1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao đồng bằng sông cửu long

86 677 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 506 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là tiếng nói tâm tình của người bình dân, là nơi bộc lộ những tư tưởng tình cảm, những nỗi nhớ thương, là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhân nhân lao động thời xưa. Nói đến ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến cái sâu lắng với muôn nghìn cung bậc tình cảm của con người. Chính vì vậy mà từ xưa đến nay ca dao luôn có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu. 1.2. Khi bàn về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vì những nguyên nhân chủ quan và khách quan mà người ta thường quan tâm đến đối tượng này từ góc độ văn học. Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối đi khá mới mẻ và hấp dẫn những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc này. 1.3. Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nói chung, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là vấn đề thời sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và bước đầu đã có những kết quả tốt. Trên ý nghĩa đó việc tiếp tục tìm hiểu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long dưới ánh sáng của Ngữ dụng học là một việc làm cần thiết giúp đối tượng này được soi chiếu dưới nhiều chiều khác nhau của ngôn ngữ. Và đó chính là nguyên nhân giúp chúng tôi chọn đề tài “Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”

Trang 1

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và pham vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục của khóa luận 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ 1.1.Về ca dao và ca dao đồng bằng sông Cửu Long 8

1.1.1 Khái niệm ca dao 8

1.1.2 Ca dao đồng bằng sông Cửu Long 9

1.1.2.1 Vài nét về vùng đất và con người đồng bằng sông Cửu Long 9

1.1.2.2 Vài nét về hình thức và nội dung ca dao đồng bằng sông Cửu Long 14 1.2.Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông Cửu Long 16

1.2.1 Về lý thuyết hội thoại 16

1.2.1.1 Khái niệm hội thoại 16

1.2.1.2 Các hình thức hội thoại 17

1.2.2 Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 18

1.2.2.1 Các dạng hội thoại trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 18

1.2.2.2 Nhân vật hội thoại trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 19

1.3.Lý thuyết hành động ngôn ngữ trong mối quan hệ với ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 21

1.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ 21

Trang 2

1.3.2 Phân loại hành động ngôn ngữ 22

1.3.3 Các nhân tố chi phối hoạt động ngôn ngữ trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 23

1.3.3.1 Vai giao tiếp 23

1.3.3.2 Vị thế giao tiếp 24

CHƯƠNG 2: CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỨU LONG 2.1 Hoàn cảnh không gian, thời gian của các hành động ngôn ngữ và ca dao đồng bằng sông Cửu Long 25

2.1.1 Hoàn cảnh không gian 25

2.1.1.1 Không gian của sông nước 25

2.1.1.2 Không gian của các địa danh 31

2.1.1.3 Không gian của ruộng đồng 32

2.1.1.4 Những không gian gặp gỡ riêng tư khác 34

2.1.2 Hoàn cảnh thời gian 36

2.1.2.1 Thời gian ban ngày 37

2.1.2.2 Thời gian ban đêm……… 41

2.2 Các hoạt động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long 44

2.2.1 Các hành động của lời thoại 44

2.2.1.1 Hành động chào 44

2.2.1.2 Hành động mời 45

2.2.1.3 Hành động hỏi 46

2.2.1.4 Hành động bộc lộ cảm xúc,thái độ 51

2.2.1.5 Hành động thề nguyền 58

2.2.1.6 Hành động kể 59

2.2.2 Đích của các hành động qua lời thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long 60

2.2.2.1 Gặp gỡ làm quen 60

2.2.2.2 Tỏ tình 61

2.2.2.3 Giải bày tâm trạng……….63

Trang 3

CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG CỦA CA DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU

LONG QUA CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 67

3.1 Đặc trưng của ca dao đồng bằng sông Cửu Long qua các hành động ngôn ngữ 67

3.1.1 Từ xưng hô 67

3.1.1 Dùng các biểu tượng 77

3.2 Dấu ấn văn hóa qua ca dao đồng bằng sông Cửu Long 81

3.2.1 Văn hóa ứng xử 81

3.2.2 Văn hóa tâm linh 86

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là tiếng nói tâm tình của người bìnhdân, là nơi bộc lộ những tư tưởng tình cảm, những nỗi nhớ thương, là tiếng hát yêuthương tình nghĩa, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhân nhân lao độngthời xưa Nói đến ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nói đến cái sâu lắng vớimuôn nghìn cung bậc tình cảm của con người Chính vì vậy mà từ xưa đến nay cadao luôn có sức hấp dẫn đối với giới nghiên cứu

1.2 Khi bàn về ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vì những nguyên nhân chủquan và khách quan mà người ta thường quan tâm đến đối tượng này từ góc độ vănhọc Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối

đi khá mới mẻ và hấp dẫn những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyền thốngđặc sắc này

1.3 Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nóichung, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng là vấn đề thời sự được nhiềunhà nghiên cứu quan tâm và bước đầu đã có những kết quả tốt Trên ý nghĩa đó việctiếp tục tìm hiểu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long dưới ánh sáng của Ngữ dụnghọc là một việc làm cần thiết giúp đối tượng này được soi chiếu dưới nhiều chiềukhác nhau của ngôn ngữ Và đó chính là nguyên nhân giúp chúng tôi chọn đề tài

“Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”

2.Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu ca dao là một việc làm liên tục, lâu dài và hình như không có kếtthúc.Đã có nhiều công trình nghiên cứu ca dao nói chung và ca dao Đồng bằng sôngCửu Long từ nhiều góc độ khác nhau gắn với tên tuổi của nhiều tác giả lớn như:

Bảo Định Giang, Trần Phỏng Diều… Cho đến hôm nay vấn đề ca dao Nam Bộ đã

được nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu

Tác giả Bảo Định Giang trong bài viết “Ca dao – dân ca Nam Bộ, những biểu hiện sắc thái địa phương” đã đi sâu nghiên cứu về vùng đất và con người nơi đây.

Từ việc phân tích khảo sát trên ông đưa ra cái nhìn tổng thể về mọi mặt của đời

Trang 5

sống người dân Nam Bộ Ông cho rằng: “ca dao không chỉ gửi gắm tình cảm mà còn ghi lại được những nét sinh hoạt xã hội” [12;tr.101]

Tác giả Trần Phóng Diều với bài: “Cảm xúc về sông nước qua ca dao Nam Bộ” theo Tạp chí Văn hóa dân gian, ông phát hiện: “Trong ca dao- dân ca Nam Bộ

để bộc lộ tâm trạng của mình,người dân nơi đây thường mượn các hình ảnh quen thuộc để ví von nhằm bộc lộ những gì mình muốn nói, kể cả việc thể hiện tình cảm giữa chàng trai và cô gái cũng chứa đầy những hình ảnh đặc trưng của miền sông nước Nam Bộ”.

Bài viết “Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu Nam Bộ” theo tạp chí Tài Hoa

Trẻ của tác giả Đoàn Thị Thu Vân là một sự phát hiện rất thú vị về tình yêu củanhững chàng trai, cô gái đất phương Nam

Đồng bằng sông Cửu Long là bộ phận của vùng đất Nam Bộ và con ngườiNam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng có nhiều nét tương đồng về văn hóa,nếp sống, nếp nghĩ Vì vậy ca dao Đồng bằng sông Cửu Long cũng có những néttương đồng với ca dao Nam Bộ Ca dao là tiếng nói của người bình dân, để bộc lộtình cảm, cảm xúc

Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận tạo nên sự đa dạng của cadao Nam Bộ Do đó, việc nghiên cứu ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ở nhiềuphương diện khác nhau cũng là một vấn đề có ý nghĩa Bởi thế, mà trong thời giangần đây có những bài viết về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, để tìm hiểu conngười vùng Đồng bằng sông Cửu Long Và để hiểu được con người Đồng bằngsông Cửu Long như thế nào, thì không thể thiếu việc tìm hiểu ca dao Đồng bằngsông Cửu Long

Trong “Kỷ yếu Hội nghị khoa học năm 1999”, tác giả Bùi Thị Tâm đã có bài nghiên cứu “Đặc điểm ngôn ngữ của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”, tác giả cho rằng: “Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, các yếu tố ngôn ngữ mang đậm sắc thái địa phương… đã góp phần giúp ta hiểu thêm về cá tính, về tâm hồn của những con người ở vùng đất cực nam Tổ Quốc Ngôn ngữ ca dao Đồng bằng sông Cửu Long còn là sự bổ sung và làm cho ngôn ngữ chung của dân tộc trở nên giàu có, phong phú hơn” Tác giả còn khẳng định: Nghiên cứu ca dao Đồng bằng

Trang 6

sông Cửu Long ở gốc độ ngôn ngữ, chúng ta có điều kiện hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp độc đáo, đặc sắc của nó Những vẻ đẹp đó của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long sẽ góp phần làm phong phú, đa dạng hơn vẻ đẹp của ca dao dân tộc cũng như

vẻ đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long

Có thể nói trong phạm vi những tư liệu nói trên, các tác giả đều có những nhậnxét tinh tế về ca dao Nam Bộ nói chung và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long nóiriêng Đó là những gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu về ca dao Đồng bằng sôngCửu Long nói chung và ca dao hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

nói riêng Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Các hành động ngôn ngữ qua lời hội thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long”.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề tài đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng về ngữ nghĩa của hành động ngôn ngữ qualời hội thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở khám phánhững đặc điểm về mặt hình thức và nội dung của lời hội thoại Từ đó rút ra những

lí giải, nhận xét ban đầu về đặc trưng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long và vănhóa người Việt được thể hiện qua bộ phận ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ đóng góp một phần nhỏvào việc làm rõ bản sắc văn hóa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, cadao ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành động ngôn ngữ trong Đồng bằng sông

Cửu Long Vì thế, dẫn liệu mà đề tài chúng tôi chọn để khảo sát là cuốn Văn Học

Trang 7

Dân Gian Đồng Bằng Sông Cửu Long, Khoa Ngữ Văn Đại HọcCần Thơ, NXB Giáo

dục

- Phạm vi nghiên cứu

Lời hội thoại của nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có ở cả haidạng: đơn thoại và song thoại nhưng chủ yếu là ở dạng đơn thoại Đề tài của chúngtôi tập trung nghiên cứu dạng đơn thoại là chủ yếu

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng cácphương pháp sau:

- Thống kê

- Phân tích

- Miêu tả

- So sánh

- Nghiên cứu liên ngành

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luậngồm ba chương:

- Chương 1: Những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài

- Chương 2: Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca daoĐồng bằng sông Cửu Long

- Chương 3: Đặc trưng của ca dao Đồng bằng sông Cửu Long qua các hànhđộng ngôn ngữ

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Về ca dao và ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là một thuật ngữ Hán – Việt Từ trước đến nay khái niệm ca dao đã

được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu.Có thể kể đến các tác giả như: Phạm Thu Yến, Hoàng Tiến Tựu, Nguyễn Xuân Kính, Dương Quảng Hàm…

Tác giả Phạm Thu Yến trong “Giáo trình văn học dân gian Việt Nam” định nghĩa: “Ca dao là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo còn ca dao là bài hát ngắn không có chương khúc” [35, tr.157] Như vậy, chỉ có khái niệm ca và dao chứ chưa đưa ra một khái niệm ca dao rõ ràng.

Tác giả Hoàng Tiến Tựu viết: “Ca dao là bộ phận quan trọng và tiêu biểu nhất của thơ dân gian truyền thống, có phong cách riêng, được hình thành và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình truyền thống” [29, tr.66 – 67].

Tác giả Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng: “Ca dao là thơ dân gian, có nội dung trữ tình và trào phúng, bao gồm hàng loạt những bài thơ Người ta có thể hát, ngâm, đọc (và cả xem bằng mắt sau khi ca dao đã được ghi chép lại)” [19, tr 60] Theo Dương Quảng Hàm trong “Ca dao là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian thường tả tính tình phong tục người dân” Theo cách hiểu này, ca

dao là những bài hát mà đã hát thì dù có hay không có nhạc đệm đều có nhạc điệu

và thể thức diễn xướng

Tác giả Lê Văn Chưởng cho rằng: “Ca dao là những bài thơ dân gian không

có tiếng đệm lót, có tính truyền thống và tính phổ quát hàm chứa tình cảm và tư tưởng dân gian” [5, tr 17].

Nhà văn Vũ Ngọc Phan lại quan niệm: “Ca dao là những bài có hoặc không

có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát để miêu tả,

tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm” [27, tr.4] Trong quan niệm này, tác giả muốn nói

ca dao chính là bộ phận nghệ thuật ngôn từ được chắt lọc từ hệ thống những lời cadân gian Hay nó là những bài thơ dân gian

Trang 9

Còn theo tác giả Đinh Gia Khánh: “Ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặc ngược lại là những câu thơ có thể

“bẻ” đôi thành những làn điệu dân ca” [18, tr 436].

Tìm hiểu các quan niệm trên, chúng tôi thấy ca dao là những sáng tác vănchương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặcđiểm nhất định và bền vững về phong cách Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng

để chỉ một thể thơ dân gian Đối với ca dao, ta không chỉ đọc mà còn có thể ngâm,hát

1.1.2 Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

1.1.2.1 Vài nét về vùng đất và con người Đồng bằng sông Cửu Long.

a Vài nét về vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, còn gọi là miền Tây NamBộ

Cửu Long có nghĩa là chín Rồng do chín cửa của hai sông Tiền và sông Hậu.Tên gọi Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện khoảng trên 50 năm, trước kia thườngđược gọi là miệt Lục tỉnh

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 40.000 km2 bao gồm 12 tỉnh.Đây là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông Hai mặt giáp biển: phía tây namgiáp với vịnh Thái Lan, đông nam là biển Đông Phía tây bắc giáp với Campuchia,phía đông bắc giáp với miền Đông Nam Bộ Có thể coi sông Vàm Cỏ Đông là ranhgiới ở phía này

Vùng nằm trong những bắc vĩ tuyến thấp nên nhiệt độ và độ ẩm cao Chế độgió mùa đều đặn, có thể chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưakhoảng từ tháng 5 đến tháng 10 tương ứng với mùa mưa là mùa nước nổi Mùa khôtương ứng với mùa nắng, có gió mùa đông bắc thổi vào (gió bấc)

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng châu thổ màu mỡ với nhiều cửa sông tạonên hệ thống kênh rạch chằng chịt Chính vì lẽ đó đã tạo nên một vùng đất trù phúvới biết bao huyền thoại thời mở đất

Tiến trình lịch sử của Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng tức đồngbằng sông Cửu Long khác với những vùng đất khác Nó không phát triển liên tục

mà bị đứt quãng Điển hình là trên vùng đất này đã từng có vương quốc Phù Nam

Trang 10

cổ xưa với nền văn hóa Óc Eo một thời phát triển rực rỡ Người Việt di dân vàoNam có thể nói bắt đầu từ khi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn nổ ra và sau đó làcuộc di dân thật sự thời kì nhà Nguyễn đầu thế kỉ XVIII khi nhà Nguyễn nắm đượcchính quyền Đàng Trong và kêu gọi những người dân đi khai khẩn đất hoang.Trong mấy trăm năm nay định hình và phát triển, Nam Bộ nói chung, Đồng bằngsông Cửu Long nói riêng đã tạo nên cho mình những giá trị văn hóa vật chất và tinhthần vô cùng phong phú, độc đáo và một bản sắc văn hóa riêng so với các vùng,miền khác.

Theo kết quả khai quật của khảo cổ học và kết quả khảo sát của địa lý học đềucho thấy ít ra cách ngày nay khoảng 4000 năm đến 5000 năm, phần lớn Đồng bằngsông Cửu Long vẫn còn chìm dưới nước Mãi đến thế kỉ V trước Công Nguyênvùng đồng bằng sông Cửu Long mới nổi trên mực nước biển Cũng tại thời điểm

đó, vùng Đông Nam Bộ và các cồn cát duyên hải đã có lớp người Việt đầu tiên sinhsống và khai phá Nhìn chung, Tây Nam Bộ được khai phá muộn hơn Đông Nam

Bộ Tuy vậy, lịch sử của Đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời, khoảng thế kỉ V

có người sinh sống Nhưng đến thế kỉ thứ XVI và đầu thế kỉ thứ XVII thì công cuộc

mở đất về phương Nam, khẳng định vùng văn hóa phương Nam mới thật sự định

hình Vì vậy, Đồng bằng sông Cửu Long còn được gọi là “vùng đất mới”.

Vào cuối thế kỉ thứ XVII, Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam xác định chủ quyềncủa người Việt trên vùng đất mới Đây có thể được xem là mốc thời gian chính thức

để xác lập Nhà nước chủ quyền của người dân trên mảnh đất mà họ đã đổ bao côngsức để khai phá và gầy dựng

Trong buổi đầu ấy, thiên nhiên còn là một sự thách thức lớn lao: rừng rậmhoang vu, nhiều thú dữ, khí hậu ẩm thấp… công cuộc khẩn hoang khai phá vùng đất

mới diễn ra hết sức khó khăn Tuy vậy,với ý chí và bản lĩnh của người “mang gươm

đi mở đất”, công cuộc ấy đã mở ra đều khắp Nam Bộ dù phải đối mặt với muôn

ngàn hiểm nguy đang chực chờ:

Cà Mau khỉ khọt trên bưng Dưới sông sấu lội, lên rừng cọp um.

Vẻ hoang vu, u tịch nơi “sơn cùng thủy tận”, tứ bề quạnh hiu thật sự đáng sợ:

Trang 11

Tới đây xứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê.

Đó là những “ấn tượng” không thể nào quên đối với những lớp người đầu tiên đặt chân lên vùng đất “nguyên thủy” này Thế nhưng, có lẽ nơi cuối cùng là nơi bắt

đầu cho sự sống

Đồng bằng sông Cửu Long được xem là vựa lúa của nước ta và khu vực Đông

Nam Á với nhiều giống lúa quý mà nhân dân trân trọng gọi bằng nàng: nàng Hương, nàng Thơm, nàng Quốc, nàng Co, nàng Bè…

Cảm ơn hạt lúa nàng Co

Ăn vào no bụng chẳng lo nợ nần.

Trên vùng đồng bằng này có nhiều dòng chảy tự nhiên, tạo nên một mạng lướisông ngòi, kênh rạch chằng chịt Theo thời gian, con người đã đan thêm vào hệthống đường thủy tự nhiên ấy những hệ thống kênh đào dày đặc, phục vụ cho cácmục đích kinh tế, văn hóa, quốc phòng Địa hình sông nước đã làm cho nơi đây giàu

có và phong phú về các loại thủy hải sản Ở đồng bằng sông Cửu Long có hàngngàn loài cá, hàng trăm loài tôm và nhiều loại cua, ốc khác Tây Nam Bộ là nơi có

nhiều “trái thơm quả ngọt”:

Xoài chua, cam ngọt Ba Lai Bắp thì chợ giữa, giồng khoai Mỹ Hòa.

Tây Nam Bộ còn là nơi cung cấp gỗ quý, môi trường sinh thái tốt cho thúrừng, chim chóc, ong mật, cá… sinh sống như rừng Tràm Tháp Mười, rừng đước UMinh

Nếu như nhớ đến cảnh hoang vu, rừng rậm u minh nguy hiểm đang chực chờkhi con người bắt tay vào khai khẩn đất hoang Những lớp người đầu tiên của vùngChâu thổ này không thể nào quên những khó khăn, nỗi ghê sợ mà nơi này có

Ngày nay, đồng bằng sông Cửu Long không còn là vùng đất ghê rợn và bíhiểm Trãi qua hơn ba thế kỉ, với quá trình lao động miệt mài, cần mẫn, con người

đã chinh phục được thiên nhiên, làm cho thiên nhiên phục vụ lợi ích của mình.Song, đất nuôi người thì người cũng nuôi đất, Đồng bằng sông Cửu Long là vùngđất hứa hẹn của bao thế hệ mai sau:

Trang 12

Ai về Cao lãnh thì về, Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.

Hay:

An Giang cảnh trí mĩ miều,

Ta thương, ta nhớ, ta liều, ta đi.

Như vậy,vùng đất Đồng bằng sông Cửu Long chính thức được hình thànhtrong khoảng 300 năm, mảnh đất này được hiện lên với vẻ hoang sơ, bí ẩn nhưngcởi mở rất dễ chịu Những nét độc đáo về địa hình sông nước và văn hóa nơi đây đãtạo nên một Tây Nam Bộ với dáng vẻ riêng, độc đáo, sức sống mãnh liệt

b.Vài nét về con người đồng bằng sông Cửu Long

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất mới (vùng đất này chỉ thực sựđược khai phá bắt đầu vào thế kỉ XVII – XVIII, nơi đây tập trung 4 tộc người sinhsống: Người Khơmer, người Chăm, người Hoa, người Việt Trong đó, người Việtchiếm số lượng đông nhất Họ đến đây bằng nhiều phương tiện và đủ các tầng lớpngười trong xã hội Cả 4 tộc người sinh sống trên vùng đất Đồng bằng sông CửuLong phần lớn đều là những nông dân nghèo, đi phiêu dạt tìm chỗ an thân Chính vìvậy, ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới, họ đã yêu thương đùm bọc,giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống Những nét tính cách, cũng như cách sống của họđều mang đậm nét đặc trưng của con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nét đặc trưng đầu tiên của con người vùng đồng bằng sông Cửu Long đượcbiểu hiện là tính đoàn kết Trong công cuộc khai hoang, đứng trước rừng rậm bạtngàn, trước muôn trùng sóng cả, trước những mối đe dọa đang chực chờ… conngười bỗng trở nên nhỏ bé Với cái nhìn lạc quan, họ đặt niềm tin vào miền đất xa

lạ này Ngày qua ngày họ cùng chung sức khai phá vùng đất hoang vu, ghê sợ nàythành vùng đất có thể nuôi sống họ Cứ thế, lớp người mới định cư nối tiếp nhaucùng đoàn kết một lòng khai phá mở rộng địa bàn cư trú của mình trên mảnh đấtphương Nam Chính hoàn cảnh đó, đã đưa con người đến gần nhau hơn, họ cùngsống, cùng lao động giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn với một tinh thần đoàn kếtmột lòng Vì vậy, con người vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn nổi lên một tính

cách nữa, đó là thích kết bạn Họ xem “Tứ hải giai huynh đệ” Tình bạn của họ rất dung dị, không “màu mè” điểm tô, chỉ đơn giản là “gặp nhau kết bạn” Họ không

Trang 13

phân biệt quen, lạ, không câu nệ nguồn gốc, sang hèn Họ thích kết bạn vì chỉ cótình bạn mới làm giảm đi sự cô đơn, buồn tẻ nơi vùng đất hoang sơ này.

Sự hào phóng và hiếu khách cũng là một trong những nét đáng quý của conngười nơi đây Khi có khách đến thì chủ nhà tiếp đón rất nồng nhiệt, trong nhà có gìthì đãi nấy Người dân nơi đây không so đo tính toán chuyện ăn ở hao tốn của khách

mà luôn nhiệt tình vui vẻ, đem những gì quý nhất ngon nhất để đãi khách Nó đượcbiểu hiện thành hành động chứ không phải là những câu nói suông

Trọng nghĩa khinh tài là nét tính cách nổi trội của người Tây Nam Bộ Họ lànhững người trọng nghĩa khí, sẵn sàng giúp đỡ người khác mà không cần đền ơn:

Nhớ câu kiến ngãi bất vi Làm người thế ấy cũng phi anh hùng

Tính trung thực, bộc trực, dễ tin cũng là tính cách khá đặc biệt của người TâyNam Bộ

Nhà văn Nguyễn Văn Bổng đã nhận xét tính cách người Nam Bộ như sau:

“Đất nước ta càng về phương Nam, càng là đất mới, đất lưu đày, đất của những người không có quyền sống, trên những mảnh đất đã được khai phá Vì vậy, càng là đất của những người nổi dậy…Con người đến đây là con người liều, con người ngang tàng, nghĩa khí, tính mạng coi nhẹ tựa lông hồng, tiền tài coi khinh như cơm rác… Họ vồ vập, hiếu khách vì cuộc đời họ đã buồn lắm rồi Họ chỉ còn tình nghĩa

là đậm đà với nhau Họ sẵn sàng nhường cơm sẻ áo vì họ đã từng biết cái cực, cái nhục của đói khổ thế nào Và hơn hết, họ rất căm thù Đừng đụng đến họ…” [31; tr

357 – 358]

Hơn ba thế kỉ trôi qua, con người Nam Bộ nói chung, Tây Nam Bộ nói riêng

ngày càng gắn bó với “vùng đất mới” này hơn Họ không chỉ đã sống mà đáng quý

hơn là họ còn sống rất đẹp Ba trăm năm, thời gian ấy không phải dài, nhưng những

“mảnh đời lưu lạc” và sáng tạo ra nền văn hóa độc đáo và đẹp đẽ.

1.1.2.2.Vài nét về hình thức và nội dung ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

a Về hình thức ca dao đồng bằng sông Cửu Long.

Có thể nói trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long hình thức đặc trưng nhất

là sử dụng thể thơ lục bát Lục bát gồm thể chính thức và thể biến thức Thể chínhthức được hiểu thành nhiều câu ca dao có khuôn hình cơ bản bao gồm một dòng sáu

Trang 14

tiếng và một dòng tám tiếng, tức là cứ lần lượt một câu sáu tiếng tiếp đến một câutám tiếng, hai câu tạo nên một cặp vì thế gọi là lục bát Còn biến thể được hiểu lànhững câu ca dao có hình thức lục bát nhưng có sự thay đổi về số tiếng của cácdòng thơ Có thể là dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên hoặc dòng lục giữnguyên, dòng bát thay đổi.

Trong ca dao trữ tình phần lớn là các bài ca dao có thể chính thức, rất ít nhữngbài ca dao có thể biến thức

Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có hình thức sử dụng thơ lục bát rất nhiều:

Gió mưa là bệnh của trời, Ruộng khô nước cạn tại người không lo

[322]

Ai ơi về miệt Tháp Mười,

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn

b Về nội dung ca dao Đồng bằng sông Cửu Long.

Từ bao đời nay, ca dao Việt Nam nói chung và ca dao đồng bằng sông CửuLong nói riêng là tiếng nói tâm tình của người bình dân Với phương thức truyềnmiệng, nó đã được lưu truyền từ đời này sang đời khác Tác giả dân gian đã khéoléo gửi tấm chân tình của mình vào những bài hát ân tình, mộc mạc, đậm chất thônquê Cũng chính cái chất giản dị ấy mà nó đã tồn tại và phát triển theo suốt chiềudài lịch sử dân tộc Nhìn từ mọi phía, ta thấy ca dao Đồng bằng sông Cửu Longgiống như tấm gương phản chiếu đời sống tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của ngườidân lao động Đến với ca dao Đồng bằng sông Cửu Long giúp chúng ta gần gũi,thêm yêu cuộc sống và đặc biệt hiểu được những tình cảm, cảm xúc mà các chàngtrai cô gái Tây Nam Bộ đã gửi gắm trong lời ca dao Vậy yếu tố nào đã làm nên giá

Trang 15

trị to lớn đó của ca dao đồng bằng sông Cửu Long? Một trong những yếu tố cốt lỗi

đó chính là giá trị nội dung ca dao

Ở đó, ca dao cho ta thấy một cảm giác gần gũi nhưng thật quyến rũ và dịu êm,làm cho tâm hồn mình được say sưa ngây ngất với bao cung bậc tình cảm trong tìnhyêu đôi lứa; khi nhớ nhung, lúc hờn giận, khi tỏ tình hay lúc hẹn thề Tất cả nhữngtrạng thái tâm lý, những cung bậc tình cảm ấy được phản ảnh trong ca dao Đồngbằng sông Cửu Long Có thể nói nội dung chính của ca dao Đồng bằng sông CửuLong là tình yêu đôi lứa Nhân vật trữ tình chủ yếu trong ca dao là chàng trai và côgái Hãy nghe lời tỏ tình của một chàng trai Tây Nam Bộ:

Cây bên rừng hóa kiểng

Cá dưới nước hóa long Anh đi lục tỉnh giáp vòng, Tới đây trời định đem lòng thương em

Hay đó là nỗi nhớ mong:

Đêm nằm lưng chẳng bén giường, Trong cho trời sáng, ra đường gặp anh.

[tr 384]

Có khi đó là sự trách móc:

Ai làm cho dạ em buồn Chim sa, cá lặn, chuồn chuồn lụy theo.

Trang 16

Bên cạnh đề tài tình yêu đôi lứa trong ca dao đồng bằng sông Cửu Long vềhạnh phúc gia đình.

1.2 Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông

Cửu Long

1.2.1 Về lý thuyết hội thoại

1.2.1.1 Khái niệm hội thoại

“Từ điển tiếng Việt” định nghĩa hội thoại là “Sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [25,tr 461].

Tác giả Nguyễn Đức Dân định nghĩa “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi lại, lúc đó vai trò của hai bên thay đổi, bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe Đó là hội thoại” [8, tr.76].

Trong công trình “Ngữ nghĩa lời hội thoại” tác giả Đỗ Thị Kim Liên lại cho rằng: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ bằng lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một mục đích nhất định” [20, tr.18].

Tác giả Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngôn ngữ học” (tập 2) đã viết: “Hội thoại là dạng hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác nhau của ngôn ngữ đều giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này” [4, tr.88].

Nghiên cứu các quan niệm nói trên chúng tôi thấy, để có được một cuộc thoại,cần có những yếu tố sau:

Nhân vật hội thoại

Hội thoại được thể hiện chủ yếu qua 3 hình thức:

Trang 17

- Đơn thoại: là dạng tồn tại của hoạt động hội thoại, trong đó tồn tại một cặpthoại nhưng chỉ có một tham thoại.

- Song thoại: là dạng tồn tại của hoạt động hội thoại gồm 2 nhân vật tham giađối đáp với nhau, có sự tác động qua lại giữa lời trao và lời đáp Đây là hình thứchoạt động cơ bản, điển hình nhất của hội thoại

- Đa thoại: là dạng tồn tại của hoạt động hội thoại có nhiều người tham giagiao tiếp

1.2.2 Lý thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao đồng bằng sông Cửu Long

Lâu nay khi bàn về hội thoại, người ta thường chú ý đến việc khảo sát lờithoại trong giao tiếp hằng ngày, hoặc nếu có khảo sát trong tác phẩm văn học, thìchỉ chú ý đến văn xuôi còn trong thơ ca thì gần như rất ít Đề tài của chúng tôi

hướng đến một đối tượng khá mới mẻ: hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long.

1.2.2.1 Các dạng hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Như chúng ta đã nói ở phần 1.2.1.1 (khái niệm hội thoại), hội thoại tồn tại

dưới ba dạng: Đơn thoại, song thoại và đa thoại Qua khảo sát chúng ta thấy ca dao Đồng bằng sông Cửu Long tồn tại hai dạng thoại: Đơn thoại và song thoại.

- Song thoại: là dạng lời thoại chủ yếu ở nhân vật phát ra nhằm hướng đến

người nghe và được người nghe đáp trả trực tiếp

- Đơn thoại: (độc thoại trong màu sắc đối thoại) Đơn thoại là dạng lời thoại

của nhân vật phát ra nhằm hướng đến người nghe nhưng không có lời đáp trực tiếp.Đây là dạng đặc biệt của song thoại, là hình thức vật tự lưỡng phân để đối thoại vớichính mình hoặc hóa thân mình vào nhân vật khác để đối thoại với chính mình

Đối thoại để tỏ tình, để bộc lộ tâm trạng đó là câu chuyện chỉ có thể diễn ra

ở hai nhân vật: một nam và một nữ Nhưng không phải lúc nào nhân vật trữ tình đềubộc lộ tình cảm một cách trực tiếp với đối phương Khảo sát 1022 lời ca dao Đồngbằng sông Cửu Long chúng tôi thấy dạng đơn thoại có tần số xuất hiện rất cao (936lần) Ca dao đồng bằng sông Cửu Long phản ánh nhiều cung bậc tình cảm, nhiềutrạng thái tâm lí của nhân vật trữ tình khi thì đối thoại (lời trao – lời đáp), khi thì

Trang 18

độc thoại Ca dao đồng bằng sông Cửu Long thể hiện tình cảm trong tình yêu lứađôi rất phong phú đó là khi hẹn thề:

Ba mươi sáu cái răng đóng trăn cái lưỡi, Anh là người quân tử, ăn một đọi, nói một lời

Giơ tay phân chứng có trời Anh đây nhất nguyện ở đời với em

[tr.339]

Khi bộc lộ nỗi sầu:

Sông Tiền cá lội xòe vi, Chị Thúy Kiều sầu anh Kim Trọng tỏ như em sầu chàng

[tr.452]

Hay:

-Trèo lên chót vót ngọn gòn, Thấy em gò mà trắng, mặt tròn anh muốn hun.

-Thân em chân lấm tay bùn, Mặt em khét nắng mà anh hun nỗi gì?

[tr 373]

Sự xuất hiện phần lớn của dạng đơn thoại và song thoại, chúng ta nhận thấymột đặc điểm nữa về mặt hình thức là hai dạng của hội thoại (đơn thoại và songthoại) thường rất ngắn, không giống như hội thoại trong các tác phẩm văn xuôi (cókhi cuộc thoại kéo dài nhiều trang giấy cùng hàng chục lời thoại) Đây chính là đặcđiểm của văn học dân gian nói chung Do tính truyền miệng, tính biểu diễn vănhọc dân gian khó có thể kéo dài

1.2.2.2 Nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Điều kiện đầu tiên để diễn ra một cuộc thoại là cần phải có nhân vật, không cónhân vật thì không thể có sự giao tiếp Lý thuyết ngữ dụng học đã chỉ ra rằng:

“Nhân vật trong hội thoại là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, qua đó mà tác động vào nhau” [4; tr.15] Như vậy,

nhân vật – chủ thể giao tiếp là người có khả năng:

- Đưa ra nội dung lời thoại

Trang 19

- Chọn từ xưng hô phù hợp, đặt mình trong mối quan hệ trao – đáp qua lại, tựđịnh vị vị thế phát ngôn của mình đối với nhân vật giao tiếp.

- Lựa chọn các yếu tố tình thái để thể hiện những sắc thái tình cảm, thái độ

ứng xử khác nhau: mềm mỏng, cứng rắn, nhẹ nhàng, thân mật, đe dọa, thô lỗ…

- Xử lý các tình huống hội thoại, lựa chọn chiến lược giao tiếp, đánh giá, tiếpnhận hiệu quả giao tiếp và đồng thời nhân vật hội thoại cũng là những chủ thể nhậnthức, chủ thể hành động nên có những diễn biến về quá trình tâm lý trong quá trìnhhội thoại dẫn đến sự thay đổi từ xưng hô, thay đổi hành vi ngôn ngữ [20, tr 260 –261]

Như vậy, nhân vật chính là nhân tố có tác dụng chi phối nội dung cuộc thoại,

sự tương tác hội thoại

a Đặc điểm chung về nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là nhân vật phiếmchỉ.Do mang tính tập thể nhân vật trữ tình ,tâm trạng của nhân vật trữ tình trong cadao không phải là nhân vật của một con người cụ thể,tâm trạng cụ thể mà là nhữngcon người chung chung là tâm trạng chung chung của tập thể, của cộng đồng:

Gió đưa trăng thời trăng đưa gió, Trăng lặn rồi, gió biết đưa ai?

Câu ca dao trên ta thấy rằng nhân vật trữ tình đang buồn nhưng không biếtchủ nhân của lời này là ai

Nhân vật hội thoại trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là chàng trai và côgái Vấn đề mà họ quan tâm là chuyện tình yêu Do vậy, việc sử dụng cách xưng hôcủa nhân vật cũng mang nét đặc trưng riêng Đặc điểm này chi phối lời trao - đápcũng như về nội dung hành động hội thoại

b Nhân vật hội thoại sử dụng hành động ở lời

Trong quá trình giao tiếp, để biểu thị trạng thái, cảm xúc của mình nhân vậthội thoại sử dụng hành động ngôn ngữ Tùy vào hoàn cảnh, điề kiện, đối tượng giaotiếp mà người nói lựa chọn những hành động ngôn ngữ thích hợp

- Hành động ở lời trực tiếp: Là hành động có sự tương ứng giữa cấu trúc phát

ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên Chẳng hạn:

Trang 20

Anh gặp em đây vừa mừng vừa hỏi

Phụ mẫu ở nhà mạnh giỏi hay không?

Đây là hành động ở lời hỏi thăm, hiệu lực của nó là thái độ người nghe sauphát ngôn

- Hành động ở lời gián tiếp: Là hành động không có sự tương ứng giữa cấu

trúc phát ngôn trên bề mặt và hiệu lực mà nó gây ra, nói một cách khác là hànhđộng mà trên cấu trúc bề mặt là A nhưng hiệu lực gây ra là B, trong thực tế khôngphải bất cứ điều gì cũng nói thẳng được Vì thế để được kín đáo, tế nhị, người phátngôn thường sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp Kiểu hành động này xuất hiệnkhá nhiều trong ca dao Đồng bằng sông Cửu long.:

Ngồi buồn chẳng dám trách ai, Trách tằm kia chẳng đoái hoài tới dâu

[tr 440]

Ở đây hình ảnh “dâu”, “tằm”… chỉ là phương tiện mà nhân vật trữ tình mượn

để ngụ ý nói về chuyện tình cảm mà thôi

Việc xuất hiện hình động ngôn ngữ gián tiếp, bóng gió bên cạnh những lờitrực tiếp rất đúng với bản chất trữ tình trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long gópphần tạo nên nét riêng trong cách ứng xử của con người nơi đây

1.3.Lý thuyết hành động ngôn ngữ trong mối quan hệ với ca dao Đồng bằng song Cửu Long

1.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

J.L.Austin,một nhà triết học người Anh là người sinh ra lý thuyết về hành độngngôn ngữ Năm 1955 ở trường đại học Haward ông đã trình bày 12 chuyên đề Saukhi ông mất 2 năm, năm 1962, các đồng nghiệp của ông đã tập hợp lại và xuất bản

thành sách với nhan đề How to do things with words (người ta hành động như thế nào bằng lời nói) đã xé tan bức màn bí ẩn về ngôn ngữ và lời nói, khai sinh một dòng chảy mới Từ nền móng mà J.L.Austin đã xây nên sau này được J.R.Searle phát triển với công trình Speech Acts (hành vi ngôn ngữ) 1969 Theo J.L.Austin khi

nói năng là chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngônngữ

Trang 21

Hành động ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất trong các đơn vị tạo nên hộithoại.J.L.Austin cho rằng khi phát ngôn một câu nào đó ,người ta thực hiện đồngthời 3 hành động:

Hành động mượn lời: Là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ,hay nói cáchkhác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quả ngoài ngôn ngữ đốivới người nghe.Hiệu quả này không đồng nhất ở những người khác nhau

Hành động ở lời: Là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệuquả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ,gây phản ứng đốivới người nghe.Sở dĩ ta gọi là hành động ở lời vì khi nói thì ta đồng thời thực hiệnmột hành động ở trong lời (còn gọi là hành động trong lời)

Các hành động ngôn ngữ này đều tạo nên những hiệu lực nhất định Ngữ dụnghọc quan tâm chủ yếu đến hiệu lực của các hành động ở lời

1.3.2.Phân loại hành động ngôn ngữ

Đây là vấn đề cần thiết làm cơ sở cho việ triển khai nội dung của đề tài Xung

quanh vấn đề này có thể có những cách phân loại hành động ở lời khác nhau Ở đây,chúng tôi chỉ chọn hai bảng phân loại hành động ở lời của J.R.Searle và J.L.Austin Cách phân loại của J.L.Austin Tác giả đã đưa ra năm phạm trù phân loại cáchành động ở lời gồm :

- Phán xử (verditifs) gồm các động từ: Xử trắng án, xem là, tính toán, miêu tả, phân tíc , đánh giá, phân loại, nêu đặc điểm.

- Hành xử (exercitifs) gồm các động từ : Ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, đặt hang, giới thiệu, van xin, khuyến cáo,bổ nhiệm, đặt tên, khai mạc,bế mạc, cảnh cáo, tuyên bố.

- Cam kết (commissifs) gồm các động từ : Hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, giao ước, đảm bảo thề nguyền, thong qua các quy ước,tham gia một phe nhóm.

Trang 22

Trình bày (expossitifs) gồm các đông từ : Khẳng định, phủ định, chối, trả lời, phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ, báo cáo ý kiến.

Ứng xử (behabitives) gồm các động từ : Xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, ban phước, nguyền rủa, nâng cốc,chống lại.

J.R.Searle đưa ra 12 điểm làm tiêu chí phân loại, trong đó có bốn tiêu chí cơbản nhất (tiêu chí đích,tiêu chí hướng khớp ghép, tiêu chí trạng thái tâm lí và tiêuchí nội dung mệnh đề) để phân loại năm phạm trù hành động ở lời

Tái hiện (prepresentatives) gồm các động từ:Than thở, khoe.

Điều khiển (directives) gồm các động từ :Ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép Cam kết (commissives) gồm các động từ : Hứa hẹn, tặng, biếu.

Biểu cảm (expresssives) gồm các động từ :Vui thích, khó chịu, mong muốn, rẫy bỏ.

Tuyên bố (declaratives) gồm các động từ : Tuyên bố,buôc tội.

1.3.3.Các nhân tố chi phối hành động ngôn ngữ trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long.

Khảo sát ca dao Đồng bằng sông Cửu Long chúng tôi thấy rằng hành độngngôn ngữ bị chi phối bởi nhiều nhân tố, trong đó chúng tôi tập trung nghiên cứu chủyếu đề cập đến hai nhân tố: Vai giao tiếp và vị thế giao tiếp

1.3.3.1 Vai giao tiếp

Trong cuộc sống các nhân vật giao tiếp luôn đảm nhận vai trò giao tiếp khácnhau Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ nhất với tư cách là vai trao lời tác động đếnvai nhận (hoặc vai đáp lời) đến lượt mình, vai nhận lại trở thành vai trao còn vaitrao lại trở thành vai đáp Có thể chúng làm thành những cặp trao đáp luân phiênnhau

Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long “độc thoại lâm thời” xuất hiện khá

nhiều, người nói tự nói với chính bản thân mình và đồng thời đóng cả vai nói và vainghe:

Bạc lộn với than như vàng trộn trấu Bởi em thương thầm sao thấu tai anh.

Trang 23

Cô gái này thương thầm một chàng trai và cô bộc lộ cảm xúc của mình Tathấy cô đang tự nói với chính bản thân mình và đồng thời đóng cả vai nói và vainghe.

1.3.3.2 Vị thế giao tiếp

Ca dao Đồng bằng sông Cửu Long là ca dao về tình yêu đôi lứa, tình cảm vợchồng Thông qua việc sử dụng từ xưng hô và cách ứng xử của các chàng trai, côgái Tây Nam Bộ ta thấy rằng các nhân vật giao tiếp có vị thế ngang hàng, bìnhđẳng, không có người nào vị thế cao hơn:

Gió len cho héo lá lan, Cho thiếp gặp chàng duyên nợ đẹp đô

1.4 Tiểu kết chương 1:

Tìm hiểu về ca dao, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, tìm hiểu về vùng đất

và con người Tây Nam Bộ để ta hiểu thêm con người, nội dung và hình thức của cadao Đồng bằng sông Cửu Long.Tìm hiểu hình thức lời thoại cũng như nhân vật hộithoại giúp chúng ta có thể hiểu đúng nội dung hành động ngôn ngữ trong ca daoĐồng bằng song Cửu Long

Trang 24

CHƯƠNG II HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA

DAO ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Hoàn cảnh không gian, thời gian của các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long

2.1.1 Hoàn cảnh không gian

Bất kỳ một sự vật nào cũng tồn tại trong một không gian nhất định Nhữngsáng tạo nghệ thuật của con người cũng không vượt qua ra ngoài phạm vi đó.Không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật

nào không có một nền cảnh nào đó: “ Không gian trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật ” [19, tr.88]

Không gian nghệ thuật là một hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật

“Không gian nghệ thuật trong ca dao chủ yếu là không gian trần thế, đời thường bình dị, phiếm chỉ với những nhân vật chưa được cá thể hóa, mang tâm trạng, tình cảm chung của nhiều người ” [19, tr.184]

Qua khảo sát chúng tôi thấy không gian trong lời thoại ca dao Đồng BằngSông Cửu Long rất phong phú và đa dạng, cụ thể có các dạng sau:

2.1.1.1 Không gian sông nước

Đồng Bằng Sông Cửu Long là một vùng đất có địa hình sông nước, có hệthống kênh rạch, sông ngòi chằng chịt Có thể nói sông nước trời mây là khungcảnh hữu tình, thơ mộng nhất để khơi dậy những tâm tư tình cảm của con người và

nó đã tạo nên cảm hứng sáng tác thành những lời ca dao mộc mạc.Hòa vào khungcảnh nước non của vùng đất, con người Tây Nam Bộ trên miền sông nước ấy người

ta đã tạo nên những lời ca dao thiết tha bộc lộ tình cảm, cảm xúc rất thực mang đậmnét con người Tây Nam Bộ

Khảo sát 1022 lời ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long ta bắt gặp vốn từ ngữchỉ sông nước chiếm số lượng lớn (183 từ, ngữ)

- Các từ và tổ hợp từ chỉ nước: Nói đến không gian sông nước trước hết ta

phải nói đến các từ và tổ hợp từ chỉ nước trong các lời thoại của nhân vật trong ca

Trang 25

dao Đồng Bằng Sông Cửu Long Các từ, tổ hợp từ chỉ nước rất đa dạng: nước, nước biếc, nước trong xanh, nước trong, nước chảy, nước ròng, nước lớn

Lục bình theo nước về xuôi

Xa em anh nhớ không nguôi trong lòng

- Các từ và tổ hợp từ chỉ sông: Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long các

từ và tổ hợp từ chỉ sông rất đa dạng và có tần số xuất hiện cao nhất (53 lần) Sông làhiện thân của dòng chảy lớn, dài, mênh mông, sâu và vô tận Những đặc điểm nàykhiến người ta dễ hình dung nó như một thực thể sống động, có khả năng diễn đạtnhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống tình cảm của con người Khi bộc lộ tìnhcảm:

Anh thương em lẫn đẫn, lờ đờ Xuống sông hỏi cá, lên rừng hỏi chim.

[tr.332]

Sông sâu sóng bủa láng co

Thương em vì bởi câu hò có duyên

[tr.452]

Khi hẹn thề: Sông dài cá lội biệt tăm

Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ

[tr.451]

Khi trách móc:

Ai làm lỡ chuyến đò ngang Cho sông cạn nước, cho đôi đàng biệt li

[tr.353]

Trang 26

Có khi lời nhân vật trữ tình còn bộc lộ nỗi sầu bằng cách gọi tên con sông:

Sông Tương ai gọi sông sâu, Chẳng bằng phân nữa mạch sầu của ta Sông tuy sâu hãy còn có đáy, Bệnh tương tư không bãi không bờ, Đầu sông chàng đợi chàng chờ, Nào hay thiếp đợi hững hờ cuối sông.

còn xuất hiện các từ, tổ hợp từ chỉ ao, hồ, kênh, gạch, biển, sóng … cũng rất phong

phú nhưng số lượng không nhiều:

Tiếc công anh đào ao thả cá

Ba tháng trời người ta thả câu.

[tr.464]

Anh ngó lên trời thấy đám mây bạch, Ngó xuống rạch thấy cá chạch đỏ đuôi Nước chảy xuôi con cá buôi lội ngược Anh mảng thương nàng biết được hay không.

[tr.345]

Ngoài các từ ngữ chỉ sông nước, qua các lời thoại trong ca dao Đồng bằng

sông Cửu Long thì các hình ảnh sóng, biển, … cũng hiện lên thất sinh động:

Tôi còn thương bậu, bậu ơi

Nỡ nào người nghĩa dứt đôi cho đành Chừng nào sóng nọ bỏ gành

Cù lao bỏ biển anh mới đành xa em

[tr.465 – 466]

Trang 27

Có thể nói người Tây Nam Bộ gắn bó với miền sông nước rất sâu sắc Vì vậy

phương tiện đi lại của họ cũng rất phong phú như: Thuyền, tàu, bè, xuồng, ghe, đò,

… Qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long ta thấy rất rõ

- Các từ và tổ hợp từ chỉ sự vật, vật dụng, liên quan đến sông nước như:

thuyền, bè, máy chèo, lưới, đò, bánh lái, tôm, cá,… cũng xuất hiện trong ca dao:

Bước xuống cầu, cầu oằn, cầu oại Bước xuống tàu, tàu chạy, tàu nghiêng,

Em thương anh bóp dụng đừng phiền Đợi anh về xứ kiếm tiền cưới em

[tr.351]

Trồng tre chẳng dám ăn măng,

Để cho măng lớn kết bè đưa dâu, Đưa dâu thì đưa bằng ghe, Đừng đưa bằng bè, rách áo cô dâu

[tr 471]

Hay:

Anh muốn về Long An, Vòm Cỏ,

Mấy lời em to nhỏ, anh bỏ sao đành

Chừng nào chiếc xáng nọ bung vành,

Núi kia hết đá, anh mới đành xa em

[tr.334]

Em bán giống chi mà đi chiếc xuồng nho nhỏ,

Sóng dập gió vùi lao khổ anh thương.

[tr.352]

Trang 28

“Đò” là phương tiện đi lại trên sông.Ngày xưa,người Tây Nam Bộ thường dùng “đò” để đưa đón khách.T rong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long “đò” không

mang ý nghĩa là phương tiện đi lại nữa mà nó là hình ảnh tượng trưng.Đó là con

“đò” của tình thương, con “đò” của nỗi nhớ.

Các từ và tổ hợp từ như giăng lưới, giăng câu, kéo mui, chày… xuất hiện qua

lời nhân vật trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long rất đa dạng Đó là công cụđánh bắt và hình thức đánh bắt của người dân Tây Nam Bộ:

Em ơi giả gạo làm chi

Em quăng chày đi cho rảnh Theo anh về Cao Lãnh bán buôn

[tr.396]

Xóm trên giăng lưới, xóm dưới giăng câu

Trách ai làm đêm thảm, ngày sầu, Cơm ăn không đặng, nhai trầu giải khuây.

[tr.475]

Qua lời nhân vật trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long, ta còn thấy sự giàu

có về số lượng cá, tôm, cua… Đó là nguồn thức ăn phong phú nuôi sống con người

nơi đây:

Ai ơi về miệt Tháp Mười,

Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn

[tr.315]

Gió đưa, gió đẩy, về rẫy ăn còng,

Về sông ăn cá, về đồng ăn cua

[tr.354]

Trang 29

Hay:

Cá lưỡi trâu mảng sầu méo miệng

Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi.

[tr.476]

2.1.1.2 Không gian các địa danh

Nói đến Tây Nam Bộ, người ta không thể không nhắc đến những địa danh nổitiếng Chính những địa danh ấy đã gợi cảm hứng cho người Tây Nam Bộ làm nênhàng trăm câu ca dao Địa danh ấy là những tên làng, tên núi, tên sông, tên một cáichợ, một ngôi chùa, một cái dốc, … Có thể đó là những địa danh đã gắn bó với lịch

sử và có thể đó là những địa danh rất đỗi bình thường Tất cả đã có mặt trong ca daoĐồng Bằng Sông Cửu Long

Theo thống kê của chúng tôi thì trong 1022 lời ca dao Đồng Bằng Sông CửuLong thì đã có 86 địa danh.Có thể chia thành các nhóm địa danh:

a Nói về vùng đất con người

Người Tây Nam Bộ luôn tự hào với những địa dannh nổi tiếng đã gắn bó với

họ trong hàng nghìn năm Cho nên, khi nghĩ đến những địa danh này thì họ rất tựnhiên đã thốt lên:

Ai về Tháp Mười mà coi

Mộ ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng

Bà con đùm đậu quanh vùng, Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên

Khách về nhớ mãi trong lòng,

Cù lao nho nhỏ bên dòng Tiền Giang.

[tr.316]

Trang 30

Hoặc có khi một loạt địa danh được xuất hiện liên tục nhằm để giới thiệu:

Mĩ Hưng, Mĩ Thuận, Mĩ Chánh, Mĩ Hòa, Anh đi đâu cũng ghé lại nhà, Nghèo em, em chịu, vịt gà đãi anh.

Đèn nào cao bằng đèn Ba Gác Gái nào bạc bằng gái Chợ Giồng Anh thương em từ thuở mẹ bồng Bây giờ em khôn lớn, em lấy chồng bỏ anh.

[tr.381]

Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có những địa danh thấm đẫm tâmtrạng nhân vật trữ tình, có những địa danh chỉ là sự giới thiệu về một vùng đất Nhưvậy, bên cạnh không gian sông nước thì không gian của các địa danh cũng là mộtkhông gian chủ yếu trong lời thoại ca dao Đồng bằng sông Cửu Long Địa danh gắnvới mỗi lời ca dao để người Tây Nam Bộ gửi gắm nỗi lòng mình với quê hương đấtnước và con người

2.1.1.3 Không gian ruộng đồng

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có ruộng lúa “thẳng cánh cò bay”, là trungtâm sản xuất lúa gạo hàng đầu của cả nước.Vì vậy người Tây Nam Bộ luôn gắn bó

Trang 31

với đồng ruộng Những lời ca dao Tây Nam Bộ cũng từ đó được cất lên không chỉmang hơi thở của sông nước, mang nhiều địa danh của vùng đất này mà còn chứađựng cả cái không gian rất thân thuộc với những người lao động đó là không gianruộng đồng Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ta cũng bắt gặp các từ ngữ chỉruộng đồng, liên quan đến công việc đồng áng để thể hiện cho không gian này Mặc

dù số lượng từ ngữ này ít (36 từ, ngữ) so với từ ngữ chỉ không gian sông nước vàkhông gian của các địa danh , nhưng chúng ta cũng có quyền khẳng định được rằngkhông gian ruộng đồng có mặt trong lời thoại ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Các từ ngữ chỉ ruộng đồng hoặc công việc đồng áng cũng đa dạng: ruộng, đồng, lúa, cấy cày ,bó mạ, trâu…

Trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long ruộng đồng là nơi để các đôi trai gáigặp gỡ yêu nhau bày và tỏ nỗi lòng:

Gặp em giữa ruộng, giữa đồng, Hỏi thăm thục nữ loan phòng chờ ai?

[tr.469]

Mạ non mà cấy đất gò Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ.

[tr.352 ]

Sẽ là một điều thiếu xót cho những ai nhắc đến Tây Nam Bộ mà quên nhắc

đến vườn cây ăn trái với nhiều “trái thơm quả ngọt” Vì vậy, ngoài các không gian

nói trên, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long còn có không gian miệt vườn Tuynhiên, ca dao Đồng bằng sông Cửu Long lại ít nhắc đến không gian này

Phải nói rằng trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long thì ruộng đồng là nơinhững người con trai, con gái gặp gỡ để giải bày lòng mình với nhau chứ khôngphải là nơi để làm quen hay tỏ lòng như trên sông nước Phải chăng ruộng đồng là

Trang 32

nơi gặp mặt của những người cùng thôn xóm đã thân quen nhau Họ cùng nhau làmviệc, cùng chung nỗi vất vả một nắng hai sương và khi làm việc cũng như nghỉ thì

họ lại trút bầu tâm sự cùng nhau

2.1.1.4 Những không gian gặp gỡ riêng tư

Trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long, ngoài các không gian trên thì cònbắt gặp một số không gian khác là không gian của những nơi gặp gỡ riêng tư: trongnhà, ngoài ngõ, trong vườn hoặc là ở một gốc đa, một cái miếu hay là ở trênđường…

Những không gian này không xuất hiện thành hệ thống như ba loại không giantrên mà lẻ tẻ, nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua Bởi vì, những nơi đó đã trởthành kỷ niệm nơi chứng kiến tình cảm vui buồn của con người Tây Nam Bộ để từ

đó mà hàng loạt câu ca dao được cất lên

Qua thống kê chúng tôi chia ra mấy loại không gian gặp gỡ riêng tư như sau:

- Không gian cụ thể

Khái niệm “ cụ thể ” mà chúng tôi dùng ở đây có nghĩa là ở một nơi xác định,

được chỉ đích danh như trong nhà, ngoài ngõ hay trên đường

+ Ở ngôi đình – miếu: Những lúc hệ trọng thiêng liêng như thề bồi đính ướcthì người Tây Nam Bộ lại tìm đến những ngôi miếu – Có lẽ, đây là nơi tĩnh mịchnhất, có không khí trang nghiêm nhất phù hợp cho tâm trạng này:

Trời mưa trơn trợt bờ đình

Lỡ lời hò hẹn,tôi phải dầm mình ra đi.

[tr.470]

Trang 33

+ Ở gốc đa: Hình ảnh cây đa đầu làng luôn gắn bó với thôn quê Việt Nam.Cây đa là nơi những đôi lứa yêu nhau thường hẹn hò tình tự:

Cây đa trốc gốc, cái miếu chổng khu Gặp em đây anh giỡn lu bù Chừng nào chồng cũ em hay được, thì anh ở tù cũng thương

[tr.385]

- Không gian phiếm chỉ

Trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long ta còn thấy một loại không gianxuất hiện tương đối nhiều, nó không phải là một địa danh cụ thể hay một nơi cụ thể

như trong vườn, ngoài ngõ, … mà nó được chỉ ra bằng đại từ chỉ định: “Đây” Một

số động từ chỉ hoạt động của nhân vật trữ tình được kết hợp với “Đó” với “Đây” để thể hiện loại không gian này: Đến đây, gặp đây, ở đây, …

“Đây” là không cụ thể một nơi nào cả, có thể là trên một dòng sông, một bến nước hay ở tại một gốc đa, sân đình, hoặc giữa đường, giữa chợ, …“Đây ” có thể là

nơi mà người Tây Nam Bộ thường tụ tập nhau để làm việc rồi gặp gỡ và cũng có

thể là nơi chỉ ra sự tình cờ mà họ đi qua gặp nhau “Đây” là tất cả những nơi để

người Đồng Bằng Sông Cửu Long bày tỏ tâm sự của mình:

Anh đừng môi miếng,miếng môi,

Ở đây nói vậy chứ có đôi ở nhà.

Trong số các không gian đó thì nổi lên hai loại không gian là không giansông nước và không gian các địa danh

Trang 34

Không gian trong ca dao nói chung và trong ca dao Tây Nam Bộ nói riêng làkhông gian trần thế đời thường, bình dị Điều này khác với không gian trong thần

thoại Không gian trong thần thoại thì “mang tính nguyên sơ hoang dã và hư ảo”

[5; tr.94]

2.1.2 Hoàn cảnh thời gian

Thời gian, không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánhtrong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian trong tácphẩm luôn luôn liên quan đến nội dung của tác phẩm cho nên chúng ta có thể trả lờiđược vì sao tác phẩm này lại là thời gian ban đêm, vì sao tác phẩm kia lại là thời

gian ban ngày Ở đây, thời gian không chỉ là thời gian “ Nó có vai trò to lớn trong việc tái tạo thực tại nghệ thuật, tổ chức nên nội dung và hình thức tác phẩm để khám phá thế giới và con người ” [26; tr.572]

“ Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận ” [14, tr.184]

Trong ca dao dân ca, thời gian luôn gắn chặt với tâm trạng của nhân vật trữtình Do vậy, tìm hiểu ngữ nghĩa lời thoại ca dao Đồng bằng sông Cửu Long takhông thể không tìm hiểu thời gian xuất hiện những lời ca dao ấy

Qua khảo sát chúng tôi thấy trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long có mấyloại thời gian sau:

2.1.2.1 Thời gian ban ngày

Thời gian ban ngày xuất hiện trong lời thoại ca dao Đồng Bằng Sông CửuLong với đầy đủ cả buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều:

Thời gian Tần số xuất hiện

Trang 35

Lao xao gà gáy rạng ngời Vai vắt cái cày tay dắt con trâu

[tr.322]

Nếu như buổi sáng là thời gian bắt đầu một ngày, bắt đầu của một công việcthì buổi trưa là thời gian nghỉ ngơi hoặc chuẩn bị nghỉ ngơi để tiếp tục một buổi mớilàm việc Buổi trưa là thời gian có lẽ không hợp với công việc thổ lộ tâm sự hoặc tỏtình, nhưng trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long vẫn có một số lời thoại xuấthiện vào thời gian này, tuy là rất ít (chỉ có 3 từ ngữ chỉ thời gian ban trưa) Thờigian buổi ban trưa được sử dụng bằng các từ ngữ : đứng bóng ban trưa, trưa

Thương không thương cũng nghĩ chút tình, Cũng người vợ cũ của mình thuở xưa Gặp mình đây đứng bóng ban trưa Trách trời mau tối, em phân chưa hết lời

[tr 463]

Đường trưa qua một cánh đồng

Em đi mua rượu cho chồng em đây Chồng em mang tiếng mang tai Tiếng tai em chịu, hơn ai không chồng

[tr.323]

Mặc dù tần số xuất hiện thời gian buổi trưa là ít nhưng nó đã góp phần làmnên sự phong phú cho thời gian ban ngày trong lời thoại ca dao Đồng Bằng SôngCửu Long

Có thể nói thời gian ban ngày đáng chú ý nhất, xuất hiện nhiều nhất trong lờithoại ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long là thời điểm buổi chiều (26 lần) Chiềuđến, không gian bắt đầu chìm ngập trong bóng tối, hoàng hôn thì con người đỡ buồn

Trang 36

nhất Chiều tối, con người khó có thể kìm được lòng mình khi nghĩ về cha mẹ, nghĩ

về người yêu đang cách xa Qua khảo sát, chúng tôi thấy thời gian buổi chiều là thờigian của các nhân vật trữ tình nói đến nỗi buồn chứ hoàn toàn không thấy những lời

tỏ tình hoặc những lời thể hiện tâm trạng vui sướng Các từ ngữ diễn tả buổi chiều

có: chiều chiều, chiều, chiều nay…

Từ ngữ diễn tả buổi chiều Tần số xuất hiện

“Chiều chiều”

Từ “ Chiều chiều ” có tác dụng diễn tả quá trình của sự việc, hiện vật, hiện

tượng kéo dài Nó không phải là một buổi mà thời gian đó trở thành chu kỳ lặp đi

lặp lại Rõ ràng, thời gian ở đây không còn là một đại lượng chính xác nữa “ Chiều chiều ” với tư cách là một trạng ngữ chỉ thời gian luôn đứng đầu câu và có tần số

xuất hiện nhiều nhất qua lời nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long (11lần)

Các chàng trai, cô gái thường cảm thấy cô đơn khi xa cách người thương Cònnhững cô gái lấy chồng xa quê thì cảm thấy bơ vơ, trống trải nơi đất khách quêngười Vì vậy, qua lời thoại của nhân vật trữ tình trong ca dao Đồng Bằng SôngCửu Long mỗi khi chiều tối, thường mang theo nỗi buồn da diết

Chiều chiều ra ngó ngoài trời Thấy chim về tổ, bời bời ruột đau

[tr.364]

Trang 37

Chiều chiều con nước lên cao

Thuyền anh cặp bến, cắm sào thăm em

Từ “ Chiều nay ” cũng là trạng ngữ chỉ thời gian nhưng lại xác định thời gian

rõ hơn từ “ chiều chiều ” và “ chiều ” “ Chiều nay ” đó là buổi chiều và ngày là hôm nay Từ “ chiều nay ” giống từ “ chiều chiều ” là luôn đứng ở vị trí đầu câu:

Chiều nay anh phải hồi hương Xin bậu ở lại đừng thương nơi nào

[tr.394]

Chiều nay cắt cổ gà vàng Đừng cho nó gáy hai đàng biệt li

2.1.2.2 Thời gian ban đêm

Ban đêm có thể nói là thời gian rảnh rỗi nhất, thuận lợi nhất để con người tựmình giải bày nỗi lòng hoặc gặp gỡ nhau để tâm sự Đặc biệt nam nữ thanh niênnông thôn sau một ngày lao động mệt nhọc thì chỉ còn lại ban đêm là thời gian để

Trang 38

họ giành cho nhau Chúng tôi thấy thời gian ban đêm xuất hiện nhiều nhất trong lờithoại ca dao Đồng bằng sông Cửu Long (43 từ, ngữ chỉ thời gian ban đêm) Điều

này cũng phản ánh một quy luật chung của ca dao dân ca là “ Trong ca dao dân ca nói chung thì thời gian ban đêm được sử dụng nhiều nhất”[28,tr.174]

Từ, ngữ chỉ thời gian ban đêm trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long cũng

đa dạng, đó là các từ ngữ: đêm, đêm khuya, tối, trăng lênh bóng ngã, khuya, canh khuya, đêm đông, …

Qua khảo sát, chúng tôi thấy thời gian ban đêm trong ca dao Đồng bằng sôngCửu Long là cái hoàn cảnh để nhân vật trữ tình thể hiện hai mục đích sau:

a Ban đêm là thời gian để nam nữ gặp gỡ nhau

Thông thường ở nông thôn, cứ đêm đến là thanh niên nam nữ lại rũ nhau đichơi Họ đi từ xóm này sang xóm khác Trước hết họ đi chơi, đi để cho vui, chođược thoải mái sau một ngày lao động, sau nữa là để họ giao lưu gặp gỡ và để tìmmột người bạn đời Hầu hết những cuộc đi chơi diễn ra vào những đêm sáng trăng

Trăng lên bóng ngã qua rào, Mong sao thấy mặt không chào cũng thương

b Ban đêm là thời gian nhân vật trữ tình tự bọc bạch tâm sự nỗi lòng mình.

Ban đêm là phù hợp hơn cả cho một người đang suy tư trằn trọc Trong 43 từ,ngữ gắn với 43 lời thoại xuất hiện vào ban đêm thì có đến 31 lời thoại là của nhân

vật đang tự nói với mình Loại này bao giờ cũng gắn với “đêm”, “đêm tàn”, “đêm khuya”:

Trang 39

Đêm nằm than thở, thở than Gối ơi, gối hỡi, bạn lang đâu rồi

[tr.384]

Đêm khuya ngồi dựa tiên đình

Sương sa gió lạnh, không thấy mình vãng lai

tr.383]

Thời gian ban đêm trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long chủ yếu là thờigian của các nhân vật trữ tình bộc lộ nội tâm và những suy nghĩ, những suy tư trongthời gian này lại hầu hết là của người phụ nữ Có lẽ so với nam giới thì phụ nữ haysuy nghĩ hơn hay sầu muộn hơn và chỉ có ban đêm là thời gian thích hợp nhất để họgiải bày Trằn trọc suy tư nghĩ ngợi, tất cả đã làm nên những lời ca dao thấm đẫmnỗi buồn cô đơn của người phụ nữ Tây Nam Bộ ngày xưa

Tất cả các khoảng thời gian từ ban ngày cho tới ban đêm, từ sáng sớm cho đếnbuổi chiều, rồi đêm khuya đều là những thời gian xuất hiện các lời thoại ca daoĐồng Bằng Sông Cửu Long Nhưng dù ở thời gian nào thì trong thơ ca dân gian nóichung và trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng, thời gian của tác giả

và thời gian của người đọc hòa lẫn với thời gian của người diễn xướng và “thời gian ở đây là thời gian hiện tại ” [19,tr.]

Như vậy thời gian nghệ thuật trong ca dao diễn ra nói chung và trong ca daoĐồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng là thời gian hiện tại

Tìm hiểu về thời gian xuất hiện của lời thoại trong ca dao Đồng Bằng SôngCửu Long, chúng ta sẽ khám phá được lớp ngữ nghĩa của lời thoại nhân vật bởi vì

thời gian trong văn học, như Giáo Sư Trần Đình Sử nói: “Nó không còn đơn giản là cái nội dung chứa các quá trình đời sống mà là một yếu tố nội dung tích cực ” [5;

tr.63]

Còn N.Gây cho: “ Thời gian là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất

để tổ chức nội dung của nghệ thuật”[11,tr.228]

Rõ ràng các địa danh được đưa vào lời ca để thể hiện tâm trạng buồn, nhớ củacon người Tây Nam Bộ

Trang 40

c Chỉ là để ứng gợi hứng cho nhân vật

Trong ca dao Đồng Bằng Sông Cửu Long có những địa danh thấm đẫm tâmtrạng của nhân vật trữ tình, có những địa danh chỉ là sự giới thiệu về một vùng đất

và có những địa danh chỉ là cái cớ, là sự gợi hứng cho nhân vật trữ tình.Có khi đó là

sự dò hỏi:

Láng Hầm nước chảy xuôi dòng, Gặp em anh hỏi có chồng hai chưa ?

Anh hỏi thì em xin thưa

Mẹ cha xế bóng nên chưa có chồng

Đó là tất cả những tình cảm mà con người vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

đã gửi gắm qua lời của mình trong ca dao

2.2 Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

2.2.1 Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long

Khảo sát lời thoại nhân vật trong ca dao Đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôinhận thấy có khá nhiều hành động ngôn ngữ Việc nhận diện và phân loại hànhđộng ngôn ngữ trong hội thoại ca dao khó có thể chính xác tuyệt đối Đôi khi nhữnglời thoại bao gồm hỗn hợp các hành động ngôn ngữ hoặc có những hành động ítthấy xuất hiện Tuy nhiên, các hành động này đều đi đến đích cuối cùng là thể hiện,bộc bạch tình cảm nam nữ

Ngày đăng: 14/07/2015, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w