1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung

104 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 743,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và trình bày để làm rõ được nét riêng về phong cách ngôn ngữ của các tác giả nữ Thái Nguyên và bản sắc văn hóa Thái Nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG THÚY

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN QUA TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ THƠ: LƯU THỊ BẠCH LIỄU, NGUYỄN THÚY QUỲNH, TRẦN THỊ VÂN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN HỒNG THÚY

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THƠ NỮ THÁI NGUYÊN QUA TÁC PHẨM CỦA BA NHÀ THƠ: LƯU THỊ BẠCH LIỄU, NGUYỄN THÚY QUỲNH, TRẦN THỊ VÂN TRUNG

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM HÙNG VIỆT

Thái Nguyên – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảo sát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố

ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Hồng Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Phạm Hùng Việt, thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Luận văn là kết quả của quá trình học tập Vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đề cao học cho lớp Ngôn ngữ K20 (2012 - 2014) tại trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn ủng

hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014 Tác giả luận văn

Nguyễn Hồng Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Mục lục ii

Danh mục các bảng iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp thống kê phân loại 4

5.2 Phương pháp miêu tả 4

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Thơ và sự phân biệt thơ với văn xuôi 6

1.1.1 Thơ 6

1.1.2 Phân biệt thơ với văn xuôi 7

1.2 Ngôn ngữ thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ 9

1.3 Giới thiệu về văn học Thái Nguyên và các tác giả nữ 17

1.3.1 Giới thiệu về văn học Thái Nguyên 17

1.3.2 Giới thiệu ba nhà thơ nữ của Thái Nguyên : Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung 19

Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP VÀ CÁCH TỔ CHỨC BÀI THƠ TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN 22

2.1 Đặc điểm về thể thơ 22

2.1.1 Thể thơ bốn chữ 23

2.1.2 Thể thơ năm chữ 26

2.1.3 Thể thơ bảy chữ 30

2.1.4 Thể thơ tự do 32

2.1.5 Một số hình thức thơ lạ trong thơ nữ Thái Nguyên 36

2.2 Vần và nhịp 39

2.2.1 Vần 39

2.2.2 Đặc điểm về nhịp 49

2.3 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ 55

Trang 6

2.3.1 Đặc điểm về tiêu đề 55

2.3.2 Đặc điểm về câu thơ, dòng thơ 56

2.3.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 57

2.3.4 Một số kiểu mở đầu và kết thúc 59

Chương 3: TỪ NGỮ VÀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN………,……… 63

3.1 Các lớp từ vựng – ngữ nghĩa tiêu biểu 63

3.1.1 Sử dụng từ láy mang lại hiệu quả nghệ thuật 63

3.1.2 Lớp từ chỉ hình ảnh, màu sắc 67

3.2 Một số biện pháp tu từ thường gặp 74

3.2.1 Điệp ngữ 74

3.2.2 Biện pháp so sánh 83

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… 94

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê thể loại ……… … ……… 23

Bảng 2.2: Bảng thống kê vần liền, vần cách, vần ôm 41

Bảng 2.3: Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép 46

Bảng 2.4: Bảng các loại nhịp thơ 7 chữ 52

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp các kiểu từ láy 64

Bảng 3.2: Bảng thống kê từ ngữ chỉ màu sắc 72

Bảng 3.3: Bảng thống kê kiểu loại so sánh 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc giàu hình ảnh và nhất là nhịp điệu Trong kho tàng thơ ca Việt Nam đã có sự đóng góp không nhỏ của các nhà thơ nữ Trong số đông đảo các nhà thơ nữ hiện đại, các tác giả nữ Thái Nguyên đã có những thành công nhất định, tạo nên giọng điệu và phong cách ngôn ngữ riêng

Trong các sáng tác của mình, các nữ sĩ Thái Nguyên đã có những bộ cánh mới khoác lên cho thơ ca dân tộc bằng tình cảm, nét kế thừa của một vùng quê – vùng văn hóa trung du miền núi phía Bắc Vì vậy, việc nghiên cứu diện mạo ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên có tác dụng góp phần khẳng định nét truyền thống của thơ ca dân tộc nói chung và sự cách tân mới mẻ về phong cách ngôn ngữ thơ nữ trên đất Thái Nguyên nói riêng

Đọc thơ nữ Thái Nguyên có thể tự hào rằng: Thái Nguyên có không ít những cây bút nữ có tài Đương nhiên kể về tài năng thơ trong một tỉnh miền núi trung du như Thái Nguyên thì nhiều không có nghĩa là phải hàng chục hay nhiều hơn thế mà chỉ dăm bảy người thậm chí dăm ba người cũng có thể gọi là nhiều - nếu những tài năng ấy có cơ sở để khẳng định chắc chắn Khoảng con số này, chắn chắn Thái

Nguyên đã và đang có Nói như Ma Trường Nguyên “thơ nữ Thái Nguyên đều đang vươn tới xu thế của thơ ca hiện đại nhưng vẫn giữ được những gì căn cốt của thơ ca truyền thống” [42] Người tiếp cận nhiều nhất với thơ ca đương đại là Lưu Thị Bạch

Liễu, tiếp đó là những người mang trong mình cả phong vị truyền thống và hiện đại như: Trần Thị Vân Trung, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Minh Hằng, Ngọc Thị Kẹo, Nguyễn Minh Thắng, Vũ Thị Tú Anh, Dương Thu Hằng… Tất cả họ đều là những cây bút gặt hái được nhiều thành công Trong khuôn khổ một đề tài luận văn chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu gồm ba tác giả mà theo chủ quan của chúng tôi là có phong cách độc đáo hơn cả Đó là ba nhà thơ: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung Ba nhà thơ hiện đều đang sinh sống và làm việc tại Thái Nguyên Các chị đều công tác trong các lĩnh vực liên quan đến văn hóa, giáo dục, gắn

bó máu thịt với mảnh đất này Đặc biệt độ tuổi của họ không quá chênh lệch nhau để

Trang 9

được gọi là ba thế hệ nhưng lại có phong cách thơ tương đối độc lập Nói chung, ở ba nhà thơ nữ này, chúng tôi vừa tìm được cái chung trong nét nữ tính vừa tìm ra cá tính của mỗi người thể hiện trong ngôn ngữ thơ

2 Lịch sử vấn đề

Việc nghiên cứu và tiếp nhận tác giả, tác phẩm thơ nữ Thái Nguyên hiện đại từ trước đến nay đã thu hút được sự chú ý của nhiều người Không ít những tờ báo trong nước, trong tỉnh như: Báo Quân đội nhân dân, báo Người Hà Nội, báo Sài Gòn giải phóng, báo Thái Nguyên… đã có những bài báo nghiên cứu xoay quanh những thành

công của các nhà thơ nữ Thái Nguyên Năm 2009, tại Thái Nguyên đã tổ chức Hội thảo thơ nữ Thái Nguyên đương đại tổ chức vào ngày 20/10/2009 Tham gia hội thảo

đã có nhiều bài viết, bài phê bình của các tác giả: Vũ Đình Toàn, Nguyễn Kiến Thọ, Phạm Văn Vũ, Ma Trường Nguyên…đi vào giới thiệu 1 số tập thơ, bài thơ đánh giá trên phương diện nội dung tư tưởng Tại đây, có không ít nhận xét giàu tình cảm như:

“Tôi xin phép được nhận định từng nét “duyên” riêng của từng nhà thơ nữ Thái Nguyên…tôi chân thành cảm ơn các nhà thơ nữ Thái Nguyên Đọc thơ của các chị tôi yêu cuộc đời hơn, bởi họ đẹp quá, đẹp trong tình yêu hạnh phúc, đẹp cả trong nỗi đau Những nỗi đau trong vắt mà soi vào đó ta bỗng thấy mình muốn sống tốt đẹp hơn Có thể ví mỗi nhà thơ nữ Thái Nguyên như một ngọn lửa Và trong thơ, mỗi ngọn lửa ấy đều cháy theo cách của riêng mình”[42]

Đánh giá về nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu: “Thơ Lưu Thị Bạch Liễu giàu nữ tính

mà cũng đầy cá tính, nhạy cảm và tinh tế trong quan sát và trong liên tưởng và cách biểu đạt hàm xúc, sắc nét Đây là thơ của một cây bút chắc tay và có ý thức sáng tạo Người đọc tin rằng nhà thơ nữ trẻ này còn tiếp tục những bước thong dong rộng dài

và ngày càng đằm thắm ” (Trịnh Thanh Sơn – Báo Người Hà Nội)[42]

Khi nói về nữ sĩ Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Kiến Thọ viết: “Không gian tinh thần trong thơ Nguyễn Thúy Quỳnh như bị nêm cứng bởi những lịch lí, không dễ

gì tháo gỡ hay vứt bỏ Cảm giác tù túng châm ngòi cho sự sụp đổ Thơ Nguyễn Thúy Quỳnh là những mảnh vỡ của trạng thái tinh thần ấy”(Ẩn ức trong đêm thơ Nguyễn

Thúy Quỳnh)[42]

Trang 10

Hay nhận xét thơ Vân Trung, Hà Đức Toàn viết trong “Cảm nghĩ riêng khi đọc

thơ Trần Thị Vân Trung”: “Khát khao mà kín đáo, mãnh liệt mà dịu dàng, khổ đau

mà lạc quan Tất cả những cái đó song song đi cùng nhau, hòa trộn vào nhau để tạo

ra một chất men vừa đắng, vừa ngọt, chất men Vân Trung”[42]

Đặc điểm thơ nữ Thái Nguyên cũng không ngoài đặc điểm chung của thơ nữ cả nước đó là rất giàu nữ tính: dịu dàng mà mạnh mẽ, ý thức sâu sắc về giá trị nhân phẩm

và nỗi bất hạnh của cá nhân nhưng vẫn giàu nghị lực, bản lĩnh giàu khát vọng và tin yêu Các tác giả nữ Thái Nguyên không chỉ tạo nên vẻ đẹp riêng của mình mà còn thể hiện tầm nhìn và bóng dáng rất rõ của họ qua ngôn ngữ thơ Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thơ của họ chưa thành hệ thống và chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về các đặc điểm ngôn ngữ

Thực hiện đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của

ba nhà thơ: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung”, chúng tôi

hi vọng sẽ có những đóng góp mới, bù đắp vào khoảng thiếu hụt đó Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu và trình bày để làm rõ được nét riêng

về phong cách ngôn ngữ của các tác giả nữ Thái Nguyên và bản sắc văn hóa Thái Nguyên thể hiện trong thơ của họ

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Ngôn ngữ thơ của ba nhà thơ nữ Thái Nguyên: Lưu Thị Bạch Liễu (Bạch Liễu), Nguyễn Thúy Quỳnh (Thúy Quỳnh), Trần Thị Vân Trung (Vân Trung)

- Sông Cầu đang chảy đâu đây (2009)

114 bài của nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh trong 3 tập thơ:

Trang 11

- Giá mà em từ chối (2002)

- Mưa mùa đông (2004)

- Những tích tắc quanh tôi (2011)

126 bài của nhà thơ Trần Thị Vân Trung được in trong tập “Hoa bất tử” (2011)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:

- Trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ xét về mặt hình thức: thể thơ, đặc điểm vần và nhịp

- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên xét ở bình diện ngữ nghĩa: gồm đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ được các nhà thơ sử dụng, nội dung ngữ nghĩa của các tiêu đề, nội dung ngữ nghĩa của các kiểu câu qua một số biểu tượng ngôn ngữ thơ

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập và phân loại những câu thơ, bài thơ chứa đựng hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng thủ pháp đối chiếu để làm rõ những đặc điểm chung và riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả thơ nữ Thái Nguyên

Trang 12

6 Đóng góp của luận văn

Có thể xem đây là đề tài đầu tiên đi vào tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nhà thơ nữ Thái Nguyên ở hai bình diện hình thức và nội dung ý nghĩa, từ đó chỉ

ra những đóng góp riêng đặc sắc của các tác giả thơ nữ Thái Nguyên từ góc độ ngôn ngữ học

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài Giới thiệu về ba nhà thơ nữ Thái Nguyên

Chương 2: Đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp và cách tổ chức bài thơ trong thơ nữ Thái Nguyên

Chương 3: Từ ngữ và các biện pháp tu từ thường gặp trong thơ nữ Thái Nguyên

Trang 13

cuốn Thi nhân Việt Nam thì “… từ bao giờ đến bây giờ, từ Homere đến Kinh Thi đến

ca dao Việt Nam, thơ vẫn là một sự đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó đã ra đời giữa những buồn vui của loài người, và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”[47, tr.67] Lịch sử phát triển của thơ ca trải dài bao nhiêu thì các định nghĩa về

thơ cũng phong phú bấy nhiêu Bởi lẽ bản chất của thơ rất đa dạng với nhiều biểu hiện

và màu sắc phong phú Mỗi người yêu thơ, làm thơ, nghiên cứu thơ ở một góc độ khác nhau, trên các hệ quy chiếu khác nhau đều có thể đưa ra các nhận định, định nghĩa về thơ khác nhau

Cổ nhân bàn luận nhiều về thơ, Aristore – ông tổ của lí luận văn học đã gọi tất cả

các thể loại trong đó có thơ ca là nghệ thuật mô phỏng và sự mô phỏng thể hiện trong tiết tấu, trong ngôn từ, trong giai điệu…, cho nên từ thời cổ đại xưa, đã có người được thiên nhiên phú bẩm cho những tài năng đặc biệt này, chúng phát triển dần lên

và từ chỗ ngẫu hứng đã làm nảy sinh ra thơ ca [3, tr.132] Sự mô phỏng mà Aristore

nói ở đây được hiểu theo nghĩa rộng đó là sự sáng tạo trên cơ sở hiện thực Khả năng sáng tạo ấy là cái thiên bẩm, cùng với một quá trình phát triển, khi có cảm hứng sẽ sản sinh ra tác phẩm nghệ thuật Tác phẩm nghệ thuật ấy được phân biệt với lời nói hàng ngày ở ngôn từ có tiết tấu, có giai điệu Như vậy, Aristore đã nêu được những ý cơ sở

về quá trình sáng tạo nghệ thuật và một số đặc trưng của văn chương

Ở Việt Nam, quan niệm về thơ cũng rất phong phú Mười thế kỉ trung đại, do chịu

ảnh hưởng của quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, các ý kiến hầu như chỉ tập trung vào các phương diện nội dung Phan Phu Tiên trong Việt âm thi tập san đã viết : “Trong lòng

có điều gì tất thành hình ở lời, cho nên thơ là để nói chí vậy” [20, tr.45] Ngô Thời Nhậm cũng cho rằng :“Thơ mà quá cầu kì thì sa vào giả dối, quá trau chuốt thì sa vào

Trang 14

xảo trá, hoang tưởng, hiu hắt thì phần nhiều sa vào buồn bã Chỉ có thuần hậu, giản

dị, thẳng thắn, không giả dối, không xảo trá, không buồn bã mà chú trọng đến sự ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay mới là đặc sắc chính của thơ” [20, tr.162] Đến thế kỉ XX, cùng với sự hình thành của “một thời đại trong thi ca” là sự nở rộ của các

quan điểm trên nhiều phương diện Ngay các nhà thơ Mới, bằng sự trải nghiệm, tâm huyết, sáng tạo của chính mình đã đưa ra các định nghĩa về thơ Từ cuối thế kỉ XX trở

lại đây, người say mê thơ vẫn đi tìm khái niệm thơ Nhà thơ Trần Dần cho rằng: “Thơ

ca không nên là những tụng ca thời thượng mà chỉ đi sâu vào tâm trạng con người Thơ cần phải liên tụ đổi mới để đuổi kịp sự phát triển của đời sống” [13, tr.50]

Từ phương diện ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã có những đóng góp

đáng kể trên hành trình tìm đến bản chất của thơ Jakobson định nghĩa: “Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó”[23, tr.95] Có thể thấy, nhận định của nhà

ngôn ngữ học cô đọng và rất sâu sắc Điều này được Nguyễn Hữu Đạt lý giải cụ thể

hơn: “Thơ là một thể loại của văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dưới dạng các hình tượng nghệ thuật”[11, tr.54]

Như vậy, chúng ta có thể tiếp cận và nhận diện khái niệm thơ từ nhiều góc độ, để

có định nghĩa đầy đủ nhất về thơ đồng thời chú ý cả hai phương diện nội dung và hình thức không nên cực đoan với yếu tố nào Vì thế, trong luận văn này để xác định nền tảng cho việc nghiên cứu chúng tôi chọn cách định nghĩa của Từ điển thuật ngữ văn

học:“Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhạc điệu” [ 19, tr.262]

1.1.2 Phân biệt thơ với văn xuôi

Thơ và văn xuôi có thể phân biệt với nhau qua nhiều tiêu chí:

1.1.2.1 Cách tƣ duy trên chất liệu ngôn ngữ

Lời nói mang tính thông báo Lời văn lời thơ cũng là một dạng đặc biệt của lời nói, nhưng để xây dựng nên các thông báo, cách thức tư duy thao tác của tác giả thơ

và tác giả văn xuôi có sự khác biệt Chúng ta đều biết, quan hệ liên tưởng và quan hệ

Trang 15

ngữ đoạn là hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, tương ứng với hai phương pháp tạo lời là lựa chọn và kết hợp Thao tác lựa chọn cho phép tập hợp các đơn vị ngôn ngữ trong cùng một hệ hình Thao tác kết hợp cho phép kết hợp các đơn vị ấy lại với nhau theo một quy tắc ngữ pháp nhất định để tạo nên thông báo Nhà văn có thể lựa chọn bất kỳ một đơn vị nào trong hệ hình này để kết hợp với các đơn vị khác trong hệ hình kia và kết hợp chúng với nhau nhưng không được phép lặp lại Nghĩa là, để miêu tả bức tranh hiện thực, các thông báo trong văn xuôi bao giờ cũng để gợi nhắc đến ngữ cảnh, không được để xuất hiện ở các thời điểm sát nhau những đơn vị trong cùng hệ hình Như vậy, văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp

Thơ thì ngược lại Trong thơ tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ được dùng

để xây dựng các thông báo Tất cả các biến thể của cùng một đơn vị đều có mặt trên thông báo và được kết hợp xây dựng thành các chiết đoạn Có thể hình dung tư duy trên chất liệu ngôn ngữ của nhà thơ: hình thành các hệ hình, từ hệ hình xây dựng các phương trình rồi từ đó biến các phương trình thành chiết đoạn Chẳng hạn:

“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng” (Nguyễn Khoa Điềm)

Có các hệ hình:

Hệ hình 1: Mặt trời của bắp, mặt trời của mẹ, em,

Hệ hình 2: nằm trên đồi, nằm trên lưng Các phương trình: Mặt trời của bắp = Mặt trời của mẹ

Nằm trên đồi = nằm trên lưng Chiết đoạn:

Mặt trời của bắp + thì nằm trên đồi (+ như) + Mặt trời của mẹ, em + nằm trên lưng

Có thể nói, trong thơ các biện pháp điệp âm, điệp vần, điệp thanh, điệp từ ngữ, điệp cấu trúc cú pháp tạo nên hiệu quả nghệ thuật rất cao, vừa là đặc trưng vừa là sức mạnh của ngôn ngữ thơ Sự tương đương giữa các đơn vị ngôn ngữ làm nên các chiết đoạn bao giờ cũng hàm chứa trong đó sự tương đương về mặt ý nghĩa Cơ cấu lặp lại, kiến trúc song song đã làm cho thông báo thành ra đa nghĩa, có tính chất nước

Trang 16

đôi, thành ra nhập nhằng theo nghĩa tốt của từ này Đó chính là tính hàm xúc ý ở ngoài lời của thơ

1.1.2.2 Hình thức tổ chức văn bản

Ngôn ngữ văn xuôi liền mạch, ngôn ngữ thơ lại chia cắt thành những đơn vị tương ứng nhau Tổ chức thơ theo quy luật tuần hoàn âm thanh Câu thơ có kích thước nội tại còn câu trong văn xuôi không có kích thước bó buộc nào

Về cơ bản, ngữ pháp của thơ khác với ngữ pháp điển phạm của văn xuôi Cấu trúc ngữ pháp của thơ nhiều khi bất quy tắc (cấu tạo từ, cụm từ, câu, văn bản) Mỗi dòng thơ không hoàn toàn trùng khít với một câu thơ Trên phương diện dụng học, mỗi câu thơ thường không trùng khít với một hành động ngôn trung (mục đích nói)

mà ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang nhiều màu sắc, âm thanh, ý nghĩa Trong đó, nhà thơ luôn luôn là chủ thể thực hiện các hành động ngôn trung làm nên tính chất chủ quan, trực tiếp của lời nói (lời thơ) trong giao tiếp với độc giả Từng chữ trong thơ đều được nhà thơ lựa chọn và nhiều khi cung cấp cho nó ý nghĩa lâm thời theo cảm quan của mình

Ngôn ngữ thơ còn là một cấu trúc đầy nhạc tính, có sức ngân vang Đó là cách tổ chức vần, nhịp, cách hoà phối âm thanh tạo nên những tấm ảnh nghệ thuật trong lòng độc giả (Trong khi ngôn ngữ văn xuôi gần gũi hơn với lời nói hàng ngày và thiên về cách thức xây dựng cốt truyện, tình tiết, nhân vật, )

Cách thức tổ chức ngôn ngữ thơ khiến cho thơ mang đậm cảm xúc chủ quan của tác giả và chứa nhiều tầng ý nghĩa Sự kết hợp giữa ý thức, vô thức và tiềm thức, trực giác, ảo giác và linh giác, trong thơ khiến cho người đọc không thể sử dụng tư duy lôgíc khách quan mà đôi khi, phải là siêu giác quan để cảm, để hiểu thơ

1.2 Ngôn ngữ thơ và đặc trƣng ngôn ngữ thơ

1.2.1 Ngôn ngữ thơ

tác phẩm văn chương chính là tư duy trên chất liệu ngôn ngữ Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy ngôn ngữ thơ trước hết phải là

ngôn ngữ văn học “ngôn ngữ nghệ thuật được dùng trong văn học” [17, tr.185]

Nhưng thơ ca có cơ chế vận hành bộ máy ngôn ngữ rất độc đáo Với một lượng đơn vị

Trang 17

ngôn ngữ hữu hạn, thơ có khả năng biểu đạt cái vô hạn của cuộc sống, cái phong phú,

đa dạng, dồi dào cảm xúc, tình cảm con người

Trên thế giới, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học cũng đã chỉ ra sự khác nhau

giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi Jacobson đã từng nói rằng: “chức năng của thi ca đem nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp” [23,

tr.83], ông nhấn mạnh cơ chế hoạt động của ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Bên cạnh đó, trên các nguyên lý của F.de.Saussure trong giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Jacobson còn chỉ ra trong thơ hình thức ngữ âm là vô cùng quan trọng Ông nhấn mạnh các yếu tố âm thanh như âm vận, điệp âm, điệp vận, khổ thơ,…là những đơn vị thuộc bình diện hình thức Có thể nói, đây là những cơ sở xuất phát quan trọng trong việc nhận diện ngôn ngữ thơ

Trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cũng đã dựa vào lý thuyết hệ hình để xem xét thơ từ phương thức lựa chọn ngôn từ trong các hệ hình, để tạo ra hiệu quả biểu đạt cao nhất [5, tr.51-70] Ông còn nêu ra lý thuyết trường nét dư Trong đó tác giả chỉ ra rằng để thiết lập nên các tổ chức ngôn ngữ trên trục lựa chọn và trục kết hợp, nhà thơ phải sử dụng đến thao tác loại bỏ trường nét dư, chính là quá trình hình thành thể thơ Nét dư được loại bỏ càng nhiều thì hàm lượng thông tin càng cao và càng đòi hỏi ở người tiếp nhận năng lực tiếp nhận

và kết cấu “lạ” do việc loại bỏ các yếu tố ngôn ngữ có hàm lượng thông tin thấp mà

ra

Về cách tổ chức của ngôn ngữ thơ, Hữu Đạt đã diễn đạt một cách cụ thể là

“được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với cách tổ chức ngôn ngữ

có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ” [11, tr 25]

Từ những cách hiểu trên về ngôn ngữ thơ ca, ta có thể đi đến kết luận: Trong một phạm vi hẹp của thể loại, ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo tổ chức riêng của thơ ca

1.2.2 Đặc trƣng ngôn ngữ thơ

Khi phân biệt thơ với các thể loại khác người ta thường đi theo cách lưỡng phân, đối lập thơ và văn xuôi ở nhiều góc độ khác nhau Ở góc độ ngôn ngữ ta có thể

Trang 18

đối lập thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp để thấy rõ đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca

1.2.2.1 Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trưng tính nhạc Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu

Vì vậy, nhiều người nhất trí xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Đây

là điều mà trong văn xuôi ít được nhắc đến Đặc điểm về tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ Tuy nhiên, trong mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng tùy theo cơ cấu cách cấu tạo và tổ chức khác nhau về ngữ âm Tiếng Việt giàu có về nguyên âm, phụ âm, thanh điệu là cơ sở cho ngôn ngữ thơ ca Việt Nam có dáng vẻ độc đáo về tính nhạc Khi khai thác về tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý những đối lập sau

- Sự đối lập trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm

- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vô thanh trong các phụ âm cuối

- Sự đối lập cao - thấp, bằng - trắc của các thanh điệu

Bên cạnh đó, sự đối lập đó vần và nhịp cũng góp phần quan trọng trong việc tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca Những yếu tố về ngữ âm này là cơ sở cũng là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những âm tưởng trầm bổng diệu kỳ

Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ ca đưa thơ ca xích gần lại với âm nhạc làm chỗ dựa cho các phương pháp diễn đàn âm nhạc

Vần

Điều kiện trước hết tạo nên tính nhạc của thơ phải kể đến sự hòa âm mà vần là

yếu tố quan trọng xây dựng nên sự hòa âm giữa các câu thơ “Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngư âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết

ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [46, tr.12] Đơn vị biểu

diễn vần thơ trong tiếng Việt là âm tiết bao gồm: âm đoạn tính và siêu đoạn tính (thanh điệu) Xét về chức năng tạo nên sự tương đồng, sự hòa âm thì các yếu tố cấu tạo nên âm

tiết có vai trò không giống nhau: “Ở đây thanh điệu, âm cuối rồi đến âm chính là những

Trang 19

yếu tố giữ vai trò quyết định của sự hòa âm Vai trò thứ yếu thuộc về âm đệm và yếu tố cuối cùng là âm đầu” [46, tr.115]

Trước hết, ta xét đến yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) chức năng hòa âm của thanh điệu trong các vần thơ được biểu hiện chủ yếu ở chỗ các âm tiết hiệp vần chỉ có thể mang thanh đồng loại tuyền điệu (cùng bằng hoặc cùng trắc), đó là nét cơ bản của vần thơ Việt Nam

Xét về âm đoạn tính của các âm tiết hiệp vần, đầu tiên phải kể đến âm cuối

“Trong một âm tiết, giữa các yếu tố tạo nên phần vần thì âm cuối là yếu tố quyết định tính chất của nó rõ hơn cả” [46, tr.100] Âm cuối là cơ sở để người ta phân loại các

vần (khép, nửa khép, mở, nửa mở), chính tính chất của những loại vần giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hòa âm Với âm cuối, sự hòa âm của vần thơ sẽ được tạo ra khi hai âm tiết hiệp vần có sự đồng nhất các âm cuối (phụ âm, bán nguyên âm và

âm vị zê rô) hoặc đồng nhất về đặc trưng ngữ âm vang mũi (m, n, ng, nh), hoặc đồng nhất

về đặc trưng ngữ âm vô thanh (p, t, c)

Âm chính “là hạt nhân, là yếu tố quyết định âm sắc chủ yếu của âm tiết cho nên âm chính cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập vần thơ” [46, tr.105]

Để góp phần vào sự hòa âm này, âm chính có một quy luật phân bố chặt chẽ trong các vần thơ: các nguyên âm là âm chính của hai âm tiết hiệp vần phải hoặc đồng nhất hoàn toàn, hoặc đồng nhất về một đặc trưng nào đó (đặc trưng âm sắc trầm hoặc bổng), đặc trưng về âm lượng (nhỏ, lớn) Ngoài ra, có những trường hợp âm chính không cùng dòng, cùng độ mở cũng hiệp vần với nhau Các âm tiết này hiệp vần nhờ

là âm cuối giống nhau

Phụ âm đầu và âm đệm đều có chức năng tạo nên sự khác biệt cho vần thơ để tránh lặp vần Thực tế, khi các âm tiết hiệp vần với nhau đã có sự hòa âm, đắp đổi của

âm chính, âm cuối và thanh điệu thì sự xuất hiện của bất kì âm đầu nào trong âm tiết

cũng không ảnh hưởng đến sự hòa âm Từ đó, ta thấy rõ một điều: “âm đầu có tham gia cùng với các thành phần khác để tạo nên sự hòa âm nhưng vai trò của nó không đáng kể” [46, tr.112] Còn âm đệm mức độ hòa âm rất thấp, có những khuôn vần mà

sự có mặt của âm đệm không ảnh hưởng đến sự phân loại của các vần thơ

Trang 20

Như vậy, tất cả các yếu tố cấu tạo nên âm tiết tiếng Việt đều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần Trong đó thanh điệu, âm cuối, âm chính là những yếu tố chính quyết định âm hưởng chung của toàn âm tiết và

do đó quyết định đến sự hòa âm của các âm tiết hiệp vần

Nhịp

Tiết tấu trong thơ ca là sự sáng tạo ra những khoảng cách tương tự về mặt thời

gian Tiết tấu trong thơ chính là nhịp thơ “Nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ (dòng thơ), khổ thơ thậm chí cả đoạn thơ” [47, tr.64] Như vậy, yếu tố quan trọng nhất tạo nên nhịp

điệu chính là ở chỗ ngừng, chỗ ngắt theo một cách thức nhất định khi phát âm

Trong thơ có hai kiểu nhịp: Ngừng nhịp ở cuối dòng và ngừng nhịp ở trong dòng thơ

Nhịp thơ có tính mỹ học do con người sáng tạo ra để biểu hiện tư tưởng, tình cảm con người Do vậy, các trạng thái rung cảm, cảm xúc đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhịp của câu thơ, bài thơ Nhịp trong thơ khác với nhịp trong văn xuôi

V.Tinianop phân biệt rõ nhịp điệu văn xuôi và thơ: “Trong văn xuôi (nhờ sự đồng thời của lời nói), thời gian được cảm thấy rõ, hiển nhiên đó không phải là những tương quan về thời gian có thực giữa các sự kiện mà chỉ là những tương quan có tính ước lệ Trong thơ thì thời gian không thể cảm giác được Các tiểu tiết của chủ đề và những đơn vị lớn của chủ đề được cân bằng bởi cấu trúc của thơ” [48, tr.42] Trong một bài

thơ, đơn vị để biểu diễn nhịp (ngắt nhịp) cơ bản nhất là câu thơ (dòng thơ) Vì trong câu thơ tập trung mật độ dày đặc về cú pháp, về sự hòa âm Trong mỗi dòng thơ lại

có cách ngắt nhịp phụ thuộc vào thể thơ Từ nhịp chung của thể thơ ấy, người sáng tác

sẽ có những cách sử dụng linh hoạt, nhất là trong câu thơ tự do, rõ nhất là loại thơ không vần

Như vậy, cách tạo ngắt nhịp hết sức đa dạng, có nhiều kiểu, tùy câu, tùy đoạn, tùy bài thơ, thể thơ Nhịp trong thơ mang bản sắc của từng nhà thơ trong việc chọn nhịp

Trang 21

Người Việt ưa sự cân đối hài hòa, do vậy trong các thể thơ truyền thống, cách luật, nhịp chẵn thường chiếm ưu thế (ví dụ như thơ lục bát), sự xuất hiện nhịp lẻ cũng

là nhịp lẻ cân đối (trong câu có tiểu đối), sau đó mới đến nhịp lẻ độc lập Còn trong thơ tự do, khi những câu thơ gần với văn xuôi, không có vần thì lúc ấy nhịp nổi lên, vai trò của nhịp đã tạo được sự ngân vang rất lớn cho thơ Bản thân nhịp nhiều lúc

cũng chứa nội dung trong đó: “Nhịp chẵn gợi lên sự hài hòa, bình yên, tĩnh lặng, nhịp

lẻ thường báo hiệu những tai ương, mắc mớ, uẩn khúc…” [48, tr.10] Đến đây, ta có

thể thấy rõ nhịp chính là năng lượng cơ bản, là xương sống của bài thơ

Vần và nhịp là những đơn vị ngữ âm quan trọng của ngôn ngữ thơ Vần và nhịp nếu đặt đúng chỗ thì mang nghĩa Chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau,

bổ sung cho nhau: sự ngắt nhịp là tiền đề cho hiện tượng gieo vần, nhịp nâng cao hiệu

quả hòa âm của vần, một chiều khác, chính vần cũng có tác động trở lại nhịp “Sự tác động này được biểu hiện khi có sự hỗ trợ của vần thì chỗ ngừng chỗ ngắt trở lên rõ ràng hơn, lâu và đậm hơn, vần có khả năng nhấn mạnh sự ngừng nhịp” [46, tr.36], đặc biệt hơn trong thơ tự do thì “vần trở thành một tiêu chí rất quan trọng giúp người

ta ngừng nhịp đúng chỗ” [46, tr.42]

Tóm lại, đặc trưng rất nổi bật của ngôn ngữ thơ ca là sự tổ chức âm thanh một cách hài hòa, có quy luật của chúng Vần và nhịp là hai yếu tố làm nên đặc trưng đó đồng thời nó có vai trò quan trọng trong việc tạo nên tính nhạc cho thơ, để thơ ca có khả năng biểu đạt tinh tế những rung cảm, cảm xúc của tâm hồn mà bản thân nghĩa

của từ không thể diễn đạt hết được Hơn nữa, “nhạc tính của một thi phẩm càng giàu, tức những tham số thanh lọc của ngôn ngữ càng có độ tin cậy cao, thì hiệu quả lưu giữ truyền đạt của thi phẩm càng lớn, sức sinh tồn của nó càng mạnh” [5, tr.152]

1.2.2.2 Về ngữ nghĩa

Ngôn ngữ thơ ca trước hết là một thứ ngôn ngữ được trau chuốt, tinh luyện từ ngôn ngữ “nguyên liệu” - lời nói hàng ngày Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ ca không hoàn toàn đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữ trong giao tiếp thông thường và nó còn khác với cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Mỗi từ khi đưa vào thơ đều trải qua sự lựa chọn của tác giả Những từ ấy hoạt động rất đa dạng, linh hoạt, biến hóa để đạt được tham vọng với diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất có thể chiếm lĩnh cả thế giới Trong văn

Trang 22

xuôi không hạn chế về số lượng ngôn từ, câu chữ, còn trong thơ, tùy thuộc vào từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Dưới áp lực của cấu trúc, ngữ nghĩa của ngôn

từ trong thơ nhiều khi không dừng lại ở nghĩa đen, nghĩa gốc mà còn mang những ý nghĩa mới tinh tế, đa dạng hơn nhiều Nó vừa phải đảm bảo tính chính xác, tính hình tượng vừa có tính truyền cảm để phát huy được hiệu quả nghệ thuật cao nhất Như tác

giả Mã Giang Lân đã nhận xét: “Một trong những nét độc đáo của hoạt động sáng tạo thơ ca là việc bố trí chữ, tạo nghĩa mới cho chữ Cùng một chữ ấy nằm trên một trục hình tuyến ngôn ngữ nhưng lại biểu hiện nhiều chiều của nghĩa Ở đây không chứa đựng với tư cách là từ đồng nghĩa mà là từ đa nghĩa Chính từ đa nghĩa tạo nên độ sâu cảm xúc của thơ, tạo nên các tầng nghĩa và sự biến hóa linh hoạt của câu thơ, hình ảnh thơ, hình tượng thơ” [27, tr.21] Do vậy, ngữ nghĩa trong thơ phong phú hơn

nhiều so với ngữ nghĩa trong giao tiếp đời thường và trong văn xuôi

Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ giàu sức khơi gợi, từ ngữ trong thơ không chỉ gọi tên sự vật, hiện tượng mà còn gợi ra nhiều liên tưởng, tưởng tượng trong tư duy người tiếp nhận Họ không chỉ tìm thấy ở từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ thơ những thông tin

“bề mặt” mà còn tìm thấy cả những “trầm tích” ngữ nghĩa của câu chữ Lúc này, ngôn ngữ thơ đã đạt đến độ hàm súc “ý tại ngôn ngoại” Và người đọc có thể đồng sáng tạo

cùng với người nghệ sĩ để tìm hiểu đến tận cùng sức mạnh biểu đạt của ngôn ngữ thơ

Đó chính là điều cốt tử của thơ Hiểu như vậy, chúng ta nhận thấy ngôn ngữ thơ trở thành một thứ gì đó chưa từng được nói hoặc chưa từng được nghe Và trong quá trình vận động của ngôn ngữ thơ ca cái biểu hiện và cái được biểu hiện luôn xâm nhập và chuyển hóa vào nhau tạo ra cái khoảng không ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo nên sức hấp dẫn kì lạ cho ngôn ngữ thơ Nó đòi hỏi

người đọc đến với thơ bằng cả tâm hồn mình để có thể cùng “vào mã” với người nghệ sĩ

để “giải mã” những lớp ngữ nghĩa tiềm tàng trong từng câu chữ

1.2.2.3 Về ngữ pháp

Cũng như phương diện ngữ âm, ngữ nghĩa, phương diện ngữ pháp của ngôn ngữ thơ cũng mang nét khác biệt với văn xuôi Điều khác biệt trước tiên thể hiện ở sự phân chia dòng thơ Dòng thơ có khi còn được gọi là câu thơ, nhưng trên thực tế dòng thơ không hoàn toàn trùng khớp với câu thơ xét về cú pháp Dòng thơ có thể nhỏ hơn

Trang 23

hoặc bằng, thậm chí lớn hơn câu thơ và ngược lại Nghĩa là có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có những dòng thơ lại bao gồm nhiều câu

Cách lựa chọn từ ngữ nhiều lúc không theo trật tự bình thường, các thành phần trong dòng thơ, trong câu thơ thường bị đảo lộn Về cấu trúc cú pháp của câu thơ,

Nguyễn Lai đã nhận xét: “Cấu trúc cú pháp của câu thơ thường khó phân tích theo nguyên tắc logic của ngữ pháp thông thường nhơ trong văn xuôi” [29, tr 129] vì cấu

trúc của ngôn ngữ thơ thường không bị ràng buộc bởi các quy định chặt chẽ như câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Người nghệ sĩ với những ý đồ nghệ

thuật riêng của mình, có thể sáng tạo và sử dụng các kiểu câu có cấu trúc “bất quy tắc” Đó là những câu “chệch” ra khỏi quỹ đạo của trật tự tuyến tính thông thường mà

các đơn vị ngôn ngữ luôn phải tuân thủ, bao gồm câu đảo ngữ, câu tỉnh lược, câu tách biệt, câu trùng điệp, câu vắt dòng, câu có sự kết hợp bất thường về nghĩa Ngoài ra

còn có cách liên kết từ mang tính “lạ hóa” tạo nên những tác động mạnh mẽ và những

gợi mở phong phú trong lời thơ Việc sử dụng phổ biến các kết cấu này không làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, chính điều

đó tạo ra, đem lại những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca, đem hết khả năng vô tận của ngôn ngữ thơ trong việc chở tải những trạng thái tinh tế, bí ẩn của thế giới và tâm hồn con người, làm nên sức ám ảnh của thơ

Có thể nói, ngữ pháp thơ ca là loại ngữ pháp đặc biệt độc đáo, đầy ma lực đối với con người Khám phá ngữ pháp thơ ca là con đường ngắn nhất để chúng ta tìm ra được phong cách riêng của mỗi nhà thơ, tìm ra được những dấu ấn sáng tạo mang tính

cá nhân của người nghệ sĩ

Tóm lại, ta có thể dẫn ra đây ý kiến của Mã Giang Lân: “Thơ trước hết là ngôn ngữ với màu sắc âm thanh, nhịp điệu, với những cấu trúc đặc biệt Mỗi chữ đứng riêng có ý nghĩa riêng, nhưng trong trường hợp khác, trong những cấu trúc khác sẽ

có những ý nghĩa khác Mỗi chữ mỗi từ không chỉ là xác mà là hồn, là độ sâu ngữ nghĩa, độ sâu của ngân vang, của cảm quan nghệ thuật” [27, tr.149] Đúng vậy, qua

ba đặc trưng về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ta thấy ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nó là sản phẩm thể hiện tài năng, sự sáng tạo mang phong cách riêng của từng nhà thơ

Trang 24

1.3 Giới thiệu về văn học Thái Nguyên và các tác giả nữ

1.3.1 Giới thiệu về văn học Thái Nguyên

Thái Nguyên là mảnh đất có giá trị văn hóa từ lâu đời, đó là mầm sống cho tiến trình phát triển văn học Văn học dân gian Thái Nguyên vừa chứa đựng nguồn sống chảy trong nguồn mạch văn hóa cộng đồng, vừa không ngừng tích tụ những nét bản sắc của Thái Nguyên trong lịch sử Văn học dân gian Thái Nguyên là tổng giá trị văn học dân gian của các thành phần dân tộc anh em đã từng cộng cư và quần tụ từ trước khi Thái Nguyên có địa danh hành chính là bộ Vũ Định thời Hùng Vương Trải qua biến thiên của lịch sử gắn với mỗi thời đại thì văn học dân gian Thái Nguyên vẫn tiếp tục tích tụ tinh hoa bằng các loại hình văn học dân gian Loại hình tự sự dân gian bao

gồm: Thần thoại Thái Nguyên (Sự tích các dân tộc Tày, Nùng, Mèo, Dao là anh em); truyền thuyết Thái Nguyên (Sự tích đền Cô Thắm, sự tích núi cô Tiên, núi Đong Quân…); cổ tích Thái Nguyên (Sự tích Thôm Toòng, sự tích ruộng Thác Đao…);

truyện ngụ ngôn, truyện thơ và truyện cười Thái Nguyên ít hơn các thể loại khác về số lượng và chưa hoàn thiện để đạt đến chất lượng ở đỉnh cao Loại hình trữ tình dân gian mà bao trùm là ca dao Ca dao hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các thể loại hát dân

ca trong đời sống dân gian các dân tộc Thái Nguyên đặc biệt là hàng loạt các bài sli lượn Thái Nguyên cho thấy sự giao thoa mạnh mẽ giữa hai nền văn hóa Kinh – Tày,

từ địa danh ngôn ngữ đến cung cách phô diễn tình cảm

Loại hình trung gian ở đây bao gồm tục ngữ, các loại bài hát mo, hát pụt, loàn, mại xòe, phuối rọi, ngũ luận ngôn, tông nặc…còn ít được nghiên cứu từ nguyên dạng trong đời sống văn nghệ Thái Nguyên

Văn học dân gian Thái Nguyên là kho báu trí tuệ, tâm hồn tình cảm thẩm mĩ cao đẹp phong phú của nhân dân các dân tộc ở Thái Nguyên Nó là cội nguồn cho sự phát triển của văn học nói chung và thơ ca nói riêng sau này

Sau cách mạng tháng Tám thành công, đồng thời với các nhà văn đàn anh khắp mọi miền đất nước là các tác giả là người dân tộc ít người quê gốc tại Việt Bắc như Bàn Tài Toàn, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu,…cùng những tác phẩm viết bằng tiếng Tày, Dao, Nùng góp phần làm cho văn học kháng chiến của đất nước trở nên đa dạng, đa diện, đa sắc

Trang 25

Năm 1957, hội văn nghệ Việt Bắc được thành lập tại thị xã Thái Nguyên đã như một cuộc hội tụ lớn của văn nghệ sĩ 6 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đưa văn học sang một thời kì mới, toàn Đảng, toàn dân tập trung vào nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm Những tác phẩm sáng

tác trong thời kì này đều mang hơi thở nóng hổi của thời đại: Trận địa giữa ruộng bậc thang (Nông Minh Châu), Người chia ánh sáng (Vi Hồng), Suối Lê Nin (Trần Văn

Loa)… Cùng sự xuất hiện của các tên tuổi mới: Ma Trường Nguyên, Hoàng Minh Tường, Chu Mạnh Hải….đã làm nên một diện mạo mới cho văn học Thái Nguyên trên văn đàn cả nước

Bước sang thời kì thống nhất đất nước, đội ngũ văn học Thái Nguyên vẫn tiếp tục thế mạnh, các nhà văn đã hướng vào những hiện thực mới của xã hội Tiêu biểu trong

thời kì này là hai tiểu thuyết “Đất bằng” và “Vãi đàng” của nhà văn Vi Hồng (1980),

được đánh giá như một hiện tượng tiểu thuyết Việt Nam thập kỉ 80 của thế kỉ XX Năm 1987, sự ra đời của hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho văn học tỉnh nhà Xuất hiện của hàng loạt các tác giả như: Hà Đức Toàn, Nguyễn Minh Sơn, Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu…

Sang thế kỉ XXI, có một điều đáng nói là khi văn xuôi chỉ phát triển bình lặng thì thơ lại có những bước tiến vượt bậc mà có lẽ Thái Nguyên chưa bao giờ đạt được Ba

tập thơ của Nguyễn Thúy Quỳnh (Mưa mùa đông), Võ Sa Hà (Cánh chim về núi), Minh Thắng (Rét ngọt) được giải Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội Văn học nghệ

thuật Việt Nam trong các năm 2004, 2006; ba giải thưởng thơ của hai tờ báo lớn: Văn nghệ Quân đội, báo Văn Nghệ trao cho ba tác giả: Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị Bạch Liễu và Võ Sa Hà đã đưa vị thế thơ của Thái Nguyên lên một tầm cao mới Một sự kiện văn học nghệ thuật không thể không nhắc tới đó là sự ra đời của báo văn nghệ Thái Nguyên năm 1991 – đây là diễn đàn không thể thiếu của giới văn nghệ

sĩ nói riêng và nhân dân quan tâm đến văn học nghệ thuật Thái Nguyên nói chung Nói riêng về thơ Thái Nguyên luôn có những bước thăng trầm Vào khoảng vài chúc năm đầu, kể từ khi hòa bình lặp lại, nếu coi Bàn Tài Toàn, Nông Quốc Chấn…là

Trang 26

những người đã sống và hoạt động lâu năm ở Thái Nguyên là nhà thơ của xứ Thái nhưng nhìn chung đội ngũ thơ Thái Nguyên mặc dù trải qua năm tháng rèn luyện mới chỉ dừng lại ở ý nghĩa phong trào, thiếu hẳn tính chuyên nghiệp Vào đầu thế kỉ XXI

đã có sự thay đổi về chất Võ Sa Hà từ lối viết truyền thống cùng sự tiếp cận thi pháp hiện đại đã tạo nên một hình tượng, ngôn từ thơ đầy ám ảnh Nguyễn Thúy Quỳnh cùng những bộc bạch nội tâm, giàu triết lí thấp thoáng hình ảnh thơ siêu thực Lưu Thị Bạch Liễu với giọng điệu lạnh lùng, bất an chất chứa nhiều ẩn số Trần Thị Vân Trung

phiêu du giữa làng thơ để thỏa niềm khao khát tìm được “Có một tình yêu bất tử như hoa”…mỗi người một vẻ, một đóng góp đã thổi bùng ngọn lửa thi ca Thái Nguyên

là sĩ quan an ninh, công an tỉnh Thái Nguyên, phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng thường trú tại Thái Nguyên Hiện nay, chị đang công tác tại văn phòng hội nhà báo tỉnh Thái Nguyên

Lưu Thị Bạch Liễu là cây viết của xứ sở “thủ đô gió ngàn” Việt Bắc, của quê hương Thái Nguyên có chè ngon nổi tiếng, đầu nguồn của con sông Cầu “nước chảy

lơ thơ” làm nên những làng quan họ đắm say lòng người

Thơ của chị không cố làm duyên, mà nồng nàn, gợi nhớ “lúng liếng là lúng liếng ơi/ Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền” Chính vì vậy, với hai tập thơ, chị có hai giải thưởng văn học Tập “Cõi tôi” (2007) đoạt giải của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và tập “Sông Cầu vẫn chảy đâu đây” (2009)

đoạt giải của Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Từng là phóng viên của Báo Sài Gòn Giải Phóng, Lưu Thị Bạch Liễu có điều kiện

đi và đến các vùng quê, nhiều nhất là các vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc Thơ của chị là

Trang 27

bằng cảm xúc nhưng yêu thương khao khát, ước mong, góp một lời cảnh báo về môi trường…

1.3.2.2 Nguyễn Thúy Quỳnh

Nguyễn Thúy Quỳnh sinh ngày 9 tháng 10 năm 1968, quê quán Nghĩa Hưng – Nam Định nhưng có nhiều năm sinh sống tại xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Hiện Thúy Quỳnh đang sinh sống tại phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên

Tốt nghiệp đại học khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Việt Bắc năm 1989, Nguyễn Thúy Quỳnh đã từng là giáo viên tại trường phổ thông trung học Đại Từ, rồi chuyển sang làm công tác tại tỉnh Đoàn Thái Nguyên Đến nay là phó chủ tịch Hội – Tổng biên tập báo Văn Nghệ Thái Nguyên

Nguyễn Thúy Quỳnh say mê sáng tác văn chương từ rất sớm Năm 1982, tác phẩm đầu tay của chị đã được đăng trên tạp chí Văn nghệ Bắc Thái Kể từ năm 2003, công tác tại Hội Văn học nghệ thuật tỉnh, Nguyễn Thúy Quỳnh đã thực sự bước vào sáng tác văn học với tư cách là một nhà văn, một nhà báo chuyên nghiệp

Thời gian này, Nguyễn Thúy Quỳnh liên tiếp đoạt nhiều giải thưởng văn học ở Trung ương như giải B của ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật

toàn quốc Việt Nam (tập thơ “Mưa mùa đông”); giải thưởng C tạp chí văn nghệ quân

đội (2003-2004), tạp chí văn hóa các dân tộc Việt Nam… Cũng trong thời gian này Nguyễn Thúy Quỳnh được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Đến nay, Nguyễn

Thúy Quỳnh đã xuất bản các tập thơ “Giá mà em từ chối” (NXB Văn hóa dân tộc - 2002), “Mưa mùa đông” (NXB hội nhà văn - 2004), “Những tích tắc quanh tôi”

(NXB hội nhà văn - 2011)

Trong các nhà thơ nữ ở Thái Nguyên, Nguyễn Thúy Quỳnh được nổi lên là giọng thơ đẹp, giàu trí tuệ Thơ chị là tiếng hát thẳm sâu của trái tim nhân hậu giàu yêu thương với cuộc sống và con người

1.3.2.3 Trần Thị Vân Trung

Trần Thị Vân Trung tên thật là Trần Thị Việt Trung, sinh ngày 02 tháng 07 năm

1956, quê quán xóm Làng Đông, xã Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 28

Nguyên là trưởng ban quản lý khoa học – Đại học Thái Nguyên, hiện nay là PGS.TS giám đốc nhà xuất bản đại học Thái Nguyên, là hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên Đã nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu và làm công tác lãnh đạo nhưng Trần Thị Vân Trung vẫn chăm chú vào công việc sáng tác thơ Ngoài các cuốn sách về nghiên cứu,

phê bình văn học, Trần Thị Vân Trung đã xuất bản bốn tập thơ: “Xin đừng té nước vào em” – 1989, “Sao đôi xa xăm” – in chung với Hà Đức Toàn năm 1991, “Khoảng cách cuối cùng” năm 1999, đến năm 2011 tác giả đã tập hợp các bài thơ hay của mình vào tập thơ “Hoa bất tử” Các tập thơ của Trần Thị Vân Trung luôn chiếm được cảm

tình của độc giả

Trong khá nhiều nhà thơ nữ Thái Nguyên, Trần Thị Vân Trung là một nhà thơ có giọng điệu không thể lẫn Đây là một hồn thơ tài hoa, nhạy cảm, tinh tế và đầy nữ tính Thơ của chị là tiếng hát đẹp mà buồn, đầy khắc khoải về tình yêu hạnh phúc đời thường Bên cạnh cảm hứng trung tâm ấy, Trần Thị Vân Trung còn có những tứ thơ xinh xắn, đắm say một tình yêu dành cho thiên nhiên tươi đẹp của quê hương Thái Nguyên

Nhà thơ Vân Trung xuất hiện trên thi đàn vào những năm 90 của thế kỉ XX như một ngọn lửa rực rỡ, dịu ấm nữ tính, đầy ắp đam mê và nỗi đau muôn thuở của người phụ nữ tài hoa Nhưng rồi chị đã tạm biệt thơ ca để chuyển sang một niềm đam mê sang một lĩnh vực khác Dù thế những bài thơ của chị cùng với sáng tác của một vài nhà thơ nữ Thái Nguyên khác đã cắm mốc đầu tiên cho hành trình thơ nữ Thái Nguyên đi tới hôm nay Vinh dự thuộc về những người khai phá và mở đầu

Trang 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VỀ THỂ THƠ, VẦN, NHỊP VÀ CÁCH TỔ CHỨC

BÀI THƠ TRONG THƠ NỮ THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm về thể thơ

“Thể loại như xương cốt, cái làm nên hình thù, vóc dáng cơ bản để từ đó nhà thơ đắp lên da thịt và thổi hồn vào mình, khiến bài thơ trở thành thực thể và tồn tại với đời” [38, tr.230] Nói cách khác, thể loại là yếu tố rất quan trọng để tạo nên chỉnh thể

một thi phẩm, nó thuộc về phương diện hình thức nhưng lại bao chứa nội dung, vì thế

nó góp phần quyết định sức sống của một bài thơ

Lịch sử văn học cũng là lịch sử quá trình hình thành và phát triển của các thể loại Riêng với thơ, đến nay có thể kể đến các thể thư như: thơ Đường luật, thơ hai chữ, thơ

ba chữ, thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ lục bát, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi… Mỗi thể loại đều có ưu thế và nhược điểm riêng, có thể loại chỉ thịnh hành trong một giai đoạn nhất định, có thể loại đi suốt hành trình thơ Việt, có thể loại đóng khung trong một hình thức cố định, có những thể loại rất linh hoạt và có những biến tấu đa dạng Sự phân định các thể loại được tiến hành chủ yếu dựa trên các yếu tố: số tiếng của mỗi dòng, số dòng thơ, cách phối thanh và hiệp vần

Các nhà thơ nữ Thái Nguyên vừa kế thừa các thể thơ dân tộc truyền thống, vừa tiếp thu ảnh hưởng từ văn học phương Tây và từ chính các bậc đàn anh trong thi đàn thơ hiện đại đương thời Họ đã vận dụng nhiều thể loại để dệt lên trang thơ của mình Tiến hành khảo sát thể loại trong 342 bài thơ của ba nhà thơ (với tiêu chí số tiếng trong câu) chúng tôi nhận thấy các tác giả đã sử dụng các thể thơ: bốn chữ, năm chữ, sáu chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát, tự do và thơ văn xuôi Tần suất xuất hiện của các thể loại đó được thể hiện cụ thể như sau:

Trang 30

Bảng 2.1: Bảng thống kê các thể loại thơ Nhà thơ

Thể thơ

Số bài Tỉ lệ% Số bài Tỉ lệ% Số bài Tỉ lệ%

2.1.1 Thể thơ bốn chữ

Thể thơ bốn chữ khá phổ biến trong tục ngữ, ca dao, dân ca, vè và thơ Trong tục ngữ, chúng ta gặp nhiều câu đặt theo thể thơ bốn chữ tạo thành từng cặp hai câu:

“Gần mực thì đen Gần đèn thì sáng”

“Khôn đâu đến trẻ Khỏe đâu đến già”

Nhìn chung, trong thơ ca dân gian thể thơ bốn chữ có hai loại vần là vần chân và vần lưng (thường thường thì đan xen nhau) và nhịp là nhịp hai

Các nhà thơ Việt Nam từ sau 1930 trở lại đây vẫn viết đều thể thơ bốn chữ này: Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Tố Hữu, Hồ Chí Minh… Nhịp và vần rất đa dạng và phong phú Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, các nhà thơ vẫn viết được nhiều bài thơ hay ở thể thơ này Nhịp thơ bốn chữ (phổ biến là nhịp hai) gần với các bài đồng

Trang 31

dao, đây cũng là nhịp thích hợp với tâm hồn trẻ thơ Bác Hồ trong kháng chiến chống

thực dân Pháp đã sử dụng nhịp thơ này để viết bài thơ Khen tặng hai cháu liên lạc trong bộ đội chiến khu II:

“Bác được tin rằng Cháu làm liên lạc

Bị giặc bắt được Lại trốn thoát ngay Mang hai lính Tây Theo về bộ đội Thế là cháu giỏi…”

Trong sáng tác của các nữ sĩ Thái Nguyên, ta nhận thấy số lượng các bài thơ làm theo thể thơ bốn chữ tuy không nhiều nhưng đều có ở cả ba nhà thơ, với tỉ lệ khác nhau Cả ba nữ sĩ có tổng 6 bài thơ bốn chữ, trong đó nhiều nhất là thơ của Lưu Thị Bạch Liễu với 4 bài

Để kể lại một phần truyện cổ tích Tấm Cám bằng thơ, Bạch Liễu đã dùng thể thơ bốn chữ với nhịp thơ 2/2 khá linh hoạt, dùng đúng niêm luật thơ vần bằng/ trắc ở

từ thứ hai và bốn:

“Đung đưa/ cánh võng Chợt giấc/ xoan đào Bỗng mùa/ thị chín

Ùa về /nôn nao

Trời đang/ nổi bão Cám mang/ giỏ về

Áo rách/ nón mê Tìm đâu/ cá bống….”

(“Xoan đào” – Bạch Liễu) Một điều dễ nhận thấy, Lưu Thị Bạch Liễu thích lãng mạn hóa nỗi cô đơn và nó lại được thể hiện trong tứ thơ bốn chữ vốn ít ai dùng để miêu tả tâm trạng với nhịp thơ 2/2

Trang 32

“liễu xanh/ xõa tóc thả lưới/ mặt hồ kéo được/ chiếc bóng một người/ bơ vơ”

(“Một mình - 3” – Bạch Liễu) Đến với thơ Thúy Quỳnh, tác giả đã dùng thể thơ bốn chữ với nhịp thơ 2/2 chậm rãi, đều đều để kể về cảnh buồn bã, lặng lẽ trong ngôi nhà có người ốm đúng là

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”:

“…Anh nằm/ lặng lẽ Khung giường/ gầy khô

Mớ rau/ héo úa Bát cơm/ chỏng chơ

Chị ngồi/ thành tượng Nóc nhà/ mưa tuôn

Có hai/ hốc mắt Đọng đầy/ đêm đen…”

(“Thăm nhà bạn” - Thúy Quỳnh) Mỗi nhịp thơ trong bài như diễn tả nhịp thở mệt nhọc, yếu ớt, kém sức sống của con người, sự vật trong căn nhà người bạn quạnh quẽ, ảm đạm ấy Thúy Quỳnh chỉ có một bài thơ bốn chữ, nhưng đây quả là bài thơ có giá trị cả về thể loại lẫn nội dung biểu cảm

Cũng như Thúy Quỳnh, Vân Trung chỉ có một bài dùng thể thơ bốn chữ kết hợp nhịp thơ 2/2; 2/3,;1/2/1 không phải tả nỗi buồn mà là tả cảnh thiên nhiên chùa Hương mùa lễ hội với tình yêu thiên nhiên, cảnh đẹp và giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc

Khí thiêng / sông núi Non nước /, mây lành Ngàn năm / hội tụ Chùa /– trên cao/, xanh

Trang 33

Tháng Giêng / trẩy hội Ngàn / chiếc thuyền xinh Như / muôn cánh én Lướt về / non xanh…

(“Chùa Hương” – Vân Trung) Đọc bài thơ ta như chìm vào không khí lễ hội ở chùa Hương vào tháng Giêng, sông núi đất trời hư ảo, huyền bí gợi sự thiêng liêng của xứ sở Dân gian ta có câu:

“Tháng giêng là tháng ăn chơi”, đi vãn cảnh, chùa chiền luôn được người dân Việt

Nam coi đó là niềm vui, giá trị tinh thần quý giá Phải chăng, khi làm bài thơ này, nữ

sĩ của chúng ta đang thả hồn vào khung cảnh thiên nhiên huyền ảo của núi non trong màn sương mờ trên chiếc thuyền chầm chậm trên sông gợi sự thư thái của tác giả, thể thơ bốn chữ phần nào gợi cho ta nhận định ấy

Về cấu trúc, khổ thơ là không bắt buộc, có thể là hai dòng hoặc nhiều dòng thơ hơn, cách gieo vần cũng tự do hơn, linh hoạt hơn, có khi không có vần nhưng bao giờ cũng có nhịp

2.1.2 Thể thơ năm chữ

Thơ năm chữ là một trong những thể thơ tiêu biểu của của hiện đại Việt Nam Cũng như các thể thơ bảy chữ, tám chữ, lục bát, song thất lục bát, tự do thể thơ năm chữ được các nhà thơ Việt Nam sử dụng làm hình thức sáng tạo rất quen thuộc Với

số lượng mỗi dòng năm tiếng, thể thơ năm chữ đã hình thành từ văn học dân gian, phổ biến là câu đố, vè, tục ngữ và hát dặm Nghệ Tĩnh Các bài hát giặm gồm nhiều khổ thơ năm chữ, theo nhịp 3/2, hát giặm là một thể ca gieo vần lưng và vần chân (chủ yếu

là vần chân) Vần chân trong hát giặm có hai chức năng: vần bằng liên kết với các câu

trong một khổ với nhau

Thơ năm chữ cũng là thể thơ quen thuộc trong thơ cổ phong (ngũ ngôn cổ phong) và thơ Đường (ngũ ngôn Đường luật) Các nhà thơ Việt Nam đã tạo ra nhiều kết cấu, nhiều vần điệu cho thơ năm chữ

Trong thơ ca hiện đại, ta gặp những bài thơ năm chữ, phá vỡ các quy tắc của hát giặm và ngũ ngôn Đường luật, ngắt ra từng khổ bốn câu một có dáng dấp như một

Trang 34

bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Chẳng hạn, bài thơ sử dụng nhiều vần bằng sắp xếp hài hòa giữa tiết tấu và thanh điệu tạo nên lối diễn đạt nhuần nhị, nhịp nhàng từ đầu đến cuối:

Dữ dội / và dịu êm

Ồn ào / và lặng lẽ Sông / không hiểu nổi mình Sóng / tìm ra tận bể

(“Sóng” – Xuân Quỳnh)

Ba nhà thơ nữ Thái Nguyên tỏ ra có ưu thế trong thể loại thơ năm chữ Số lượng bài thơ năm chữ chiếm tỉ lệ lớn thứ hai trong tất cả các thể loại (chỉ sau thơ tự do) Thể thơ năm chữ của các tác giả nữ Thái Nguyên tiếp thu một cách sáng tạo âm hưởng mạnh mẽ, dứt khoát của hát giặm Xen kẽ nhịp nhàng, nhuần nhuyễn, tự nhiên nhịp thơ 2/3, 3/2 để nhấn mạnh, tạo ấn tượng, thể hiện cảm xúc hoài niệm, đằm thắm, thiết tha một cách chân thực mộc mạc, ở mỗi tác giả đều có cách thể hiện riêng, đầy sức sáng tạo

Vân Trung là nhà thơ thuần truyền thống hơn cả, là người có số lượng bài thơ

năm chữ nhiều nhất trong ba nhà thơ với 20 bài chiếm 15,9% tuyển tập thơ “Hoa bất tử” cụ thể ở những bài như: Bâng khuâng, Tím trang thơ, Hoa bất tử, Mây trắng, Anh

đi thi, Sóng gọi gì nhau, Xa xăm… Chẳng hạn với thơ năm chữ có nhịp thơ 2/3 đều đều, nhẹ nhàng trong bài “Tím Huế”

Hôm qua / còn ngỡ ngàng Khi nói / màu tím Huế Hôm nay / đầy xốn xang Cái màu /… rưng rưng lệ

Bài thơ kết thúc mà để lại trong lòng người đọc cảm giác bâng khuâng, rưng rưng lệ giống tác giả bởi cách hiệp vần “ang” trong các từ láy “ngỡ ngàng”, “xốn xang” Đó là tâm trạng chung của bất kì ai khi đến Huế đều bị “thôi miên” bởi màu

tím mộng mơ – màu rất Huế

Với Lưu Thị Bạch Liễu, chị làm thơ năm chữ không ít và cũng khá thành công Thơ chị thể hiện quan điểm sống, cảm xúc, suy tư của người phụ nữ một cách khá thông minh, hóm hỉnh Chẳng hạn, để thể hiện quan điểm sống hết mình, không màng

Trang 35

danh lợi tác giả sử dụng những nhịp thơ xen kẽ: 2/3; 1/4 ; 3/2 thanh bằng nhiều hơn thanh trắc, liên kết các khổ thơ bằng hiệp vần chân liền mạch, dễ đọc, gợi sự hấp dẫn:

Không mơ / làm gỗ quý Không mộng / làm thuốc tiên Chỉ góp / một nhành củi Sưởi ấm / lòng nhân gian

Hồn / trong cây bạch đàn

Ôm Trương Chi / đáy cốc Dẫu thể xác / không còn Tình / vẫn vang khúc hát

(“Chân dung”- Bạch Liễu)

Một trái tim thi sĩ yêu thiên nhiên, luôn lắng nghe hơi thở, bước đi của thời gian với không gian quanh mình, Bạch Liễu cho ta ấn tượng về sự nhạy cảm đặc biệt trước vạn vật Xuân, hạ, thu, đông được nhận diện trong thơ chị qua những chi tiết hết sức nhỏ như một Xuân Diệu thứ hai vậy, chẳng hạn qua nhịp thơ đều đều xen kẽ 2/3; 3/2 của thể thơ năm chữ:

Sáng xuân về / gõ cửa Bằng tiếng mưa / rì rào Sáng hè / gõ vào cửa Bằng tiếng gió / xôn xao

Mùa thu / mải đi đâu

Mà không về / gọi cửa Trái bưởi / chín ngọt lừng Hương thơm / thay tiếng gõ

……

(“Mở cửa ra vào” - Bạch Liễu)

Trang 36

Bạch Liễu còn thành công ở thể thơ năm chữ với các bài như: Sông Cầu, Du xuân, Một mình, Gọi ngày xưa, Tặng một người, Lời dặn, Về Bắc Kạn…

Đọc thơ 5 chữ của Thúy Quỳnh chúng ta thấy gợi lên nhịp êm ái, thong thả,

cảm xúc dàn trải, đều đặn như một số bài thơ: Gửi, Với cỏ, Ngẫu hứng cho mình và…, Tiễn bạn, Mùa, Hẹn… Trong bài “Đợi”, để diễn tả cảm xúc chờ mong da diết, tác giả

đã sử dụng thể thơ năm chữ với nhịp thơ 1/4; 2/3; 3/2 Nhịp thơ đan xen như tâm trạng thổn thức, khắc khoải không nguôi của trái tim đang yêu, luôn đợi chờ người yêu trong hi vọng và mòn mỏi

Đợi anh,/ em đợi anh Những chiều dài / hi vọng Anh,/ anh sao không tới Nhớ thương / đầy mắt trong

Em khắc khoải / chờ mong Ngày qua, / ngày lại đến Hành trang: / lời anh hẹn Băng mình / qua tháng năm

Để thương mãi / con tằm Suốt đời /vương tơ óng Thương vầng trăng / thầm lặng Đợi ai /mà cô đơn

Đọc thơ 5 chữ của ba nhà thơ nữ trên, ta thấy có sự đối lập giữa dung lượng ngắn, nhỏ hẹp của câu chữ với sự tràn trề, mãnh liệt của tình cảm, cảm xúc Điều dễ nhận thấy nhất trong thơ 5 chữ của thơ nữ Thái Nguyên đó chính là có độ dài rộng và lắng sâu của nội tâm Đây chính là khám phá sáng tạo của các nhà thơ nữ Thái Nguyên

Những đặc trưng về hình thức của các nhà thơ nữ Thái Nguyên trên đều kiến tạo nên lời thơ luôn có sự luân chuyển, đột phá âm hưởng, giọng điệu thơ nhịp nhàng,

Trang 37

uyển chuyển đượm nét dịu dàng, đằm thắm không kém phần bản lĩnh của người phụ

nữ Thái Nguyên

2.1.3 Thể thơ bảy chữ

Thơ bảy chữ là thể loại rất quen thuộc trong văn học viết Việt Nam Về cấu trúc khổ thơ có nhiều dạng Thông thường một khổ thơ thường có bốn câu Có bài có một khổ (bốn câu) như bài thơ tứ tuyệt (thất ngôn tứ tuyệt) và có bài có nhiều khổ thơ giống như nhiều bài tứ tuyệt ghép lại trong một hơi thơ, tứ thơ chung của toàn bài Có trường hợp khổ thơ gồm tám câu giống như bài thơ bát cú (thất ngôn bát cú) hoặc không chia khổ, các câu thơ nối tiếp nhau kéo dài hết bài thơ như thể hành Sau này các nhà thơ còn có nhiều sáng tạo trong cấu trúc khổ thơ: khổ thơ hai câu, ba câu, sáu câu…Nhịp thơ quen thuộc là 2/2/3 (hoặc 4/3) có khi ngắt nhịp 3/2/2 (hoặc 4/3)

Vần thơ thể bảy chữ cũng có nhiều loại như thơ bốn chữ, năm chữ và sáu chữ Nghĩa là có gieo vần bằng trắc, có vần liên tiếp theo lối tứ tuyệt, vần liên tiếp từng cặp một, vần gián cách, vần ôm, vần hỗn hợp Chẳng hạn như trong thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều bài thơ bảy chữ theo thể thất ngôn tứ tuyệt:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà

(“Cảnh khuya” – Hồ Chí Minh) Theo thống kê, phân loại của hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức

trong công trình nghiên cứu: “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại thì trong 168 bài thơ được trích trong cuốn Thi nhân Việt Nam, thơ bảy chữ chiếm tỷ lệ cao nhất với 68 bài chiếm 40,5%” [47, tr.76] Và theo thống kê của chúng tôi ở luận văn này, trong ba

tác giả nữ Thái Nguyên: Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung có 14 bài thơ chiếm tỉ lệ khiêm tốn 12,3% Tuy số lượng không nhiều nhưng thơ bảy chữ đều xuất hiện trong thơ của cả ba nữ sĩ và điều đáng nói là chất lượng không kém ai, bởi ở đây thơ luôn có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, những

sự cách tân độc đáo, hấp dẫn

Trang 38

Trước hết, ta đến với nữ sĩ Thúy Quỳnh – người mang đến chùm thơ thất ngôn

tứ tuyệt đặc sắc, tiếp thu tứ thơ truyền thống rất chuẩn mực

Ta vùi thương nhớ / bên bờ cát Chiều hóa thành ta,/ hóa ngẩn ngơ Thuyền neo / bến lặng / xa mùa bão

Ta neo vào đâu,/ mùa – tương – tư?

(“Chiều Đồ Sơn” - Thúy Quỳnh)

Một ngàn năm trước / có ai trông

Mà đến Hồ Tây / sóng ngập lòng Đặt dấu môi này / vào đáy nước Ngàn năm quay lại /thấy người không?

(“Ghi ở Hồ Tây, năm 2000” - Thúy Quỳnh)

Em chờ đợi / mà không về kịp

Cô đơn em / ta nợ một đời Dáng kiêu hãnh / sánh cùng trời đất Hương nồng nàn / riêng chỉ ta thôi

(“Hoa hồng” - Thúy Quỳnh) Đọc thơ thất ngôn của Thúy Quỳnh ta cứ ngỡ đang gặp thơ Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương… trong thơ ca Trung đại – giai đoạn đỉnh cao của thơ thất ngôn bởi nhịp thơ 4/3, 3/4 xen lẫn nhịp 2/2/4

Đến với thơ Vân Trung, nhà thơ còn lưu lại nhiều nét truyền thống nhất cũng

có 6 bài thơ bảy chữ:

Mưa dầm ẩm ướt như môi ướt Ngong ngóng người xa sắp trở về

Ơ kìa! Trời hửng hong chăn chiếu Chẳng có ai người – ngược sơn khê

Khuya vắng, đêm tàn, ôm gối chiếc Nồng nàn hơi thở… với mênh mông Giật mình, tỉnh giấc, giơ tay kéo Vào lòng…cả một…khối hư không!

(“Thơ trong ngày xa” - Vân Trung)

Trang 39

Bạch Liễu là nhà thơ mang phong cách hiện đại, mới mẻ nên khá khiêm tốn trong các thể thơ truyền thống, đặc biệt là thơ bảy chữ Nhưng vẫn có những dòng thơ bảy chữ miêu tả trạng thái thẩn thơ:

Một ngày làm gì cũng không xong Thì ra bờ sông xem cát reo

Cát đánh tan mình theo bọt sóng Chẳng ai để lại vết chân nào

Một ngày làm gì cũng không xong Thì ra bờ sông xem ngô trổ

Phấn theo gió cuốn mãi phương nào Phất phơ run vài cành hoa rũ

(“Một chiều” - Bạch Liễu )

Có thể thấy, đến thơ Bạch Liễu luật thơ bảy chữ của truyền thống đã hoàn toàn

mờ nhạt, thể hiện một phong cách mới, hiện đại

2.1.4 Thể thơ tự do

Thơ tự do xuất hiện ngay từ khi phong trào thơ Mới ra đời và ngày càng được khẳng định vị trí của mình trong nền thơ hiện đại với nhiều tìm tòi mới Thơ tự do là thể thơ không tuân theo những quy tắc về cách luật cố định Thơ tự do phóng túng trong cách biểu đạt, nhịp điệu khoáng đạt được cấu tạo bằng những câu thơ tự nhiên,

đa dạng về tổ chức kết cấu, có số lượng từ ngữ co giãn linh hoạt Về mặt hình thức, thơ tự do có thể có vần nhưng nó không trở thành một quy tắc chặt chẽ mà nhịp điệu lại nổi lên như một yếu tố chủ đạo Nhịp điệu ở đây không do các yếu tố cách luật xác định như trong thơ Đường, thơ lục bát…mà do những quy tắc nội tại, cảm xúc của nhà thơ

Sự phát triển của thơ tự do là để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thơ ca phải đi sâu vào các đề tài rộng lớn của cuộc sống, bắt nhịp với hơi thở thời đại Thơ tự do không phải là hình thức định trước của các nhà thơ khi sáng tác, mà là một hình thức định trước của các nhà thơ tìm đến với độ chín của tâm hồn, tìm thấy ở đó sự diễn tả phù

Trang 40

hợp nhất cho những trạng thái tinh vi của đời sống tinh thần, tình cảm, cho những đối tượng mà mình tâm đắc nhất

Thể thơ tự do được các tác giả nữ Thái Nguyên sáng tác với số lượng lớn nhất, đặc biệt chiếm ưu thế với 221 bài trong tổng số 342 bài của cả ba tác giả, chiếm 64,6% Chúng tôi nhận thấy đặc điểm chung về hình thức là sự phối xen: xen kẽ câu thơ dài ngắn (số lượng từ khác nhau) với nhau, phối hợp có vần và không vần

Chẳng hạn như trong thơ Lưu Thị Bạch Liễu có bài “Cõi tôi” :

một mình trên đường Đông trăng xanh

những đống lửa đống đồng run lên vì lạnh con đường như cây cầu

nối từ chơi vơi này sang chới với kia một mình trên đường Sương bước từ mờ mịt

vào mịt mờ

Bài thơ như một lời giãi bày tâm sự tự nhiên, nhịp điệu câu thơ thích hợp với nhịp điệu tâm hồn, sự phức tạp của nhịp thơ diễn tả bản nhạc tâm trạng phức hợp và huyền bí Thêm vào đó là cách trình bày bài thơ rất độc đáo của tác giả, không viết hoa đầu dòng, tất cả các câu trong bài đều viết thường giống nhau càng gợi sự tò mò cho người đọc Theo tác giả, tâm trạng cảm xúc con người là do tự nhiên, không thể xác định đâu là đầu, đâu là cuối, nó xuất hiện vô hình trong tâm tưởng của con người

Từ cách suy nghĩ độc đáo này mà trong cả tập thơ “Cõi tôi”, Bạch Liễu đều trình bày các bài thơ theo cách trên với những bài như: Gửi Hà Giang, Cõi tôi, Yêu anh em về

Cư Lễ, Người yêu, Về một bài thơ tôi đã lãng quên…

Thơ Vân Trung tạo nên một sức hấp dẫn kì lạ, dễ nhớ, dễ thuộc vì thơ chị không chỉ hiệp vần giữa các dòng thơ, câu thơ và còn hiệp vần rất nhiều ngay cả trong một câu thơ:

Ngày đăng: 02/11/2014, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam(1945 - 1975), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam(1945 - 1975)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
2. Vũ Tuấn Anh (2000), Tiếp cận nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2000
3. Aristote (1992), Nghệ thuật thi ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
4. Lê Bảo (2001), Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình (tái bản lần thứ nhất), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
6. Huy Cận, Hà Minh Đức (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (2011), Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
9. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2006), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2005
11. Hữu Đạt (1998), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1998
12. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2002
13. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
14. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
15. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
16. Hà Minh Đức (chủ biên) (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Hà Minh Đức (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
18. Hoàng Thúy Hà (2004), Đặc điểm ngôn ngữ thơ của các nhà thơ nữ Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: điểm ngôn ngữ thơ của các nhà thơ nữ Nghệ An
Tác giả: Hoàng Thúy Hà
Năm: 2004
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1992
20. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Bảng thống kê các thể loại thơ - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
Bảng 2.1 Bảng thống kê các thể loại thơ (Trang 30)
Bảng 2.2: Bảng thống kê vần chân, vần lƣng - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
Bảng 2.2 Bảng thống kê vần chân, vần lƣng (Trang 47)
Bảng  2.4: Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
ng 2.4: Bảng thống kê vần chính, vần thông, vần ép (Trang 53)
Bảng 2.5: Bảng các loại nhịp thơ 7 chữ - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
Bảng 2.5 Bảng các loại nhịp thơ 7 chữ (Trang 59)
Bảng 3.1: Bảng thống kê các kiểu từ láy           Nhà thơ - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
Bảng 3.1 Bảng thống kê các kiểu từ láy Nhà thơ (Trang 71)
Bảng 3.2: Bảng thống kê từ ngữ chỉ màu sắc - Đặc điểm ngôn ngữ thơ nữ Thái Nguyên qua tác phẩm của ba nhà thơ Lưu Thị Bạch Liễu, Nguyễn Thúy Quỳnh, Trần Thị Vân Trung
Bảng 3.2 Bảng thống kê từ ngữ chỉ màu sắc (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w