1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

64 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 430 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1. Tính độc đáo của mỗi loại hình nghệ thuật trước hết là do tính chất các phương tiện vật chất mà chủ thể sáng tạo dùng để xây dựng hình tượng loại hình đó quy định. Về mặt này, lẽ tự nhiên, văn học là nghệ thuật ngôn từ, yếu tố vật chất mang tính hình tượng của nó là lời nói của con người mà cơ sở là ngôn ngữ của một dân tộc nhất định. 1.2. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn hiện đại thuộc thế hệ 7X. Thành quả của chị trên con đường văn chương đã liên tiếp được khẳng định qua các giải thưởng: Giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II – năm 2000, giải B – Hội nhà văn Việt Nam năm 2001; Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ Ủy ban toàn quốc liện hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2000; Một trong “Mười gương mặt trẻ tiêu biểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng. Năm 2005 chị gây xôn xao giới văn nghệ, bạn đọc với tác phẩm “Cánh đồng bất tận”, sau này được giới báo chí Hàn Quốc đánh giá là: “Người phụ nữ độc chiếm thị trường và dư luận trong năm”. Bởi những lí do trên , chúng tôi đi vào tìm hiểu “Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” (Qua khảo sát tập Ngày mai của những ngày mai….).

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ TẠP VĂN NGUYỄN NGỌC TƯ

(KHẢO SÁT QUA TẬP NGÀY MAI CỦA NHỮNG NGÀY MAI )

Ngôn ngữ là một hiện tượng rất sinh động và lí thú Nhà văn là người tổchức ngôn từ tạo nên hình tượng nghệ thuật, chỉnh thể tác phẩm, tạo cho mình một dấu

ấn riêng, một phong cách riêng Cho nên xác định giá trị của tác phẩm, phong cách củatác giả thông qua tìm hiểu đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ là một hướng đi đã đượckhẳng định và do đó ngôn ngữ tác phẩm đã trở thành một đới tượng được đặc biệt quantâm nghiên cứu bởi những đặc trưng mang tính thể loại của nó Do vậy, việc nghiêncứu tác phẩm từ góc độ ngôn ngữ là một cách quan trọng để tiếp cận tác phẩm văn học

và qua đó nhận định được tính sáng tạo, tài năng của tác giả

1.2 Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn hiện đại thuộc thế hệ 7X Thành quả củachị trên con đường văn chương đã liên tiếp được khẳng định qua các giải thưởng: Giảinhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II – năm 2000, giải B – Hội nhà vănViệt Nam- năm 2001; Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ - Ủy ban toàn quốc liện hiệp

Trang 2

các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam- năm 2000; Một trong “Mười gương mặt trẻ tiêubiểu năm 2003” do Trung ương Đoàn trao tặng Năm 2005 chị gây xôn xao giới vănnghệ, bạn đọc với tác phẩm “Cánh đồng bất tận”, sau này được giới báo chí Hàn Quốcđánh giá là: “Người phụ nữ độc chiếm thị trường và dư luận trong năm”.

Quí III năm 2007, chị cho xuất bản tậptạp văn “Ngày mai của những ngày mai ”, hội tụ 32

bài tạp bút đặc sắc của chị Với giọng điệu thủ thỉ, tâm

tình của nhà văn vùng đất Mũi về những câu chuyện

xung quanh cuộc sống của mình, tập sách là chút lòng

yêu thương gởi đến miền quê thanh bình và cuộc sống

nông thôn thuần hậu Tập sách đã phác họa một chân

dung , một phong cách quen mà lạ chỉ có ở Nguyễn

Ngọc Tư Ở đấy, chúng ta bắt gặp những ưu tư, trăn

trở, những nỗi buồn lúc man mác lúc đầm sâu, và vượt

lên đó, là những bài học luân lí, những đạo nghĩa ở

đời

Bởi những lí do trên , chúng tôi đi vào tìm hiểu “Đặc điểm từ ngữ tạp văn

Nguyễn Ngọc Tư” (Qua khảo sát tập Ngày mai của những ngày mai….).

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư có hơn 7 năm gia nhập làng viết, kể cả tập

“Ngày mai của những ngày mai”, cô đã cho trình làng 9 tập tác phẩm Năm 2005 chịgây tiếng vang lớn với tập truyện ngắn “Cánh đồng bất tận” Một tiếng vang vút lên,một loạt sóng âm vọng lại, tiếng cồng chen lẫn tiếng chiêng, tiếng sáo chen lẫn tiếngkhèn, khen - chê lẫn nhau cùng phản hồi Có thể nói, nhũng nhận định đánh gía vềNguyễn Ngọc Tư lúc này mới thật sự bắt đầu Điểm qua, chúng tôi thấy có nhũng ýkiến sau:

Trang 3

Trần Hữu Dũng đã đánh giá Nguyễn Ngọc Tư như là một “đặc sản miềnNam” Trên diễn đàn của mình (http://nguoivienxu.vietnamnet ) anh viết : “NguyễnNgọc Tư, ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã tạo được một chỗ đứng khu biệt cho mình” Saukhi điểm qua thành quả của chị trong những năm qua, anh có sự so sánh chị với cáccây bút khác: “Một cái bệnh của những người viết trẻ bây giờ là mặc cảm (hay đua đòi)phải dùng một bút pháp mới, mô tả xã hội tân thời (thường được xem đồng nghĩa vớilối sống thị thành), đôi khi phải làm ra vẻ biết nhiều, học rộng Nguyễn Ngọc Tư khôngcần “làm dáng” kểu ấy Cái mới trong văn Nguyễn Ngọc Tư chính là cái cũ Cái lạ ở cô

là tài khui mở nhũng sinh hoạt thân thuộc trước mắt ”

Tháng 10/2007, tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của nhà văn trẻ NguyễnNgọc Tư dã được chuyển ngữ và phát hành tại Hàn Quốc Ông Seo Jae-Young, đạidiện nhà xuất bản Asia tại Seoul, trong khi trao đổi với phóng viên Việt Nam, cónhững lời đánh giá rất cao về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư “Từ tác phẩm này, chúng

ta thấy rằng dòng văn học hiện đại của Việt Nam có thể chia thành 2 giai đoạn, trước

và sau Nguyễn Ngọc Tư Qua tiểu thuyết của cô, người ta có thể cảm nhận được sưthay đổi về nhận thức và cuộc sống Tác phẩm của Tư có thể khiến cho các tác phẩmvăn học khác tại Việt Nam trở nên lỗi thời Và các cây viết mới kiểu Nguyễn Ngọc Tư

“sẽ xuất hiện” “Người ta cho rằng không gì giúp chúng ta hiểu rõ hơn về xã hội là vănchương Và tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều đó” “Chính nội dungcủa câu chuyện đã hoàn toàn cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối”

Đồng thời chúng tôi đã điểm qua những bài viết khác trên các báo, trangWed, Blog trong và ngoài nước như: “Cánh đồng bất tận –một hiện tượng văn hocđang gây nhiều tranh luận” của nhà văn Hoàng Khởi Phong(http://rga.org/vietnamese); “Những vụ án đình đám trong làng văn” của Hà Nguyễn(Netnam); “Bão rùng rùng ngoài kia mà maí ấm vẫn bình yên” của Thúy Nga ( Tuổitrẻ); “Nguyễn Ngọc Tư: Đang có đốt lửa lại” của Hạnh Đỗ (Tiền Phong)

Trang 4

Chúng tôi nhận thấy đó chỉ mới là những bài phỏng vấn, nhận định, đánhgiá ngắn gọn, chung chung về Nguyễn Ngọc Tư, chưa có những công trình nghiên cứuchuyên sâu Sinh viên Nguyễn Ngọc Mơ - ĐHSP Đồng Tháp có bài nghiên cứu khoahọc: “Lớp từ địa phương trong truyện ngắn cánh đồng bất tận” Tuy nhiên, bài nghiêncứu này chỉ giới hạn ở lớp từ địa phương của một tác phẩm “Cánh đồng bất tận” và đó

là thể loại truyện dài

Quí III năm 2007 tập tạp văn “Ngày mai của những ngày mai ” đượctrình làng Nhà xuất bản Phụ nữ có bài giới thiệu khoảng 100 chữ về ấn phẩm củamình Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về tập tạp văn đặc sắcấy

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

a Đối tượng

Chúng tôi không khảo sát toàn bộ sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư mà chọn tập

“Ngày mai của những ngày mai ” làm đối tượng nghiên cứu Chúng tôi nghiên cứutập tạp văn này trên bình diện từ vựng

b Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư

- Đưa ra những nhận định, đánh giá về thành quả sử dụng các lớp từ ngữ trongtạp văn của chị

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các biện pháp nghiên cứu như sau:

-Phương pháp thống kê phân loại

Chúng tôi sữ dụng phương pháp thống kê, phân loại các lớp từ ngữ theo hai tiêu chícấu tạo và ý nghĩa

Trang 5

- Phương pháp phân tích và miêu tả

Trên cơ sở thống kê phân loại, chúgn tôi đã phân tích và miêu tả từng nhóm từ cụthể vể phương diện cấu trúc ngữ nghĩa

- Phương pháp tổng hợp

Kết quả thống kê phân loại, miêu tả chỉ mới dừng lại ở các sự kiện riêng lẻ, dàntrải Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng thêm phương pháp tổng hợp để khái quát các vấn đềthành các qui luật mang tính chung, điển hình

5 Cái mới của đề tài

Việc nghiên cứu truyện ngắn nói chung và truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nóiriêng đã được tiến hành, nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tưthực tế chưa có tác giả nào quan tâm Đây vẫn là một vấn đề mới mẽ cần tìm hiểu Đềtài bước đầu tìm hiểu sự đóng góp của tác giả ở phương diện sử dụng các lớp từ ngữtrong tạp văn và khẳng định sự đa dạng về phong cách cacủ thể loại tạp văn trong thời

kì mới

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm có 3 chương

Chương I: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài

Chương II: Các lớp từ ngữ đặc sắc được sử dụng trong tạp văn Nguyễn Ngọc

Chương III: Vai trò ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

Chương 2: Những vấn đề lí thuyết xung quanh đề tài

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ tạp văn

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Thật khó để tìm ra một cách diễn đạt duy nhất về khái niệm ngôn ngữ nghệthuật Nhưng chúng ta có thể hiểu: Ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ được dùng đểbiểu đạt nội dung hình tượng của các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Bản thân ngôn ngữnghệ thuật mang trong mình tính thẩm mĩ, tính đa nghĩa và đó chỉ là ngôn ngữ nghệthuật khi có khả năng tạo nên dấu ấn riêng cho tác giả

Cũng giống như âm thanh trong âm nhạc, màu sắc trong hội hoạ, ngôn ngữ nghệthuật được xem là chất liệu xây dựng hình tượng Bản thân loại chất liệu này là tổng

hoà của những kí hiệu hai mặt - ngữ âm và ngữ nghĩa Với tài năng sáng tạo, nhà văn,

nhà thơ hướng sự chú ý vào tổ chức văn bản, tìm mọi cách cho hai mặt ngữ âm và ngữnghĩa của kí hiệu ngôn ngữ hoà phối với nhau cùng phát huy tác dụng đối với cấu trúctừng câu, từng đoạn cũng như cấu trúc hoàn chỉnh của toàn bộ văn bản nghệ thuật.Chính vì vậy, văn chương được xem là tác phẩm nghệ thuật cuả ngôn ngữ, là sự thểhiện giá trị thẩm mĩ của ngôn ngữ

Thử phân tích một đoạn trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Khi sao phong gấm rũ là Giời sao tan tác như hoa giữa đường?

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?

Ở đây, các yếu tố ngôn ngữ được tổ chức lại theo khuôn khổ của thể thơ lục bát.Mỗi dòng thơ là một câu nghi vấn tu từ, một câu tự hỏi không có lời đáp, với sự điệp từ

Trang 7

ngữ và cấu trúc ( khi sao, giở sao, mặt sao, thân sao), rồi hàng loạt biện pháp tu từ khác

đã được dùng như so sánh (mặt sao…, thân sao ), tách xen (dày gió dạn sương, bướmchán ong chường) Sự hoà phối của những chất liệu đó đã vẽ nên bức tranh về nội tâm

của nàng Kiều, bức tranh “Giật mình, mình lại thương mình xót xa”.

Sự hình thành và tồn tại của ngôn ngữ nghệ thuật dựa vào ngôn ngữ tư nhiên,nhưng nó có tính độc lập với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai Để hiểu rõ hơn về bảnchất của ngôn ngữ nghệ thuật, ta đặt nó bên cạnh ngôn ngữ tự nhiên, so sánh, tìm ra sự

tương đồng và khác biệt của hai hệ thống này trên các bình diện: về hệ thống tín hiệu,

về chức năng xã hội, về tính hệ thống, về ngữ nghĩa, về sự có mặt của các loại

phương tiện ngôn ngữ, về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc.

-Xét về hệ thống tín hiệu:

Ngôn ngữ tự nhiên của con gười, có thể được xác định như là một mã chung,phổ biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sừ dụng những tín hiêụ đó,

mà con người dùng để vật hoá những ý nghĩ, tình cảm của mình, tức để diễn đạt những

ý nghĩ, tình cảm này trong một hình thức được tri giác một cách cảm tính: từ ngữ, phátngôn… Còn ngôn ngữ nghệ thuật lại là một mã phức tạp hơn, là hệ thống tín hiệu thứ

hai, được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên), “ngôn ngữ

là yếu tố thứ nhất cuả văn học”, “ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ trhuật” [11; Tr 48] mỗi yếu tố ngôn ngữ trong tác

phẩm văn học là một phương tiện biểu hiện, mỗi yếu tố đó nhất thiết tham gia vào việcbộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm

-Xét về chức năng xã hội:

Lời nói sinh hoạt hằng ngày thường có những thuộc tính như: tính diễn cảm,tính tạo hình và đôi khi cả tính hình tượng Song vấn đề đó là mối tương quan giữa cácchức năng Chức năng có tính chất quyết định vẫn là chức năng giao tiếp Nhữngphẩm chất thẩm mĩ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ thuộc thứ yếu

Trang 8

Ví dụ, lời trong ngôn ngữ trần thuật bình thường của một người đã đọc Truyện

Kiều:“Mùa thu, thúc Sinh trở lại Lâm Tri, đi cả ngày lẫn đêm”.

Còn trong ngôn ngữ của văn nghệ thuật, chức năng thẩm mĩ xuất hiện ở bìnhdiện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai

Ví dụ:

“Long lanh đáy nước in trời, Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”.

Vẫn cùng một nội dung như ví dụ trên, nhưng dòng thơ trong Truyện Kiều tạm

để thông tin: hành trình ngày đêm vào mùa thu cho người đọc tự nhận biết, cái điều

đầu tiên mà Nguyễn Du đem đến cho người đọc là tính bác học của ngôn ngữ, trauchuốt, giàu ước lệ, bóng bẩy, hình tượng, tức giá trị thẩm mĩ được nâng tầm trước tiên

Bản thân khái niệm chức năng thẩm mĩ ở đây cũng đựơc đổ đầy bằng một nộidung đặc trưng khác về chất: chức năng nghệ thuật – hình tượng Chức năng thẩm mĩcủa ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học là ở chổ tín hiệu ngôn ngữ là yếu tố tạo thànhcủa hình tượng Nếu không thấy rõ sự khác nhau giữa các chức năng nghệ thuật – hìnhtượng này với các phẩm chất thẩm mĩ, nếu khôngthấy mối tương quan giữa các chứcnăng thì dễ đi đến chỗ coi ngôn ngữ văn chương là một phong cách chức năng, đối lậpvới ba phong cách gọt giũa còn lại (phong cách khoa học, phong cách chính luận vàphong cách hành chính), với lí do là ngôn ngữ văn chương có đầy đủ 4 chức năng:thông tin, trao đổi, tác động, thẩm mĩ

-Xét về tính hệ thống:

Ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật đều có tính hệ thống, song tính

hệ thống trong mỗi kiểu ngôn ngữ có sự khác nhau về chất Chức năng thẩm mĩ củamột yếu tố ngôn ngữ được xác định bởi vị trí và vai trò của nó trong hệ thống các hìnhtượng của tác phẩm cũng như trong hệ thống của phong cách cá nhân tác giả Tức là,

Trang 9

chức năng thẩm mĩ dựa vào tính hệ thống của phong cách với tư cách là một phạm trùthẩm mĩ với những thông số và thước đo gắn với phong cách cá nhân, của phong cáchtác phẩm, của phong cách khuynh hướng, của phong cách trường phái văn học Cònkhái niệm phong cách chức năng của ngôn ngữ phi nghệ thuật dựa trên tính hệ thốngkhác về chất, tính hệ thống của cấu trúc bên trong ngôn ngữ, tính hệ thống bị quy địnhbởi cấu trúc của trạng thái hiện đại của ngôn ngữ, tính hệ thống gắn với sự khu biệt của

xã hội đối với ngôn ngữ Phong cách chức năng có cả một hệ thống các dấu hiệu ngônngữ, bao quát tất cả các cấp độ của ngôn ngữ Ở cơ sở của toàn bộ văn bản nghệ thuậtkhông có một hệ thống các dấu hiệu ngôn ngữ như thế Tính hệ thống ở đây được xâydựng theo những thông số khác, những thông số thẩm mĩ, những thông số nghệ thuậtcủa từ

-Xét về bình diện nghĩa:

Ngôn ngữ phi nghệ thuật chỉ có một bình diện nghĩa Ngôn ngữ nghệ thuật cóhai bình diện nghĩa Nó có khả năng một mặt hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn hoávới những ý nghĩa của các từ, của các hình thức ngữ pháp và mặt khác hướng vào hệthống các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật, cái hệ thống vốn thông báo cho nhữngthành tố ngôn ngữ cái giá trị ngữ cảnh, cái giá trị hình tượng - thẩm mĩ Bởi vì, sự phảnánh thế giới trong tác phẩm văn học đi đôi với hư cấu nghệ thụât, cho nên từ đó nảysinh ra khả năng thông tin đôi, vừa về khách thể được mô tả vừa về tác giả, về nhữngđặc điểm trong cách cảm thụ thế giới, trong thế giới quan của tác giả vốn được diễn đạttrong phong cách tác phẩm

-Xét về sự có mặt của các loại phương tiện ngôn ngữ:

Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữvăn hoá và rộng hơn nữa là của ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại dựavào chuẩn mực của ngôn ngữ hiện đại Song trong những thể loại văn học có tính lịch

sử, nó vượt ra ngoài khuôn khổ của chuẩn và sử dụng cả những phương tiện ngôn ngữ

Trang 10

đã cũ, trước hết là những phương tiện từ vựng, những từ cổ, những từ lịch sử của nó,tức từ này là những từ tiềm năng hoặc những từ ngẫu hợp Ngôn ngữ nghệ thuật trongnhững phạm vi nhất định, sử dụng cả những ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hoá nhưnhững từ địa phương, những từ của tiếng lóng, những từ tục Ngôn ngữ nghệ thụât hiểutheo một nghĩa nào đó là giàu hơn ngôn ngữ toàn dân.

-Xét về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc

Giá trị của ngôn ngữ nghệ thuật không phải chỉ xác định ở tầm bao quát rộnglớn của những phương tiện ngôn ngữ toàn dân mà nó sử dụng Có một cái quan trọnghơn thế, đó là tính chất mẫu mực của ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ ở đây trở thànhmột hiện tượng nghệ thuật do sự hoàn thiện của nó, sự hoàn thiện đạt được nhờ tàinăng và lao động bền bỉ của bao nhà văn ưu tú trong suốt hàng ngàn thế kỉ Khác vớingôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ nghệ thuật mang màu sắc riêng của mỗi tác giả, phản ánhnét độc đáo không lặp lại của mỗi nhà văn Các nhà văn lớn bao giờ cũng có một bútpháp riêng, một phong cách riêng, một ngôn ngữ riêng, làm thành hệ thống thứ hai sovới hệ thống thứ nhất của ngôn ngữ Ngôn ngữ nghệ thuật xứng đáng giữ vai trò trungtâm của ngôn ngữ dân tộc

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn

1.1.2.1 Khái niệm tạp văn

Tạp văn là một thể loại thuộc tản văn trong văn học Trung Quốc, thiên về nghịluận đồng thời cũng giàu ý nghĩa văn học Tạp văn với tư cách là một thể văn chỉ chínhthức ra đời vào khoảng thời cách mạng Ngũ Tứ (1917-19240), là những bài luận vănngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một số vấn đề về xã hội, lịch sử, vănhoá, chính trị… Đặc điểm chung của tạp văn là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng, phản ứngkịp thời, nhanh nhạy trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá

rõ ràng và sắc sảo

Trang 11

Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn được đánh giá là tác giả đạt thànhtựu cao nhất về tạp văn Những năm 30 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều tác giả nổitiếng về tạp văn như: Đường Thao, Nhiếp Cám Nỗ, Từ Mậu Dung… Nhiều báo và tậpsan nhờ đăng tải tạp văn mà trở nên nổi tiếng: Thái Bạch, Phong Cách Lỗ Tấn…

Tạp văn thường gắn với báo chí Ở Việt Nam trước Cách mạng tháng 8- 1945,một số nhà văn kiêm nhà báo như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Ngô Tất Tố cũngtừng viết tạp văn Sau cách mạng, nhiều bài văn chính luận ngắn gọn cũng được xem làtạp văn Trong đời sống hiện nay, do nhu cầu bày tỏ chính kiến, nhu cầu bộc lộ đờisống nội tâm, cùng với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và yêu cầu “nói cũngphải có nghệ thuật”, tạp văn trở nên phổ biến, ưa chuộng và được nhiều người thể hiện

1.2.2 Các đặc điểm ngôn ngữ của tạp văn

Tạp văn thuộc thể loại tự sự Do vậy, ngôn ngữ tạp văn cũng mang nét tươngđồng như ngôn ngữ của các tác phẩm tự sự khác đặc biệt là truyện ngắn

a Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn về hình thức

Đi vào tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại là nhằm làm nổi bật nhữngđặc điểm mang tính khái quát nhất Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ thể loại nói riêngkhông phải là phạm trù bất biến Một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ biến đổi không chỉ về

sự gia tăng số lượng mà cả cấu trúc bên trong, đó là điều hợp qui luật Ngôn ngữ tạpvăn khác nhiều so với ngôn ngữ tác phẩm tự sự thời trung đại hay cận đại

Nhà văn Lep Tônxtôi từng nói đùa: “Nếu tôi là Nga Hoàng, tôi sẽ ra một đạo luật trong đó một nhà văn dung một từ không rõ nghĩa, sẽ bị truất quyền và bị xử phạt một trăm roi” Tạp văn gần giống với truyện ngắn, có yêu cầu nghiêm ngặt về sự

chon lựa ngôn từ, mọi yếu tố phải mang nghĩa, có giá trị biểu đạt chủ đề tư tưởng, bởi

một lí do: đảm bảo đặc trưng ngắn, gọn Nếu ngôn ngữ tác phẩm tự sự trung đại

mang tính ước lệ, qui thức thì ngôn ngữ tạp văn hiện đại gần gũi với ngôn ngữ đời

Trang 12

thường Đặc điểm này đòi hỏi nhà văn phải xử lí một cáh tài tình Ngôn ngữ tự nhiênkhi đi vào tác phẩm phải được “lột xác” để nó là một tín hiệu của hệ thống mã ngônngữ nghệ thuật Dù là tự nhiên, sần sùi, thô ráp, hay mượt mà, bóng bẩy thì ngôn ngữnghệ thuật bao giờ cũng mang tính thẩm mĩ Chính bởi đặc điểm này mà ta dễ dàngnhận thấy các nhà văn đã sử dụng mọi lớp từ ngữ tồn tại trong xã hội vào trong sángtác, như: lớp từ tình thái, từ ngoại lai, lớp từ địa phương, lớp từ tôn giáo, thành ngữ, tụcngữ…

Đặc điểm câu văn trong tạp văn hiện đại phải nói là có những bước đột phá sovới câu văn trong tác phẩm tự sự trung đại Những dấu hiệu đầu tiên chúng ta nhậnthấy là việc tỉnh lược các thành phần câu, tạo nên dòng chảy ngôn từ, dòng chảy củacuộc sống, dòng chảy của tâm trạng Dưới ngòi bút của nhà văn hình thức câu biến hoátheo cách cảm nhận và ý đồ thể hiện cuộc sống của nhà văn

b Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn về nội dung ngữ nghĩa

Văn học Việt Nam thế kỷ XX trong tiến trình hiện đại hoá đã dẫn đến sự ra đờicủa thể loại tạp văn Trong bước phát triển định hình những đặc trưng ngôn ngữ thểloại, bên cạnh đặc điểm về mặt hình thức ta phải nói đến đặc điểm về phương diện ngữnghĩa Ngôn ngữ tạp văn hiện đại xét về ngữ nghĩa, có những đặc điểm sau:

-Bởi có hình thức ngắn cho nên ngôn ngữ tạp văn phải hàm súc hàm ẩn, đanghĩa, vận dụng tối đa các biện pháp tu từ có tác dụng tăng tầng nghĩa cho ngôn từ, làmđậm đặc thêm quá trình mã hoá tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ tạp văn có ýnghĩa ngầm sâu Ngôn ngữ có nhiều tầng ý nghĩa Khi gấp cuốn sách lại mọi suy tưởnghầu như mơí bắt đầu, ngôn ngữ tạp văn có sức chứa ngữ nghĩa lớn lao

- Mọi yếu tố trong một tạp văn, rất khác với tiểu thuyết có dung lượng lớn,không được phép lơ là nhiệm vụ thể hiện chủ đề Mọi yếu tố nằm ngoài chủ đề đềuđược gạn lọc

Trang 13

- Cái hấp dẫn của tạp văn không phải ở cốt truyện mà là ở ngôn từ Có nhữngbài hầu như hoàn toàn không có cốt truyện, cái dẫn dắt độc giả là câu văn, dẫn dụ và

mê hoặc đọc giả là ngôn từ Đương nhiên dòng ngôn từ cuối cùng cũng đi đến xâydựng hình tượng, bởi hình tượng nghệ thuật là giá trị của tác phẩm

-Tạp văn dường như là thể loại ít bị ràng buột trong việc thể hiện đề tài Do vậy,ngôn ngữ phản ánh muôn mặt cuộc sống cao thượng, thấp hèn, tích cực và tiêu cực,trần trụi và lãng mạn, đi sâu vào đời sống tâm lí phức tạp của cuộc sống đang từngngày từng giờ đấu tranh và phát triển Ngôn ngữ giản dị nhưng uyên bác, đầy tính triếtlí

c Đặc điểm ngôn ngữ tạp văn với phong cách nhà văn

Theo tác giả Cù Đình Tú, tìm hiểu phong cách tác giả của ngôn ngữ văn chươngphải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản:

“- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả.

- Sự đi lệch chuẩn mực của tác giả” [21, Tr 123]

Mỗi nhà văn bao giờ cũng phải tạo cho mình cái riêng không lẫn vào với bất cứ

ai, trước hết là đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm của họ Nguyễn Tuân cầu kỳ, nắnnót, mỗi câu chữ dường như có lí lịch của nó Ngôn ngữ Nam Cao, gần với đời thườngnhưng giàu triết lí và nhất là có thế mạnh trong miêu tả nội tâm nhân vật Gần đâytruyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp gây ấn tượng bởi cái ngôn ngữ gai góc, xù xì, lạnhlùng như nhát dao chém đá…

Nhà văn nhà thơ thường có sở thích ,sở trường riêng trong diễn đạt: có ngườithiên về miêu tả cặn kẽ, có người thiên về phác hoạ đôi nét làm dấu hiệu để gợi ra cái

gì đó; có người mạnh về dùng ngôn ngữ sinh hoạt ở nông thôn, có người sở trường vềdùng ngôn ngữ sinh hoạt ở thành thị; có người ưa chuộng lối diễn đạt mang phong vị

Trang 14

ca dao… Quả thực, sở trường và sở thích diễn đạt của nhà văn, nhà thơ rất khác nhau,rất đa dạng Sở thích và sở trường ấy thể hiện đều đặn trong các tác phẩm của nhà văn,nhà thơ đến một mức rõ ràng nào đấy thì tạo thành nét độc đáo của họ trong diễn đạt,làm nên dấu ấn riêng của tác giả.

1.2 Nguyễn Ngọc Tư –tác giả tác phẩm

Mọi hoạt động của văn học, từ hoạt động tiếp nhận, thuonbg773 thức, đếnnghiên cứu, phê bình… chỉ thực sự bắt đầu khi tác phẩm của nhà văn ra đời Chonên nhà văn là người khởi đầu của nhiều hoạt động văn chương, giữ vao trò đặt biệtquan trọng trong đời sống văn học Tim hiểu về tác giả, chúng tôi xét các bình diện,khía cạnh sau:

-Về lịch sử và quá trình sáng tác của tác giả

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 Quê quán Xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi,tỉnh Cà Mau Hiện chị vẫn sống và làm việc tại vùng Đất Mũi - Cà Mau Cho đến

nay chị đã có hơn 7 năm gia nhập làng viết với 10 tập truyện và tản văn: Ngọn đèn không tắt (tập truyện – Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2000); Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi – Nxb Trẻ, 2001) ; Biển người mênh mông (tập truyện –Nxb Kim Đồng, Tp HCM, 2003); Giao Thừa (tập truyện –Nxb Trẻ, 2003); Nước chảy mây trôi (tập truyện và

kí – Nxb Văn Nghệ, Tp.HCM, 2004); Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện – Nxb Văn Nghệ, Sài Gòn, 2005); Cánh đồng bất tận (Tập truyện –Nxb Văn Hoá, Sài Gòn, 2005); Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp văn –Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2006); Sống chậm thời @ (Tản văn, Nxb Trẻ, Tp HCM, 2006); Ngày mai của những ngày mai…(tạp văn, Nxb Phụ Nữ, H, 2007) Năm 2000, tập truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt của chị được giải Sáng tác văn học tuổi 20 lần II của Hội nhà văn Tp HCM Năm 2003 tập truyện Giao thừa của cô được một giải thưởng của Hội văn học -Nghệ thuật Việt nam Năm 2006, Cánh đồng bất tận lại được giải thưởng của

Trang 15

Hội nhà văn Việt Nam Ngoài ra chị là một khuôn mặt quen thuộc trên các tạp chíqua nhiều tạp văn, tạp bút.

- Về tư tưởng sáng tạo chủ yếu của tác giả

Nhà văn phải có năng khiếu, có vốn liếng văn hoá rộng rãi và có tư tườngnghệ thuật độc đáo Nhưng năng khiếu và vốn liếng văn hoá mới chỉ là cơ sở ban đầugiúp nhà văn có thể thành nghề Muốn sáng tạo, nghĩa là muốn mang đến cho vănchương một tiếng nói mới mẻ, nhà văn phải có tư tưởng, có quan điểm nghệ thuật sâusắc, có cá tính và cách nhìn độc đáo trước những vấn đề của đời sống Không có tưtưởng và cách nhìn đời, nhìn người độc đáo, tác phẩm của nhà văn sẽ nhạt nhẽo, hìnhtượng xây dựng nên sẽ thiếu sức sống, không gây được ấn tượng gì rõ nét đối vớingười đọc

Thế giới nghệ thuật củ chị có một xuất phát điểm từ những vùng quê lam lũ, vớinhững con người lam lũ, những mảnh đất hoang vắng, những tâm hồn tinh khiết đến

như thể hoang sơ Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao đã có tuyên ngôn nghệ thuật:

“Văn chương không cần đến với những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có” Với Nguyễn Ngọc Tư, cái mới

không phải xa xôi, vời vợi Vì chị biết khơi, biết tìm tòi, nên cái mới lại nằm ngaytrong …cái cũ Nguyễn Ngọc Tư Không vén màn cho người đọc tìm thấy cái chưa từngthấy, cô không dẫn dắt ta khám phá những thế giới nội tâm mà ta chưa từng biết Côchỉ đưa cho một tấm gương rất trong, thật sáng, để chúng ta nhìn thấy những sinh hoạt,tình tự rất thường Và qua đó, lạ thay, như một tiếng đàn cộng hưởng, ta khám phá cáiphong phú của chính đời ta Đó là những câu chuyện rất miền Nam của tỉnh lẽ, của

ruộng vườn, và nhất là của sông, của nước (Dòng nhớ, chợ nổi Cà Mau –chút tình sông nước, Qua cầu nhớ người, Nhớ sông, Nước chảy mây trôi, Lục bình…) Đó là

miền Nam đã thái bình nhưng vẫn còn dấu chiến tranh, không phải ở sự diêu tàn vì

Trang 16

bom đạn mà ở những vét thương trong đời người ( Ngọc đèn không tắt, Mối tình năm cũ)

Nguyễn Ngọc Tư có sự yêu thương trân trọng, viết về người nông dân một cách

vô điều kiện Nghĩa là, chị không mang họ ra khỏi đồng ruộng, đem họ đi rửa sạch

bùn, không tách họ ra khỏi chữ “quê” mà biến chính những yếu tố đó thánh điều kiện

để trang văn của chị ám ảnh người đọc mãi không thôi Trong cách chọn lựa tình tiết,cốt truyện, Nguyễn Ngọc Tư đã trung thành với cái tình tự quê hương chị Chỉ nhữngngười sống và lớn lên ở một địa phương , thật sự mến yêu họ hàng, làng xóm của mìnhmới thể hiện tình tự với quê hương mình được như thế Người đọc không bao giờ quên

“bàn chân bị nước ăn đến tận xương” trong Lí con sáo sang sông, không bao giờ quên những câu chư “mắc cười muốn chết”, “Hai nhớ trường học quá à, cưng” (Cánh đồng bất tận)…

Truyện Ngọc Tư thườg mang một nỗi buồn Chị còn trẻ, chị nhìn đời bằng đôimắt trong sáng, trung thực Qua trang văn, ta thấy rằng chị không phải là chứng nhâncho những vụ việc hung hăng, thô bạo – trong văn của chị không có kẻ sát nhân, khủng

bố, kẻ cướp tài sản, tội lớn nhất chỉ là tội ngoại tình- chị chỉ là nhân chứng cho nhữngmảnh đời bình dị, đơn giản, rất thường Nhưng chị trung thực và nhạy cảm, chị nhìn,chị thấy, chị nghe, chị biết, chị hiểu, để rồi chị buồn

Chị để cho nhân vật mình khóc một cách tự nhiên, cần thiết phải khóc: “Mãi dìThấm không mở lời nói được, chỉ khóc là khóc, nức nở ồ ồ.” Mãi bao nhiêu năm trời,

nhẫn nại, chịu đựng, giờ đây thiên hạ mới biết giá trị của một người đến sau: “ …nhìn cảnh mọi người xúc động, hỉ mũi rẹt rẹt nhưng không ai bước ra dỗ dì nín Cho đến khi ông Mười xuất hiện, ông bảo, “mấy chú làm ơn dừng lại một chút” rồi cầm cái khăn rằn lau nước mắt cho dì Thấm, dì như trẻ con, lau khô nước mắt lại tràu ra Ông Mười vẫn nhẫn nại chậm chiếc khăn lên khuôn mặt chớm già của dì, không nói gì hết, khuôn mặt bì sì của ông hơi dúm lại, dường như ông cũng đau lắm xót lắm” Chính

Trang 17

nhờ cảnh tượng đau lòng ấy mà câu chuyện lại kết thúc có hậu, người chồng bao năm

trời hi sinh, được đền đáp an ủi xứng đáng: “cứ mỗi lần nhìn lứơt qua vẻ mặt đau đớn, đẵm nước mắt của dì Thấm, họ lại nhớ tớim ột chiếc khăn, một bàn tay thô, một tấm lưng rộng Họ suy nghĩ…”(Mối tình năm cũ)

Nỗi buồn tràn ngập cả câu chuyện Nỗi buồn xuất hiện cả trong những lời ngỡ

không đâu, khơi khơi: “Sao tự nhiên em qua đây lãng xẹt vậy không biết” (Lý con sáo sang sông); “riêng chúng tôi thì chả cần chị yêu thương chăm sóc, dạy dỗ gì hết Chúng tôi không hy vọng điều đó (đến con chị còn không hy vọng nữa là) (Cánh đồng bất tận); Có lúc, Ngọc Tư cho nhân vật mình tỉnh bơ, nhưng làm người đọc phải rơi

nước mắt:

“Rồi chị Hoài cũng tập thương chồng, thương không giấu giếm, ào ào như người ta bán thuốc sơn đông Chị thôi không đứng tần ngần chỗ nhà anh Hết mỗi khi

đi chợ về, thậm chí chị không thèm nhìn về phía ấy nữa Chị Hoài nới với bạn, bữa nay

đi chợ mua mấy khúc vải về may đồ cho anh Thứ Ảnh nói mặc đồ chợ cũng được mà tui đâu có chịu, người vợ biết đường kim mũi chỉ lúc nào cũng làm ấm lòng ông chồng, phải hôn nè… Giữa đường nói chuyện chồng con mà giọng chị Hoài lanh lảnh, chừng như nhắn với anh Hết, thôi đừng đi đâu ,tôi quên anh rồi, quên thiệt, quên luôn ,bây giờ tui thương chồng tôi lắm đây.”

Nhìn chung, nỗi buồn trong văn Nguyễn Ngọc Tư, dẫu khóc thành tiếng hay lànỗi tủi hờn trong lòng, thì đấy vẫn là nỗi buồn rất dịu dàng, đầm thấm và sâu sắc Nỗibuồn ấy xuất phát từ thương yêu, sẻ chia, trân trọng Nỗi buồn ấy cứ man mác, dịudàng như con nước lớn rồng của những triền sông miền Tây êm đềm Nước càng chảyvào thì sông càng đầy, ta càng thấm nỗi buồn thì càng thấy mình sâu sắc, trưởng thànhhơn “Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương” Nhưngyêu thương đôi khi cũng phải được khơi nguồn, đánh thức và biết một phương hướng

Trang 18

nào đấy để gởi đến Cám ơn Nguyễn Ngọc Tư, vì trang văn của chị đã lay động cảmxúc và giúp mỗi chúng ta mở rộng lòng với nhau hơn.

Tháng 10 năm 2007, tác phẩm Cánh đồng bất tận dã được chuyễn ngữ xong và phát hành tại Hàn quốc Nếu tác phẩm Xin lỗi ,em chỉ là con đĩ của Tào Đình và Rừng

Na –Uy của Haruki Murakami góp phần tiếp thị cho nền văn học hiện đại của Trung Quốc và Nhật Bản, thì Cánh đồng bất tận góp phần khẳng định cái mới lạ, ấn tượng và

bước tiếng của văn học Việt Nam Nội dung của câu chuyện đã thu hút đọc giả HànQuốc, họ biết đến Việt Nam nhiều hơn là chiến tranh và những cô dâu thích xuất ngoại.Cuộc sống triền sông nước Nam Bộ làm đọc giả nước ngoài háo hức, hân hoan tiếpnhận Một hình ảnh việt Nam: chợ nổi, sông nước mênh mông, con người thuần hậu,chân chấc đã được thế giới thưởng thức

Nhiều người nghĩ rằng, nói chung, văn chương miền Nam -một vùng đất mới –không thể so đựơc với sự chỉn chu truyền thống của văn chương miền Trung, miền bắc.Nguyễn Ngọc Tư sẽ làm những người đó phải nghĩ lại Đọc truyện Nguyễn Ngọc Tư,

ta khám phá ra rằng nếu dùng đúng chỗ, trong tay một tác giả cẩn trông như chị,phương ngữ mộc mạc miền Nam, giọng điệu dân dã miền Nam hoàn tòan có khả năngcấu thành một nhánh văn chương đặc biệt, không giống, nhưng chuẩn mực không kémnhững miền khác Chúng ta mong sự trưởng thành của Nguyễn Ngọc Tư sẽ là sựtrưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam Ta mong chị sẽ tiếp tục là một người ghi chépchân thật những chuyển biến của đời sống dân tộc Nếu Ngọc Tư làm được điều đó thì

Trang 19

chúng ta thật sự cám ơn chị Tài năng của chị là thiên phú, xứng đáng là một đặc sản của miền Nam.

1.3 Tiểu kết chương 1

Ngôn ngữ tạp văn là một loại hình lí thú trong ngôn ngữ nghệ thuật, nó mangnhững đặc diểm dễ dàng nhận diện ở mặt hình thức, ngữ nghĩa và vai trò trong việchình thành phong cách nhà văn

Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ, sức viết rất dồi dào, chị thành công trong sựnghiệp sáng tác ở cả truyện ngắn và tạp văn Tác phẩm của chị vẫn mãi một giọngđiệu thủ thỉ tâm tình, dung dị, mộc mạc nhưng đầy yêu thương, đồng cảm

Chương 2: Đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

2.1 Từ trong ngôn ngữ và từ trong sử dụng

2.1.1 Định nghĩa về từ

Các nhà ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Kim Thản, Hoàng TrongPhiến…, đã đưa ra rất nhiều định nghĩa về từ Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên “Từ mộtđơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoànchỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu” [12, Tr 18] Theo tác giả Đỗ HữaChâu: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là một hình thức ngữ pháp

được các thành viên của một tập thể hiểu như nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm

thanh và hình thức Tuy vậy, âm thanh và hình thức là chỉ những phương tiện cấu tạonên từ, bản thân chúng chưa phải là từ Chỉ khi nào gắn liền với một ý nghĩa nào đấythì chúng mới có khả năng biểu đạt tư tưởng” [23, Tr 330 -331]

Như vậy nói đến từ là nói đến các dặc điểm:

a Có hình thức ngữ âm và ngữ nghĩa

Ví dụ: Hoàng hôn đang dần buông.

Trang 20

Hoàng hôn là một từ Về mặt ngữ âm, nó gồm hai âm tiết: hoàng – hôn Về mặt ngữ nghĩa, hoàng hôn ý chỉ buổi chiều khi mặt trời lặn, tiếp sau là trời tối v v…

b Tính sẵn có, cố định, bắt buộc

Tức ở đây, từ có sự hoàn chỉnh về mặt cấu tạo Từ luôn xuất hiện với tư cách làmột khối chặt chẽ cả về nội dung ngữ nghĩa lẫn hình thức cấu tạo, ta không thể chenbất cứ một yếu tố phụ nào vào giữa các yếu tố (âm tiết) tham gia cấu thành từ

Ví dụ: Từ “hoàng hôn” đã đầy đủ về âm tiết và đủ khả năng, chức năng chiếu

vật Ta không thể chêm xen hoặc thay đổi các yếu tố trong âm tiết Nếu ta thêm âm tiếtvào thì ý nghĩa cũng sẽ thay đổi

c Từ có khả năng vận dụng tự do để sáng tạo câu

Khả năng tự do này thể hiện ở chỗ từ có khả năng kết hợp với các từ khác tạonên câu Thậm chí, một từ có khả năng đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp khác nhautheo phương thức chuyển nghĩa của từ

Chúng tôi dựa vào các đặc điểm trên để phân định đơn vị từ nhằm phục vụ cho

việc tìm hiểu tạp văn Nguyễn Ngọc Tư qua tập “Ngày mai của những ngày mai”.

2.1.2 Từ trong ngôn ngữ và từ trong sử dụng

Tất cả các nhà ngiên cứu đều xác định từ là một đơn vị có sẵn của ngôn ngữ,

nhưng xung quanh vấn đề ngữ nghĩa từ vựng lại có nhiều ý kiến khác nhau Quan niệm

của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” về ý nghĩa của từ

có sức thuyết phục bởi ông đã “thay tam giác nghĩa hình học phẳng bằng hình tháp nghĩa hình học không gian” [3; Tr 101] với các quan hệ và các phương diện khác nhau của từ: “Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân tố người dung hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội…” [3; Tr 102]

Trang 21

Như vậy từ với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ nó nằm trong từ điển ở dạngtách rời có tính trừu tượng, nhưng khi tham gia hành chức, nhất là dùng để thể hiệnhình tượng nghệ thuật, nó có tính linh hoạt, thể hiện các nét nghĩa riêng đa dạng, mangdấu ấn của nhà văn Nhà văn đã cấp thêm những giá trị mới cho đơn vị từ vựng trongquá trình sáng tạo nghệ thuật Trong quá trình phát triển lịch sử văn học, quan niệm vềđặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật có những thay đổi phù hợp với thời đại Ngôn ngữ

văn học hiện đại, theo tác giả Đào Thản “Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trưng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phương tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không “phân biệt đối xử” đối với các phương tiện thể hiện Ở đây không có biện pháp nào đựơc đánh là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể được dùng, quen dùng hơn trong những thời

kỳ, xu hướng hoặc tác giả nhất định” [20, Tr 202] Ý kiến của tác giả Đào Thản giúp ta

nhìn nhận rõ hơn đặc điểm phong phú, đa dạng của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại, chínhphạm vi chọn lựa rộng rãi trong vốn từ mà nhà văn có thể nhào nặn, gọt dũa và vậndụng một cách có hiệu quả nhất vốn từ vựng được coi như tài sản chung của dân tộc

“Ở nhiều tác giả, ngôn ngữ cũng thật sự là cuộc trình diễn của cá tính nghệ sĩ” [18, Tr

356] Như thế, việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ cho tác phẩm thể hiện rõ dấu hiệucủa phong cách nhà văn Bởi thế tìm hiểu ngôn ngữ tạp văn của tác giả Nguyễn Ngọc

Tư, chúng tôi đi vào xem xét các lớp từ tác giả sử dụng

Lờp từ là “tập hợp các từ của một ngôn ngữ được phân chia theo những tiêu chí, những đặc điểm nhất định” [12, Tr 136] Trong thực tiễn, nhà văn bao giờ cũng

hướng đến xác lập phong cách ngôn ngữ hay cụ thể hơn hình thành hệ thống ngôn ngữ,trong đó lớp từ như là một biểu hiện nổi trội mang đậm cá tính sáng tạo nhằm biểu đạtthế giới nghệ thuật Nhà văn Nam Cao gây ấn tượng bởi lối sử dụng đại từ nhân xưng:

y, hắn, gã, thị… ,Nguyễn Tuân sáng tạo trong việc dùng lớp từ chỉ đồ vật và từ Hán

Việt… Mỗi tác giả, bằng cảm quan nghệ thuật của cá nhân có sự chọn lựa ngôn ngữ

Trang 22

riêng Việc lựa chọn những lớp từ nhất định nào đó được qui định bởi cách tiếp cận đờisống, bởi tư tưởng thẩm mĩ và vốn ngôn ngữ riêng của tác giả.

2.2 Các lớp từ đặc sắc được sử dụng trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc có tần số xuất hiện như sau: 142 lượt/ Atép- km kí sự,

117 lượt/ Buồn buồn nói chuyện buốn chơi, 66 lượt/ Chi tiết, 86 lượt / Chân không, 97 lượt/ Người giàu cũng giấu, 59 lượt/ Những cây gòn lạc, 76 lượt/ Ngồi buồn nhớ ngoại

ta xưa, 127 lượt/ Đất cháy, 61 lượt/ Giữa bầy đàn, 162 lượt/ Ngày mai của những ngày mai…

Từ chỉ tâm trạng, cảm xúc xuất hiện dày đặc trong từng bài viết của Nguyễn

Ngọc Tư Chị trải lòng mình trên từng câu viết, trang văn với những: thắc thỏm, lo âu, vui, cười, ngỡ ngàng, thất vọng, sợ… Nhưng điều quan trọng là tác giả đã sử dụng

chúng như một phương thức hữu hiệu để thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình Lớp từnày được sử dụng với tần số xuất hiện cao, số lượng nhiều nhằm đạt mục đích miêu tả,khắc hoạ hình tượng nhân vật

2.2.1.1 Lớp từ miêu tả quá trình diễn biến tâm trang, cảm xúc

Trang 23

Nếu vật chất là những thực thể luôn vận động thì thế giới tinh thần lại càng làmột phạm vi có những biển đổi khôn cùng Đời sống nội tâm được miêu tả không phảimột thời điểm hay trạng thái tỉnh tại mà là một quá trình với những biến thái phức tạp.Ngôn ngữ trong tạp văn vẫn là một phong cách nhẹ nhàng, giản dị nhưng luôn xoáysâu và rẽ ngoặc vào những khúc quanh lớn nhỏ nhất của tâm hồn một cách tinh tế vàsâu sắc nhằm khơi gọi sự đồng cảm của người đọc

a.Mạch tâm trạng cảm xúc vận động từ quá khứ đến hiện tại

Chàng trai làm công trường xây dựng, nắng mưa, nhọc nhằn, khiến đôi tay, thân

xác chai sạn, nhưng trái tim lại tươi nguyên, non nớt Trái tim ấy thổn thức không nguôi với những rung động tình yêu: hy vọng, sụp đổ, tủi phận, oán hờn, nuôi hận thù, toan tính và rồi lại đa mang, thương cảm vì cái nhân nghĩa tồn tại như bản chất

trong anh Hận thù tan biến, còn lại trong anh nỗi buồn vu vơ trước cái được mất ởđời

Bằng thái độ trân trọng vô cùng với những người lao động bình dân, NguyễnNgọc Tư đã nhìn thấy nơi chàng trai ấy vẻ lịch sự, chừng mục khác hẳn với cái xuồng

sã, nóng vội của những anh Cu-li xây dựng ít học khác:

“Anh ngụ cư ở xóm này đã bốn năm Cũng chừng ấy năm anh hầu cờ cùng ông

già Anh không mê cờ, nhưng mê cô cháu gái ông, ngay lần gặp đầu tiên, anh nhìn thấy cô đang buột tóc Tay cô thon dài, muốt túm mớ tóc nhỏng lên, để lộ cái gáy cũng thon, nà nuột chập chờn dưới những sợi tóc con Thích đến nao lòng, nhưng chỉ là thưong yêu thầm lén, anh lấy cớ qua chơi cờ với ông già, để tranh thủ ngó mong”.

“Nửa năm, anh đã quen mùi tóc, kịp nhớ bước chân, kịp thương đuôi mày…”

Và rồi cái nhớ, thương thầm kín ấy tiếp nối bằng cái gác tay lên trán: “Anh biết ông già nói tới mình, anh về căn nhà trọ nằm gác tay lên trán, bày tay phụ hồ chai sạn này làm sao xứng để cầm bàn tay non nhuốt kia” Câu nói của ông già ám ảnh trong anh: “Cái thằng ấy tánh cũng được nhưng gốc gác không có, lại nghèo quá…”.

Trang 24

Tình yêu của anh thật sự trong sáng, ngây ngô, dịu dàng hơn cái tuổi và nghề nghiệpcủa mình nhưng không được trân trọng , đền đáp khi đặt trong mối tương quan với thân

thế và sự nghèo khó Vậy mà, anh chỉ tủi chứ chưa hờn, ‘gác tay lên trán’ mà làm phép so sánh giữa hai bàn tay: chai sạn và non nhuốt Anh thật sự có tâm hồn, lòng tự trọng, luôn nghĩ cho đối phương khi trong đầu anh hiện lên suy nghĩ: xứng hay không?

Nhận vật trong tạp văn của chị là những con người bình thường, khao khát yêuthương, cùng có sự hận thù và toan tính Chàng trai trong tác Phẩm “Ván cờ” là mộtngười như thế

Cho đến một ngày hay tin cô gái sắp lấy chồng, “trời sặp cái rầm, vụn vỡ, nát bét những giấc mơ Buồn đến dại người đi, đến xiêu cả đôi chân, trắng đờ con mắt.

“Những buổi chiểu từ công trường về, anh lại qua nhà ông già, bày ra cuộc cờ mới Những con cờ trong tay anh táo bạo hơn, liều lỉnh hơn, ngạo mạn hơn, nhưng cũng

có lúc dại đi, ngập ngừng Ông già có chút ngẩn ngơ, những nước cờ cho thấy lòng thằng nhỏ này đang đau, đáng lẽ nó phải giận mình, không thèm dòm mặt mình” Cái

ván cờ mà chàng trai bày ra không phải là thú vui tao nhã để chứng tỏ rằng anh cũng

có hồn, lịch sự hay vì nỗi ngó mong thầm kín như ngày nào, mà cái ván cờ ấy là bỉểu

tượng cho những toan tính, của tủi hờn thân phận, đau xót trong tình yêu đã hoá thànhthù hận Cái thắng thua của thí pháo bắt xe, mã song, mã đội, pháo giăng, pháo thụt,của tấn mã chiếu tướng… không quan trọng với anh Cái anh muốn, tha thiết muốntrong toan tính là anh trở thành một đối thủ giỏi, một bạn cờ không thể thiếu của ônggià, để ông phải ghiền, phải luỵ anh Sự nghèo khổ, tủi thân, thất bại trong tình yêukhiến anh khao khát chứng tỏ với ông sự hữu ích, sự cần thiết, ý nghĩa của việc anh tồn

tại trên đời này “Có bữa, anh từ công trường về muộn, ông già thắt thẻo ra đón tận đầu đường, nhác thấy anh, ông già thiệt thà kêu lên, tao ghiền mày quá trời, nhỏ Anh chỉ chờ có vậy Anh cảm giác mình đã thắng một cán cờ lớn, anh đã làm ông già

Trang 25

không thể sống thiếu anh.” Đôi lúc anh không biết tại sao mình lại kiên trì cho một kế hoạch trả thù đến vậy Cuộc tình tan vỡ đã để lại trong lòng anh một khoảng hẫng, và mối hận với ông già là điều duy nhất để anh níu lấy, tựa vào mà đi qua trống rỗng Anh nghĩ tới cái ngày anh từ tốn buông từng con cờ lăn lông lốc trên đất, và rất chậm rãi, ngạo mạn, ,anh lạnh lùng mỉa mai: “Tôi không thể chơi cờ với ông được, bởi tôi nghèo, tôi không gốc gác, tôi thân sơ thất sở, tôi thấy không xứng…” , anh tưởng

tượng mặt ông đã tái dại đi Và mỗi chiều phai, ngồi nhìn về phía dãy nhà người ta cất

cho thuê, ông già mỏi mòn, buồn bã “Còn anh không cần ăn thấy gì cũng thấy no”

Đây là cái hay, cái chân thật trong tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư Chị trân trọngnhưng không lí tưởng hoá nhân vật Chị để cho nhân vật mình vận động tâm lí theođúng lẽ tất yếu rất đời thường, dẫu rằng tâm lí ấy đi qua những cung bậc tiêu cực của

toan tính ,thù hận.

Nhưng cái thắng thua trong ván cờ mà anh dày công chiến đấu chưa được ngả

ngũ, thì một ngày kia, tâm trạng anh chợt biển đổi đột ngột khi bất ngờ hay tin ông già

ra đi trong một cơn đột quỵ “Anh ngơ ngác Những buổi chiều từ công trường về, anh

để nguyên bộ đồ lấm lem bùn đất, xi măng, đứng dán mắt rất lâu vào cánh cổng đã đóng chặt Anh nhớ ông già khủng khiếp…” Anh không còn muốn trút hờn, rửa hận nữa, vì thực chất anh chưa hề thù chưa hề hận “Anh không còn nhớ câu nói ngày xưa nữa Một mình bày ra một ván cờ hoang vắng, trong anh tràn ngập nỗi buồn” Anh

nhận ra, trước kia trong anh chỉ là tồn tại nỗi tủi thân, nỗi xót xa cho tình yêu khôngtron vẹn và một sự khao khát khẳng định ý nghĩa bản thân, khẳng định giá trị của mình

“Những chiều từ công trường về, anh để nguyên bộ đồ lấm lem bùn đất, xi măng”, nghĩa là anh không cần chải chuốt, toan tính hơn thua, anh bằng lòng với bản

thân mình Ý nghĩa cuộc sống không phải là sự khằng định với ai đó, cuộc sống là sự

hi sinh, là làm ai đó hạnh phúc vui vẻ, dẫu rằng còn lại trong mình những khổ đau của

sự không thoả nguyện

Trang 26

Trong ATép –km ký sự, cuộc hành trình đến A Tép, hành nhân đã đi qua những

cột mốc cây số, qua những làng mạc, núi non, hàng quán… Xuyên suốt quảng đường

ấy, lòng người cũng có cuộc vận hành qua những cung bậc khác nhau của cảm xúc:

háo hức, hồ hởi, hứng khởi, nôn nao, hoang mang mệt mỏi, tưởng tượng, mơ ứơc, ngóng trông, tuyệt vọng…

“Người trên xe không biết làm gì hơn cho qua cơn hoang mang mệt mỏi này, đành ngó ra cột cây số với một niềm hy vọng mãnh liệt nào đó” Tâm trạng ấy chính

là kết quả của việc phải trải qua những đường đèo dốc uốn lượn, ngoắt ngoéo, nguy hiểm, công queo Cái cảm giác háo hức, hồ hởi, hứng khởi, nôn nao lúc đầu chỉ còn

là đã từng, chúng đã tiêu tan, tan biến”

Vừa như bị những cột mốc cây số đánh lừa, vừa như muốn thoát ra khỏi cảm

giác chán chường, theo lẽ “tự tâm vận động”, trong lòng người xuất hiện “niềm hi vọng lớn” gắn liền với hai tiếng A Tep Hi vọng lớn và mơ ước, hồ hởi lại được tái

sinh, mơ ước nhiều đến nỗi như thể đấy là sự cưỡng cầu, mặc định cho A Tep Khi còn

46km nữa là đến Atep, người ta nghĩ về gà rừng thịt ngọt lừ, chắc nụi, khăn ướt thơm tho, chườm nứớc đá mát lạnh để chiến thắng cái đói và hoang mang Atép thành nỗi thương mong lớn, tên gọi địa danh ấy nghe dịu dàng, dễ thương

Khi còn 39km nữa đến A Tép, cảm giác nôn nao được diễn tả bằng các từ : “

cảm giác nôn nao, chờ (ai đó đang ở ATep) Nhưng thực ra đấy là cảm giác chờ của

chính người đang đi Người đi lại tưởng tượng suy nghĩ, đến mức khẳng định và quả

quyết, thể hiện qua cách diễn đạt của tác giả: “tệ lắm thì sẽ có…” Họ tự tận hưởng

cuộc sống, khi đang ngồi trên xe, bên dòng suối nhỏ Một loạt từ xuất hiện trong dòng

tưởng tượng: trong vắt, lạnh ngắt, ngai ngái mùi lá mục và hoa rừng Cuộc vận hành

có cảm giác nhanh hơn nhờ vào khả năng mơ mọng ấy Từ miêu tả ngoại cảnh nhưng

qua đó khẳng định cảm giác, tâm trạng của người đi: “những cột mốc cây số vun vút lùi lại đằng sau” Đồng thời, với những niềm vui lẻ tẻ cuả hiện tại, họ đã quên đi, “bỏ

Trang 27

mặc, làm cao” với chúng Tâm trạng ấy được bộc lộ qua hành động: chẳng ai thèm reo lên, chẳng ai thèm chỉ trỏ.

A Tép của những hy vọng đợi chờ chỉ còn cách 1km, suy nghĩ vụt biến thành

hành động: dựng thẳng lưng dậy, hăng hái bẻ tay rôm rốp, hồ hởi cười ha ha, lúi húi

(mặc quần dài) “Hành nhân” tự tin khẳng định: “Sắp tới A Tep, chỗ đó quan trọng

lắm, sằm uất lắm, nên cột cây số mới thông tin liên tục vậy chớ” Qua trọng, sầm uất ,

đấy thực chất là sự ngộ nhận trong tâm trạng mong ngống cuộc hành trình mau kết thúccủa người đi, cột mốc cây số chẳng gạt gẫm, dụ dỗ một ai

A Tep hiện ra trong sự nhận dạng của người đi: là một cây cầu vắng ngắt Nó cắt nát mọi hy vọng, nó chà đạp, cười nhạo lên những nôn nao, chờ đợi của một đoàn người trên một chặng đường đèo thăm thẳm” Có thể A Tep không hoang, nhưng vì không như sự tưởng tưởng của người đi thành ra vắng ngắt Cái vắng ngắt là vắng

trong tâm, vắng khi những tưởng tưởng đã không còn điều kiện để tồn tại Nỗi thất

vọng khó tả được tác giả thay bằng một phép nhân hoá cho cây cầu: cắt nát, chà đạp, cười nhào Chưa thoả lòng trong diễn đạt, tác giả trút một tiếng thở thật dài: “Thất vọng thật Đời mình chưa bao giờ thấy tuyệt vọng và hoang mang như vậy, mặt trời

đã chếch gần dãy núi Ta đi về đâu?” Mất một phưong hy vọng chờ đợi, đoàn người

thấy mình như bị lạc, thể hiện qua “ta đi về đâu”

Sau những xao động, bất ngờ, ngỡ ngàng, người đi cũng bình tâm lại cho những

suy ngẫm: “nghĩ về A Tép, bỗng thương, vì nó đem đến cho mình quá nhiều cảm xúc.

Từ hy vọng, chờ đợi, háo hức đến tuyệt vọng ,giận dữ.”; “nhưng tại sao phải trông ngóng những cột cây số, toan tính cho cuộc hành trình, hoạch định, một mục đích đến… Tại sao phải để tâm trí vào hoạch định cuộc đời mình, phải hối hả tới nơi nào

đó mà bỏ qua, quên lãng bao nhiêu điều tuyệt đẹp bên đời”

600km tiếp nối sau đấy, người đi cũng quên lãng, thôi những câu hỏi vơ vẩntrong đầu

Trang 28

Xúc cảm chỉ trở thành diễn biến tâm trạng khi trải qua những cung bậc khácnhau Tậm trạng chỉ được đồng điệu, trân trọng, sẻ chia khi nó được thể hiện, bộc lộ rabằng một phương thức nào đấy Nguyễn Ngọc Tư, bằng ngôn ngữ, với tất cả tinh tế, tàinăng đã gợi mở cho người đọc những chân trời khác nhau của nỗi niềm, của rung cảm

b Tậm trạng diễn biến theo sự kết nối những cảm xúc, ý nghĩ vu vơ của quá khứ và hiện tại đang xen nhau

Tạp văn, do tính chất của thể loại, đôi khi chỉ là ghi nhận những khoảnh khắc,chi tiết, sự kiện nhỏ, bất chợt trong cuộc sống Do vậy, lớp từ chỉ tâm trạng cảm xúc có

cơ hội được Nguyễn Ngọc Tư vận dụng một cách dễ dàng, thường xuyên trong nhữngtrang văn, đôi khi là khá ngắn, của mình

Trong truyện “Chi tiết”, cảm xúc, suy tư của chị trước cuộc đời được thể hiệnqua sự liên kết những cảm xúc khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau

Ở “Cho tiết”, ta ngạc nhiên , nhưng rồi suy ngẫm, ta lại thấy đúng và đồng cảm

với một nhận vật chị, một người hay “mắc bệnh chi tiết” Một ngày nhân vật chị “hăm

hở vác máy ảnh đến cơ quan tiếp dân” Những tưởng cái cảm giác ngó mong, cồn cào

được đền đáp lại bằng những giờ phỏng vấn đầy hứng thú, nhiệt tình, nhưng không ngờ

cái hăm hở ấy lại rụi ngọn vì một chi tiết vô cùng nhỏ nhặt “Cuối cùng nhân vật cũng tới, chực thấy anh qua cổng thì bài báo của cô lập tức rụi ngọn, như bị hắt nước lạnh Không, chính xác là bị cây tăm đang đỏng đảnh ngoắc ngoắc trên khoé miệng nhân vật chọc thẳng vào mắt”

Chị cũng ý thức được sự nhạy cảm hơi khác thường cuả mình, nhưng đó là cảmgiác thật và chị có niềm tin thật sự vào cảm giác ấy Tậm trạng chị rẽ ngoặt thật đột

ngột khi chỉ vừa “chực thấy” đối tượng Cái rẽ ngoặc ấy hoàn toàn là có lí, thích đáng.

Chị bắt đầu thoát khỏi hiện tại, tản mạn, lí giải cho những biểu hiện, phản ứng tâm lívừa rồi

Trang 29

“Nói cho cùng thì cây tăm không có lỗi, nó được tạo ra là để xỉa răng, nhưng

nhiều lúc nó biến thành biểu tượng của sự phè phỡn, thoả mãn, vô cảm Một người có cởi mở, nhiệt thành đến dđâu, cái tâm tốt đến đâu, cũng bị đè bẹp bởi bề ngoài vô duyên và vô tình khi cây tăm cứ nhịp theo lời nói”

Tiếp theo, từ câu chuyện “Hôm nay lại khổ vì chi tiết” ấy, chị quay về quá khứ.

Chị liên tưởng đến những mệt muốn ngất đi, buồn hết mấy ngày, hết muốn quay lại… của những thời khắc khác để thấy rằng “chi tiết hành chị không phải lần đầu”,

tâm trạng chị không chỉ một lần rẽ ngoặc đột ngột đến thế

“Có lần xuống địa phương, hăm hở lặn lội trên những con đường quê vòng vèo, thấy những đứa trẻ đi học về ngoi ngóp trong mưa thương quá, nhác thấy anh chủ tịch xã cười khoe tám cái răng bịt vàng choé, bỗng thấy mệt muốn ngất đi… Có lần đi Đất Mũi thấy người ta cất nhà rông kiểu…Tây Nguyên, cô hết muốn quay lại.

Cò lần định viết gương người tốt việc tốt một cán bộ Đoàn, nhưng ngặt nỗi anh này

hay khệ nệ cái cặp táp dày ù ,móng tay thì để dài” “Thần tượng ông nhà thơ nọ nhưng bắt gặp cộng bún khô queo vắt trên bộ râu ông, cô buồn hết máy bữa”.

Đặc biệt, khi nhớ đến người tình cũ, người đã sớm xoá sạch kí ức của một thời

yêu thương, chị lại quay về hiện tại, thể hiện góc nhìn của mình về phụ nữ: “Rốt cuộc

dường như chỉ phụ nữ là nhớ đằm, nhớ sâu ” Chị đã lí giải rõ ràng, làm cho người

đọc đồng cảm rằng chi tiết nhưng lại quan trọng, rối đến cuối truyện, chi lại nối bâng

quơ, như muốn phủ định những biện giải nêu trên: “Những chuyện không đâu…”

Trong truyện, nhân vật chị “tự trách mình hay làm hư việc bởi những chuyện không đâu” Nhưng đấy là lúc chị thấy mình đã phí công mất việc, còn khi đối diện với tiểu tiết đáng buồn, chị vẫn cứ thế, “lại buồn vì tiểu tiết” Những biến thái phức tạp

ấy là tâm lí rất thường, rất phụ nữ, đặc biệt khi đấy là người phụ nữ có cái tâm

Nhân vật “tôi” ngày nọ về thăm lại vùng Đất Cháy, ngỡ đâu là cuộc viếng thămbình thường, nào ngờ cái nhớ quên, cái hàm ơn và vong ơn, sự ra đi và trở lại bất chợt

Trang 30

ngập tràn, thành xót xa, đau đáu, áy náy và rồi tâm trang rơi trong cái vô cùng củamhững suy tư về lẽ đời Từ việc nhắc lại những kỉ niệm xa xưa của cái thời tám tuổi,

của cái “xứ mình hồi đó nhiều cá ghê”, “chuyện gây ngậm ngùi, chuyện đã xa xôi, tuyệt nhiện không níu kéo” và rồi “túi kí ức mỡ toan” Ân tình của những ngày xưa nối đuôi nhau kéo :“…dăm ba tháng ông xuống xuồng chèo đằng đẵng từ khuya đến trưa hôm sau….” Nhân vật tôi nhớ rắng “mình đã từng nhớ”: “tôi nghĩ về Đất Cháy như nhà mình, vẫn thương quay quắt”, và cũng tự trách mình đã từng quên: “Quên thiệt sao? Tôi cũng tự hỏi lòng mình suốt đọc đường đi… Tôi tự tha thứ cho mình cái nỗi quên Để khi đứng trước mặt một người Đất Cháy già nua, tôi bỗng nhận ra, mình quên nhiều hơn một con đường về, mọt cái bến…” Từ cái quên của bản thân, cô liên tưởng đến cái quên của nhiều người: “Trời, người đó quên còn ác liệt hơn, cả chuyện mình cũng là thành viên trong cụm từ “mấy ông tỉnh”, cũng chẳng quay lại Đất Cháy lần nào, từ sao giải phóng, mà cũng quên”.

Cuộc hành trình, rẽ ngoặt của tâm trạng, cảm xúc đã tạm dừng, tạm hội tụ về ở

những suy tư, trăn trở cuối truyện: “Tôi bỗng nhớ tới sự quên đang tàn phá con người mình, cồn cào bởi ý nghĩ, mai này ông thật sự vùi vào Đất Cháy, tôi cũng quên gương mặt chan chứa buồn của ông sớm nay? Tôi cũng sẽ quên cái lưng cong oằn, cái bụng teo hóp chỉ bằng hai bàn tay nối lại? ”

Như vậy, tâm lí nhân vật hoàn toàn không mâu thuẫn, nhưng biến đổi liên tục,kết nối mọi hướng theo thời gian Điều đó thể hiện tính chân thật, gần gũi với đờithường của từng nhân vật, đồng thời khẳng định khả năng quan sát và cảm nhận tàitình, tinh tế của tác giả

2.2.1.2 Lớp từ miêu tả sự đa dạng của trạng thái tâm trạng cảm xúc

a.Dùng hàng loạt từ để khắc sâu tâm trạng, cảm xúc

a1 Dùng nhiều từ ngữ giống nhau, khác nhau về nghĩa và trường nghĩa biểu đạt đời sống nội tâm

Trang 31

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Với tư cách là cái trừu tượng, các “trường” đóng vai trò những cái khuôn, những “mô hình” ngữ nghĩa đễ hút về, tạo ra và cải tạo lại (đối với các đơn vị vay mượn) ý nghĩa của những từ cụ thể” [3; Tr254] Lớp từ miêu tả

tâm trạng “thu hút” các từ ngữ ở các trường nghĩa khác nhau tham gia vào hệ thống Sựvận dụng hàng loạt từ này đã làm tăng hiệu quả biểu đạt cho ngôn ngữ miêu tả

Khi miêu tả tâm trạng, tác giả Nguyễn Ngọc Tư kết hợp nhiều từ, ngữ thuộctrường nghĩa chỉ cảm giác, chỉ thái độ hay hành động… để làm nổi rõ tính cách nhânvật, hiện tượng này xuất hiện xuyên suốt trong các tác phẩm, nó có tác dụng nối dàicâu văn, tạo nhịp điệu cho lời văn và nhất là đời sống nội tâm được miêu tả cụ thể,sống động Nội tâm nhân vật trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư không được thể hiện vớitrạng thái đơn giản thuần nhất, hiện thực cuộc sống với tính đa chiều phức hợp đã đượcchiếu vào lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc

Trong “Chân không”, nhân vật tôi ngỡ ngàng với Sự cố tháng tư, không hoảng

sợ, nhưng “đau quặn, đau buốt vì một vết thương khác, đó là sự cô đơn khi đi giữa đám đông mà đám đông chẳng thấy mình, chẳnghiểu mình” Mọi sự an ủi sẻ chia không sao xoa được cái “ngỡ ngàng, ngơ ngác” và “vết thương máu ứa ra” trong tim

bởi cái vấp ngã trước cuộc đời, dẫu rằng đã qua lâu, vết thương không còn đau, nhưng

tâm hồn nhạy cảm của một nhà văn vẫn thấy rờn rợn rằng cuộc đời này có “ rễ cây”, có

sự vấp ngã nếu quá hồn nhiên, chân thật Mọi sự an ủi chẳng ít gì, chi bằng đừng để cho nhau vấp ngã: “Nhưng tôi chẳng còn lòng dạ nào, bởi tim nghẹn lại, đau đáu nhớ về con bé chân không thuở trước”

Mỗi nhà văn đều có thể tự hào mình là người từng trải, có vốn sống phong phú.Riêng Ngọc Tư, chị có “kinh nghiệm” với những cảm xúc, tâm trạng “đặc biệt”, đấy lànhững tâm trạng cảm xúc có thể đẩy người ta đến cái chết Chị hình dung lại cảm

giác ấy : “Những cơn buồn đã vùi Lam, Diễm vào đất cũng từng làm mình hoang hoải, điêu đứng, liêu xiêu” Chị dùng một loạt những từ hoang hoải, điêu đứng liêu

Trang 32

xiêu vừa nhằm diễn đạt thật đắt tâm trạng cảm xúc, vừa như khát khao đồng cảm, vừa

mang nét cá biệt, rất độc đáo, rất riêng cho “văn hiệu” Nguyễn Ngọc Tư Chị cố gắng

để lí giải cho những hành vi tự tử, đó là “hỗn hợp của những đổ vỡ, ngơ ngác, thảng thốt, vu vơ, ngớ ngẩn, lạc lõng, mất mát, vô nghĩa, không phương hướng” (Buồn

buồn nói chuyện buồn chơi).Chị đã dùng một loạt từ đứng liên tiếp nhau, đáp ừng được

nhu cầu diễn dạt và cũng có tác dụng gây ấn tượng người đọc

Nguyễn Ngọc Tư đặt nhân vật trong sự tương quan với cảnh vật, kết hợp động

từ, tính từ chỉ tâm trạng với từ chỉ cảm giác về ngoại giới: “Ông già lủi thủi đi vào đi

ra trong căn nhà vắng, buồn thiu, trông cho mau hết ngày, cho mau đến chiều, ông bắc ấm nước, châm bình trà, ngồi ngó ra đường, chờ anh.” (Ván cờ) Hay khi là tâm

trạng đầy mâu thuẫn đau đớn nhưng cố gượng, dồn nén, tác giả đặt những trường nghĩa

đới lập nhau cùng song hành trong một câu: “anh táo bạo hơn, liều lĩnh hơn, nhưng cũng có lúc dại đi, ngập ngừng” Khi sự bất lực hiển hiện ra giữa thực tế đáng buồn;

“Xoa tay, vậy là xong, thế nhưng anh vẫn không thấy nhẹ lòng” (Người mỏi chân

chưa)

Niềm xúc động, hàm ơn nói không nên lời được tác giả gói gém trong những cử

chỉ bối rối, lúng túng: “Chỉ biết ba má tôi lóng ngóng, hỏi một câu ngớ ngẩn” Dẫu không nên lời nhưng con người ta biết trân trọng và lưu giữ ân tình ấy “Vẫn thân thuộc, ruột ràng, ấm áp, vẫn nghĩ về đất cháy như một cái nhói lên, như một món nợ nghĩa tình gia đình tôi toàn là nhận” (Đất Cháy)

Ngày đăng: 14/07/2015, 09:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê phân loại lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc theo tiêu chí từ loại ở một số tạp văn của tác giả Nguyễn Ngọc Tư - Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
Bảng th ống kê phân loại lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc theo tiêu chí từ loại ở một số tạp văn của tác giả Nguyễn Ngọc Tư (Trang 35)
Bảng thống kê tần số sử dụng từ địa phương - Đặc điểm từ ngữ tạp văn Nguyễn Ngọc Tư
Bảng th ống kê tần số sử dụng từ địa phương (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w