Mở đầu I- Lý do chọn đề tài Phạm Tiến Duật là một cây bút điển hình của thơ ca chống Mỹ đ-ợc tôi luyện và tr-ởng thành trong chiến tranh , khẳng định sau chiến tranh -giải nhất báo Văn
Trang 1Lời nói đầu
Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung, giai đoạn thơ ca chống Mỹ nói riêng, Phạm Tiến Duật nổi lên nh- là một hiện t-ợng độc đáo qua những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh
Mặc dù sự nghiệp của nhà thơ khá đồ sộ và đang còn tiếp diễn nh-ng cái
đã làm nên tên tuổi, buộc ng-ời ta phải nhớ đến là tập thơ đầu tay " Vầng trăng quầng lửa " Không hồi cố nh-ng những gì trong đó vẫn vẹn nguyên là nỗi ám
ảnh suốt đời của ông, tạo nên một phong cách thơ riêng biệt không thể trộn lẫn
và không dễ gì có đ-ợc ở tác giả khác Đó chính là vấn đề trọng tâm mà luận văn này mong muốn tìm hiểu để qua đó thấy đ-ợc những cống hiến của Phạm Tiến Duật cho nền thơ ca Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, đây là một đề tài mới mẻ, có nhiều thú vị nh-ng cũng không gây ít khó khăn cho ng-ời viết Những hạn chế nhất định là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi mong nhận đ-ợc sự góp ý của những ng-ời có quan tâm đến vấn đề này
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì những h-ớng dẫn tận tình của PGS TS Đỗ Thị Kim Liên, ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn khoa học; xin trân trọng cảm ơn nhà thơ Phạm Tiến Duật đã cung cấp t- liệu, đóng góp ý kiến nhiệt tình trong suốt quá trình chúng tôi làm luận văn; xin đ-ợc chân thành cảm ơn GS TS Hoàng Trọng Phiến, và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngôn ngữ khoa Ngữ văn, trong khoa Sau Đại học đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, các bạn đồng môn đã ủng hộ, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ để chúng tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin cảm tạ và biết ơn tất cả !
Tác giả
D-ơng Thị Minh Nguyệt
Trang 2IV Ph-ơng pháp nghiên cứu
V Cái mới của đề tài
Nội dung
Ch-ơng I: Những tiền đề về lý thuyết và thơ Phạm Tiến Duật
I Ngôn ngữ thơ - những đặc tr-ng cơ bản
II Những cách tân về ngôn ngữ thơ trong thời kỳ chống Mỹ cứu n-ớc
III Tác giả Phạm Tiến Duật
Ch-ơng II: Đặc điểm hình thức ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
I Đặc điểm hình thức thể loại
II Nhạc thơ
III Đặc tr-ng sử dụng và tổ chức từ ngữ
IV Đặc tr-ng cấu trúc câu thơ điển hình
V Đặc tr-ng cấu trúc câu đặt trong đoạn văn theo lối dựng cảnh
Ch-ơng III: Đặc tr-ng ngữ nghĩa trong thơ Phạm Tiến Duật
I ý nghĩa của hệ thống hình t-ợng trong thế giới nghệ thuật của tác giả
II Một số hình t-ợng tiêu biểu trong thơ Phạm Tiến Duật
III Những đặc điểm ngữ nghĩa của hình t-ợng trong thơ Phạm Tiến Duật
Kết luận
Trang 3Mở đầu
I- Lý do chọn đề tài
Phạm Tiến Duật là một cây bút điển hình của thơ ca chống Mỹ (đ-ợc tôi luyện và tr-ởng thành trong chiến tranh , khẳng định sau chiến tranh -giải nhất báo Văn nghệ 1969 - 1970; giải th-ởng nhà n-ớc Việt nam 2001).Ông đã có những sáng tạo mang tính đột phá về mặt ngôn ngữ thơ trong nền thi ca Việt Nam hiện đại nh-ng nhìn sơ bộ thì công việc nghiên cứu thơ ông còn nhiều vấn
đề bỏ ngỏ , nhất là trên ph-ơng diện ngôn ngữ , gần nh- ch-a có bài viết nào
Cùng với sự phát triển của khoa học xã hội nói chung, hành trình khám phá văn ch-ơng từ góc độ ngôn ngữ học và rộng hơn là thi pháp học nói riêng đã
đem lại những thành tựu rực rỡ Đề tài " Ngôn ngữ Phạm Tiến Duật qua tập thơ Vầng trăng quầng lửa " - tập thơ đ-a tên tuổi tác giả toả sáng trên thi đàn -cũng
nằm trong h-ớng tiếp cận chung này để mong đ-a ra một cái nhìn toàn diện hơn
về thơ Phạm Tiến Duật, để khẳng định những đóng góp của tác giả trong tiến trình thơ ca Việt nam hiện đại Từ đó hy vọng nó sẽ giúp ích cho việc dạy và học thơ Phạm Tiến Duật trong nhà tr-ờng đ-ợc tốt hơn
II Đối t-ợng và mục đích nghiên cứu
1 Đối t-ợng
Phạm Tiến Duật là một cây bút tài hoa , có mặt trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn , tr-ờng ca , phê bình , tiểu luận , thơ Những tác phẩm mà ông đã có gồm :
* Tiếng bom và tiếng chuông chùa, NXB QĐND, 1997
* Tuyển thơ một chặng đ-ờng, NXB Kim đồng, 2001
* Đ-ờng dài và những đốm lửa, NXB HNV, 2001
Tuy vậy, do giới hạn của đề tài luận văn nên đối t-ợng khảo sát của chúng
tôi chủ yếu là tập thơ " Vầng trăng quầng lửa ", NXB VH, 1970 Bên cạnh đó,
chúng tôi liên hệ với các tập khác của ông để qua đó có những nhận định, kết luận chính xác hơn
Trang 42 - Mục đích
- Tìm hiểu đặc điểm hình thức ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật, gồm đặc tr-ng sử dụng, tổ chức từ ngữ và đặc tr-ng tổ chức câu thơ điển hình nhằm hiểu
rõ đặc tr-ng ngữ nghĩa thơ của Phạm Tiến Duật
- Từ đó, tìm ra những đặc điểm chung nhất về ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
III Lịch sử vấn đề
Khi đất n-ớc b-ớc vào cuộc chiến đấu chống Mỹ thì cũng là lúc xuất hiện rầm rộ một đội ngũ những cây bút trẻ Họ đã lăn lộn ngoài chiến tr-ờng để vừa chiến đấu vừa lao động sáng tạo nghệ thuật Có nhiều sáng tác lớn lên và đ-ợc khẳng định qua cuộc chiến đấu ấy Vậy nh-ng, điều chúng ta dễ nhận thấy là các tác phẩm của họ ch-a đ-ợc nghiên cứu một cách đầy đủ Với một sự nghiệp
đáng nể có bề dày thời gian sáng tác tính đến nay đã gần một nửa thế kỷ song Phạm Tiến Duật cũng không tránh đ-ợc những thiệt thòi trên Các bài viết về thơ ông còn khá rời rạc , ch-a đồng bộ , ch-a toàn diện Qua việc thu thập , tìm hiểu các tài liệu hiện nay về nghiên cứu phê bình thơ Phạm Tiến Duật, chúng tôi nhận thấy quá trình nghiên cứu thơ ông có thể tạm chia làm hai thời kỳ : Từ
1970 đến 1980 và từ 1980 cho đến nay
Thời kỳ đầu có một số bài do Hoài Thanh , Xuân Diệu , Lê Đình Kỵ, Nhị
Ca viết ngay sau khi công bố giải nhất trên báo văn nghệ 1969 - 1970 cho một ng-ời duy nhất , lại là một ng-ời lính ch-a có tên tuổi trên thi đàn, lúc đó đang lặn lội trong chiến tr-ờng Các bài ấy đ-ợc in trong báo Văn nghệ Quân đội những năm 1970 , sau đó lại đ-ợc in trong tuyển tập của các tác giả Lúc ấy các
bài viết đều có chung một nhận định " Phạm Tiến Duật là một hiện t-ợng lạ "
đột hiện trên thi đàn Bởi vì trong tuyển tập thơ chống Mỹ cứu n-ớc 1965 - 1967
do Chế Lan Viên giới thiệu ch-a hề nhắc đến cái tên Phạm Tiến Duật thì đến năm 1969- 1970 ông đã đạt giải nhất báo Văn nghệ Và những năm tiếp theo
1970 , 1971 , 1972 tuy không dự thi nh-ng các tập thơ nổi tiếng của ông theo nhau ra đời gây nên một sự mới lạ " thích thú " cho ng-ời đọc
Sau một thời gian lắng xuống, khoảng 5 năm lại đây , trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện thêm một số bài nữa của làng phê bình với các tên tuổi nh- : Vũ Quần Ph-ơng , Vũ D-ơng Quý , Vũ Nho , Nguyễn Ngọc Thiện , Lê Quang Trang , Hoàng Mai H-ơng thì những giá trị nghệ thuật của cây bút Phạm Tiến Duật càng đ-ợc khẳng định
Nhìn chung, tr-ờng hợp tiếp cận thơ Phạm Tiến Duật có 2 loại : Loại đi vào cảm nhận , thẩm bình một số tác phẩm cụ thể để làm t- liệu cho nhà tr-ờng
và loại nhận xét chung về thơ Phạm Tiến Duật
ở h-ớng tiếp cận thứ nhất - đi vào nghiên cứu thẩm bình tác phẩm cụ thể - các nhà nghiên cứu đã xuất phát từ những nét đặc tr-ng về hình thức để tìm hiểu
Trang 5nội dung tác phẩm , đánh giá giá trị của nó Hai bài viết , một của Vũ D-ơng Quỹ in trong bình giảng văn học lớp 9, NXB GD, 1995, một của Trần Đăng Xuyền in trong 100 bài làm văn mẫu lớp 9, NXB Đồng Nai, 1998 đều viết về "
Bài thơ về tiểu đội xe không kính " Họ đánh giá đây là bài thơ có giá trị , tiêu
biểu cho giọng thơ , phong cách thơ Phạm Tiến Duật.Vũ D-ơng Quỹ đã tập trung khai thác ngôn từ , nhạc điệu , hình ảnh sáng tạo và đặc biệt là cách kết
thúc bất ngờ " nó toả sáng chủ đề , toả sáng vẻ đẹp , phẩm giá con ng-ời và cuối cùng cất bỗng lên , hoà nhập với âm h-ởng sử thi và cảm hứng lãng mạn của cả giai đoạn văn học trong ba thập kỷ chiến tranh chống xâm l-ợc " Còn tác giả
Trần Đăng Xuyền lại tâm đắc ở giọng kể sinh động , cảm xúc chân thực , t-ơi trẻ pha lẫn ngang tàng , bụi bặm của ng-ời lính Tr-ờng Sơn Nói chung, các bài phê bình đã phác hoạ đ-ợc phong cách thơ Phạm Tiến Duật đồng thời cung cấp một cái nhìn đúng đắn, chân xác nhất về thơ Phạm Tiến Duật đối với ng-ời đọc
ở h-ớng tiếp cận thứ hai - nhận xét chung về thơ Phạm Tiến Duật - các tác giả đều có chung một nhận định là nhà thơ đã đem đến một phong cách lạ trong thơ ca Việt Nam hiện đại Nhà phê bình Hoaì Thanh trong bản đánh giá tổng kết chung khảo cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1970 đã ghi nhận Phạm Tiến Duật
là ng-ời có công đ-a chất liệu thực vào thơ bằng một giọng điệu tinh nghịch,
lính tráng Còn Lê Đình Kỵ trong bài tổng kết " Nửa thế kỷ VHVN hiện đại " đã viết: " thơ ca chống Mỹ có hai tr-ờng phái đáng chú ý Tr-ờng phái thứ nhất đi vào khai thác cái bên trong của chính mình, coi trọng nội tâm là chính, tiêu biểu
là Chế Lan Viên Tr-ờng phái thứ hai đi vào khai thác cuộc sống bên ngoài, biến cuộc sống thành thơ ca mà Phạm Tiến Duật là ng-ời điển hình” Đây là một
nhận định và khá tinh tế, sắc sảo và có tính khái quát cao độ
Đáng chú ý còn phải kể đến bài viết của Vũ Quần Phương in trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại “ Vũ Quần Phương cho rằng thơ Phạm Tiến Duật " hay
ở sự gồ ghề, cựa quậy, dựng cảm giác bằng những chi tiết sống sít, đời th-ờng" " Cái giỏi của Phạm Tiến Duật không phải là ở chỗ đã đ-a hiện thực vào thơ vì thơ ca chúng ta đã làm việc đó từ lâu rồi mà giỏi ở chỗ từ nhừng chi tiết sống sít,
bề bộn , những sự kiện rậm rịt của đời sống , Phạm Tiến Duật đã nhìn ra chất thơ ẩn kín trong đó " (26, 547) Bài viết này đã thể hiện một đôi mắt tinh t-ờng
trong cảm luận thơ của một nhà phê bình mang màu sắc lý luận văn học
Ng-ợc lại, đến với bài viết của Trần Đăng Xuyền (60, 292) , ta lại thấy những ý kiến sắc sảo mang đậm màu sắc lý luận ngôn ngữ Trần Đăng Xuyền
cảm thấy thú vị khi phát hiện ra sự "thông minh trong cách lựa chọn chi tiết ", trong " năng lực liên t-ởng " , "kết cấu chặt chẽ " ," đạo quân ngôn ngữ ít khi
Trang 6dùng phục binh", nghe " bạo mà không thô, đẽo gọt mà không uốn éo " , biết dùng "chữ thanh nuôi chữ thô " , " chữ mát nuôi chữ nóng"
Công phu nhất trong việc tìm hiểu t- liệu về cuộc đời - con ng-ời của Phạm Tiến Duật là bài tiểu luận của Hoàng Mai H-ơng (19, 530) Bài viết đã cố gắng chỉ ra những yếu tố chi phối tác phẩm nh- gia đình, quê h-ơng , nghề nghiệp một cách cụ thể Tác giả nêu ra những nét đặc tr-ng nhất trong tác phẩm - con ng-ời - cuộc đời của Phạm Tiến Duật Tuy nhiên, cách phê bình truyền thống này còn mang nhiều màu sắc chủ quan
Nói tóm lại , các bài viết có từng mặt mạnh riêng , màu sắc riêng nh-ng đều thể hiện một cái nhìn nghiêm túc , khoa học trong nghiên cứu của các tác giả Tất cả đều công nhận Phạm Tiến Duật là một cây bút có phong cách lạ Ông có biệt tài trong cách lựa chọn chi tiết , dựng cảnh , sử dụng ngôn ngữ Phạm Tiến Duật
là nhà thơ có vị trí hết sức quan trọng trong thơ ca chiến tranh " là mối tình đầu của thơ ca chống Mỹ " rất " ấn t-ợng, đắm say" (50, 119)
Thế nh-ng , đáng tiếc là các nhà phê bình đang chú trọng tìm hiểu d-ới góc độ lý luận văn học và các bài xuất hiện khá rời rạc, riêng lẻ sau đó tập hợp thành tuyển tập chứ ch-a có một chuyên luận nào khảo sát đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật để từ đó có cái nhìn tổng quát về đặc tr-ng phong cách thơ
ông
Từ những đánh giá sơ l-ợc nh- đã có, chúng tôi tiếp tục đi vào nghiên cứu
đặc điểm ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu.
1 Ph-ơng pháp thống kê, phân loại
Đề tài đi vào khảo sát 33 bài thơ trong tập "Vầng trăng quầng lửa "từ đó
phân loại những câu thơ, bài thơ chứa hiện t-ợng ngôn ngữ cần nghiên cứu Những câu thơ, bài thơ này sẽ là những ví dụ minh hoạ cho những luận điểm khái quát rút ra trong quá trình khảo sát
2 Ph-ơng pháp miêu tả, đối chiếu
Trên cơ sở thống kê, phân loại chúng tôi đi sâu vào miêu tả các kiểu cấu trúc tiêu biểu của thơ Phạm Tiến Duật Đồng thời chúng tôi cũng tiến hành đối chiếu giữa cách sử dụng ngôn ngữ của Phạm Tiến Duật với các tác giả khác, đặc biệt là các tác giả cùng thời để làm rõ những đặc điểm riêng về ngôn ngữ của thơ
ông
3 Ph-ơng pháp phân tích tổng hợp
Từ việc nghiên cứu, phân tích tín hiệu thẩm mỹ , cấu trúc ngôn ngữ để hiểu nghĩa thông báo của thơ, chúng tôi đi đến khái quát những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
Trang 7V Cái mới của đề tài.
Có thể khẳng định đây là luận văn đầu tiên đi sâu tìm hiểu, phân tích cấu trúc của thơ, biểu t-ợng ngữ nghĩa của thơ theo h-ớng thi pháp và từ đó rút ra những đặc điểm chung về ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật Qua đấy , chúng tôi hy vọng sẽ hiểu sâu hơn về thơ của tác giả này nhằm góp phần giảng dạy thơ ông trong nhà tr-ờng đ-ợc tốt hơn
Trang 8Nội dung
CHƯƠNG I Những tiền đề về lý thuyết và thơ Phạm Tiến Duật
I Ngôn ngữ thơ - những đặc tr-ng cơ bản
1 Khái niệm về thi pháp thơ
Thi pháp học ra đời cách đây 2400 năm nh-ng chỉ đến đầu thế kỷ XX, với Saussure cùng với sự lên ngôi của ngôn ngữ học, với Lévi - Strauss cùng với sự
ra đời của cấu trúc luận, với S Freud và Bergson cùng với việc khám phá ra tiềm năng vô hạn của con ng-ời thì bộ môn này cũng b-ớc vào một thời kỳ hoàng kim rực rỡ ở luận văn này chúng tôi muốn sử dụng ánh sáng của thi pháp vào để giải mã hệ thống các ph-ơng tiện nghệ thuật và ý nghĩa biểu hiện của tác phẩm Quả thực, đây là một vấn đề mới mẻ, còn tiếp tục bàn cãi vì có một số ý kiến cho rằng không nên đ-a thi pháp sang địa hạt của ngôn ngữ bởi nó là đối t-ợng nghiên cứu của lý luận văn học Thực ra , ta không nên thu hẹp phạm vi của thi pháp học bởi bản chất của thi pháp là ph-ơng pháp tiếp cận (nghiên cứu phê bình ) tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện để tìm hiểu các ý nghĩa biểu hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm Mà tác phẩm văn học là hệ thống ký hiệu và cấu trúc
đ-ợc vật chất hoá bằng ngôn từ , chỉ tồn tại trong ngôn từ của văn bản cho nên chúng ta chỉ có thể thẩm định đ-ợc giá trị tác phẩm có tính thuyết phục khi ta giải mã đ-ợc một hệ thống cấu trúc rất tinh vi - một thứ vật liêu đầy sức sống , luôn biến đổi nh- con kỳ nhông trong hệ thống của nó - đó là ngôn từ Do vậy , chúng ta không nên gạt thi pháp ra khỏi ngôn ngữ , thu hẹp phạm vi của nó
Quay trở lại với vấn đề chính - thi pháp thơ - đặt ra ở đầu mục Tr-ớc hết, chúng ta phải ghi nhận rằng, ở giai đoạn này, bên cạnh việc nghiên cứu phê bình tiểu thuyết thì phê bình thơ d-ới ánh sáng của thi pháp học cũng đã đạt đ-ợc những thành tựu to lớn với các tên tuổi Jacốpxơn, Mecchonnic, J Conhen Công lao đầu tiên của họ là đã đem đến cho chúng ta một tiêu chí khá rõ ràng để nhận diện thơ Cho đến nay nhiều định nghĩa đã ra đời song cuối cùng vẫn có cái gì
đó chung chung , ch-a thuyết phục Đến với các nhà pháp học của thế kỷ XX vấn đề này mới đ-ợc giải quyết
Điểm thứ nhất, theo họ , thơ là tiếng nói độc bạch làm việc trên trục dọc
(trục lụa chọn , thay thế , t-ơng đồng , quy chiếu , trục của các ẩn dụ ) còn tiểu thuyết là tiếng nói đối thoại, làm việc trên trục ngang Tất nhiên , quy luật ấy không phải lúc nào cũng bất biến mà có lúc giao nhau Chẳng hạn thơ Phạm Tiến Duật là một ví dụ điển hình (xem phần 3, II, ch-ơng II)
Trang 9Điểm thứ hai, trang giấy in thơ sẽ có nhiều khoảng trắng Chính những
khỏang trắng ấy là nơi chất thơ lan toả , là nơi tràn ngập t- duy, cảm xúc và hiển nhiên l-ợng ngôn từ còn lại là tinh chất đã đ-ợc gạn lựa, chắt lọc công phu
Đặc điểm thứ ba của thơ là sự trùng lặp ( câu , âm vận , nhịp , ý ) Trùng
điệp có tác dụng tạo những nhịp điệu t-ơng ứng trong suốt bài thơ , tạo những
âm vang , những tiếng rung trong thơ (20, 16) Bởi thế , ng-ời ta nói thơ là một kiến trúc đầy âm vang và ng-ời ta mới phổ nhạc cho thơ chứ không phải bất kỳ một thể loại nào khác Chất nhạc ấy có từ nhịp điệu và âm thanh mà âm thanh , nhịp điệu là một ph-ơng thức nghệ thuật thì hiển nhiên nó mang nghĩa
Trên đây là những nét đặc tr-ng nhất của thơ Ng-ời phê bình , nghiên cứu thơ khai thác các ph-ơng thức nghệ thuật có tính chất đặc tr-ng ấy để tìm hiểu ý nghĩa biểu đạt trong tác phẩm Đây là một chỉnh thể cấu trúc ngôn từ và ý nghĩa đầy phong phú , mê hoặc và thách thức mọi ng-ời quan tâm tới thi ca
điệu và quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” (8, 9) Bởi thế, hình thức của
nó bắt buộc ng-ời đọc phải nhớ mãi Điều ấy chỉ có đ-ợc ở thơ chứ không có ở bất kỳ một thể loại nào khác của văn học Ngôn ngữ thơ đ-ợc tổ chức có vần ,
có nhịp , có cắt mạch , có số l-ợng âm tiết , có đối , có câu , có niêm luật , có sự vận dụng về trọng âm và tr-ờng độ theo một mô hình cực kỳ gắt gao Nh-ng cái gắt gao ấy của mô hình là chỗ dựa vào trí nhớ Mô hình càng chặt thì càng nhớ
và l-u truyền Bởi vì ng-ời ta có thể căn cứ vào mô hình để phục hồi câu thơ một cách chính xác (thể hiện rõ nhất trong thơ cách luật , thơ thất ngôn bát cú ,
tứ tuyệt , lục bát .) Thậm chí , có những câu thơ nh- văn xuôi , không vần nh-ng vẫn ám ảnh ng-ời đọc một cách trọn vẹn Tại sao lại có sự phi lý ấy ? Nhìn qua đôi khi thấy câu thơ ấy vi phạm qui tắc của ngôn ngữ thơ ca nh-ng
thực ra nó đang " chấp nhận những sự gò bó khác”; ở cấp độ cú pháp và từ vựng ,nhà thơ ấy phải " mới lạ về cách nhìn " Nhiều nhà thơ chống Mỹ làm việc trên
trục kết hợp khá thành công và tài hoa trong cách dựng cảnh nên hiển nhiên sẽ
có nhiều câu thơ kiểu ấy mà hơn ai hết Phạm Tiến Duật là ng-ời đi tiên phong
Trang 10Từ tính chất đặc biệt về hình thức nh- trên , ngôn ngữ thơ rất dễ gây cảm xúc cho ng-ời đọc , ng-ời tiếp nhận Cái mới lạ , cái bất ngờ của tổ chức ngôn
ngữ bắt ng-ời đọc phải suy nghĩ, giải mã Nó " phải đ-ợc nội cảm hoá " ngay lập
tức vì ta phải chiếm hữu trọn vẹn nó về nội dung , hình thức
Và cũng chính nhờ cách tổ chức độc đáo ấy mà ngoài ngữ nghĩa thông báo của bài thơ ta còn có những ngữ nghĩa khác Điều đó làm nên tính đa tầng ý nghĩa của thơ , giúp nhà thơ chuyển tải tối đa sự phức tạp , tinh tế vô cùng của sự vật , tâm trạng trong sự hữu hạn của câu thơ, thể loại Chính vì thế mà thơ muôn
đời hấp dẫn ng-ời đọc
3 Đặc tr-ng của ngôn ngữ thơ
3.1 Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật của ngữ âm để phân biệt thơ và văn xuôi là tính nhạc Tính nhạc là đặc thù cơ bản của thi ca và phổ biến trong mọi ngôn ngữ Tuy nhiên , ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dáng vẻ độc đáo về tính nhạc bởi nó giàu
có về nguyên âm , phụ âm , thanh điệu Khai thác tính nhạc trong thơ , ta cần chú ý những mặt đối lập sau :
- Sự đối lập về trầm bổng ; khép - mở của các nguyên âm
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối
- Sự đối lập về cao - thấp , bằng - trắc của các thanh điệu
Bên cạnh đó, vần, nhịp cũng góp một vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca
3.2 Về ngữ nghĩa
Ngữ nghĩa trong thơ ca phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa trong ngôn
ngữ giao tiếp đời th-ờng , thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi " Ngôn ngữ thơ ca mang trong mình nó sự sống , nhiều ý nghĩa vô cùng biến đổi, xuất phát từ tâm linh nhà văn sử dụng nó " Mỗi tiếng là " con kỳ nhông " ''biến dạng liên tục'' (20, 15) Văn xuôi không hạn chế về số l-ợng âm tiết , từ , câu nên độ
d- nhiều còn trong thơ tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định
Do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen , nghĩa gốc , nghĩa ban đầu mà còn có những ý nghĩa tinh tế , mới lạ hơn Đó là nghĩa bóng hay còn gọi là nghĩa biểu tr-ng của ngôn ngữ thơ ca Và
khi ấy ngôn ngữ thơ trở thành " một thứ gì đó ch-a từng đ-ợc nói hoặc đ-ợc nghe Đó là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái v-ợt ra ngoài giới hạn " (61, 30) Trong quá trình vận động tạo nghĩa của ngôn ngữ thơ
Trang 11, cái biểu hiện và cái đ-ợc biểu hiện đã xâm nhập, chuyển hoá vào nhau tạo ra cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca
3.3 Về ngữ pháp
Nếu cho rằng thơ là một " cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản " thì sự
quái gở kỳ lạ đó đ-ợc thể hiện rõ nhất trên bình diện ngữ pháp
Tr-ớc hết, câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng với nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng và cũng có dòng bao gồm nhiều câu Nhà thơ có
thể sử dụng nhiều kiểu câu " bất bình th-ờng " nh- đảo ngữ , câu tách biệt, câu
vắt dòng, câu trùng điệp mà không làm ảnh h-ởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản Mặt khác , chính nó lại mở ra những giá trị mới , ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Nó có khả năng vô tận trong việc chuyển tải những trạng thái tinh tế , bí ẩn của thế giới và tâm hồn con ng-ời Và nh- thế , ngữ pháp thơ ca là ngữ pháp có tính nghệ thuật riêng, một thứ nghệ thuật đầy ma lực hấp dẫn con ng-ời mà đôi khi ta không dễ phân tích, giải mã đ-ợc chúng
II Những cách tân về ngôn ngữ thơ trong chiến tranh chống Mỹ cứu n-ớc
1 Sơ l-ợc diện mạo thơ chống Mỹ
Giai đoạn chống Mỹ cứu n-ớc là một giai đoạn lịch sử mà chủ nghĩa anh hùng cách mạng v-ơn lên đỉnh cao và con ng-ời Việt Nam bộc lộ rõ bản lĩnh và nhân cách cao đẹp của mình Đó là bệ phóng vững chắc cho thơ cất cánh Quả thực, thơ ca chống Mỹ phong phú và đa dạng , mới mẻ trong nội dung và hình thức và đã chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nền thơ ca dân tộc Thơ ca
thời kỳ này mang nhiều phẩm chất đẹp" vừa giàu tính lý t-ởng , vừa giàu chất hiện thực , có bề rộng của cuộc đời lẫn bề sâu tâm trạng , có những tìm tòi , sáng tạo trong nội dung và hình thức nghệ thuật " (13,5)
Có thể nói khi cả n-ớc cùng ra trận thì các thế hệ các nhà thơ đều có mặt
và nỗ lực tự v-ợt lên chính mình Tố Hữu có " Ra trận" , " Máu và hoa "; Chế Lan Viên có " Hoa ngày th-ờng " , " Chim báo bão " , " Những bài thơ cùng
đánh giặc " ; Huy Cận có " Những năm 60 " , " Chiến tr-ờng gần , chiến tr-ờng
xa " ; Xuân Diệu có " Tôi giàu đôi mắt " Đặc biệt có sự xuất hiện của một đội
ngũ văn nghệ sỹ trẻ đầy tài năng , sung sức nh- Bằng Việt , Xuân Quỳnh , Nguyễn Duy , Phạm Tiến Duật , Nguyễn Khoa Điềm , Lâm Thị Mỹ Dạ Họ ngợi ca đất n-ớc Việt Nam, con ng-ời Việt Nam anh hùng , nhân ái Các nhà thơ đã đ-a cả quá khứ văn hiến mấy nghìn năm của đất n-ớc biến thành sức mạnh để đối chất với kẻ thù Cũng chính vì thế mà chất anh hùng ca , chất sử thi , cảm hứng trữ tình toả sáng trong những bài thơ ở giai đoạn này
Trang 12Nói tóm lại, trong sự phát triển chung , đổi mới chung của văn nghệ chống
Mỹ, thơ ca đã nhận lấy vị trí tiên phong và đã thực sự xứng đáng với vai trò, trách nhiệm đ-ợc giao phó Chúng cần đ-ợc nghiên cứu kỹ l-ỡng trên nhiều ph-ơng diện để xứng đáng với vai trò, tầm vóc và sự cống hiến của mình
2 Sự cách tân về ngôn ngữ trong thơ ca thời kỳ chống Mỹ cứu n-ớc
2.1 Sự cách tân về mặt cấu trúc
Vì cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra gay go , ác liệt nên hiện thực cuộc sống lúc ấy luôn bề bộn , dữ dội Tr-ớc hiện thực ấy, ngôn ngữ thời này có vẻ ít
đ-ợc gia công, mộc hơn, không chải chuốt, m-ợt mà nh- "Thơ mới" nh-ng bù lại
l-ợng thông tin cao hơn , khả năng đoán tr-ớc thấp và hiển nhiên khi tín hiệu xuất hiện bất ngờ , cảm xúc có tính mỹ học xuất hiện Phạm Tiến Duật là ng-ời
có công lớn trong vấn đề này
a) Sự cách tân tr-ớc hết là sự kết hợp các tín hiệu trên trục lựa chọn
Thơ ca chống Mỹ đã đáp ứng đ-ợc yêu cầu ngôn ngữ thơ hiện đại phải chuyển sang khai thác hệ kết hợp trên trục lựa chọn Để sử dụng sự liên kết về thời gian , ng-ời ta đảo câu Để tạo sự bất ngờ về thời gian, ng-ời ta lắp ghép Hệ lựa chọn không đ-ợc chú trọng, mà chú trọng một cách công phu trên hệ kết hợp Các văn bản thơ hiện đại , vì thế có thể gây ấn t-ợng bề bộn , không trau chuốt từ nh-ng thay vào đó là những cấu trúc cú pháp đ-ợc nhận thức một cách
mỹ học Thơ Phạm Tiến Duật đi đầu trong xu h-ớng này với những cấu trúc lựa chọn nôm na còn cấu trúc kết hợp thì gây bất ngờ, tạo ấn t-ợng thú vị, mới mẻ
Ví dụ:
Nhìn thấy con đ-ờng chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Nh- sa nh- ùa vào buồng lái
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
Tác giả đã sử dụng thành công hệ kết hợp trên trục lựa chọn:
Con đ-ờng + chạy thẳng vào tim Cánh chim + sa, ùa vào buồng lái
Sử dụng đảo ngữ: đột ngột - cánh chim mà lẽ ra là phải cánh chim đột ngột
sa vào buồng lái
Hoặc cách định nghĩa có sử dụng từ " là " với phép điệp ngữ:
Nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích Nơi tắt lửa là nơi in vết bánh ô tô
Nơi tắt lửa là nơi dài tiếng hát
đã thể hiện một sự lựa chọn công phu, tài hoa của tác giả Phép điệp ngữ tạo độ ngân vang, lan tỏa từ hình t-ợng lửa tắt và ngọn lửa l-ơng tri thắp sáng
Trang 13Bởi thế , Nguyễn Phan Cảnh cho rằng " công đầu của Phạm Tiến Duật là
đã đứng mũi chịu sào để hình thành thế kết hợp cho thơ ca còn Nguyễn Trọng Tạo đã thuyết phục đ-ợc lục bát chịu nghe theo điều đó " (8, 258) Có thể nói ,
lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca hệ kết hợp đã đ-ợc nâng lên hàng độc tôn và nó
đã trở thành một tiêu chí chung của phong cách thơ trẻ thời bấy giờ với những tên tuổi : Phạm Tiến Duật , Nguyễn Trọng Tạo , Thanh Thảo , Hữu Thỉnh , Đinh Nam Kh-ơng , Trần Đăng Khoa
b Sự cách tân về thể loại thơ:
Để hiểu rõ hơn những đổi mới trong thơ ca chống Mỹ ta nên quay về với
Thơ mới Hiện t-ợng rõ nét nhất ở thơ mới là quá trình hiện đại hoá nh-ng sự giải phóng ấy ch-a thực sự triệt để Xét về mặt thể loại , cho đến thời kỳ Thơ mới , câu thơ tự do ch-a ra đời mà chỉ có thơ chuyển thể Họ đã sử dụng thơ 12
chân của Pháp và các thể thơ truyền thống Việt Nam để hình thành ra các thể thơ
mà tr-ớc đó ch-a có nh- : " S-ơng rơi " của Nguyễn Vỹ ; " Tiếng hát sông H-ơng " của Tố Hữu B-ớc sang thời kỳ chống Pháp , các nhà thơ đã cố gắng tìm tòi sáng tạo Nguyễn Đình Thi làm thơ tự do đầu tiên với tập “ Ng-ời chiến
sỹ “và đã gây nên cuộc tranh luận ồn ào Rốt cuộc, nó chưa thực sự đi sâu vào
lòng ng-ời đọc Tuy nhiên, các nhà thơ chống Pháp đã tạo mạch chảy cho thơ ca hiện đại
Thơ ca chống Mỹ cứu n-ớc có sự đa dạng, phong phú hơn về mặt thể loại Bên cạnh việc vận dụng tất cả các thể thơ cũ từ câu đối , phú , văn tế, vè, hát
dặm , thơ đ-ờng luật , thơ 8 chữ của phong trào Thơ mới các nhà thơ còn vận
dụng tr-ờng ca, truyện thơ , kịch thơ và phát triển các dạng thơ trữ tình , chính luận , trào phúng , đả kích , thơ leo thang , văn xuôi , thơ theo từng chùm liên hoàn , thơ không đề Thơ lục bát đạt đến mức điêu luyện ở Nguyễn Duy , Xuân Quỳnh Dung l-ợng một số bài thơ đ-ợc mở rộng một cách sáng tạo , tạo thành
sự hoà hợp của những thi khúc nh- " Lửa đèn " của Phạm Tiến Duật , " Đất n-ớc "của Nguyễn Khoa Điềm
c) Sự cách tân về hình thức câu thơ
Câu thơ hiện đại đ-ợc kéo dài tự do hơn, tự phá vỡ mình ra để đến gần với câu văn xuôi Những câu thơ của Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Trọng Tạo đã chứng minh điều đó
d) Sự cách tân về chất liệu ngôn ngữ đ-a vào thơ và vần, nhịp thơ
Ngôn ngữ trong thơ thời kỳ này đời th-ờng hơn , nôm na hơn , giàu tính dân tộc , tính nhân dân , đại chúng hơn Tính chất đời th-ờng trong ngôn ngữ
thực ra cũng là thế mạnh của Thơ mới nh-ng ở đó thấp thoáng ta vẫn thấy sự
g-ợng ép , sang trọng do phép biền ngẫu và các từ Hán Việt chi phối
Trang 14Ngôn ngữ trong thơ ca chống Mỹ là sản phẩm của một thế hệ mới, không phải là học trò Nho học mà là những con ng-ời từ n-ớc mặn,đồng chua , đ-ợc
đi đây đi đó học hỏi nhiều nền văn hoá của các dân tộc trên mọi miền đất n-ớc
và trên thế giới Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo là những nhà thơ mạnh ở mặt này
Ngôn ngữ thơ đời th-ờng hơn , mộc mạc hơn vì sự góp công của vần, nhịp Vần trong thơ thời kỳ tr-ớc đó đ-ợc coi trọng nh-ng đến đây yếu tố vần giảm hẳn để nhịp lên ngôi Có nhiều câu thơ không cần vần song ng-ời đọc vẫn không thấy khó nhập bởi chất thơ lôi cuốn ng-ời đọc , nhịp thơ phù hợp với mạch cảm xúc :
Tranh thủ ánh pháo sáng đèn dù Anh vội nhìn em và bạn bè khắp l-ợt Mọi ng-ời cũng tò mò nhìn anh Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
(Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Vần, nhịp thơ bị phá để thể hiện sự hối hả , gấp gáp , vội vã
Nói tóm lại , tất cả các yếu tố ở đây đã có một sự chuyển đổi đáng kể Chúng là một chỉnh thể thống nhất đã hợp lực để cùng đem lại một g-ơng mặt mới của thơ ca chống Mỹ
2.2 Những cách tân về hình t-ợng thơ
Nói văn học thời kỳ chống Mỹ có sự cách tân thì nghĩa là chúng ta đã khẳng định sự đổi mới ở hình t-ợng văn học Với khả năng và dung l-ợng hạn hẹp của vấn đề cần bàn trong luận văn , chúng tôi xin trình bày sơ l-ợc nhất những cách tân về hình t-ợng thơ trong giai đoạn này
a) Hình t-ợng nổi bật nhất trong thơ là hình t-ợng đất n-ớc
Chúng ta đã từng có một đất nước trong “ Nam quốc sơn hà “ ( Lý Thường Kiệt ) , một đất nước trong “ Bình ngô đại cáo “ ( Nguyễn Trãi ) Nhưng
so với ngần ấy thời gian thì hình ảnh đất n-ớc hãy còn quá nhạt Có thể nói , ch-a bao giờ hình t-ợng đất n-ớc lại hiện ra một cách rõ nét , sâu đậm, cao đẹp
và gắn bó máu thịt với từng con ng-ời Việt Nam nh- ở thế kỷ 20 này Một đất n-ớc cong cong hình chữ S thân th-ơng qua ca dao , thần thoại với quá khứ
4000 năm lịch sử hào hùng , với hiện tại và t-ơng lai t-ơi đẹp mai sau
Ta có một đất n-ớc anh hùng , đau th-ơng trong thơ Nguyễn Đình Thi , một đất n-ớc với nhiều miền quê cụ thể trong thơ Huy Cận , một đất n-ớc ngày
đêm quân hành trong thơ Chính Hữu , một đất n-ớc đứng trên đỉnh cao chói lọi của Tố Hữu , một đất n-ớc với tất cả những gì giản đơn gần gũi nhất trong thơ
Trang 15n-ớc thì cảm hứng về đất n-ớc mới thực sự đ-ợc khơi sâu, khơi dậy nhiều phẩm chất mới lạ đến thế “ (13, 8)
b) Gắn bó với hình t-ợng đất n-ớc là hình t-ợng nhân dân
Đây là giai đoạn lịch sử mà chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc v-ơn lên những đỉnh cao đẹp nhất nên hình t-ợng nhân dân hiện lên rõ nét, cụ thể và vô cùng sinh động Đó là những con ng-ời bé nhỏ , không tên tuổi nh-ng tràn đầy lòng kiêu hãnh và tự tin bởi họ đã đ-ợc làm chủ đất n-ớc, làm chủ bản thân mình Họ đã trở thành những con ng-ời vĩ đại nh- : cô giao liên, em bé liên lạc , bà bủ , bà má Hậu giang , ng-ời con gái Việt nam Họ đ-ợc hiện lên trong cảm xúc mãnh liệt , tình yêu thiêng liêng của các nhà thơ chống Mỹ
c) Hình t-ợng đất n-ớc, nhân dân đ-ợc kết tụ lại trong hình t-ợng ng-ời mẹ
Có thể khẳng định ch-a bao giờ hình ảnh ng-ời mẹ đ-ợc khắc hoạ rõ nh- thế Ng-ời mẹ của những cuộc đời cụ thể và ng-ời mẹ t-ợng tr-ng cho đất n-ớc
Mẹ hiện lên với lòng nhân hậu, sự cao cả hy sinh , khắc khoải đợi chờ lo lắng, trong những tình cảm vô cùng mộc mạc nồng ấm của tình cá n-ớc nh-ng lại hiên ngang bất khuất tr-ớc kẻ thù Hầu hết các nhà thơ thời chống Mỹ đều có những bài thơ viết về ng-ời mẹ và có những bài rất hay, rất ấn t-ợng
d) Hình t-ợng ng-ời vợ, ng-ời em, ng-ời yêu cũng đ-ợc hiện rõ với những
vẻ đẹp điển hình, cao cả trong thơ ca chống Mỹ
Họ hiện thân cho tình yêu, lòng hy sinh lớn lao, thầm lặng Chính những con ng-ời này là cội nguồn sức mạnh để làm nên chiến thắng.Hình t-ợng ấy
đ-ợc biểu hiện sâu đậm, chân thực và hết sức thiêng liêng qua nỗi nhớ, lòng
th-ơng yêu, cảm phục của các nhà thơ Chúng ta có " Màu tím hoa sim " của Hữu Loan , "Chia tay trong đêm Hà Nội" của Nguyễn Đình Thi , " H-ơng thầm
" của Phan Thị Thanh Nhàn , "Gửi em, cô thanh niên xung phong" của Phạm Tiến Duật , " Cuộc chia ly màu đỏ" của Nguyễn Mỹ , "Quê h-ơng" của Giang
Nam Đặc biệt, trong thơ Xuân Quỳnh, Xuân Diệu chúng hiện lên với đầy đủ sắc màu cung bậc của tình yêu Sẽ không thể hiểu đầy đủ về con ng-ời Việt Nam , cuộc chiến tranh ở Việt Nam nếu nh- chúng ta bỏ qua mảng đề tài này
đ)Hình t-ợng ng-ời chiến sỹ
Hình t-ợng ng-ời lính ở văn học thời kỳ chống Mỹ khác tr-ớc rất nhiều bởi đây là một cuộc đối đầu đầy khốc liệt, nảy lửa với tên đế quốc sừng sỏ , độc
ác , hiếu chiến nhất (Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này ở mục 4, ch-ơng III)
III Tác giả Phạm Tiến Duật
1 Cuộc đời và thơ
Trang 161.1 Phạm Tiến Duật là bút danh và cũng là tên thật , sinh ngày 14 tháng
01 năm 1941 tại thị xã Phú Thọ Bố là ông tổng s- dạy Hán văn , Pháp văn nổi tiếng của thị xã Mẹ là ng-ời phụ nữ không biết chữ nh-ng thuộc nhiều ca dao , dân ca Tác giả chịu ảnh h-ởng khá lớn về nghị lực tự học , vốn tri thức Hán học
ở bố; sự nhạy cảm , đa mang với tình yêu văn học dân gian ở mẹ Công bằng mà nói thì ông chịu ảnh h-ởng của ng-ời mẹ , bên ngoại nhiều hơn Quả thực , bố mất khi tròn ba tuổi , ông về quê ngoại để ở Tình mẹ dịu dàng và làng Sỏi với bao lễ hội văn hoá cổ truyền , những làn điệu dân ca hát xoan, hát ghẹo đậm phong vị văn hoá Trung châu là thế giới mê say, an ủi cho tuổi thơ côi cút , cho tâm hồn dễ xúc động của cậu bé Phạm Tiến Duật Chính đó là cội nguồn văn hoá dân gian đ-ợc nén lại, tiềm ẩn và sẵn sàng xuất hiện trong các tác phẩm của nhà thơ hiện đại Phạm Tiến Duật sau này
Nh-ng đó ch-a phải là yếu tố quan trọng nhất ảnh h-ởng tới hồn thơ Phạm Tiến Duật Thơ Phạm Tiến Duật là thơ của Tr-ờng Sơn đánh Mỹ nên hiển nhiên
điều làm nên những thành công trong thơ ông là những trải nghiệm của tác giả trong thời kỳ chiến tranh Hồi bé Phạm Tiến Duật đ-ợc sống trong thủ đô kháng chiến , chứng kiến bao cuộc tiễn đ-a những ng-ời con vào Nam chiến đấu , lớn lên trong vòng tay của các chú bộ đội s- đoàn 308, 312, chứng kiến tất cả các sự kiện , không khí cách mạng trên quê h-ơng giàu truyền thống yêu n-ớc nên trong trái tim cậu đã cháy bùng lên tình yêu tổ quốc Tình yêu ấy hồn nhiên nh- hoa lá , cỏ cây , nguyên vẹn trẻ trung nh- điều nó vốn có và phải có Tình cảm mãnh liệt ấy thăng hoa khi đ-ợc tình yêu văn học nghệ thuật chắp cánh Những cuốn sách , câu chuyện , tiết mục văn nghệ của đội ngũ văn nghệ sỹ tản c- có một ma lực mãnh liệt lôi cuốn tâm hồn thơ bé ham lắng nghe, giàu cảm xúc Đó chính là nguyên nhân, là cơ sở để Phạm Tiến Duật theo nghề văn ch-ơng và theo học khoa Văn ĐH S- phạm Hà Nội Sau khi tốt nghiệp, ông nhật ngũ, công tác tại đoàn vận tải Quang Trung 559 Ông đã lao vào cuộc sống chiến trận, nếm trải, lắng nghe, quan sát một cách chăm chú sự vất vất vả, gian lao nh-ng cũng vô cùng sôi động của nó Năng khiếu , vốn liếng văn học tiềm ẩn trong con ng-ời ông đã đ-ợc dịp nở hoa kết trái trên mảnh đất hiện thực màu mỡ
ấy Một giọng thơ rất lạ , khó có thể viết hay hơn thế về Trường sơn đã ra đời “
tạo nên một dòng phong cách mà hiếm ng-ời làm thơ có thể tạo đ-ợc “ (19, 532)
1.2 Thơ ông vừa giàu chất hiện thực, vừa giàu chất thơ, giàu chất gợi mở
bởi những chi tiết vừa thật vừa lạ , vừa ngộ nghĩnh vừa nghiêm trang , vừa hài h-ớc, vừa đầy suy nghĩ : Chiếc xe không kính và trái tim cầm lái ; áo em trắng
nhất trong đêm lấp hố bom ; "nơi tắt lửa là nơi vang rền xe xích " Vũ Quần
Trang 17vào những miền sâu thẳm của tình cảm con ng-ời Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa” (26,158) Điều
đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó Kháng chiến chống Mỹ là một cuộc chiến ác liệt , nhất là ở Tr-ờng Sơn Hy sinh lớn , gian khổ nhiều nh-ng không đ-ợc gây bi luỵ , xót th-ơng Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng ng-ời nh-ng không đ-ợc lên gân , cao giọng hay cắt xén bớt nét dữ dằn của thực tế
Chính chất giọng đó lại phù hợp với lính Điều này giải thích tại sao thơ Phạm Tiến Duật lại đ-ợc lính Tr-ờng Sơn say mê đến thế
1.3 Khẳng định Phạm Tiến Duật có một phong cách thơ lạ , độc đáo
nh-ng thơ ông không thể nằm ngoài xu h-ớng chung của văn học chống Mỹ "
văn học có tính tập đoàn " ( ý tác giả ) Thơ tập đoàn , con ng-ời tập đoàn , cơm
tập đoàn nên khi về với thời bình tìm lại đ-ợc chính mình không phải dễ Có một cái gì đó chông chênh , hụt hẫng dẫu con ng-ời thông minh , nhạy cảm , nhiều sáng tạo ấy đang trăn trở , tìm tòi
Thời gian gần đây ông xông xáo xuất hiện trên báo chí , truyền hình với t-
cách Tổng biên tập báo "Diễn đàn văn nghệ Việt Nam"; ng-ời dẫn ch-ơng trình ,
tác giả của các bài phóng sự , phê bình và một số tác phẩm thơ giàu chất hiện thực, lắm thông tin, giàu nghĩ suy trách nhiệm tr-ớc cuộc đời Đó là những đóng góp có giá trị trong đời sống văn hoá nghệ thuật hôm nay của Phạm Tiến Duật Chúng ta cần ghi nhận và hy vọng nhiều ở cây bút đang trong độ chín này
2 Vị trí của tập “ Vầng trăng quầng lửa” trong tiến trình sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật
2.1 Đây là một trong những tập thơ đầu tiên của đội ngũ văn nghệ sỹ trẻ
thời chống Mỹ Trong dàn đồng ca hào hùng mang đậm chất sử thi, anh hùng ca của văn học lúc ấy một giọng đơn ca mộc mạc, tự nhiên, giàu chất hiện thực cất
lên đầy ấn tượng qua tập ‘’Vầng trăng quầng lửa’’(1970-NXB VH ).Thật trọn vẹn
khi bên cạnh tác phẩm giàu chất suy t-ởng, chất chính luận, giàu tính triết lý, có những tác phẩm chân chất, t-ơi rói sức sống của hiện thực, một thứ hiện thực
đ-ợc gạn lọc, chắt chiu, đầy chất thơ, giàu ý nghĩa của Phạm Tiến Duật Diện mạo văn học chống Mỹ mất đi một phần phong phú, giá trị nếu thiếu những bài thơ ấy
2.2 Đây là tập thơ đầu tay nh-ng đã đ-a tên tuổi ông toả sáng trên thi
đàn với niềm say mê, hào hứng đón nhận của bạn đọc Trong tập thơ ấy có 4 bài
thơ đã đem lại hai giải th-ởng lớn nhất cuộc đời thơ của ông, gồm: " Lửa đèn ", " Nhớ ", " Bài thơ về tiểu đội xe không kính ", " Gửi em, cô thanh niên xung phong
Trang 182.3 ’’ Vầng trăng quầng lửa” là tập thơ viết khi Phạm Tiến Duật còn rất trẻ
song nó có ảnh h-ởng lớn đến toàn bộ tiến trình sáng tác của ông Cũng giọng
điệu, phong cách, hình t-ợng ấy cứ đeo đuổi ông suốt cả cuộc đời mặc dù tác giả
là ng-ời không hoài cổ và luôn có ý thức học tập, đổi mới, sáng tạo
Tóm lại, “Vầng trăng quầng lửa” có một vị trí vô cùng quan trọng trong
tiến trình sáng tác của Phạm Tiến Duật nói riêng, thơ ca chống Mỹ nói chung
Nó đã đ-a Phạm Tiến Duật đến với công chúng, đ-a Phạm Tiến Duật đến với
đỉnh cao Quan trọng hơn, nó là tập thơ đầu tiên đánh dấu sự xuất hiện một phong cách lạ, đánh dấu sự đổi mới hiện đại thực sự của một thời đại thi ca
Trang 19Ch-ơng II
đặc điểm hình thức ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
I Đặc điểm hình thức thể loại
1 Thể loại thơ lục bát
Nền văn học dân gian, đã đ-ợc cô đúc lại trong thể thơ đẹp, dồi dào nhạc
điệu, chuyên chở những tình cảm sâu lắng m-ợt mà là thể thơ lục bát Đạt đỉnh cao thành công ở thể thơ này là các tên tuổi nh- Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy Song đó cũng là cửa ải khó khăn thử thách tài năng, bản lĩnh của
những "nhà thơ thứ thiệt"
Vốn đ-ợc nuôi d-ỡng từ một miền quê có nền văn học dân gian phát triển mạnh mẽ, từ một ng-ời mẹ thuộc rất nhiều ca dao, dân ca và vốn là một cử nhân văn ch-ơng song Phạm Tiến Duật lại ít làm thơ lục bát Quả thực, tuy ít làm nh-ng lục bát của ông đã để lại ấn t-ợng khá mạnh mẽ trong lòng độc giả Theo
thống kê trong “Vầng trăng quầng lửa” chỉ duy nhất có một bài “Ngủ rừng”
chiếm 3% ở những tập thơ khác, th-ờng chỉ có 23 bài Cao nhất ở tập " Hai
đầu núi " có sáu bài đ-ợc làm theo thể thơ lục bát Tại sao ông lại ít sáng tác
theo thể thơ này ?
Chúng tôi không dám đem so lục bát của Phạm Tiến Duật với những tên tuổi lớn nh-ng thực tế thì ông làm khá hay, gieo vần rất chuẩn Ông gieo vần bằng 100%, gieo ở vần chân (câu 6,8), vần l-ng ( câu 8) và chủ yếu là nhịp truyền thống
Dừng chân mắc võng ngủ liền
Kệ cho gió thổi bốn bên rừng dày Giật mình sáng dậy nào hay Rung rinh rừng quế h-ơng bay một vùng
Chuẩn bị kỹ thuật đấy nh-ng hồn thơ, chất thơ của Phạm Tiến Duật theo
chúng tôi “ khó ở ” trong căn nhà lục bát Cái tạng của ông ít bộc lộ trực tiếp ,
ham dãi bày cảm xúc, tình cảm một cách m-ợt mà, ào ạt, uyển chuyển và diễn ý bằng nhiều biện pháp tu từ - nh- lục bát truyền thống
Tuy “khó ở” với lục bát nhưng đã ở được lần nào thì ai cũng phải nhớ
Bởi vì khi làm thơ lục bát ông luôn có ý thức làm rạn vỡ nó , tạo cho nó một diện mạo tân thời, hiện đại nhờ các nhân tố sau:
dòng lục lẫn dòng bát )
Giờ nằm im / ngủ trong hơi / của rừng
( Ngủ rừng )
Trang 20Nghe kẹt cửa /lại nhớ tre / rừng Lào
(Rừng tre và tiếng kẹt cửa - ở hai đầu núi )
và: Biết tức giận / biết ng-ợng ngùng
Không d-ng / sao lại đỏ bừng hai tai
(Cái tai) 1.2 Cách dùng từ của tác giả hết sức tự nhiên Đôi khi ông đ-a cả khẩu
ngữ vào địa hạt vốn rất kỵ những yếu tố này, nh- : "kệ ", “ngủ liền”, “ngủ rừng”, “ngủ giường”, " ngủ đất” Từ ngữ trong đặt tiêu đề của Phạm Tiến Duật nghe cứ ngồ ngộ, mang màu sắc tự nhiên, hiện đại :“Nhật ký ở rừng", "Ngủ rừng", "Cái tai"
1.3 Cách làm việc trên trục kết hợp Lục bát truyền thống làm việc trên
trục lựa chọn còn lục bát của ông làm việc trên trục kết hợp Nh- vậy,nó mới chuyển tải hết những biến động đầy bất ngờ, phi lý dữ dội, khẩn tr-ơng của hiện thực trong một quãng thời gian, ngôn từ ngắn nhất Thể lục bát trong thơ ông là một thứ lục bát góc cạnh , gồ ghề đầy những yếu tố dị th-ờng, tân thời khác với lục bát truyền thống th-ờng m-ợt mà, tuôn chảy
Thực ra, nói đến lục bát hay, giàu tính dân tộc ở thời kỳ chống Mỹ ta phải nhắc đến Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Nguyễn Trọng Tạo Một dòng chảy đầy cảm xúc, rất sâu của anh lính sống nội tâm trong Nguyễn Duy, những lời ru tràn
đầy yêu th-ơng , đam mê , tỉnh táo trong thơ Xuân Quỳnh và chính Nguyễn
trọng Tạo chứ không phải Phạm Tiến Duật đã “ bắt lục bát chịu làm việc trên trục kết hợp” (8, 258) một cách hoàn hảo nhất Nhưng có thể nói, Phạm Tiến
Duật đã đi đầu trong thao tác kết hợp nên vị trí tiên phong trong sáng tạo phải đ-ợc tặng cho ông
Quả thật, ông là một trong những nhà thơ chống Mỹ sớm nhất đã v-ợt qua tính quy phạm của lục bát dân tộc để làm lạ hoá, hiện đại hoá, đời th-ờng hoá
nó Vì vậy, lục bát của ông đã chuyển tải một cách hiệu quả nhất nội dung mang màu sắc thời đại của mình
Bởi những lý do đó, lục bát của Phạm Tiến Duật rất riêng, rất ấn t-ợng dù
và vì nó ít ỏi
2 Thể loại thơ ngũ ngôn
Là một nhà thơ hiện đại , cùng với Minh Huệ , Hữu Thung , Xuân Quỳnh Phạm Tiến Duật quay về với thể thơ ngũ ngôn - một thể thơ truyền thống có tự xa x-a trong các thể loại vè , đồng giao , thơ cổ phong ; một thể thơ
mà các nhà thơ hiện đại khó gần vì sợ tính chất dễ trở thành những bài thơ nhạt nhẽo , dễ làm cho mình thiếu chất hiện đại khi ng-ời ta đang mong muốn mang
đến sự cách tân cho thơ ca hiện đại
Trang 21Tuy không bất hủ như “ Tiếng thu “ của Lưu Trọng Lư , “ Mưa Thuận
Thành “ của Hoàng Cầm , “ Thuyền và biển “ của Xuân Quỳnh Nh-ng Phạm
Tiến Duật cũng đã có những thành công nhất định vì đã khẳng định mình qua
4/33 bài , chiếm 12% trong “ Vầng trăng quầng lửa “ và rất nhiều bài ở tập khác
“ Người ơi người ở “, " Nhớ đồng ca hát đồng ca “
Trong tập ta xét , có những bài sau :
của sự hạn hẹp do câu chữ đ-a đến để mang lại cho ng-ời đọc một thế giới sinh
động , chân thực , đầy sức sống của cuộc đời và cảm xúc Thể thơ 5 chữ mạnh về
hoài niệm với giọng kể nh-ng ở tác giả này lại không theo đó mà
cảm xúc của ông luôn ở trong hiện tại , t-ơng lai và giọng thơ của ông là giọng
tả Điều đó làm cho thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật khác mọi ng-ời trong
diện mạo thanh tân, khoẻ mạnh bởi nó không mang giọng điệu tiếc nuối, ngọt ngào , mênh mang của con ng-ời khi nghĩ về quá khứ Chẳng
hạn, ông kể về các đặc sản của xứ Nghệ:
Mía ngọt dần lên ngọn Gió heo may chớm sang Trái hồng vừa trắng cát V-ờn cam cũng hoe vàng Cam Xã đoài mọng n-ớc Giọt vàng nh- mật ong
Bổ cam ngoài cửa tr-ớc H-ơng bay vào nhà trong
(Mùa cam trên đất Nghệ)
Hay kể về sự ngang nhiên của những chiếc xe Zin mà chủ nhân của nó
hẳn phải là một anh lính dũng cảm:
Đang hì hục kéo bạn Bom giặc nổ đằng sau
Trang 22Cứ kéo, kệ mẹ nó
Tớ là Din ba cầu
(Chiếc xe anh cả)
Phạm Tiến Duật có cái tài“vẽ mây, nẩy trăng” Cái tài đó biểu hiện ngay
trong những bài thơ ngũ ngôn này Nói tới sự khốc liệt, dữ dội , căng thẳng của chiến tranh nh-ng ông có giọng vui t-ơi, thản nhiên , bình tĩnh đến kỳ lạ Những con ng-ời ở đó cũng thế, cứ nh- không hề có nguy hiểm Hành động của họ gấp gáp, khẩn tr-ơng , dồn dập nh- phản ứng tự nhiên tr-ớc hoàn cảnh , nh- ch-a bao giờ họ thoáng phân vân l-ỡng lự , suy tính tr-ớc sự sống và cái chết của chính mình Chuyện cá nhân riêng t- nh- không còn đây nữa Chính điều ấy cho chúng ta thấy tình yêu n-ớc của họ đã thấm vào máu thịt, trọn vẹn Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con ng-ời Việt Nam toả sáng ở đây ngay chính trong giọng điệu t-ơi vui, thản nhiên kỳ lạ ấy
Không những thế ông còn tận dụng đ-ợc lợi thế của thơ ngũ ngôn là để tạo ra tiếng nói gấp gáp, khoẻ khoắn của cuộc sống mới, con ng-ời thời đại mới trong chiến tranh Chất giọng ấy của Phạm Tiến Duật không thể lẫn dù trong thể
ngũ ngôn ngắn ngọn này
động từ và tính từ (Có 54 tính từ và 61 động từ trong 4 bài) Tâm hồn chúng ta bị lay động bởi thế giới sống động , rực rỡ sắc màu, tràn đầy sức sống, chuyển động không ngừng, hối hả vui t-ơi do các động từ, tính từ mang lại Các gam màu t-ơi sáng của những tính từ: "vàng", "xanh", "hồng", "trắng" lặp lại hàng chục lần sẽ
cho ta một cảm giác lạc quan, tin t-ởng của một cuộc sống, t-ơng lai t-ơi sáng,
đẹp đẽ Các động từ diễn tả những cử động mạnh "bay", "vụt", "kéo", "nổ",
"xông" (lên) liên kết lại với nhau tạo nên thế giới của sự sống của những biến
động dữ dội , của sự vận động hối hả, gấp gáp mà trong đó sự sống và cái đẹp là
bất diệt, không có một sức mạnh nào huỷ diệt đ-ợc
nhàm chán của kiểu thơ tụng ca, Phạm Tiến Duật đã tạo nhạc tính cho thơ
" Khi nhạc điệu vĩnh viễn tr-ờng tồn thì làm sao thơ ca bị tiêu diệt " (Ki No
Curajuki ) Ông th-ờng tổ chức nhịp điệu 2/2, 2/3, 3/2, 1/4 để góp phần tạo nên
âm h-ởng luyến láy cho thơ, giúp thoát khỏi sự đơn điệu
Bà mẹ / thôn Nghi Vạn Con tòng quân / vắng nhà Trẩy cam / mỗi buổi sáng Bồn chồn / nhớ con xa
Trang 23Bài “ Ngãng thân yêu” là một bài thơ được gieo nhịp 4 cùng cách hiệp vần gián cách (vần cuối khổ 1 hiệp với vần đầu khổ 2) tạo cho hơi thơ dài ra, cuồn
cuộn chảy Đó là nhịp sống của con ng-ời chiến tranh Cách ngắt nhịp nh- thế
mở rộng câu thơ về mọi phía khiến cho âm h-ởng câu thơ không chỉ ngắn ngọn trong 4 chữ mà cảm xúc đ-ợc trải rộng ra nh- hân hoan , reo ca:
Bom giập liên hồi
Lỗ tai máu chảy Xông lên vá đ-ờng Mặc cho áo cháy
Anh vẫn đứng đấy Gọi mà không th-a Tay cầm cái xẻng
Đổ đất nh- m-a
Hiệu quả ấy còn đ-ợc sự góp công của việc tạo lập câu Ông rất ít dùng
dấu chấm câu trong 1 bài ở "Ta bay" có 19 dòng / 1câu ở "Ngãng thân yêu"
có 32 dòng / 1câu “Mùa cam trên đất Nghệ” có 16 dòng / 1 dấu chấm câu
Cùng với nhịp thơ linh hoạt, khoẻ khoắn , mạnh mẽ, giọng điệu tự nhiên , vui t-ơi, trong sáng là những sự kiện , hình ảnh dồn dập xuất hiện với những động
từ, tính từ tả cảm xúc ở thời hiện tại nên nó diễn tả đ-ợc không khí sôi nổi, khẩn tr-ơng của cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc ta
Vì những lẽ ấy mà thơ ngũ ngôn của Phạm Tiến Duật có một dáng vẻ tân thời, độc đáo Đó là nét khá riêng trong sự đa dạng phong phú và sâu sắc về nội dung, cảm xúc của thế giới thơ Phạm Tiến Duật
3 Thể loại thơ tự do
Đây là thể thơ mà tác giả tâm đắc nhất Hẳn nhiên, nó cũng chiếm vai trò chủ đạo trong sự nghiệp sáng tác của ông Thơ tự do phù hợp với nguồn cảm xúc của một chàng lính trẻ, mang tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ lao vào trận địa
và nó dễ dàng hơn trong việc chuyển tải hiện thực xô bồ, ào ạt, dữ dội của cuộc
chiến " Lục bát có những hạn chế trong việc biểu hiện cái quyết liệt và sôi nổi của hiện thực khách quan Cuộc sống với tất cả những sự kiện xô bồ, chất liệu phong phú và những sắc thái đa dạng nhất cũng gặp khó khăn khi đ-a vào thơ lục bát” (11, 123) Đó là lý do cho hồn thơ hiện đại phóng khoáng ham bám rễ
vào hiện thực bộn bề
Trang 24Trong tập “ Vầng trăng quầng lửa” có 28/33 bài làm theo thể thơ tự do,
chiếm tỷ lệ 85% Sau đây là những bài thơ làm theo thể thơ mới phát triển này:
Chỉ thực sự trên thể thơ tự do, Phạm Tiến Duật mới thoải mái tung hoành
trên câu chữ và để lại dấu ấn riêng biệt Nguyễn Trọng Tạo đã nói: “ Tôi nghĩ mọi nhà thơ đều thông minh nh-ng sự thông minh của Phạm Tiến Duật giúp cho thành công của thơ anh không nhỏ Sự thông minh nh- là một ph-ơng tiện đ-a
Trang 25nhanh bài thơ đến đích.” (50,134) Kết luận này phải chăng Nguyễn Trọng Tạo
đã rút ra đ-ợc khi đứng tr-ớc thế giới thơ tự do đầy mê hoặc của ông
3.1 Tiêu đề của những bài thơ trên đều có đặc điểm chung sau:
a) Ghi lại những nơi Phạm Tiến Duật đã đến , đã đi qua Đó là những nơi khốc liệt, dữ dội, là những trọng điểm đánh phá của bọn giặc Mỹ Nơi đó, có "hố bom dày nh- lỗ hà ăn chân" của Ngã ba Đồng Lộc, của Tr-ờng Sơn đông Tr-ờng
Sơn Tây, của Seng Phan Nhắc đến những địa danh ấy lòng ta lại xốn xao bởi hồi
ức về những kỷ niệm thiêng liêng, những câu chuyện huyền thoại đ-ợc khơi dậy
ở đó, danh từ đã chuyển sang tính từ nội cảm hoá (Xem mục I ch-ơng III)
b) Ghi lại những cảm xúc đẹp tr-ớc những nét đẹp, hành động đẹp của mỗi con ng-ời, mỗi vùng đất nh- cô thanh niên xung phong ở ngã ba Đồng Lộc,
đồng chí coi kho ở hang đá Tr-ờng Sơn, chú L- ở phố Khách, anh chiến sỹ công binh ở vùng giáp với mặt trận, những đoàn quân tuyên truyền những đoàn quân nghệ thuật ở l-ng Tr-ờng Sơn.v.v Họ hiện lên thật đẹp đẽ, phi th-ờng, dũng
cảm qua tâm thế tiếp nhận rất đẹp của nhà thơ Ví dụ đọc bài’’Em gái văn công’’
ta cứ t-ởng t-ợng em là một ng-ời con gái tài hoa xinh đẹp Đáng lẽ em phải
đ-ợc sống ở một nơi khác cớ điều kiện hơn nh-ng em lại chọn Tr-ờng Sơn, nơi:
" Ban giám khảo là cô giao liên
Và bộ đội hành quân bùn rừng còn lấm "
bởi nơi đó: " Tiếng em hay là viên đạn nổ
Cùng bay lên gìn giữ trời xanh "
c) Đậm chất hiện thựcvề cuộc chiến tranh chống Mỹ Trong tiêu đề của
mình Phạm Tiến Duật th-ờng có xu h-ớng kéo dài con chữ Có những tiêu đề có
12 tiếng, có những tiêu đề 16 tiếng (Bài thơ không vần kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp với mặt trận) Đây là sự khác ng-ời của Phạm Tiến Duật Ông muốn đẩy sự kiện, chi tiết của hiện thực cuộc sống vào trong cả địa hạt cần sự súc tích Bởi thế, nó đã ghi lại cuộc chiến đấu chống Mỹ anh dũng của cả dân tộc Việt Nam
d) Gắn với thể nhật ký ghi lại một cách trung thành hiện thực cuộc sống của một lớp ng-ời trẻ tuổi Ta có thể thấy điều này qua rất nhiều tiêu đề nh-:
"Chuyện hàng câu yêu đ-ơng", "Nhật ký yêu đ-ơng", "Chào những đoàn quân tuyên truyền, chào những đoàn quân nghệ thuật", "Gửi em cô thanh niên xung phong", "Em gái văn công" Đây là những con ng-ời tuổi vừa m-ời tám đôi
m-ơi gác bút đi vào chiến tr-ờng chiến đấu Cuộc sống của họ hiện lên thật cụ
thể và sinh động trong "Vầng trăng quầng lửa" từ những chuyện lạ gặp trên
đ-ờng hành quân, từ những niềm tin có thật, từ giọng hò trong đêm bốc vác Phạm Tiến Duật trung thành ghi lại hiện thực ấy chứ thơ ông không phải là nơi
Trang 26để giãi bày cảm xúc, tìm tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình Tuy nhiên cái
đích cuối cùng ấy lại đến sớm bởi ng-ời đọc đã thấy đ-ợc sự đồng cảm sâu sắc với ông ở những bài thơ nh- thế
3.2 Sau đây là những đóng góp của Phạm Tiến Duật ở thể thơ tự do
a Tạo giọng điệu mới lạ, độc đáo
Nó không dềnh dàng, chải chuốt, m-ợt mà nh- các nhà Thơ mới, không
nặng về chất hùng biện , triết lý của Chế Lan Viên, không phải giọng tâm tình, th-ơng mến, mang đậm chất sử thi, anh hùng ca của Tố Hữu; không ào ạt , sang trọng nh- Thu Bồn; không nhuần nhị , thủ thỉ , sâu lắng nh- Bằng Việt, Xuân Quỳnh Giọng điệu trong thơ tự do của Phạm Tiến Duật nhanh mạnh , gấp khúc, nâng cao, vang vọng :
Ví dụ: Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ l-ng đèo
(Nhớ)
Không có kính, không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
Lâu nay trong thơ chúng ta th-ờng nhắc đến giọng điệu nh-ng thực ra nhiều ng-ời cứ hoà đồng giọng điệu và âm điệu , nhịp điệu chung của câu , bài thơ Nếu chúng ta không nhìn đúng đối t-ợng thì chúng ta sẽ bỏ đi những nét
biểu hiện sâu sắc của ngôn ngữ thơ Đối với ngôn ngữ thơ “ phải khảo sát phẩm chất của con đ-ờng giọng điệu ( tính chất nhanh hay chậm của việc nâng giọng lên hay hạ giọng xuống, tính chất các nhịp ở cuối câu, các quan hệ giọng điệu hay c-ờng độ thở ra) đồng thời phải khảo sát sự sắp xếp các mối quan hệ lẫn nhau của các câu tạo ra nhịp điệu trong tác phẩm” (21, 24.)
ở thơ Phạm Tiến Duật, ta thấy tác giả là một ng-ời -a giọng điệu nhanh, mạnh , gấp khúc Chất giọng này có đ-ợc nhờ việc th-ờng xuyên tạo hình thức
đối xứng, điệp từ, sử dụng khẩu ngữ, câu có sự phân bố dày đặc các thanh trắc ở các động từ vốn xuất hiện rất nhiều trong thơ ông
Nghệ thuật đối của Phạm Tiến Duật có mặt ở hầu hết các cấp độ: nhịp, vần, từ, vế câu, câu , đoạn
Anh lên xe, trời đổ cơn m-a Cái gạt n-ớc, xua đi nôĩ nhớ
Em xuống núi nắng vàng rực rỡ Cái nhành cây gạt nỗi riêng t-
đối với
Trang 27đối với
Đông sang tây không phải đ-ờng th-
Đ-ờng chuyển đạn và đ-ờng chuyển gạo
Đông Trường Sơn cô gái “ ba sẵn sàng” xanh áo Tây Tr-ờng Sơn bộ đội áo màu xanh
(Tr-ờng Sơn đông - Tr-ờng Sơn tây)
ở đây có sự đối xứng tuyệt chỉnh giữa âm khép và mở (- - ơ ); thanh trắc
và bằng ở cuối dòng (m-a - nhớ ; rỡ - t- ; th- - gạo; áo - xanh); đối từ (lên - xuống ; m-a - nắng ; anh - em ; th- - gạo ; đông - tây ; cô gái - bộ đội); và đối
trong từng cặp câu Sự đối xứng còn nằm trên từng đoạn ở cấp độ vần Nếu khổ
một, ở những chỗ xung yếu nhất, vần đ-ợc gieo là thanh bằng (m-a - xua) thì khổ hai lại gieo thanh trắc (gạo - áo) ở những chỗ đó câu thơ có giọng điệu
mạnh, cao, gấp khúc
Giọng điệu mạnh mẽ, nhanh, cao của thơ Phạm Tiến Duật có đ-ợc còn do biện pháp điệp trên mọi cấp độ:
Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng Nhìn thấy con đ-ờng chạy thẳng vào tim Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Nh- sa nh- ùa vào buồng lái
và do việc tổ chức các câu đẳng thức có quan hệ từ " là " làm vị ngữ mang
sắc thái khẳng định :
Màu trắng đêm ni là màu trắng bàn tay Màu đen đêm ni là màu đen lầm lì vai áo hay Đêm rộng đêm dài là đêm không ngủ
và những câu có giọng điệu phân trần , tranh cãi :
Điếc gì thì điếc Với giặc phải tinh
(Ngãng thân yêu)
Kệ cho gió thổi bốn bên rừng dày
(Ngủ rừng)
Giọng điệu ấy vừa mạnh mẽ, vừa ngang ngang, vừa bất cần rất lạ trong
thời “ văn học có tính chất tập đoàn ” (ý tác giả) và con người cá nhân hoà tan
Trang 28trong cộng đồng Chính giọng điệu mạnh mẽ, nhanh gọn, nâng cao, gấp khúc, ngang tàng, giấm dẳng ấy nó hợp với không khí thời đại, đặc biệt là hợp với lính Tr-ờng Sơn - lính lái xe những năm đánh Mỹ
b Tạo cho dòng thơ có hệ số co giãn rộng
Dòng thơ tự do của Phạm Tiến Duật có hệ số co giãn khá rông từ 1,2 tiếng
đến 14,15,16 tiếng:
Thuốc Tây về phố Tây, thuốc Bắc thuốc Nam lại về nhà cao xóm Nam xóm Bắc Ng-ời nghèo đành gói bệnh trong da
( Ông già thuốc bắc )
hay Bom bi nổ chậm nổ trên đỉnh đồi
Lốm đốm nền trời những quầng lửa đỏ Một lát sau cũng từ phía đó
c Sử dụng thành công vần và nhịp
Đến với vần và nhịp, một yếu tố vô cùng quan trọng trong thơ nhiều khi cũng bị ông t-ớc bỏ:
Ta thắp đèn lên trên đỉnh núi Gọi quân giặc đem bom đến dội Cho đá lở đá lăn
Lấy đá kê cầu, lấy đá sửa đ-ờng tàu
Ta bật đèn ô tô trong chớp loé ánh đạn Rồi tắt đèn quay xe
Đánh lạc h-ớng giặc rồi lại lái xe đi
Câu thơ bị t-ớc vần , nhịp thơ không tuân theo một quy tắc nào , cứ rối rít, gấp gáp , dồn dập , căng thẳng Nh-ng thực ra ng-ời đọc d-ờng nh- không mấy
để ý tới điều đó , không để ý tới sự co dãn của số tiếng, không để ý tới vốn từ ngữ và sự t-ớc bỏ nhịp, vần bởi mạch cảm xúc , sự kiện đã lôi cuốn , mê hoặc ng-ời đọc Sự căng thẳng , dồn nén , gấp gáp đến nín thở của ng-ời trong cuộc
Trang 29tổ quốc đã truyền sang ta Những bài thơ thành công của ông th-ờng có những
đặc điểm này : " Lửa đèn " ; " Gửi em, cô thanh niên xung phong" ; " Một bài thơ không vần, kể chuyện chụp ảnh ở một vùng giáp mặt trận " ; " Công việc hôm nay "
d Tạo cho bài thơ có dáng dấp của một truyện ngắn cực ngắn Thơ cực ngắn có dáng truyện sau chiến tranh xuất hiện khá nhiều (Dư Thị Hoàn với “Đi
lễ chùa”, Thế Hùng với “M-ời phút với Nguyễn Tuân” ) nhưng trước đó gần
nh- không có Đây là sự sáng tạo có ý nghĩa đột phá của Phạm Tiến Duật Bài thơ ông có nhân vật với ngôn ngữ, tính cách riêng, có bối cảnh, lời thoại, dẫn thoại, có thắt nút, mở nút và cái tôi trữ tình khi ẩn dấu cảm xúc của mình đằng sau sự kiện , cốt truyện đó Chúng tôi thống kê kiểu thơ xích lại với truyện ngắn
cực ngắn trong tập “Vầng trăng quầng lửa “như sau:
Trần Đình Hà Mai văn Lấm và cô gái bốc vác
Qua khảo sát các bài thơ, ta thấy nhân vật đ-ợc ông nhắc đến với các đại
từ, tên riêng, nghề nghiệp đều thực hiện cùng một mục đích: phục vụ cho chiến tr-ờng Họ là những nhân vật gặp gỡ trên đ-ờng hành quân ra trận Chúng xuất hiện thành từng cặp trong thơ ông: con/mẹ; anh/em; nhà báo/công binh; tôi/ng-ời coi kho; tôi/chiến sỹ công binh; tôi/em gái văn công; tôi/em Thạch Kim Thạch Nhọn; tôi/Ngãng
Những bài thơ nh- thế chiếm tỷ lệ 30% Bên cạnh đó còn xuát hiện nhiều bài có nhân vật khác.Trong một lần trò chuyện với tác giả, ông thổ lộ: Những chuyện ngắn cực ngắn của ph-ơng Tây hồi đó có sức hấp dẫn đặc biệt đối với
ông Ông say sưa kể cho chúng tôi nghe câu chuyện“Ng-ời con gái đáng giá 100
Trang 30đồng xu” của Goocblat xăngxê (Pháp) và tâm đắc bởi cách kết thúc bất ngờ mà
chứa đựng ý nghĩa sâu xa, giàu giá trị nhân bản của nó Giống chuyện ngắn cực ngắn bởi tác giả rất chú trọng khai thác tính bất ngờ, ly kỳ trong cuộc sống:
Có lẽ nào anh lại mê em Một cô gái anh không nhìn rõ mặt
Và tác giả không khai thác cái bi, cái hùng có kịch tính mạnh nh- văn ch-ơng đ-ơng thời mà cứ nhấm nhẳng, đeo bám những cái có vẻ chẳng đâu vào
đâu Một cô gái không rõ mặt, mặc áo trắng trong đêm phá bom, đùa nghịch c-ời giòn tan và đặc biệt cô ấy còn nói mớ, ngủ không rửa chân:
Cạnh giếng n-ớc có bom từ tr-ờng
Em không rửa, ngủ ngày chân lấm Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà
Em, cô thanh niên xung phong tr-ớc hết là con ng-ời bình dị, cần có những quyền sống tối thiểu nhất: rửa chân tr-ớc khi ngủ, ngủ đêm, làm duyên, làm đẹp nh-ng giờ đây chiến tranh đã làm đảo lộn, đã t-ớc đoạt đi tất cả Em, một con ng-ời nh- bao ng-ời khác cũng có nỗi sợ hãi, cả cuộc sống với tâm lý, cá tính, nết ở riêng, nh-ng khi thức tỉnh thì lý trí đã xua đi nỗi hãi hùng bản năng
để “ Em vẫn đi đường vẫn liền đ-ờng” Sự quả cảm, phi thường của một con
ng-ời bình th-ờng làm ta khâm phục Em, cô thanh niên xung phong đã đi vào thơ Phạm Tiến Duật và mãi trở thành một biểu t-ợng của huyền thoại, hiện thân cho vẻ đẹp một thế hệ, một dân tộc anh hùng Những bài thơ có dáng dấp truyện ngắn ấy đạt đến độ hàm súc, ám ảnh
Những cảm xúc nh- trên ta có thể có đ-ợc ở “ Một bài thơ không vần kể chuyện mặt trận”, " Bài thơ về tiểu đội xe không kính "," Tiếng cười của đồng chí coi kho ”
e Sử dụng từ ngữ thành công trên trục kết hợp
Nếu như khẳng định “ Phạm Tiến Duật đã đứng mũi chị sào để hình thành thế kết hợp cho thơ ca ” (8, 258) thì chính trong địa hạt thơ tự do, tác giả
đã tạo ra những câu thơ, bài thơ tài hoa đắc địa khi chạy trên trục kết hợp
Sự kết hợp tài hoa trong thơ Phạm Tiến Duật đ-ợc thể hiện ngay ở đơn vị cụm từ, dòng thơ, câu thơ,đoạn thơ, bài thơ ở dòng thơ, ông có những cách diễn
đạt lạ, thú vị:
Sâm quy thục thơm một mùi ốm yếu
Hà Nội x-a bệnh tật náu t-ờng hoa
Trang 31Thuốc Tây về phố Tây,thuốc Bắc thuốc Nam lại về nhà cao xóm Nam xóm Bắc Ng-ời nghèo đành gói bệnh trong da
(Ông già thuốc Bắc)
Nhờ cách liên t-ởng tinh nhạy (thơm một mùi ốm yếu, bệnh tật náu t-ờng hoa, gói bệnh trong da) và nhờ cách chơi chữ rất dân gian (Thuốc Tây về phố Tây,thuốc Bắc thuốc Nam lại về nhà cao xóm Nam xóm Bắc) mà trong mỗi dòng
thơ những ý nghĩa sâu xa hiện ra Một mạch ngữ nghĩa ngầm thứ hai đ-ợc bộc lộ: xã hội cũ nhiều bất công, ngang trái và phi nhân đạo Một mối quan hệ ngầm
ẩn xuất hiện qua cách dùng chữ nghĩa ấy
ở đơn vị câu thơ, Phạm Tiến Duật th-ờng sử dụng kiểu tiêu chí hình thức bằng từ “ là ” để làm cho nhóm phân lập ngay lập tức trở thành không phân lập:
Cái buồng lái là buồng con gái Vẫn cành hoa mềm mại cài ngang
(Niềm tin có thật)
và “Đêm rộng dêm dài là đêm không ngủ
Em vẫn đi đường vẫn liền đường”
(Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Cuộc sống chiến tranh xuất hiện quá nhiều điều mới lạ, có tính đột biến,
đảo lộn, phi lý Tuy nhiên, con ng-ời vẫn thích ứng một cách có thể nhất và hơn thế còn giữ nguyên đ-ợc những thói quen nữ tính của mình ( chơi hoa) Tác giả
đã ghi lại những điều ấy, duy danh, định nghĩa lại những đột hiện ấy Số nghĩa của nó cấp cho ta đã chuyển và nhiều gấp bội lần
ở đơn vị đoạn thơ, bài thơ, thao tác kết hợp đem lại những bất ngờ thú vị
Đứng tr-ớc một cấu trúc lựa chọn còn nôm na hơn tranh cãi:
Không có kính không phải vì xe không có kính
và “ Không có kích rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước”
thì sự tập trung chú ý của ng-ời nghe hoàn toàn nguyên vẹn khi khai thác
về hệ kết hợp trên trục lựa chọn sẽ xuất hiện ở cuối bài:
“ Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim "
và “ Chỉ cần trong xe có một trái tim”
[con đ-ờng + chạy thẳng vào tim]
[trong xe + có một trái tim] = trái tim cầm lái
Trang 32Bằng thao tác kết hợp, thông tin mang lại hoàn toàn chênh hẳn kênh đoán tr-ớc của ng-ời đọc nên nó tạo ra sự bất ngờ và nh- thế, cảm xúc có tính mỹ học xuất hiện, chất thơ lan toả Ngữ điệu câu cuối đi xuống, biểu hiện một sự th- thái lạc quan, nhẹ nhõm của con ng-ời v-ợt lên mọi khó khăn thiếu thốn với niềm tin bất diệt vào chiến thắng Câu thơ làm toả sáng vẻ đẹp của hình t-ợng nhân vật trữ tình, khơi gợi những suy luận triết lý sâu sắc
Quả thực, khả năng làm việc của văn bản thơ trên trục có lựa chọn thể hiện trên thể loại thơ tự do của Phạm Tiến Duật đã đạt đến độ tài hoa
f Đ-a đ-ợc nhiều nhất chi tiết, sự kiện, hình ảnh của cuộc sống vào thơ
Thơ tự do là nơi chuyên chở tốt nhất hệ thống chi tiết, sự kiện, hình ảnh trong cuộc sống vốn vô cùng đa dạng, phong phú của Phạm Tiến Duật Thơ ông giàu chất liệu hiện thực, đó là ấn t-ợng rõ nhất đối với ng-ời đọc , đó cũng là yếu tố đ-a đến sự hấp dẫn đặc biệt của thơ Phạm Tiến Duật trong thời kỳ chống
Mỹ và đó cũng “là một yêu cầu bức thiết trước một chặng đường thơ mới mở ra
ở những năm 80 này” (26, 549) Quả thực, đ-ơng thời ng-ời ta thích thơ ông vì
ông đã đưa hiện thực cuộc sống chiến trường từ những “vùng rừng không dân”,
“vùng giáp mặt trận”, “vùng trọng điểm”, đến “ngã ba Đồng Lộc”, “Seng phan” ,
“Tr-ờng Sơn đông, Tr-ờng Sơn tây” Những chi tiết , hình ảnh , sự kiện mà ông
chọn lựa rất đắt bởi nó đã đ-ợc gạn lọc đến độ tinh tuý Nó đập mạnh vào trực quan ng-ời đọc với màu sắc đa dạng, gồ ghề đ-ờng nét, âm thanh dữ dội , hình
ảnh lạ lẫm, độc đáo ,sinh động nh-ng có sức khái quát về mặt ý nghĩa Đúng vậy, thành công của thơ Phạm Tiến Duật có đ-ợc nhờ một phần khả năng l-ạ chọn chi tiết :
Đại đội thanh niên đi lấp hố bom
áo em hình nh- trắng nhất
Câu nói khôi hài “Mặc áo gấm đi đêm” của cha ông giờ lại thành sự thực
Giữa rừng núi, hằng đêm mới có xe qua, em mới có cơ hội để nói đùa, liếc nhìn dăm ba chàng tài xế Bao khát vọng về tình ng-ời đ-ợc dồn nén trong màu áo trắng kia Rất có thể em phải trả giá cho lần tr-ng diện ấy bằng cả sinh mệnh của mình vì giặc dễ nhận ra màu trắng trong đêm Bao ý nghĩa, cảm xúc chứa đầy giá trị nhân văn sâu sắc từng lớp lan toả không cùng trong những chi tiết nh- vậy
Bài thơ nào của Phạm Tiến Duật cũng có những chi tiết đắt Nó tạo thành một chuỗi vô cùng phong phú, đa dạng nh-ng không hề gây cảm giác lộn xộn,
bề bộn mà nó tạo ấn t-ợng sâu đậm, dễ nhớ cho ng-ời đọc nhờ biệt tài vận dụng sáng tạo, các biện pháp đối xứng, liệt kê xâu chuỗi:
Trang 33Bom bi nổ chậm nổ trên đỉnh đồi Lốm đốm nền trời những quầng lửa đỏ Một lát sau cũng từ phía đó
Trăng lên
Trong ánh chớp nhoáng nhoàng cây cối ngả nghiêng Một tổ công binh đứng ngồi đứng ngồi bên trạm gác Cái cậu trẻ măng cất lên tiếng hát
Khi biết trong hầm có bé đang nghe
Trong ánh chớp nhoáng nhoàng là những đoàn xe Buông bạt kín rú ga đi vội
Trên đỉnh đối vẫn vừng trăng đỏ ối T-ởng cháy trong quầng lửa bom bi
Những đồng chí công binh lầm lỳ Mùi bộc phá trộn vào tiếng hát Trên áo giáp lấm đầy đất cát Lộp độp cơn m-a bi sắt đuối tầm
Hun hút đ-ờng khuya rì rầm rì rầm Tiếng mạch đất hai niềm hoà làm một
Và vầng trăng, vầng trăng đất n-ớc V-ợt qua quầng lửa, mọc lên cao
(Vầng trăng và những quầng lửa )
Bài thơ khá nhiều chi tiết và chi tiết nào cũng đắt hơn, sống hơn khi đ-ợc
đặt trong một sự đối lập về khung cảnh, về ngữ nghĩa của từ : " chớp ", "bom bi
nổ chậm", "quầng lửa", "cháy" >< "hát ", "những đoàn xe rú ga đi vội", "mạch
đất miền hoà làm một", "v-ợt qua quầng lửa mọc lên cao"
Bài thơ có 3 khổ ý t-ơng đối lặp nhau khổ (1) , khổ (3) và khổ (5) đều nói
đến “trăng” và “quầng lửa” bom; có rất nhiều từ, cụm từ lặp lại: “Trong ánh chớp nhoáng nhoàng” và " vầng trăng "
Những chi tiết ấy hiển hiện rõ nét và găm sâu trong tâm khảm ng-ời đọc nhờ biện pháp lặp, đối trên Ta hiểu, sự sống vẫn sinh sôi và tiếp diễn, cái đẹp sẽ tồn tại vĩnh hằng Còn lửa, bom đạn kia chỉ là cái hữu hạn dù nó đáng ghê sợ và tàn bạo khôn l-ờng Nhờ cách sắp xếp khéo léo, tài tình các câu chữ của Phạm Tiến Duật tạo đ-ợc mạch ngầm ngữ nghĩa thứ hai Bởi vậy, hệ thống chi tiết hiện
Trang 34thực ấy không những tạo đ-ợc ấn t-ợng mạnh cho ng-ời đọc mà còn có ý nghĩa khái quát cao độ
g Sử dụng thành công thủ pháp tạo điểm dừng
Đây là cái phanh để chặn ngừng dòng chảy của sự kiện, chi tiết của hiện thực bằng cách tổ chức những câu thơ có độ nhoè, độ d- ba cao ngay sau đó nhằm
đ-a độc giả trở về thế giới tràn đầy chất thơ
Trong “Gửi em, cô thanh niên xung phong” có 2 lần tác giả sử dụng thủ
pháp này:
Em đóng cọc rào quanh hố bom Cái miệng em ngoa cho bạn c-ời giòn Tiếng Hà Tĩnh nghe buồn c-ời đáo để
Anh lặng ng-ời nh- trôi trong tiếng ru
Và Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa
Thương em, thương em thương em biết mấy…
Và cứ sa đà vào khai thác hiện thực bằng cái mạch thơ nôm na trên, bài thơ sẽ tẻ nhạt, tản mạn, thiếu chất thơ nh-ng với một câu thơ đầy âm mở và vang, một câu đ-ợc tạo từ chuỗi điệp từ thì tính nhạc , độ giãn nở của ngôn từ
tăng đột biến và có sức công phá lớnvào kiểu nôm na noí trên " Với những câu thơ nh- thế, tác giả đã thực hiện hành trình thông báo giao tiếp đến thông báo thẩm mỹ, từ h-ớng ngoại sang h-ớng nội'' (55, 126) và tạo cho bài thơ bộn bề ,
rậm rịt các sự kiện ấy thêm phần chặt chẽ, rõ ràng về bố cục, ý nghĩa bởi nó sẽ hình thành các tr-ờng đoạn, lớp lang.Phạm Tiến Duật đã chứng tỏ một năng lực
đặc biệt trong lĩnh vực tạo những câu thơ nh- thế
Tóm lại, thể thơ tự do là thể thơ ghi đ-ợc trọn vẹn dấu ấn nghệ sĩ của Phạm Tiến Duật với những sáng tạo độc đáo, đặc biệt có ý nghĩa đột phá trong thời kỳ chống Mỹ cứu n-ớc.Trong thể loại này, ngòi bút tác giả thoải mái tung hoành, tạo nên một thế giới thơ thực sự tự do trong câu chữ, ngôn từ, nhịp điệu (mục II, III, IV - ch-ơng II ) Đó là thế giới cho những con ng-ời sống hết mình với khát vọng tự do, v-ợt lên tất cả để làm nên lịch sử, làm nên huyền thoại
II Nhạc thơ của Phạm Tiến Duật
1 Nhạc tính " nguyên là cái xe chở hồn cho thơ " (Hoàng Cầm), là sự
sống, là sức mạnh khôn l-ờng của thơ Tạo nên nhạc tính và nhịp cho thơ, ta phải
kể đến vần, nhịp và ngữ điệu Nhịp thơ là nhịp điệu có tính mỹ học do ng-ời tạo ra để biểu hiện t- t-ởng, tình cảm, hơi thở của cuộc sống và cao hơn nữa là
Trang 35nào ? " Câu thơ giống nh- dây điện, vần giống nh- bóng đèn Chữ mang vần sáng bừng lên, ng-ời ta ngừng hơi lâu hơn và quá trình in ấn thông tin tốt hơn "
(Phạm Tiến Duật) Không phải là một nhà thơ chạy theo hình thức nh-ng ông đã sáng tạo ra một thứ nhạc thơ đặc biệt, đầy ấn t-ợng, có ý nghĩa đột phá trong ngôn ngữ thơ ở thời kỳ chiến tranh chống Mỹ
2 Thơ Phạm Tiến Duật đầy tính nhạc - một thứ nhạc hiện đại, mới lạ và
độc đáo - thứ nhạc của chiến tranh chống Mỹ và thứ nhạc trong tâm hồn của những con ng-ời trẻ trung, tràn đầy nhiệt huyết, có ý thức trách nhiệm lớn với Tổ quốc Nó đầy những yếu tố dị th-ờng, nổi loạn, bất ngờ nh- chính bản thân nhịp
điệu cuộc chiến và những con ng-ời sống căng lên từng phút đầu tuyến lửa Thơ
ông ít có thứ nhạc điệu êm ả, nhịp nhàng, đủng đỉnh của những tác phẩm đi trên trục lựa chọn, khai thác nhạc tính ở vần mà là nhạc điệu gấp gáp, khẩn tr-ơng, bất ngờ của những bài thơ chạy trên trục kết hợp, chú trọng khai thác nhạc ở tiết tấu ở những nhà thơ khác, tất nhiên cũng có những sáng tạo, bứt phá trong việc lắp vần, ráp nhịp nh-ng còn ở trong tần số có hạn Với Phạm Tiến Duật những thay đổi đó là khá tự do, thoải mái Có những đoạn thơ ông hoàn toàn tháo tung vần, phá loạn nhịp:
Tranh thủ có pháo sáng đèn dù Anh vội nhìn em và bạn bè khắp l-ợt Mọi ng-ời cũng tò mò nhìn anh Rồi bóng tối lại khép vào bóng tối
(Gửi em, cô thanh niên xung phong)
Nhờ những vần thơ trên, tác giả đã nói lên sự hối hả, gấp gáp, cuống quýt, kiếm tìm của những tâm hồn còn rất trẻ bởi có thể mai đây, họ không còn đ-ợc trêu gẹo, chọc đùa, liếc nhìn ai nữa Trong không khí ấy, sự tạo vần, nghỉ nhịp trở nên vô duyên, thừa thãi Phải là ng-ời trong cuộc, một chàng lính xế tuổi đôi
m-ơi - thì Phạm Tiến Duật mới có đ-ợc một bài thơ nh- " Gửi em, cô thanh niên xung phong ", mới có đ-ợc một thứ nhạc thơ lạ kỳ nh- đoạn vừa trích dẫn
"Lửa đèn" dài 100 dòng là bài thơ điển hình nhất cho nhạc thơ của Phạm
Tiến Duật, một thứ nhạc linh hoạt, đa dạng nh- bản thân nhịp sống chiến tranh; một thứ nhạc trẻ trung, sôi nổi, lành mạnh nh- tâm hồn tuổi trẻ Tr-ờng Sơn Có những đoạn êm ả, dịu dàng nh- lời dân ca trữ tình mời gọi:
Anh cùng em sang bên kia cầu Nơi có những miền quê yên ả Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Tiết tấu này nh- một điệp khúc trở đi trở lại trong tác phẩm:
Trang 36Anh cùng em sang bên kia cầu Nơi có những miền quê yên ả Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
và Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nó trở nên thiết tha, vẫy gọi, nó trở nên khắc khoải đến khôn cùng Mỗi tấc đất quê h-ơng dấu yêu đang còn chờ phía tr-ớc, vẫy gọi b-ớc chân những con ng-ời đến bảo vệ, giành giật từ tay giặc thù Nó nhẹ nhàng nh-ng tha thiết, mãnh liệt, có sức ám ảnh đau đáu khôn nguôi bởi nó là tiếng gọi từ thâm u, từ quá khứ hồng hoang có sẵn trong dân ca và bây giờ hiển hiện ở chốn này
Đối lập tiếng gọi ấy là không khí chiến trận và lòng căm thù bốc lửa đ-ợc thể hiện qua nhạc điệu gấp gáp, dồn dập bởi tácgiả kết vần, tạo nhịp một cách linh hoạt:
Chúng nó đến từ bên kia phía biển
Rủ nhau bay nh- lũ ma trơi
Từ trên trời bảy trăm mét Nhìn thấy lửa que diêm sáng mặt ng-ời Một nghìn mét từ trên trời
Nhìn thấy ngọn đèn dầu bé nhỏ Tám nghìn mét
Thấy ánh lửa đèn hàn chớp loé
Mà có cần đâu khoảng cách thấp cao Chúng lao xuống nơi
Loe ánh lửa Gió thổi tắt đèn, bom rơi máu ứa
Có những lúc, nhạc thơ ông trong sáng, thiết tha, dìu dặt:
Ngày mai, ngày mai hoàn toàn chiến thắng Anh dắt tay em trời chi chít sao giăng Thắp đèn ta sẽ chơi trăng ngoài thềm
Ta thắp đèn lồng thắp cả đèn ông sao năm cánh
Ta dẫn nhau đến ngôi nhà đèn hoa lấp lánh
Nơi ấy là phòng c-ới chúng mình Câu thơ tập trung dày đặc các âm tiết mở và phụ âm vang , nghe trong sáng, vui t-ơi , thiết tha sáng lạng hào quang của hạnh phúc vối một niềm tin bất diệt
Trang 37Trong hầu hết tất cả các bài thơ của mình Phạm Tiến Duật đều có thứ nhạc linh động, biến đổi ở từng đoạn Ông chú trọng khai thác tính nhạc ở tiết tấu:
Bom bi nổ chậm / nổ trên đỉnh đổi Lốm đốm nền trời / những quầng lửa đỏ Một lát sau / cũng từ phía đó
Trăng lên / Trong ánh chớp nhoáng nhoàng / cây cối ngả nghiêng Một tổ công binh / đứng ngồi bên trạm gác
Cái cậu trẻ măng / cất lên tiếng hát Khi biết trong hầm / có cô bé đang nghe Những đồng chí công binh lầm lì / Mìn bộc phá / trộn vào tiếng hát Trên áo giáp / lấm đầy đất cát Lộp độp cơn m-a / bi sắt đuối tầm Hun hút đ-ờng khuya / rì rầm / rì rầm Tiếng mạch đất / hai miền hoà làm một /
Và vầng trăng / vầng trăng / đất n-ớc V-ợt / qua quầng lửa / mọc lên cao /
(Vầng trăng và những quầng lửa )
ở bài thơ này vần lùi xuống để nhịp lên ngôi Theo ông, chỉ khi nào thực
sự cần vần, ông mới chú trọng tạo vần và lúc ấy, giá trị của vần sẽ tăng đột biến Còn chủ yếu ông khai thác nhạc tính ở tiết tấu Nhịp ở đây rất ăn nhau, tuy nhiên khá linh hoạt, đầy những yếu tố nổi loạn, dị th-ờng Lúc thì 4/4; 3/4; 2; 5/4; 4/4 lúc thì lại 4/2/2; 3/2/2; 1/3/3 nh-ng sự đột biến ấy có tính chu kỳ, lặp lại : 4/4 rồi lại 4/4; 4/4 trong các khổ thơ
Trong một lần trò chuyện với tác giả, ông đã bộc bạch: Cuộc sống hiện
đại, thời kỳ chống Mỹ, thời kỳ công nghiệp quân sự tối tân với đủ loại xe tăng, máy bay, thiết giáp, phản lực, pháo tầm xa thì nhịp thơ của lục bát, thơ Đ-ờng không phù hợp nữa Thời kỳ kỹ thuật quân sự hiện đại đã chi phối tới nhịp thơ
của ông Trong bài " Ga xép " đã thể hiện rõ sự khác biệt ấy Đang đều đặn trong
nhịp thơ 4/3 truyền thống bỗng xuất hiện sự bất ngờ, đảo lộn về số nhịp, số tiếng
ở khổ cuối:
Đêm đêm / ông thắp cây đèn bão /
Trang 38Treo ở đầu ghi / đứng đón tàu Ch-a đợi đứa con/ về từ mặt trận /
là hiện thực và là sự mã hoá của t- duy, cảm xúc Nhạc trong thơ ông đa dạng, linh hoạt đến vô cùng Ông không tuân thủ theo một cách rập khuôn cách tạo nhạc của bất kỳ ai Cho nên, nó luôn có dáng vẻ mới lạ, hiện đại
Nói tóm lại, thơ Phạm Tiến Duật giàu nhạc tính, một thứ nhạc đa dạng, linh hoạt nh- bản thân nhịp điệu cuộc sống đánh Mỹ; một thứ nhạc mạnh mẽ, năng động nh- con ng-ời đánh Mỹ Ông đã tạo ra một thứ nhạc thơ đầy những yếu tố gấp khúc, dị th-ờng để mã hoá những nội dung ấy Nó phản ánh đ-ợc cuộc sống khốc liệt, xuất hiện bao yếu tố nghịch lý do chiến tranh tạo ra và nó
đem lại cho thơ ông một sự linh hoạt, năng động, trẻ trung, hiện đại
III Đặc tr-ng sử dụng và tổ chức từ ngữ
Muốn tìm hiểu, khám phá ngôn ngữ một tác giả thì ta không thể bỏ qua việc sử dụng và tổ chức hệ thống từ ngữ bởi lẽ đây là tín hiệu đầu tiên, mã số đầu tiên để chúng ta mở cửa lâu dài nghệ thuật mà tác giả dày công xây dựng Đối
với thơ ca, ngôn ngữ chiếm một vai trò vô cùng quan trọng bởi nhà thơ " phải mất hàng năm lao lực giữa một tấn quặng ngôn từ để chọn lựa một số ít từ ngữ với giá cắt cổ " (ý thơ Maiacốpxki) Mỗi từ đ-ợc lựa chọn là những từ đặc tr-ng,
nó có sự kết tinh cao độ nên nó có ý nghĩa đặc biệt trong thi phẩm Lúc ấy nó sẽ
in dấu vết nội tâm, đặc điểm ngôn ngữ của tác giả Bởi vậy, có ng-ời đã cho rằng
" hệ thống ngôn ngữ là vết lông ngỗng Mỵ Châu trong hành trình thơ " (Tr-ơng
Vũ Quỳnh - Nguyễn Nhã Bản)
Đ-ợc mệnh danh là một nhà thơ có phong cách lạ, một hiện t-ợng đột hiện, Phạm Tiến Duật đã chứng tỏ biệt tài trong sử dụng ngôn ngữ Quả thế, Phạm Tiến Duật là một số rất ít các nhà thơ chống Mỹ có sự nhạy cảm đặc biệt, năng lực hiếm thấy trong việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nói chung, từ ngữ nói riêng và tạo thành những nét đặc tr-ng riêng biệt
1 Từ ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật là từ ngữ thể hiện tiếng nói của tuổi trẻ Tr-ờng Sơn
Phạm Tiến Duật là nhà thơ có vốn văn hoá sâu rộng, tổng hợp (văn hoá
Trang 39trải nên vốn liếng tri thức, hiểu biết rất phong phú, đa dạng, giàu có Các nền văn hoá và vốn hiểu biết ấy có tác động không nhỏ đến hệ thống ngôn ngữ của ông
Nếu tr-ớc đây, ng-ời ta quan niệm ngôn từ của thi ca phải thật bóng bẩy, hoa mỹ mới giàu sắc thái văn ch-ơng nên nhà thơ ra sức gọt giũa, lựa chọn những yếu tố ngôn ngữ thật tiêu biểu, đặc sắc, đẹp đẽ, thì thơ ca hiện đại có xu h-ớng đ-a ngôn ngữ về với cuộc sống th-ờng nhật Đặc biệt khi có đề c-ơng văn hoá 1947 ra đời yêu cầu văn học phải có tính đại chúng, dân tộc, đứng trên lập tr-ờng của nhân dân để nhận thức, giải quyết vấn đề thì ngôn ngữ lại càng mang
đặc điểm đời th-ờng, giản dị, mộc mạc, tự nhiên
Tuy vậy, trong những năm đầu sự thay đổi, thoát xác đó ch-a thực sự trọn vẹn Ta vẫn còn bắt gặp một vốn từ ngữ sang trọng, cầu kỳ trong thơ Huy Cận; trau chuốt thiên về tính trừu t-ợng trong thơ Chế Lan Viên; m-ợt mà, gọt giũa trong thơ Xuân Diệu; trí thức, chuẩn mực trong thơ Bằng Việt Lời ăn tiếng nói của nhân dân đã đ-ợc đ-a vào thơ khá nhiều nh-ng dẫu sao nó đang ở một chừng mực nào đó Và chắc chắn, tiếng nói ấy còn là tiếng nói chung cho cả dân tộc chứ ch-a hiện rõ cá tính ngôn ngữ của một lớp ng-ời nào
Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng thì ng-ời lính là lớp ng-ời tiên phong hiện thân cho dân tộc ấy Tiếng nói của họ đang bị nhoè đi, hoà tan trong tiếng nói của dân tộc Vào những năm 1968, cuộc chiến ngày càng đi vào những thử thách nặng nề Cả dân tộc nín thở lắng nghe từng nhịp đập của tiền tuyến Thơ của Phạm Tiến Duật mang tiếng nói của lính trong chiến tr-ờng bay về hậu ph-ơng để bù đắp bao nỗi lo lắng, chờ trông Là ng-ời lính, nên Phạm Tiến Duật
có vốn từ ngữ về lính phong phú Đó là những ng-ời lính thời chống Mỹ: tự tin, hiểu biết, tinh nghịch, từng trải, hiện đại, đầy nhiệt huyết - cho nên từ ngữ của
ông là tiếng nói của tuổi trẻ Tr-ờng Sơn Tiếng nói này quý giá vô cùng trong hoàn cảnh ấy Dĩ nhiên, vì thế mà nó đ-ợc ng-ời ta yêu quý
Quả thực, ngôn ngữ của Phạm Tiến Duật t-ớc bỏ mọi đẽo gọt, cầu kỳ vốn
có của thơ ca truyền thống, đem đến một thời kỳ ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc
đến chân chất Hệ thống từ Hán Việt rất ít khi có mặt trong thơ ông Hầu hết, các
bài chỉ có một vài từ Hán Việt Ví nh-: " Nhật ký yêu đ-ơng " có "nông tr-ờng";
" Tiếng bom ở Seng Phan " chỉ có từ "chiến tr-ờng"; " Tiếng c-ời của đồng chí coi kho " có từ "đồng chí" Một số bài khác nh-: " Ngủ rừng", " Nhớ " không có
từ Hán Việt nào Theo thống kê của chúng tôi, từ Hán Việt chiếm khoảng 4% trong thơ ông và còn lại hơn 95% là từ thuần Việt Từ thuần Việt gây nên ấn t-ợng nét về ý nghĩa, không vang về âm h-ởng và tự do về hoạt động Nó sẽ mất
đi cái sắc thái sang trọng, cầu kỳ, tráng lệ của ngôn ngữ nh-ng sẽ trả lại chất tự nhiên, giản dị, trong sáng, cụ thể, đời th-ờng Đó là ngôn từ của cuộc sống, của một lớp ng-ời tuổi trẻ, có sự thoát ly phần nào đối với nền văn hoá cửa Khổng sân đình x-a
Trang 40Hơn thế, trong thơ Phạm Tiến Duật, có những từ chẳng mấy ai dũng cảm
đ-a vào địa hạt thơ ca (trừ sau này có Bùi Chí Vinh - hiện t-ợng thơ 90) Chỉ trong thơ ông ta mới gặp những khẩu ngữ, biệt ngữ của lính Những từ ấy có màu sắc bụi bặm , ngang tàng, tếu táo của tuổi trẻ, của ng-ời lính, của dân tài xế:
Đang hì hục kéo bạn Bom giặc nổ đằng sau
tham gia kết hợp với những từ ngữ khác của câu thơ, dòng thơ thì ng-ời ta d-ờng nh- quên cái xác chữ bởi nó chuyên chở những suy nghĩ, hành động cao cả, đẹp
đẽ của ng-ời lính Vả lại, Phạm Tiến Duật luôn biết cách sắp xếp chữ " thanh " bên cạnh chữ " thô ", chữ " mát " bên cạnh chữ " nóng " nên ng-ời đọc " đọc lên không biết s-ợng " Và chính những từ những ấy tạo nên một vẻ đẹp kỳ lạ của sự
chân thực, đời th-ờng, tự nhiên, rất ng-ời, không hề lên gân, tô vẽ Hình t-ợng ng-ời lính vốn là một hình t-ợng đẹp, hiện thân cho vẻ đẹp của dân tộc nên trong văn học nghệ thuật đ-ơng thời ít ai dám sử dụng chất liệu nào có nguy cơ tổn hại
đến vẻ đẹp của hình ảnh ấy Phạm Tiến Duật đã"cả gan" dùng ngôn từ phản quy
phạm để vẽ chân dung này Nhưng bức tranh kia đầy ấn tượng bởi nó “lấp lánh
vẻ đẹp t-ơi rói của cuộc sống” (ý Nguyễn Ngọc Thiện) Dường như nền văn hoá dân gian với cách nói " bạo gan " luôn tiềm ẩn trong thơ Phạm Tiến Duật d-ới
nhiều hình hài khác nhau và sẵn sàng lộ diện bất cứ lúc nào là thế