ thất ngôn đã có những cách tân sáng tạo về ngôn ngữ: vần điệu, thanh điệu, nhịp điệu

Trang 40

Về thanh điệu, vẫn dựa vào hai khuôn thanh cơ bản của thất ngôn truyền thống là BTB và TBT Có điều, khác với thơ thất ngôn truyền thống, thơ bảy chữ hiện đại được chia thành khổ

Khổ thơ bảy chữ hiện đại thường gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, về hình thức giống như một bài thất ngôn tứ tuyệt: có luật bằng trắc, thể thơ, kiểu vần, loại nhịp Mỗi khổ thơ thường đi theo một kiểu thanh điệu vần bằng trắc nhất định, tính theo chữ cuối của dòng thứ nhất: nếu chữ đó thanh bằng thì ta có kiểu vần bằng, và khi đó khổ thơ thường theo lối vần liền; nếu chữ đó thanh trắc thì ta có kiểu vần trắc, và khi đó khổ thơ thường theo lối vần cách

Mỗi khổ thơ cũng thường được làm theo một thể thanh điệu nhất định, tính theo chữ thứ hai của dòng thứ nhất: nếu chữ đó thanh bằng thì ta sẽ có thể bằng, dẫn theo tiếng thứ hai của câu hai là thanh trắc, tiếng thứ hai của câu ba cũng là thanh trắc và tiếng thứ hai của câu cuối là thanh bằng; còn nếu chữ đó là thanh trắc thì ta sẽ có thể trắc, dẫn theo tiếng thứ hai của câu hai là thanh bằng, tiếng thứ hai của câu ba là thanh bằng và tiếng thứ hai của câu cuối là thanh trắc

Thơ bảy chữ hiện đại, ngoài việc ngắt nhịp theo thơ thất ngôn truyền thống là 4/3 thì còn có nhiều cách ngắt nhịp khác như: 2/5, 2/2/3, 1/2/2/3

1.8 Thống nhất cách hiểu về một số khái niệm trong luận án

1.8.1 Hiện đại và văn học hiện đại

Hiện đại là một giai đoạn lịch sử, theo Marx và Weber cũng như vô số các nhà xã hội học khác, vừa tiếp nối thời trung đại và phong kiến vừa là cái gì đối lập lại xã hội truyền thống

Theo "Từ điển tiếng Việt" (xuất bản năm 2000) của Viện Ngôn ngữ học "Hiện đại

là thuộc về thời đại ngày nay" Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” đã nhận định về cái khó trong việc cụ thể hóa cách hiểu từ “hiện đại”: “Các nhà văn hiện đại là những nhà văn nào? Hai chữ “hiện đại” mới nghe tưởng như có một nghĩa tuyệt đối, nhưng thực ra nó chỉ có một nghĩa tương đối thôi, tương đối với sự rộng hẹp mà người ta dùng nó” Và Vũ Ngọc Phan cho rằng chỉ các tác phẩm văn chương xuất bản bằng quốc văn mới là hiện đại."

Vương Trí Nhàn trong "Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hoá" khẳng định

"Ở đâu kia, ở thời điểm nào kia, hiện đại có thể có nghĩa khác, nhưng xét chung trong vòng hơn một thế kỷ nay, một nền văn học hiện đại là một nền văn học xây dựng theo

Ngày đăng: 24/11/2017, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote, Lưu Hiệp (1999), Nghệ thuật thi ca; Văn tâm điêu long, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca; Văn tâm điêu long
Tác giả: Aristote, Lưu Hiệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Hoàng Thị Tuyết Anh (2007), Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu, Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhịp điệu trong thơ bảy chữ của Tố Hữu
Tác giả: Hoàng Thị Tuyết Anh
Năm: 2007
3. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
4. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học (sơ thảo), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học (sơ thảo)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
5. Nguyễn Bao (sưu tầm, biên soạn) (2002), Toàn tập Xuân Diệu - Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Xuân Diệu - Tập I
Tác giả: Nguyễn Bao (sưu tầm, biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
6. Phan Kế Bính (1930), Việt Hán văn khảo, Nxb Trung Bắc Tân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Trung Bắc Tân văn
Năm: 1930
7. Võ Bình (1975), Bàn thêm về một số vấn đề về thơ, Tạp chí Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về một số vấn đề về thơ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1975
8. Võ Bình (1985), Vần trong thơ lục bát, Tạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần trong thơ lục bát
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1985
9. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
10. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng - từ ghép - đoản ngữ), Nxb ĐH&THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (tiếng - từ ghép - đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1975
11. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên) (1981), Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb ĐH&THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
Năm: 1981
12. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
14. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
16. Mai Ngọc Chừ (2006), Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt), Tạp chí Ngôn ngữ, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt)
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2006
17. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và Ngôn ngữ phương Đông, Nxb phương Đông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và Ngôn ngữ phương Đông
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb phương Đông
Năm: 2009
18. Vũ Thị Sao Chi (2005), Một số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam, Tạp chí Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ văn Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2005
19. Phan Huy Dũng (1999), Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu thơ trữ tình nhìn từ góc độ loại hình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 1999
20. Phan Huy Dũng (2001), Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình, Tạp chí Ngôn ngữ, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện nhịp điệu thơ trữ tình
Tác giả: Phan Huy Dũng
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm