Trong những năm qua đóng góp của kinh tế khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế xã hội cũng như các lĩnh vực khỏc đó và đang chiếm một tỷ trọng ngày một cao trong tổng thể chung của cả nước vì thế đòi hỏi cần phải có một cái nhìn quan tâm hơn đến khu vực kinh tế quan trọng này. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ra đời, công bố lần đầu tiên vào năm 2005, nhằm đáp ứng đòi hỏi này, đánh giá một cách khách quan qua cái nhìn của các doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh, chính sách và các vấn đề mà khối doanh nghiệp tư nhân gặp phải trong quá trình khởi nghiệp cũng như hoạt động tại địa phương sở tại. Đây là phương pháp nghiên cứu không chỉ căn cứ vào các số liệu thống kê của các cơ quan nhà nước mà còn dựa vào các dữ liệu từ phía các doanh nghiệp tư nhân trong nước do đó kết quả thu được đã tạo ra những luồng ý kiến khá đa dạng, đặc biệt về vị tri thứ tự của các tỉnh, thành phố song nhìn chung, đa số các nhà quản lý từ Trung ương đến địa phương, các nhà khoa học, doanh nghiệp…đều tiếp nhận và sử dụng kết quả nghiên cứu như một cơ sở để xem xét và xây dựng chính sách. Thành phố Hà Nội, với vai trò là một trong hai đầu tầu kinh tế của cả nước, có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế trong đó bao gồm khối doanh nghiệp dân doanh nhưng theo đánh giá của chỉ số PCI thì năng lực cạnh tranh của thành phố vẫn còn ở mức thấp; cụ thể, năm 2005 Hà Nội đứng vị trí thứ 1442 tỉnh thành nhưng đến năm 2006, sau khi VCCI mở rộng phạm vi nghiên cứu ra toàn bộ 64 tỉnh thành trong cả nước thì vị trí của Hà Nội tụt xuống thứ 3864, năm 2007 vươn lên vị trí 2764 rồi năm 2008 lại giảm xuống vị trí 3164. Trên thực tế, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tạo thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung và cho khu vực doanh nghiệp tư nhân nói riêng phát triển. Vậy những hạn chế nào, trong khâu nào, cấp nào, ngành nào đã làm giảm tính hấp dẫn môi trường đầu tư trong mắt các doanh nghiệp tư nhân? Việc nghiên cứu cuh thẻ, chi tiết kết quả đánh giá chỉ số PCI là cần thiết và có tính cấp bách nhằm phát hiện ra nguyên nhân, yếu kém cụ thể, đề từ đú cú những giải pháp cụ thể nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao hơn nữa xứng đáng với vị thế là một trong những trung tâm kinh tế của cả nước.
Trang 1Lời mở đầu
Bổ sung mục lục
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua đóng góp của kinh tế khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế xã hội cũng như các lĩnh vực khỏc đó và đang chiếm một tỷ trọng ngày một caotrong tổng thể chung của cả nước vì thế đòi hỏi cần phải có một cái nhìn quan tâm hơn đến khu vực kinh tế quan trọng này Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ra đời, công bố lần đầu tiên vào năm 2005, nhằm đáp ứng đòi hỏi này, đánh giá một cách khách quan qua cái nhìn của các doanh nghiệp dân doanh về môi trường kinh doanh, chính sách và các vấn đề mà khối doanh nghiệp tư nhân gặp phải trong quá trình khởi nghiệp cũng như hoạt động tại địa phương sở tại Đây là phương pháp nghiên cứu không chỉ căn cứ vào các số liệu thống kê của các cơ quan nhà nước mà còn dựa vào các dữ liệu từ phía các doanh nghiệp tư nhân trong nước do đó kết quả thu được đã tạo
ra những luồng ý kiến khá đa dạng, đặc biệt về vị tri thứ tự của các tỉnh, thành phố song nhìn chung, đa số các nhà quản lý từ Trung ương đến địa phương, các nhà khoa học, doanh nghiệp…đều tiếp nhận và sử dụng kết quả nghiên cứu như một cơ sở để xem xét và xây dựng chính sách
Thành phố Hà Nội, với vai trò là một trong hai đầu tầu kinh tế của cả nước, có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế trong đó bao gồm khối doanh nghiệp dân doanh nhưng theo đánh giá của chỉ số PCI thì năng lực cạnh tranh của thành phố vẫn còn ở mức thấp; cụ thể, năm 2005 Hà Nội đứng vị trí thứ 14/42 tỉnh thành nhưng đến năm 2006, sau khi VCCI mở rộng phạm vi nghiên cứu ra toàn bộ 64 tỉnh thành trong cả nước thì vị trí của Hà Nội tụt xuống thứ 38/64, năm 2007 vươn lên vị trí 27/64rồi năm 2008 lại giảm xuống vị trí 31/64 Trên thực tế, lãnh đạo thành phố Hà Nội đã
có nhiều chủ trương, chính sách, triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm tạo thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung và cho khu vực doanh nghiệp tư nhân
Trang 2nói riêng phát triển Vậy những hạn chế nào, trong khâu nào, cấp nào, ngành nào đã làm giảm tính hấp dẫn môi trường đầu tư trong mắt các doanh nghiệp tư nhân? Việc nghiên cứu cuh thẻ, chi tiết kết quả đánh giá chỉ số PCI là cần thiết và có tính cấp bách nhằm phát hiện ra nguyên nhân, yếu kém cụ thể, đề từ đú cú những giải pháp cụ thể nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh có tính cạnh tranh cao hơn nữa xứng đáng với
vị thế là một trong những trung tâm kinh tế của cả nước
2 Kết cấu của đề tài.
Đề tài được viết theo phong cách cổ điển, ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danhmục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và các tiêu chí cấu thành
Chương 2: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố Hà Nộimới
Trang 3Chương I: Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và các tiêu chí cấu thành
1.1 Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
1.1.1 Định nghĩa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh viết tắt là PCI (tên viết tắt bằng tiếng Anh của các từ Provincial Competitiveness Index), được tính toán nhằm “đánh giá chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp dân doanh được điều tra” ở mỗi tỉnh, thành phố
Chỉ số PCI là thành công đầu tiên trong việc triển khai nghiên cứu môi trường đầu
tư, môi trường sản xuất kinh doanh ở các tỉnh, thành phố trong cả nước dựa trên đánh giá của doanh nghiệp Chỉ số PCI được Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam (VCCI) công bố chính thức từ năm 2005 Tuy nhiên, việc đánh giá, xếp hạng về PCI cho tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước chỉ được tiến hành hàng năm bắt đầu từ năm 2006
1.1.2 Các tiêu chí cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Từ năm 2006, PCI được tính toán trên cơ sở 10 chỉ số thành phần, các chuyên gia nghiên cứu chia những chỉ tiêu điều tra thanh mười nhóm tương ứng với các chỉ số thành phần để xây dựng chỉ số tổng hợp, mỗi chỉ số được xây dựng bằng cách kết hợp hai loại dữ liệu, đó là dữ liệu dựa trên đánh giá của doanh nghiệp(dữ liệu mềm) và dữ liệu khách quan (dữ liệu cứng)
Chi phí gia nhập thị trường: chỉ số thành phần này đo lường thời gian một
doanh nghiệp cần để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép,hoàn tất mọi thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh
Ý tưởng xây dựng chỉ số thành phần này bắt nguồn từ cuộc điều tra về chi phí khởi sự kinh doanh ở các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển đổi
do Ngân hàng Thế giới tiến hành Mục đích của việc xây dựng chỉ số thành phần Chi
Trang 4phí gia nhập thị trường là đánh giá sự khác biệt giữa các tỉnh về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới ở tỉnh Theo Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, trình tự và thủ tục đăng ký kinh doanh là thống nhất ở các tỉnh, nhưng theo kết quả nghiên cứu của CIEM và GTZ thì ở các tỉnh vẫn có sự khác biệt lớn trên thực tế Nghiên cứu PCI đo lường mức độ khác biệt trong chi phí gia nhập thị trường bằng việc dử dụng bảy chỉ tiêu cơ bản sau khi đã chuẩn hoỏ cỏc chỉ tiêu này theo thang điểm từ 1 đến 10
• % doanh nghiệp phải mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh
• % doanh nghiệp phải mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh
• Thời gian chờ đợi thực sự để được cấp đất (căn cứ vào nỗ lực của chính quyền, không phải các điều kiện cung/cầu)
• Thời gian đăng ký kinh doanh (số ngày)
• Thời gian đăng ký lại (số ngày)
• Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà doanh nghiệp hiện có
• % doanh nghiệp gặp khó khăn mới có đủ các loại giấy phép cần thiết
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: chỉ số thành phần này được
tính toán căn cứ vào tình trạng doanh nghiệp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không, có đủ mặt bằng để đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh hay không, đánh giá của doanh nghiệp về chính sách chuyển đổi đất nông nghiệp của địa phương, về rủi
ro trong việc bị thu hồi đất hay thay đổi các điều kiện thuê đất, về sự công bằng trong
cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến đất đai
Một vấn đề mà các chuyên gia và bản thân các DNTN ở Việt Nam bàn luận khá nhiều là tình hình cấp GCNQSDĐ cho doanh nghiệp không đồng đều giữa các tỉnh Các vấn đề liên quan đến đất đai thường được nhìn nhận theo hai góc độ Một là, chỉ sốPCI ghi nhận những khó khăn tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh phù hợp không những làm doanh nghiệp mất đi cơ hội đầu tư mà còn hạn chế khả năng tiếp cận các
Trang 5nguồn tín dụng vì doanh nghiệp không có GCNQSDĐ để thế chấp tại ngân hàng Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp không thể tìm được đất cho mỡnh nờn phải thuê lại mặt bằng
từ các DNNN hoặc các cơ quan Nhà nước ở tỉnh, do đó, doanh nghiệp bị hạn chế nhiềukhi muốn mở rộng sản xuất kinh doanh và thường phải tốn kém nhiều chi phí giao dịchmới Khía cạnh thứ hai về các chính sách liên quan đến đất đai là “Sự ổn định của mặt bằng sản xuất”, liệu các doanh nghiệp có cảm thấy an tâm đối với các quyền sử dụng đất dài hạn của mình? Khi các doanh nghiệp thực sự an tâm về mặt bằng sản xuất ổn định, họ càng có được khuyến khích đầu tư để khai thác năng suất dài hạn của mặt bằng sản xuất được giao Ngược lại, nếu các doanh nghiệp nhận định có khả năng đất cho thuê bị đòi lại, hoặc bị chèn ép thay đổi những diều khoản quan trọng trong hợp đồng thuờ đõt, họ sẽ điều chỉnh chỉ lập dự án đầu tư hoặc phương án kinh doanh ngắn hạn Lợi ích kinh tế từ thu nhập thuế, phúc lợi xã hội từ gia tăng công ăn việc làm mới của tỉnh sẽ bị ảnh hưởng nếu các doanh nghiệp đều lựa chọn hình thức đầu tư, kinh doanh “thiển cận” này
• Tiếp cận đất đai
o % doanh nghiệp có GCNQSDĐ hoặc đang trong quá trình chờ nhận
o Khả năng mở rộng kinh doanh nếu dễ có mặt bằng kinh doanh hơn
o % doanh nghiệp thuê lại đất từ DNNN
o Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực của chính quyền tỉnh trong việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
o % diện tích đất có GCNQSDĐ
• Bảo đảm thời hạn thuê đất
o Rủi ro mặt bằng kinh doanh do bị chính quyền thu hồi cho mục đích khác
o Đánh giá về mức thoả đáng của số tiền bồi thường
o Rủi ro về thay đổi các điều kiện cho thuê
Trang 6o Đánh giá về tính công bằng trong cách thức giải quyết tranh chấp về hợp đồng thuê
o Thời hạn thuê
Tính minh bạch: chỉ số thành phần này đánh giá khả năng doanh nghiệp có thể
tiếp cận được những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho công việc điều hành kinh doanh của mình, sự bình đẳng trong tiếp cận thông tin của các tài liệu này,
sự cập nhật thông tin về chính sách, quy định mới cho doanh nghiệp, tính tiên liệu của việc triển khai thực hiện những chính sách, quy định đó và độ mở của trang web tỉnh
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu và chuyên gia phát triển, tính minh bạch
là một trong những yếu tố quan trọng nhất để phân biệt môi trường kinh doanh nào tạo thuận lợi cho sự phát triển của khu vực tư nhân Hai chuyên gia của Ngân hàng thế giới
là Tara Vishwanath và Daniel Kaufman đã đưa ra định nghĩa về tính minh bạch là:
“Sự gia tăng luồng thông tin kinh tế, xã hội và chính trị một cách kịp thòi và tin cậy về các dịch vụ công của chính quyền, về chính sách tài chính tiền tệ,…Ngược lại, thiếu minh bạch là tình trạng mà ở đó một cỏc nhõn…cố ý giữ riêng thông tin hoặc đưa ra các thông tin sai lệch hoặc không đảm bảo được đã cung cấp thông tin hoàn toàn phù hợp và có chất lượng”
Để phản ánh đầy đủ nhiều yêu cầu trên của tính minh bạch, nhóm nghiên cứu xác định chỉ số về tính minh bạch phải hội đủ năm thuộc tính sau: tính sẵn có của thông tin( hay khả năng tiếp cận thông tin), tính công bằng, tính ổn định, tính dự đoán trước được và tính cởi mở Do đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng chỉ số thành phần về tính minh bạch và trách nhiệm theo chín chỉ tiêu được trình bày sau đây:
• Tính minh bạch
o Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
o Tính minh bạch của các quyết định,nghị định
• Tính công bằng và sự ổn định trong việc áp dụng các quy định
o Vai trò của các “mối quan hệ” để các được các tài liệu kế hoạch của tỉnh
Trang 7o Vai trò của gia đình và bạn bè khi thương lượng với cán bộ Nhà Nước
o Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh doanh
• Khả năng có thể dự đoán và tính ổn định của các quy định, chính sách
o Khả năng có thể dự đoán được của các hoạt động thực thi pháp luật của tỉnh
o Tỉnh có trao đổi ý kiến với doanh nghiệp về những thay đổi trong các quy định pháp luật
o Chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của tỉnh cung cấp về thông tin pháp luật
• Tính cởi mở: Đánh giá trang web của tỉnh
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước: chỉ số thành phần
này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải bỏ ra khi thực hiện các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan pháp luật của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra
Nghiên cứu chi phí giao dịch trên cơ sở thời gian bỏ ra là một nội dung quan trọng trong nghiên cứu về các nền kinh tế đang chuyển đổi Ở Việt Nam, các nhà quản
lý doanh nghiệp thường phải bỏ dở công việc kinh doanh để xoay xở và đương đầu với các vấn đề sự vụ giấy tờ liên quan đến quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước - thời gian mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạt động quản lý kinh doanh Nhóm nghiên cứu
đề cập đến hai khía cạnh của chi phí thời gian: thời gian giải quyết các vấn đề liên quanđến thủ tục hành chính và thời gian làm việc với các đoàn thanh tra, kiểm tra Bao gồm:
• Số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm đi sau khi có Luật doanh
nghiệp
• % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với chính quyền
• Số cuộc thanh tra và số giờ làm việc với thanh tra thuế
• Tỷ lệ số cuộc thanh tra sau khi có Luật doanh nghiệp
Trang 8 Chi phí không chính thức: chỉ số thành phần này đo lường mức chi phí không
chính thức doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây nên cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chỉ số này gồm năm chỉ tiêu đánh giá mức độ tác động của vấn đề bằng cách đolường tần xuất xảy ra, loại chi phí và quy mô của các khoản phí phát sinh thêm:
• Các chi phí không chính thức là cản trở chính đối với hoạt động kinh doanh
• Các doanh nghiệp cùng ngành đều trả chi phí không chính thức
• % doanh nghiệp tốn hơn 10% doanh thu cho các loại chi phí không chính thức
• Cán bộ tỉnh sử dụng các quy định riêng của địa phương với mục đích trục lợi
• Công việc được giải quyết sau khi đã chi trả chi phí không chính thức
Ưu đãi đối với DNNN và môi trường cạnh tranh: chỉ số thành phần này đo
lường sự cảm nhận của các doanh nghiệp dân doanh về mức độ ưu tiên của chính quyền tỉnh đối với các DNNN và về chính sách cổ phần hóa của tỉnh, về thái độ của chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân, về số lượng DNNN và khả năng tiếp cận vốn của các DNNN trong tỉnh
Chỉ số này đánh giá sự ưu đãi của chính quyền cấp tỉnh đối với DNNN về cơ chế, chính sách và việc tiếp cận vốn Bản chất của chỉ số là tìm hiểu xem các DNTN cócảm nhận là họ đang kinh doanh trong môi trường công bằng, bình đẳng hay đang phảiđối mặt với sự phân biệt đối xử dành nhiều ưu đãi hơn cho khu vực kinh tế Nhà Nước, thể hiện ở những lợi thế đặc biệt và “nới lỏng” ngân sách hoạt động cho khu vực kinh
tế Nhà nước Ưu đãi dành cho khu vực kinh tế Nhà nước không nhất thiết chỉ ở hình thức hỗ trợ trực tiếp để cạnh tranh đối với sản phẩm và dịch vụ cùng loại, mà còn gồm những hỗ trợ cạnh tranh về lao động có tay nghề, đất đai hay tín dụng
Chỉ số thành phần này được tính toán theo hai loại dữ liệu: dữ liệu “mềm” phản ánh đánh giá của doanh nghiệp với sáu chỉ tiêu và dữ liệu “cứng” với ba chỉ tiêu
• Đánh giá của doanh nghiệp
o Tính ưu đãi đối với DNNN
Trang 9o Tính ưu đãi doanh nghiệp cổ phần hoá
o Thái độ của tỉnh đối với DNTN chỉ tiêu này khác chỉ tiêu dưới ntn?
o Thái độ đối với DNTN đang được cải thiện
o Những đóng góp về tài chính ảnh hưởng đến thái độ đối với DNTN
o Đánh giá của doanh nghiệp đối với nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh
• Điểm số liệu cứng về ưu đãi đối với DNNN
o Tương quan tỷ lệ giữa tỷ trọng nợ của DNNN do địa phương quản lý trong tổn
số nợ của các doanh nghiệp của tỉnh so với tỷ trọng doanh thu của các doanh nghiệp của tỉnh
o % thay đổi về số lượng DNNN do địa phương quản lý
o Tỷ trọng dư nợ co vay của các ngân hàng thương mại quốc doanh cho DNNN
Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: chỉ số thành phần này đo
lường tính sáng tạo, sáng suốt của chính quyền tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vựckinh tế tư nhân
“Không rõ ràng” là một đặc điểm của môi trường kinh doanh ở Việt Nam Đây
là hệ quả của sự thiếu rõ ràng về từ ngữ trong các văn bản pháp luật, sự chậm trễ kéo dài “nợ” ban hành các văn bản hướng dẫn dưới luậtCâu? mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn thực hiện (thông tư, chỉ thị, công văn và quyết định của UBND các cấp) và thậm chí ngay giữa các bộ Luật với nhau Câu? Đối với nhiều ngành nghề mới ở Việt Nam, hệ thống quy định pháp luật chưa hoàn chỉnh và thiếu rõ ràng Khi dự án đầu tư
bị trì hoãn do quy định của pháp luật liên quan thiếu rõ ràng, cách áp dụng, diễn giải pháp luật của chính quyền tỉnh sẽ có tác động lớn tới sự thành bại của dự án đó Quan chức của Tỉnh có thể làm lãng phí thời gian và tiền bạc của doanh nghiệp nếu họ bắt buộc doanh nghiệp phải chờ đến khi có văn bản hướng dẫn thi hành của cấp trên hoặc phải chuyển trường hợp của doanh nghiệp lờn cỏc cơ quan cấp trên để xin ý kiến giải
Trang 10quyết Thậm chí, một số nơi cũn dựng chính sự thiếu chặt chẽ và thiếu rõ ràng của quy định làm rào cản đối với các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, nhưũng doanh ngiệp có nguy cơ tạo ra sự cạnh tranh đối với các doanh nghiệp lớn ở địa phương Trong những trường hợp đó, tỉnh nào sáng tạo và xử lý linh hoạt trong khuôn khổ các quy định của Trung ương, tỉnh đó sẽ tạo ra được nguồn hỗ trợ lớn cho các DNTN Tương tự, khả năng có được các sáng kiến, biện pháp tiên phong nhằm giải quyết những khó khăn mà các DNTN gặp phải sẽ tác động rất lớn đối với sự phát triển của khu vực KTTN tại địa phương đó.
Nhóm nghiên cứu sử dụng bốn chỉ tiêu để tính toán chỉ số thành phần về tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh, dựa trên tỷ lệ phần trăn số doanh
nghiệp “đồng ý” hoặc “hoàn toàn đồng ý” với các nhận định sau đây:
• Tính triển khai tốt các quy định của Trung ương
• Tính sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với cộng đồng doanh nghiệp
• Tớnh có sáng kiến tốt nhưng còn nhiều cản trở ở Trung ương
• Không có sáng kiến nào ở cấp tỉnh
• Tính tham khảo ý kiến của doanh nghiệp khi xây dựng các quy định
Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân: chỉ số thành phần này dùng để
đánh giá các chất lượng các dịch vụ công của tỉnh để cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp
Chỉ số thành phần thứ tám đi xa hơn so với “Tớnh năng động và tiên phong” bằng cách đo lường xem các sáng kiến cụ thể của tỉnh có vai trò như thế nào trong việcthúc đẩy khu vực KTTN Trong những cuộc điều tra trước đây về khu vực KTTN ở Việt Nam, các doanh nghiệp được yêu cầu liệt kê danh sách các trở ngại chính đối với hoạt dộng kinh doanh của họ: khó tiếp cận thông tin về thị trường trong và ngoài nước, không hiểu rõ các thay đổi trong môi trường chính sách và khó khăn trong tìm kiếm nhân lực phù hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Chỉ số thành phần này
Trang 11được xây dựng bằng cách đưa ra bốn câu hỏi để đánh giá xem các quan chức tỉnh đó làm những gì để trợ giúp các doanh nghiệp Các doanh nghiệp được yêu cầu đưa ra câutrả lời đánh giá tỉnh theo thang điểm 5 mức về lĩnh vực sau đây:
• Đánh giá chất lượng dịch vụ công
o Thông tin thị trường và xúc tiến thương mại
o Công nghệ và các dịch vụ lien quan đến công nghệ
o Thông tin tìm kiếm đối tác kinh doanh, đầu tư cho các nhà sản xuất địa phương
o Xúc tiến xuất khẩu và hội chợ thương mại
o Khu công nghiệp
• Các chỉ tiêu từ dữ liệu cứng
o Số lượng hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức
Đào tạo lao động: chỉ số này đánh giá những nỗ lực của chính quyền tỉnh trong
việc giải quyết sự thiếu hụt về lao động có tay nghề qua đào tạo tại địa phương
Một nhận định được nhắc đến nhiều là việc Việt Nam phải đương đầu với một
áp lực lớn về giải quyết việc làm cho hơn 1,4 triệu dân bước vào độ tuổi lao động hàn năm có nhu cầu tìm kiếm việc làm Tuy nhiên trên thực tế, trong những năm qua các doanh nghiệp liên tục phàn nàn về năng lực yếu kém của lực lượng lao động Các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn tìm kiếm và tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp Hai sự việc mâu thuẫn này cho thấy khu vực KTTN đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra công ăn việc làm mới, thu hút lực lượng lao động trẻ, tuy nhhiờn cỏc DNTN không sẵn sàng tiếp nhận những lao động phổ thông mà ngược lại chỉ nhận những lao động có tay nghề, có khả năng đóng góp vào công việc kinh doanh, sản xuất của họ Chính vì vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động địa phương sẽ có ý nghĩa cực
kỳ quan trọng đối với môi truờng kinh doanh trên địa bàn
Trang 12Trong báo cáo PCI 2005, “Đào tạo lao động” là một chỉ tiêu trong chỉ số thành phần “Chớnh sỏch phát triển KTTN” Tuy nhiên, từ năm 2006, chỉ số này đã được nhóm nghiên cứu đánh giá có đầy đủ các yếu tố để đứng độc lập thành một chỉ số thành phần với các yếu tố đánh giá sau:
• Chất lượng dịch vụ giáo dục do các cơ quan của tỉnh cung cấp
• Chất lượng dịch vụ đào tạo nghề cho người lao động do các cơ quan của tỉnh cung cấp
• Chất lượng dịch vụ tuyển dụng và môi giới lao động do các cơ quan của tỉnh thực hiện
• Số lượng trường dạy nghề, có điều chỉnh theo số dân của từng tỉnh
Thiết chế pháp lý: chỉ số thành phần này dùng để đánh giá mức độ tin tưởng
của doanh nghiệp đối với các thiết chế pháp lý tại địa phương, đặc biệt là việc sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả
Trong suốt nhiều năm, giới nghiên cứu và những người hoạt dộng thực tiễn đã nhấn mạnh rằng phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp một cách chính quy luôn là một mắt xích yếu trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt Nam Tăng cườngthể chế cho các cơ quan tư pháp và toà án địa phương sẽ trở nên cấp thiết hơn khi Việt Nam gia nhập WTO và vẫn còn rất nhiều việc phải làm Hiện nay, hầu hết các cá nhân
và DNTN vẫn lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua các cơ chế không chính thức
Ví dụ, trong số 6500 doanh nghiệp khảo sát, chỉ có 0.8% cho rằng toà án là cơ quan giải quyết tốt nhất các xung đột, tranh cấp nếu có, 2.1% doanh nghiệp đánh giá là lực chọn số 2 và 5.5% doanh nghiệp đánh giá là lựa chọn số 3 Hầu hết Toà án Nhân dân các tỉnh đều bị động, không có tính tự chủ về nhân sự, ngân sách và cơ chế hình thành quyết định từ Toà án Nhân dân Tối cao Ngoài ra, có rất ít doanh nghiệp thực sự hiểu biết thấu dáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt rạch ròi, chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau
Nhóm nghiên cứu phát triển chỉ số thành phần này trên cơ sở 4 chỉ tiêu sau:
Trang 13• Hệ thống pháp lý tạo ra cơ chế để doanh nghiệp có thể khởi kiện hành vi tham nhũng của các cán bộ công quyền
• Lòng tin của doanh nghiệp vào thiết chế pháp lý
• Chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp
• Số vụ tranh chấp (mà bên nguyên không phải là DNNN hay DN có vốn đầu tư nước ngoài) bình quân trên 100 doanh nghiệp đang hoạt động
Năm 2008 Báo cáo PCI đưa thêm chỉ số “Cơ sở hạ tầng” vào nghiên cứu với lý do
là cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ giảm lợi thế cạnh tranh quốc gia cũng như cạnh tranh của mỗi tỉnh Chỉ số “Cơ sở hạ tầng” bao gồm đánh giá về 4 lĩnh vực: Chất lượng và khả năng đáp ứng của hạ tầng các khu cụng nghịờp; Chi phí vận tải; Chi phí và tính ổn địnhcủa viễn thông, năng lượng; Điều kiện hạ tầng kỹ thuật chính (cảng biển, sân bay) Bêncạnh các loại hình cơ sở hạ tầng truyền thống như nêu trên, chỉ số “CNTT và truyền thụng” được xem như một loại hình cơ sở hạ tầng ngày càng có thế mạnh trong thúc đẩy giao dịch kinh doanh
Hai chỉ số này được phân tích song song cùng với chỉ số PCI (gồm 10 chỉ số thành phần) trong năm 2008 và các năm tiếp theo Tuy vậy, chỉ số “cơ sở hạ tầng” khác với chỉ số PCI ở chỗ chỉ số đầu tiên không phải là thước đo đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của địa phương, mà chỉ coi là một công cụ phần nào giỳp cỏc nhà lãnh đạo tỉnh đưa ra các ưu tiên về chính sách phát triển
Với 10 chỉ số cấu thành trên, có thể thấy PCI đo lường điều hành kinh tế, không phải là kết quả phát triển Điều này cho phép so sánh các tỉnh với nhau một cách bình đẳng, dù những tỉnh này khác nhau về điều kiện ban đầu (vị trí địa lý, quy mụ…) PCI dựa trên các thực tiễn tốt nhất đó cú ở Việt Nam, không phải là một mô hình lý tưởng nào và có thể không đạt tới được
1.2 Phương pháp xây dựng và vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu xây dựng chỉ số PCI
Trang 14Qui trình xây dựng chỉ số PCI bao gồm 3 bước chính: Thu thập số liệu, Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần, Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI.
Quá trình thu thập số liệu để xây dựng chỉ số PCI sử dụng hai phương pháp Thứ nhất, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra 31,186 doanh nghiệp trong cả nước, trong
đó Hà Nội là 800 doanh nghiệp, để thu thập đánh giá của doanh nghiệp Thứ hai, nhómnghiên cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu đã được công bố, phỏng vấn các bên thứ ba (các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần, các ngân hàng thương mại quốc doanh) Mục tiêu là kết hợp cả số liệu khách quan (số liệu “cứng”) và số liệu chủ quan (số liệu
“mềm”, thể hiện những cảm nhận/đỏnh giỏ của doanh nghiệp qua điều tra) trong quá trình tính toán chỉ số tổng hợp cuối cùng để có thể cho những kết quả đánh tin cậy hon
so với chỉ sử dụng một trong hai loại dữ liệu
a Số liệu “mềm”
Phương pháp chọn mẫu được VCCI sử dụng là phương pháp chon mẫu phân tầng ngẫu nhiên Đây là phương pháp mà ngân hang thế giới WB sử dụng nghiên cứu môi trường đầu tư, khảo sát mức sống hộ gia đình của Việt Nam Phương pháp cho phép cơ hội được lựa chọn điều tra của tất cả doanh nghiepj là như nhau, và việc phân tầng sẽ đảm bảo các doanh nghiệp được lựa chọn sẽ đáp ứng những tiêu chí chính đại diện cho tổng thể doanh nghiệp tư nhân Trong điều tra PCI, doanh nghiệp được phân tầng theo ngành, nghề hoạt động kinh doanh, tuổi của doanh nghiệp (tính từ thời điểm thành lập), loại hình sở hữu doanh nghiệp
• Theo ngành nghề hoạt động: sản xuất công nghiệp, khai thác tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ và thương mại, nông nghiệp
• Theo tuổi doanh nghiệp: doanh nghiệp được thành lập trước hay sau năm 2000 là thời điểm Luật doanh nghiệp có hiệu lực
• Theo loại hình sở hữu: các hộ kinh doanh các thể, công ty TNHH, và công ty cổ phần
Trang 15Cơ sở chọn mẫu: Việc lựa chọn doanh nghiệp dựa trên danh sách các doanh nghiệp
đang nộp thuế ở mỗi địa phương từ Tổng cục thuế Danh sách này sẽ sát với số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế hơn so với danh sách của Sở KHĐT ở các đại phương bởi hai lý do Thứ nhất, danh sách của Sở KHĐT thường lớn hơn số doanh nghiệp thực
sự đang hoạt động do đôi khi chưa loại bỏ số doanh nghiệp đã giải thể, một số doanh nghiệp chỉ đăng ký mà không hoạt động thực sự Thứ hai, địa chỉ và số điện thoại lấy
từ cơ quan thuế là đáng tin cậy hơn bởi đây là thông tin phục vụ lien lạc giữa cơ quan thuế và các doanh nghiệp
Theo danh sách của Tổng cục thuế cung cấp, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam năm 2007 là 228.25 doanh nghiệp (cao hơn số liệu của Điều tra doanh nghiệp là 144.369), trong đó TPHCM có số lượng doanh nghiệp lớn nhất là 46.666, Lai Châu có số lượng ít nhất 105, Hà Nội có 42.959 doanh nghiệp, giá trị trung
vị của số doanh nghiệp ở các tỉnh là 1.045
Trên cơ sở danh sách đó, nhóm nghiên cứu chọn mẫu doanh nghiệp điều tra theo 24 tiêu chí phân tổ dựa trên loại hình, ngành kinh tế và tuổi của doanh ngiệp tương ứng tỷ lệ ở từng địa phương (mà không theo tỷ lệ ở cấp quốc gia), tránh tình trạng mẫu điều tra phần lớn sẽ tập trung ở các thành phố lớn Các doanh nghiệp được chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ của từng tổ để đảm bảo mẫu điều tra có thể mang tính đại diện cho tất cả các doanh nghiệp đăng ký trên danh sách thuế Sau khi kiểm định lại các doanh nghiệp ở mỗi địa phương (điện thoại và địa chỉ), phiếu điều tra sẽ được gửi đến doanh nghiệp
Công cụ thu thập: Phiếu điều tra các năm về cơ bản như nhau, năm sau có cập nhạt và hoàn thiện một vài chỗ Phiếu điều tra bao gồm 60 câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp về 12 khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương
Trang 16Phương thức điều tra: nghiên cứu PCI sử dụng phương thức điều tra gián tiếp bằng cách gửi bộ câu hỏi điều tra qua bưu điện đến các doanh nghiệp Sau khi nhận được trả lời của doanh nghiệp, PCI sử dụng trợ giúp kỹ thuật của công cụ toán thống
kê để giảm thiểu sai số gây ra bởi tỷ lệ phản hồi của các doanh nghiệp thấp
b Số liệu “cứng”
Ngoài những thông tin khảo sát, nghiên cứu PCI sử dụng 3 phương pháp thu thập số liệu: thu thập ý kiến chuyên gia, sử dụng bộ câu hỏi so sánh, và số liệu thống kê
Thứ nhất, thực hiện thu thập ý kiến chuyên gia về chất lượng quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu hcinhr nhuwgnx sai lệch trong đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng
Thứ hai, các nhà nghiên cứu bổ sung thêm một số câu hỏi chuẩn so sánh trong các phiếu điều tra để các doanh nghiệp đánh giá và xếp hạng 10 tỉnh theo môi trường chính sách tốt nhất và tồi nhất, sau đó xếp hạng tỉnh nơi doanh nghiệp đang hotaj động vào danh sách đó
Thứ ba, tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn công bố chính thức và các bên thứ ba : những ấn phẩm thống kê (Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê, Thống
kê lao động của Bộ Lao động thương bịnh xã hội…), các ấn phẩm của Ngân hang thế giới , số liệu và mục tiêu phân bổ ngaansachs ở cấp tỉnh do Bộ Tài chính xây dựng, nguồn thông tin đăng tải trên website chính thức của các địa phương
Để bổ sung những số liệu còn thiếu, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin ở bên thứ ba: các công ty cung cấp dịch vụ hậu cần và vận tải hàng hóa, các công tykinh doanh bất động sản và các hiệp hội doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại nhà nước
Các thông tin thu được từ 3 phương pháp bổ sung nêu trên tạo thành 1 hệ thống
“số liệu cứng” cho nghiên cứu chỉ số PCI Các “số liệu cứng” này sẽ hỗ trợ phân tích, đánh giá, giải quyết 3 vấn đề chủ yếu sau:
Trang 17Thứ nhất, hạn chế vấn đề “chuẩn so sỏnh” – hiện tượng các doanh nghiệp ở các tỉnh khác nhau có mốc so sánh khác nhau Ảnh hưởng này có thể có tác động đánh kể đến nghiên cứu về PCI Các doanh nghiệp (thường với quy mô nhỏ và vừa) chỉ hoạt động giới hạn trong một địa phương thường không biết nhiều về chất lượng quản lý hành chính của các tỉnh khác Cho nên đối với những câu hỏi yêu cầu các doanh nghiệpphải xếp hạng chất lượng của chính sách ở tỉnh theo thang điểm cho trước, họ có thể đưa các xếp hạng thấp hơn hay cao hơn so với đánh giá của một nhà quan sát độc lập
có hiểu biết về môi trường quản lý và điều hành của các tỉnh Do mốc so sánh chỉ là môi trường của tỉnh đó ở các thời điểm khác nhau, các doanh ngiệp không biết chính sách đó ở tỉnh khác sẽ như thế nào trong khi không có mô hình lý tưởng để các doanh nghiệp sử dụng là điểm tham chiếu trong đánh giá
Thứ hai, loại trừ ảnh hưởng của điều kiện truyền thống tới kết quả phát triển củakhu vực KTTN để chỉ giữ lại những kết quả các được từ công tác quản lý và điều hành của chính quyền tỉnh Các điều kiện truyền thống bao gồm chất lượng cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận thị trường, nguồn vốn con người Do mục tiêu của chỉ số PCI là đưa
ra các khuyến nghị về môi trường chính sách, nếu chỉ đưa ra ảnh hưởng của điều kiện truyền thống sẽ không phù hợp
Thứ ba, đo lường đóng góp tương đối của các chỉ số cấu thành PCI để tính toán trọng số tương ứng dựa trên tác động của các chỉ số cấu thành đó với sự phát triển của khu vực KTTN (cụ thể là theo số doanh nghiệp đanh thực sự hoạt động, quy mô vốn đầu tư và lợi nhuận) Các biến số đầu ra này cần được thu thập từ bên thứ ba, do đó không phải là đối tượng điều tra qua thư
1.2.2 Quy trình xây dựng chỉ số PCI
Bước 1: Chuẩn hóa điểm các chỉ tiêu của 64 tỉnh, thành phố theo thang điểm 1-10
Nghiên cứu PCI nhằm mục đích so sánh chất lượng điều hành kinh tế của mỗi địa phương với thực tiễn tốt nhất về điều hành kinh tế đang có ở Việt Nam, mà không phải so sánh với một chuẩn mực lý tưởng nào Do vậy, mỗi chỉ tiêu được chuẩn hóa
Trang 18theo than 10 điểm, tỉnh có thực tiễn tốt nhất sẽ thương ứng với điểm 10, tỉnh có thực tiễn kém nhất tương ứng với điểm 1 Các tỉnh còn lại sẽ tương ứng với điểm nằm giữa
1 và 10 và tính theo công thức sau:
Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành tốt thì sử dụng công thức sau đây để chuẩn hóa điểm, chỉ tiêu PCI có 40/64 chỉ tiêu được chuẩn hóa theo công thức này
Điểm của tỉnh = 9* [( Điểm của tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/ (Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu)] + 1
Nếu điểm chỉ tiêu cao phản ánh chất lượng điều hành không tốt thì lấy 11 trừ cho công thức trên Chỉ tiêu PCI có 24/64 chỉ tiêu được chuẩn hóa theo công thức này
Điểm của tỉnh = 11 – {9* [( Điểm của tỉnh – Điểm nhỏ nhất của mẫu)/ (Điểm lớn nhất của mẫu – Điểm nhỏ nhất của mẫu)] + 1}
Bước 2: Tính điểm số của các chỉ số thành phần
Các chỉ tiêu được nhóm vào 10 chỉ số thành phần Những chỉ số này phản ánh được tương đối đầy đủ những vấn đề trong việc thành lập doanh nghiệp và phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam Các chỉ tiêu sau khi đã chuẩn hóa sẽ tính trung bình
để tạo ra từng chỉ số thành phần Để tính toán bốn chỉ số thành phần: “Tiếp cận đất đai
và sự ổn định trong sử dụng đất”, “Ưu đãi DNNN”, “Đào tạo lao động” và “ Thiết chế pháp lý”, ngoài điểm số của các chỉ tiêu khảo sát, PCI còn sử dụng các dữ liệu “cứng” sau khi được tính giá trị trung bình và gắn trọng số
Bước 3: Tính toán trọng số cho mỗi chỉ số thành phần
Do các chỉ số thành phần PCI có ảnh hưởng khác nhau và vai trò quan trọng khác nhau khi lý giải sự khác biệt về kết quả phát triển khu vực KTTN VCCI-VNCI tính toán trọng số tương ứng với mức độ đóng góp thực sự của từng chỉ số đối với việc phát triển KTTN Nhóm nghiên cứu đã sử dụng 3 biến số phản ánh kết quả phát triển KTTN: Tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh trên số dân, Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính bình quân đầu người, Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp Các số
Trang 19liệu này là những số liệu khách quan được tính toán dựa trên ấn phẩm Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra của Tổng cục thống kê
• Tỉ lệ doanh nghiệp dân doanh (bao gồm DNTN, Công ty hợp danh, Công ty TNHH
và Công ty cổ phần) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh trên số dân của tỉnh
Tỉ lệ doanh nghiệp thực sự đang hoạt động là số doanh nghiệp đã hoàn thành mọi thủ tục đăng ký kinh doanh và đang thực sự sản xuất kinh doanh chứ không chỉ dừng ở giai đoạn đầu gia nhập thị trường Tổng số doanh nghiệp dân doanh này (khôngbao gồm hợp tác xã) được chia cho số dân của tỉnh (theo đơn vị 1.000 dân) để loại bỏ ảnh hưởng có thể có do việc tỉnh nào đông dân hơn thường có nhiều doanh nghiệp hơn
• Vốn đầu tư dài hạn của khu vực tư nhân tính bình quân đầu người
Biến số này được lựa chọn để thể hiện mức độ rủi ro mà doanh nghiệp chấp nhận trên giả định là chủ doanh nghiệp (hay nhà đầu tư) sẽ đầu tư nhiều hơn ở nơi có môi trường chính sách hấp dẫn hơn do họ có thể tính toán chính xác hơn chi phí và lợi ích dài hạn đối với dự án đầu tư của mình Doanh ngiệp sẽ không đầu tư nhiều ở địa phương mà tài sản của họ ít được đảm bảo, tình trạng tham nhũng phổ biến, tồn tại nhiều rào cản “vụ hỡnh” hạn chế hoạt động kinh doanh
• Lợi nhuận bình quân trên một doanh nghiệp tính theo triệu đồng
Biến số này được lựa chọn để thể hiện mức độ thành công của các doanh nghiệpdân doanh Lợi nhuận doanh ngiệp trong một thời kỳ là một tín hiệu dự báo tốt về tiềm năng đầu tư trong các giai đoạn tiếp theo vì sẽ cú thờm nhiều doanh ngiệp tham gia đầu
tư Những tỉnh cạnh tranh hơn thường tạo ra môi trường khuyến khích tinh thần kinh doanh hơn là bằng những sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước
Tuy nhiên, trong thực tế các điều kiện truyền thống có ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế Để có thể xác định được mức ảnh hưởng thuần của yếu tố điều hành kinh tế đến phát triển KTTN, cần thiết phải tính toán, loại trừ những tác động của điều kiện truyền thống Nhóm nghiên cứu xác định 3 biến số đại diện có thể lượng hóa được để xác định yếu tố điều kienj truyền thống của từng địa phương: Khoảng cách tới
Trang 20thị trường, Chất lượng nguồn nhân lực, Cơ sở hạ tầng Trong đó: khoảng cách tới thị trường được tính bằng số km từ trung tâm tỉnh lị tới Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh; chất lượng nguồn nhân lực được tính bằng tỷ lệ phần trăm dân số tốt nghiệp phổ thông trung học trong năm 2000 , đại diện cho lực lượng lao động phù hợp mà các doanh nghiệp dân doanh có thể tuyển dụng,; cơ sở hạ tầng được đại diện bằng số máy thoại bình quân đầu người trong năm 1995.
Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến để đo lường tác động của từng chỉ số thành phần tới 3 biến số trờn, cú khống chế ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống tới sự phát triển KTTN Những trọng số này được làm tròn tới 5% gần nhất để phân thành ba nhóm: 5%, 10%, 15%
Bước 4: Tính toán chỉ số PCI
Trên cơ sở điểm số và trọng số tương ứng của từng chỉ số thành phần, nhóm nghiên cứu tính ra chỉ số PCI tổng hợp cuối cùng
Bảng 1.1: Trọng số các chỉ số thành phần của chỉ số PCI
1 Chính sách phát triển khu vực KT tư nhân 15% Cao
5 Chi phí thời gian thực hiện các quy định nhà
Trang 21Bắt đầu được xây dựng và công bố từ năm 2005, chỉ số PCI đã cho thấy vai trò rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam Chỉ số PCI khẳng định vai trò quan trọng của điều hành kinh tế đối với sự phát triển và thịnh vượng, vì thế các quyết định của lãnh đạo tỉnh có vai trò và ý nghĩa rất lớn đến việc tỉnh đó sẽ giàu lên hay nghèo đi, nguồn vốn đầu tư và trao đổi thương mại tăng lên hay giảm đi, việc làm mới được tạo ra nhiều hơn hay ít đi và mức sống của người dân được cải thiện hay không Điều tra cho thấy, nờờ́u PCI tăng thêm mụ ụt điờờ̉m ở tỉnh trung vị, các chỉ tiêu tăng trưởngtương ứng dự đoán là: cú thờm 8 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới; đầu tư mới bình quân đầu người tăng thêm 2,5%; lợi nhuận bình quân trên mỗi doanh nghiệp tăng thêm 4,2 triệu VNĐ (tương đương 253 đô la Mỹ), và GDP bình quân đầu người tăng thêm 1%.
Bên cạnh đó, chỉ số PCI là một cách thức hiệu quả để doanh nghiệp dân doanh phản ánh được tiếng nói của mình, thúc đẩy đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp đồng thời tăng cường tính công khai minh bạch Thời gian qua chỉ số PCI đã được đông đảo chính quyền các địa phương, cơ quan lập pháp, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương, cộng đồng doanh nghiệp, giới nghiên cứu và truyền thông đón nhận, trở thành công cụ góp phần nâng cao nhận thức về mối liên hệ mật thiết giữa phương thức quản lý và điều hành kinh tế địa phương và kết quả phát triển
Không những vậy, chỉ số PCI còn cung cấp những thông tin hữu ích khỏc giỳp cỏc cơ quan nhà nước hoàn thiện chính sách phát triển Báo cáo PCI những năm qua đãgiúp chỉ ra bốn thách thức ở cấp quốc gia cần được giải quyết thời gian tới: 1) khắc phục tình trạng phân hóa, phát triển không cân đối giữa các nhóm tỉnh xếp hạng khác nhau; 2) thúc đẩy việc chính thức hóa hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh cá thể; 3) nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa để cú thờm nhiều doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; và 4) phân tích các phương thức giúp doanh nghiệp dân doanh được hưởng lợi nhiều hơn từ những cải
Trang 22cách liên quan đến Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và Tổ chức Thương mại Thế giới
Ngoài ra, chỉ số PCI nêu bật những tiến bộ và thành tựu trong công tác điều hành kinh tế, và cũng chỉ ra những lĩnh vực cần phải được cải thiện hơn nữa qua đó giúp cho chính quyền địa phương nói riêng cũng như các nhà lãnh đạo đất nước nói chung có những điều chỉnh phù hợp từ đó nâng cao được tính cạnh tranh của tỉnh cũng như quốc gia trong thời kỳ kinh tế thế giới có chiều hướng đi xuống thời gian vừa qua
Vì thế, mặc dù PCI với khởi điểm là một nghiên cứu có tính cách tân và thậm chí gây tranh cãi của năm 2005 nhưng đã nhanh chóng trở thành một công cụ quan trọng hỗ trợ và định hướng công cuộc cải cách điều hành kinh tế Với hơn 6.300 doanh nghiệp tham gia điều tra, PCI có thể được xem là một đánh giá qui mô và toàn diện nhất về việc thực thi chính sách của chính quyền địa phương đối với khu vực tư nhân Thêm vào đó, những dữ liệu thu thập để xây dựng chỉ số PCI còn có thể được sử dụng cho những nghiên cứu khác Bên cạnh việc phân tích môi trường kinh doanh chung củatỉnh, sử dụng dữ liệu của PCI cũng cho phép nghiên cứu một loạt các yếu tố liên quan đến môi trường kinh doanh có ảnh hưởng quan trọng đến chính sách
1.1 Các yếu tố tác động tới chỉ số năng lực cạnh tranh Xem lại cách đánh đề mục
Nhận thức, trách nhiệm của lãnh đạo và đội ngũ cán bộ thành phố
Đây là yếu tố “ẩn” nhưng lại có ý nghĩa tiên quyết, có ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ số thành phần “Tớnh năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh” và ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ số thành phần khác bởi chỉ khi lãnh đạo và các cấp ban, ngành của thành phố hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của chỉ số PCI, cũng như tác động của nó đốivới đời sống kinh tế xã hội thì khi đó mới có những phương án, chính sách đúng đắn nhằm thu được những đánh giá cao từ phía khu vực kinh tế tư nhân
Các thủ tục hành chính
Đây là yếu tố tác động lớn đến chi phí thời gian và các chi phí không chính thứckhác trong quá trình khởi nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 23tư nhân mà cụ thể ở đây là các chỉ số thành phần bao gồm “Chi phí gia nhập thị
trường”, “Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước” và “Chi phí không chính thức” Các thủ tục hành chính được ví như là “cánh cửa” đối với mỗi hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân, thủ tục hành chính gọn nhẹ, nhanh chóng sẽ giỳp cỏc doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí cũng như tạo thêm sức hút cho môi trường đầu tư của tỉnh đối với các nhà đầu tư bên ngoài
Chính sách phát triển kinh tế của thành phố
Yếu tố trên có tác động không nhỏ tới chỉ số thành phần “Ưu đãi đối với
DNNN” và “”Chớnh sỏch phát triển khu vực kinh tế tư nhõn” Đối với những tỉnh, thành phố có hướng ưu tiên phát triển những doanh nghiệp có quy mô lớn của khu vực kinh tế Nhà nước vì những doanh nghiệp này tạo nhiều công ăn việc làm và đóng góp nhiều vào ngân sách tỉnh, thành phố thì khi đó những hỗ trợ trực tiếp cũng như gián tiếp của tỉnh, thành phố sẽ được ưu tiên dành cho khu vực kinh tế nhà nước trong khi các chính sách phát triển kinh tế tư nhân không được quan tâm một cách đúng mức Ngược lại, đối với những tỉnh, thành phố có sự đánh giá cân bằng giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân thì khi đó việc tiếp cận thị trường cũng như các thông tin thị trường sẽ dễ dàng hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân
Môi trường đầu tư Em xem lại các bộ phận cấu thành của môi trường đầu tư nhé
vì nó bao hàm hầu hết các yếu tố tác động em kể tới ở trên
Một trong những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của địa phương nói riêng cũng như của cả quốc gia nói chung chính là môi trường đầu tư Một môi trường đầu tư được đánh giá là tốt, thông thoáng, cởi mở và minh bạch sẽ tạo
ra rất nhiều cơ hội trong phát triển kinh tế địa phương trong đó bao gồm cả khu vực kinh tế tư nhân đồng thời tạo ra được một lợi thế cạnh tranh rất lớn so với các địa phương khác Yếu tố môi trường đầu tư có ảnh hưởng lớn đến chỉ số PCI trong đó có ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số thành phần “ Tính minh bạch và tiếp cận thông tin”, “ Thiết chế pháp lý” và có ảnh hưởng không nhỏ tới các chỉ số thành phần khác
Trang 24 Chất lượng nguồn nhân lực
Nước ta có nguồn lao động dồi dào, chiếm trên 54% dân số cả nước, với 46,6 triệu lao động Tuy nhiên, có đến gần 80% người lao động trong độ tuổi từ 20- 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thỡ cũn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp; trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi nguồn vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng lên, đòi hỏi về nhân lực chất lượng cao ngày càng cấp bách thì địa phương nào giải quyết tốt vấn đề trên sẽ đạt được một lợi thế cạnh tranh nhất định Yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ số thành phần “Đào tạo lao động”
1.4 Kinh nghiệm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của các tỉnh dẫn đầu Theo
cô em nên tách ý theo tỉnh và đề cập tới các khía cạnh một cách ngắn gọn thôi, có thể lấy kinh nghiệm của 2 tỉnh thôi chứ không cần nhiều.
1.4.1 Một số kinh nghiệm tốt về tính năng động của chính quyền cấp tỉnh
Phần này em nên viết có phần đề dẫn trước về trường hợp của tỉnh Bình Dương:chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh là bao nhiêu, tốt nhất trên khía cạnh nào, đấy là nhờđâu? Từ đó rút ra những kinh nghiệm mà em kể ở phần sau, Lịch làm việc của UBNDtỉnh Bình Dương thường xuyên sắp xếp đi thăm doanh nghiệp theo định kì, chủ yếu làcác doanh nghiệp gặp khó khăn Cách làm việc là giải quyết khó khăn ngay tại chỗhoặc cam kết thời hạn cụ thể đối với doanh nghiệp để giải quyết xong bằng được khókhăn đó
Những yêu cầu khó khăn của các nhà đầu tư vào những ngày nghỉ cũng được các
cơ quan tỉnh linh động giải quyết
Lãnh đạo tỉnh trực tiếp giải quyết những khó khăn có thể giải quyết được chodoanh nghiệp, nếu những khó khăn nằm ngoài khả năng giải quyết của doanh nghiệp.Nếu những việc không giải quyết được cũng nói rõ để doanh nghiệp biết, không hứahẹn “tiếp thu để nghiên cứu” hoặc “kớnh chuyển vòng vo”
Trang 25???? câu chuyển, nếu muốn lấy ví dụ chứng minh thì chỉ lấy 1 đến 2 là cùng, rútgọn bớt lại.,Thực tiễn tốt: Do chính sách không ổn định, một chi tiết trong hàng nhậpkhẩu của một công ty đột ngột bị ỏp mó tăng mức thuế từ 5% lên 30% Hải quan cũng
đề nghị truy thu hàng chục tỷ đồng tiền thuế Doanh nghiệp đã phản ánh khó khăn lênlãnh đạo tỉnh, lãnh đạo tỉnh đã trực tiếp gặp Bộ trưởng Bộ Tài chính để tìm giải pháptháo gỡ Kết quả thành công với giải pháp thuận lợi cho doanh nghiệp
Thực tiễn tốt: Trường hợp do bộ Kế hoạch và Đầu tư ra văn bản yêu cầu chỉ cấpgiỏy phộp cho các dự án đầu tư chế biến gỗ nếu có phương án trồng rừng đi kèm, cónhiều tỉnh đã phải dừng cấp phép cho hàng loạt dự án chế biến gỗ Sở Kế hoạch và Đầu
tư tỉnh Bình Dương chủ động yêu cầu nhà đầu tư giải trình nguồn gỗ nguyên liệu vàcấp phép cho các dự án sử dụng nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu hay gỗ nhân tạo, gỗcây điều (nếu không chế biến phải bỏ phí) nhờ vậy các dự án chế biến gỗ vẫn đượctriển khai
Để đáp ứng yêu cầu riêng của nhà đầu tư (như vấn đề tín ngưỡng của các nhà đầu
tư thuộc các nước Đông Á), tỉnh Bình Dương khi cấp giấy phép, cũng đã chiếu cố đến
số giấy phép, cấp theo giờ, theo ngày và tiến hành các thủ tục tín ngưỡng theo yêu cầucủa nhà đầu tư Lãnh đạo Bình Dương cũng tham gia nhiều nghi lễ cùng với các doanhnghiệp (các doanh nghiệp trong lễ động thổ có nghi lễ đi vòng quanh để rót rượu vào 4góc của khu đất)
Thực tiễn tốt: Quyết định “chấp thuận” thuận lợi cho nhà đầu tư: Khi nhà đầu tưtiến hành thủ tục nhập khẩu máy móc, thiết bị sau khi có giấy phép đầu tư, theo quyđịnh của ngành hải quan phải có quyết định của cơ quan có thẩm quyền (quyết địnhcủa doanh nghiệp không được chấp thuận) doanh nghiệp mới được nhập máy móc,thiết bị Dù không phải chức năng nhưng có lợi cho doanh nghiệp nên UBND tỉnhHưng Yên sử dụng hình thức “quyết định chấp thuận” để tạo điều kiện thuận lợi chonhà đầu tư…
Trang 26Thực tiễn tốt: Khi doanh nghiệp không biết thông tin về chính sách, tự kê khaithuế làm thiệt cho mình Áp dụng theo cách kê khai của doanh nghiệp hay thông báo
để doanh nghiệp thay đổi và áp dụng có lợi cho doanh nghiệp? Trong tình huống thực
tế trên, cơ quan thuế tỉnh Hưng Yờn đó giải thích rõ cho doanh nghiệp, hướng dẫn họ
kê khai đúng quy định của pháp luật và theo hướng có lợi cho doanh nghiệp tìnhhướng này được coi là cách sử lí đúng đắn được sử dụng làm dề thi kiểm tra trong quátrình bồi dưỡng năng lực, trình độ của cán bộ thuế
Thực tiễn tốt: Việc thiếu chữ kí, thiếu ghi ngày thỏng trờn hóa đơn GTGT củadoanh nghiệp: có xem hóa đơn bất hợp pháp hay không? Sau khi kiểm tra đúng thực tế,lãnh đạo Chi cục thuế tỉnh Hưng Yên cho rằng đây chỉ là sai sót hành chính chứ khôngphải là hóa đơn bất hợp pháp, không máy móc sử phạt doanh nghiệp
1.4.2 Một số kinh nghiệm tốt trong việc minh bạch hóa thông tin Phần này viết lại tương tự như phần trên
+ Về tính minh bạch, các tỉnh trong diện khảo sát đều chú trọng nguyên tắccông khai, cung cấp thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư về môitrường đầu tư của tỉnh Một số hoạt động được tiến hành khá thường xuyên như phổbiến thông tin văn bản pháp luật, chính sách Nhà nước, giải đáp thắc mắc cho doanhnghiệp bằng việc mở các lớp học, hội thảo; đăng tải trên trang web của tỉnh hoặc các sởngành; mở chuyên mục giới thiệu văn bản, chính sách mới và giải đáp thắc mắc quabáo và chương trình truyền hình của tỉnh
Đều đặn mỗi tháng, Ban Quản lớ cỏc Khu Công nghiệp Đồng Nai xuất bản mộtbản tin Bản tin này được biếu không cho các đại sứ, tham tán thương mại, các tổ chức,các hiệp hội kinh tế nước ngoài… Nhờ vậy mà tất cả các thông tin về tiềm năng, cơ hộiđầu tư ở Đồng Nai đã đến được với đối tác nước ngoài khi họ tới Đồng Nai
UBND tỉnh Bình Dương đã in một tập giới thiệu tiềm năng, các dự án được dựkiến, các qui định về đầu tư tại địa phương, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước liờnquan…phỏt hành rộng rãi, giúp nhà đầu tư có thông tin đầy đủ về khả năng và thời
Trang 27gian có được các phê duyệt hành chính mà họ cần, để trên cơ sở đó, quyết định đầu tưhiệu quả.
Hưng Yên tập hợp các văn bản về cơ chế tài chính trong giải phóng mặt bằng,phát rộng rãi cho nhà đầu tư và phổ biến hướng dẫn đến tận cấp xã
Vĩnh Phúc cung cấp thông tin về văn bản qui phạm pháp luật,chớnh sỏch, kếhoạch, quy hoạch của tỉnh đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư thông qua Câu lạc bộdoanh nghiệp của tỉnh Cục thuế Vĩnh Phúc công khai húa cỏc thủ tục vè thuế Khi cóvăn bản pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, UBND tỉnh và sở Kế hoạch vàĐầu tư gửi cho Câu lạc bộ doanh nghiệp, hàng tháng Câu lạc bộ doanh nghiệp đều sao
in lại và gửi cho các doanh nghiệp
+ Tính minh bạch trong điều hành kinh tế còn đựơc thể hiện trong việc cơ quanNhà nước tỉnh chủ động đối thoại, tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp
Đồng Nai là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước tổ chức đối thoại giữadoanh nghịờp và ngành hải quan Hiện nay tỉnh Đồng Nai duy trì họp giao ban định kì,bao gồm:1) Giao ban giữa các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp trong khu côngnghiệp Hoạt động này được tiến hành theo từng quý và theo địa bàn khu công nghiệphoặc từng huyện 2) Giao ban giữa đại diện Ban quản lí và các công ty kinh doanh hạtầng Hoạt động này được tiến hành 1 quý một lần nhằm nghe phản ánh và tháo gỡvướng mắc cho các công ty kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp 3) Giao ban lãnh đạotỉnh và các sở ban ngành có liên quan Hoạt động này được tiến hành 1quý 1 lần, sau
đó nâng lên 6 tháng một lần Cuộc họp này sẽ xem xét để giải quyết những tồn tại liênquan tới môi trường kinh doanh và tình hình thu hút đầu tư
Tại những cuộc giao ban này,cỏc doanh nghiệp có vướng mắc phản ánh cho các
cơ quan Nhà nước để được giải đáp và giải quyết Đõycũng là dịp để cơ quan Nhànước phổ biến các quy định, chính sách mới ban hành
Những ngày đầu thành lập, Bình Dương đã lấy ngày 31/12 hàng năm là “ngày hộicủa doanh nghiệp” hình thức này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên toàn tỉnh
Trang 28giao lưu, hiểu biết lẫn nhau, gần gũi và hợp tác với nhau, phản ánh những ý kiến củadoanh nghịờp đối với chính quyền.
Chủ động quan hệ với cơ quan báo chí: khi gặp khó khăn trong qua hệ với các cơquan báo chí để thông tin thêm về những hoạt động của mình, lãnh đạo tỉnh Hưng Yờn
đó cú lần liên hệ trực tiếp với Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương để có được buổi tiếpxúc trực tiếp, cung cấp thông tin cho các Tổng Biên tập cơ quan báo chí tại một cuộchội nghị giao ban báo chí thường kì
1.4.3 Một số kinh nghiệm tốt trong đăng kí kinh doanh
Tại Đồng Nai, đối với doanh nghịờp mới thành lập khi cấp tờ khai đăng kí thuếcho doanh nghiệp, bộ phận tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế, hướng dẫndoanh nghiệp lập hồ sơ đăng kí mã số thuế đồng thời hướng dẫn lập hồ sơ xin mua hóađơn cùng một lúc, sau đó chuyển dồ sơ cho bộ phận cấp mã số thuế Điều này tạo điềukiện thuận lợi cho doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần để làm các thủ tục xin cấp
mã số thuế và mua hóa đơn Đối với doanh nghiệp xin cấp mã số thuế kèm theo đơnxin mua hóa đơn ngay thì Cục thuế sẽ tổ chức kiểm tra địa điểm cấp sổ cựng lỳc vớiviệc cấp giấy chứng nhận đăng kí thuế trả lại cho doanh nghiệp theo phiếu hẹn, chậmnhất không quá 8 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ
Phòng kinh doanh tỉnh Đồng Nai khi cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh đãcấp thêm 10 bản sao để doanh nghiệp sử dụng trong quá trình xin cấp mã số thuế, muahóa đơn lần đầu, khắc dấu…và các giao dịch khác
Tại Bình Dương, trong quá trình cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, nếudoanh nghiệp đáp ứng được điều kiện thì sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ cấp luôn giấychứng nhận ưu đãi đầu tư Nhiều tỉnh xây dựng được qui trình tiếp nhận hồ sơ đăng kíkinh doanh một cách rõ ràng minh bạch Qui trình này quy định rõ trình tự, thủ tục nộp
hồ sơ đăng kí kinh doanh với địa chỉ, thời hạn được ấn định cụ thể Qui trình đượcniêm yết công khai tại Phòng đăng kí kinh doanh và trên trang Web của tỉnh
Trang 29Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp miễn phí những đĩa mềm trong đó
có mẫu đơn, điều lệ và các tài liệu liên quan cho các nhà đầu tư cần thành lập doanhnghiệp
Chi cục thuế tỉnh Vĩnh Phỳc đó soạn thảo một tập qui định toàn bộ qui trình, cácbước trong quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan thuế, vừa đơn giản hóa các thủ tục,vừa đảm bảo công khai minh bạch, tránh phiền hà cho các nhà đầu tư trong quá trìnhgia nhập thị trường
Trang 30Chương 2: Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố
Hà Nội
2.1 Khái quát về Hà Nội
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, đầu mối giao thông quan trọng của đất nước, đồng thời cũng là thành phố lớn thứ hai Việt Nam về dân số với 6,233 triệu người Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm
2008, Hà Nội hiện nay có diện tích 3.324,92 km², gồm một thị xã, 10 quận và 18 huyệnngoại thành
Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và
290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp
Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp cựa thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình
độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc
Trang 31chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ
và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế
ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân
cư
2.2 Thực trạng chỉ số năng lực cạnh tranh của thành phố Hà Nội
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội có số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhiều thứ hai trong cả nước: trên 71.200 doanh nghiệp KTTN với số vốn đăng ký trên 360.000 tỷ đồng Tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp bình quân giai đoạn 2000-2008 là 14%/năm Khu vực kinh tế tư nhân thực sự đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Thủ đô Những đóng góp ngày càngcao trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho lao động và nguồn thu ngân sáchnhà nước khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân
Với vai trò ngày càng quan trọng như vậy nhưng trên cơ sở đánh giá của khối doanh nghiệp tư nhân thì môi trường đầu tư kinh doanh cho các doanh nghiệp dân doanh vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức, kết quả điều tra khảo sát của VCCI-VNCI cho thấy chỉ số năng lực cạnh tranh PCI của Hà Nội xếp thứ hạng chưa cao, cụ thể: năm 2006 xếp vị trí 38/64, đứng ở vị trí trung bình; năm 2007 Thành phố
đã cải thiện được 13 bậc, xếp vị trí 27/64; năm 2008 tụt xuống vị trí 31/64 Vì sao???
Nhiều chỉ số, chỉ tiêu có điểm số khá thấp, xếp ở nhóm phía dưới, với các số liệu dưới đây về chỉ số PCI của Hà Nội năm 2006, là năm đầu tiên áp dụng 10 chỉ tiêu thành phần để đánh giá đối với cả 64 tỉnh, thành phố; và năm 2008, là năm công bố mới nhất,chúng ta sẽ có cái nhìn rõ hơn về thực trạng chỉ số PCI của thành phố Hà Nội trong những năm qua, qua đó là cơ sở để đánh giá những mặt tốt và chưa tốt nhằm đưa ra những giải pháp khắc phục một cách triệt để nhất
Chi phí gia nhập thị trường
Không cần nhắc lại ý nghĩa của chỉ tiêu này vì trong chương 1 em đã nói kỹ rồi,
đi thẳng vào kết quả của chỉ tiêu nàyĐăng ký kinh doanh là thủ tục hành chính đầu tiên
Trang 32mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình hoạt động của mình Từ khi hình thành ý
tưởng kinh doanh thì việc thực hiện ĐKKD nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn
có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng được thời cơ,
khởi động hoạt động sản xuất kinh doanh
Để nghiên cứu điều kiện khởi nghiệp doanh ngiệp ở các địa phương,
VCCI-VNCI đã tiến hành điều tra, phỏng vấn các doanh nghiệp, xây dựng một chỉ số thành
phần PCI là “Chi phí gia nhập thị trường” Chỉ số này đo lường thời gian, mức độ đánh
giá khú/dễ của doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục cần thiết để đăng ký kinh
doanh, nhận các giấy phép và xin cấp đất để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh
Theo chỉ số “ Chi phí gia nhập thị trường” năm 2006 Hà Nội chỉ đạt 5,73 điểm,
xếp vị trí gần cuối, 61 trong 64 tỉnh thành của cả nước, trong đó Hà Nội có 7 chỉ tiêu
xếp hạng “Thấp” và “Tương đối thấp”
Năm 2008 điểm số và vị trí của Thành phố được cải thiện rõ rệt: Hà Nội đạt
8,08 điểm, xếp vị trí 41/64 Điều đáng nói ở đây là các chỉ tiêu của Thành phố đó cú sự
cải thiện một cách toàn diện: giai đoạn 2006-2008 thời gian đăng ký kinh doanh giảm
từ 26,68 ngày xuống 15 ngày, thời gian đăng kí lại giảm từ 14,75 ngày xuống còn 10
ngày; Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận mà
doanh nghiệp hiện có giảm từ 3,01 xuống còn 1%; DN phải mất hơn ba tháng để khởi
sự kinh doanh giảm từ 16,67% xuống còn 4,11%; % DN gặp khó khăn để có đủ các
loại giấp phép cần thiết giảm từ 27,27% xuống còn 16,67%; Thời gian chờ đợi thực sự
để được cấp đất giảm mạnh từ 442,67 ngày xuống còn 120 ngày Điều này có ý nghĩa
gì, vì sao lại có sự cải thiện như vậy (lưu ý rằng em phải phân tích số liệu chứ không
phải liệt kê số liệu)
Bảng 2.1 Chỉ số chi phí gia nhập thị trường của Hà Nội năm 2006 và 2008
Thời gian chờ đợi để có mặt
bằng sản xuất kinh doanh (số
442,67 120,00 65,03 42,50 231,53 81,00 1318,12 195,00
Trang 33Thời gian đăng ký lại (số ngày) 14,75 10,00 5,83 3,00 10,16 7,00 34,90
Số lượng giấy đăng ký, giấy
phép kinh doanh và quyết định
chap thuận mà DN hiện có
Tỷ lệ % DN gặp khó khăn mới
có đủ các loại giấy phép cần thiết 27,27 16,67 0,00 2,08 12,42 10,05 27,27
Nguồn: VCCI
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định Nhà nước
Chi phí thời gian của doanh nghiệp thực hiện các quy định của Nhà nước, như
thủ tục thuế quan, hải quan…là một trong những chi phí mà bất cứ doanh nghiệp nào
cũng không thể tránh khỏi Chi phí này càng nhiều, thì thời gian dành cho sản xuất
kinh doanh sẽ càng ít, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, giảm năng lực cạnh
tranh của doanh ngiệp, theo đó giảm năng lực cạnh tranh của địa phương, quốc gia
Hiểu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc
gia, của doanh ngiệp trong quá trình hội nhập kinh tế, ở cả cấp Trung ương và cấp địa
phương đều đã triển khai các giải pháp nhằm đơn giản hoỏ cỏc quy trình này theo
hướng công khai, minh bạch, giảm thời gian doanh nghiệp dành cho việc giải quyết các
thủ tục hành chính Tuy nhiên mức độ thành công của chính quyền mỗi nơi mỗi khác
và là yếu tố không nhỏ tác động tới môi trường kinh doanh của mỗi địa phương
Trang 34VCCI-VNCI sử dụng chi phí thời gian để thực hiện các quy đinh của Nhà nước
trong thanh tra và kiểm tra như là một chỉ số tính toán PCI Chỉ số “Chi phí thời gian
để thực hiện các qui định của Nhà nước/ Thanh tra và kiểm tra” phản ánh thời gian mà
doanh nghiệp phải sử dụng để chấp hành các qui định nhà nước (làm việc với thuế
quan, hải quan, thanh tra…) Đây là chỉ số có trọng số 10%, ảnh hưởng khá lớn đến
môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh của địa phương Theo đánh giá trong Báo
cáo 2008, chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước thay đổi theo chiều
hướng đáng lo ngại trên bình diện chung của các nước Các chỉ tiêu cấu thành chỉ số
này thể hiện sự sụt giảm đáng kể: tỷ lệ chi phí thời gian doanh nghiệp dành cho các
công việc liên quan đến giấy tờ và thủ tục hành chính tiếp tục tăng Phần này cũng
tương tự như phần liên quan đến chỉ số trên, tất cả những nội dung nào trong phần lý
luận đã nhắc tới thì không phải nhắc lại nữa, đi luôn vào phân tích thực trạng với việc
chỉ ra thực trạng và nguyên nhân của nó chứ không phải chỉ nói tới việc tăng hay giảm
của số liệu (nhận xét này áp dụng với phần trình bày về các chỉ số khác)
Theo chỉ số này năm 2006, Hà Nội xếp hạng thứ 10, đứng vị trí đầu tiên trong
nhúm “Khỏ” Xem xét trên 2 khía canh của chỉ số “Chi phí về thời gian thực hiện các
quy định của Nhà nước”, Hà Nội xếp nhóm “Trung bỡnh” ở khía cạnh tuõn thủ các qui
định của nhà nước; khía cạnh còn lại là Thanh tra được xếp ở nhóm “Tốt” Năm 2008
xếp hạng của Thành phố tụt mạnh, xuống vị trí 34/64, các chỉ số có xu hướng tăng theo
hướng tiêu cực biểu hiện ở việc hầu hết các chỉ tiêu thành phần đều bị đánh giá thấp
hơn rất nhiều so với năm 2006 Trong các bảng số liệu nên chỉ rõ chỉ số nào ở nhóm
tốt, chỉ số nào ở nhóm trung bình, khá….(các bảng khác tương tự )
Bảng 2.2 Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
của Hà Nội năm 2006 và 2008
Thời gian giải quyết thủ tục
hành chính (quy ra thang điểm
6,55 1,97 3,01 0,78 5,29 2,23 8,86 2,96
Trang 35Phân tích chính sách thanh tra,
kiểm tra (quy ra thang điểm
10)
3,96 3,30 1,37 1,55 3,58 3,12 5,93 3,95
Thời gian trung bình của mỗi
đợt thanh kiểm tra thuế (tiếng) 5,00 3,00 1,00 1,00 8,00 8,00 40,00 32,00
Tỷ lệ % DN cho biết số lần
thanh tra và kiểm tra đã giảm
kể từ khi thực hiện Luật
thời gian để giải quyết các
công việc liên quan đến giấy
tờ và thủ tục hành chính
6,52 19,46 6,52 13,83 21,24 22,99 39,39 42,55
Nguồn: VCCI
Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
Tính minh bạch, công khai, kịp thời, chính xác của thông tin là yếu tố quan
trọng cho các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch, quyết định đầu tư và cũng là một
thước đo khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia, mỗi địa phương Mặc dù chưa có
nghiên cứu cụ thể, nhưng rõ ràng nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh khi tính
minh bạch, công khai trong môi trường đầu tư được nâng lên
Nghiên cứu chỉ số PCI cũng xem xét yếu tố minh bạch, công khai thông tin ở
mỗi địa phương trên cơ sở đánh giá của doanh nghiệp Chỉ số “Tớnh minh bạch và tiếp
cận thông tin” đánh giá khả năng doanh nghiệp có khả năng tiếp cận những văn bản
pháp lý, những quy hoạch, kế hoạch của Thành phố, khả năng dự đoán được những
chính sách của Thành phố Đây là chỉ tiêu cớ trọng số lớn (15%), hay nói cách khác,
Trang 36theo đánh giá của doanh nghiệp có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp
Theo chỉ số này năm 2006 Hà Nội đứng vị trí 28/64, thuộc nhóm Trung bình;
năm 2008 vươn lên vị trí 23/64, thuộc nhúm Khỏ Trong 9 chỉ tiêu Hà Nội có 66% chỉ
tiêu xếp hạng “tương đối thấp” hoặc “thấp”; tỷ lệ này của TPHCM là 44%, cũn Bỡnh
Dương, Đà Nẵng là 11% Các thành phố này đều xếp hạng thấp khi đánh giá theo chỉ
tiêu “khả năng có thể dự đoán được trong thực thi pháp luật của tỉnh” Đại bộ phận
doanh nghiệp “khụng bao giờ”, “hiếm khi” hay “thỉnh thoảng” mới có thể dự báo được
chính sách của địa phương
Xem xét trên 4 khía cạnh của chỉ số “ Tính minh bạch và tiếp cận thông tin”, Hà
Nội xếp nhóm “thấp” ở 3 khía cạnh: Tính minh bạch, Tính công bằng và sự ổn định
trong việc áp dụng các quy định, Khả năng có thể dự đoán và tính ổn định của các qui
định, chính sách; 1 khía cạnh được xếp ở nhóm “Tốt”: Tính cởi mở
Bảng 2.3 Chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin của Hà Nội năm 2006
và 2008
Khả năng tiếp cận thông tin
(quy ra thang điểm 10) 1,92 0,58 1,92 0,57 5,13 1,01 8,68 1,41
Tỷ lệ % DN cho biết khả năng
tiếp cận thông tin phụ thuộc
nhiều hoặc rất nhiều vào việc
DN phải có mối quan hệ với cơ
quan nhà nước của tỉnh
Trang 37định đàm phán số thuế phải trả
với cán bộ thuế ở địa phương là
một phần quan trọng của công
việc k/doanh
Tỷ lệ % DN cho biết đối với
những c/sách p/luật TW có a/h
quan trọng tới hđ s/x k/doanh
của mình, họ luôn luôn hoặc
thường xuyên đoán trước được
việc t/hiện các c/sách p/luật đó
ở địa phương
3,23 3,70 2,76 1,03 9,49 6,94 37,88 15,69
Tỷ lệ % DN cho biết lãnh đạo
tỉnh thường xuyên tiếp xúc với
DN để thảo luận về các thay đổi
p/luật và c/sách
1,08 1,21 0,00 1,21 8,84 8,57 20,90 18,60
Điểm trang web của tỉnh 17,00 19,00 0,00 0,00 9,00 14,25 18,00 20,00
Tỷ lệ % DN cho biết chất lượng
dịch vụ tư vấn do cơ quan của
tỉnh cung cấp về thông tin p/luật
là tốt/rất tốt
45,05 24,20 24,49 6,67 48,05 20,08 60,94 33,77
Nguồn: VCCI
Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
Vấn để về thủ tục hành chính thuê đất và thời hạn sử dụng đất thuê là vấn đề mà
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đều rất quan tâm và hiện đang gặp nhiều khó khăn ở
Việt Nam Theo khảo sát của CIEM/GTZ một doanh nghiệp Việt Nam phải mất trung
bình 230 ngày, hoàn tất 7 thủ tục để có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay thuê
đất Theo đánh giá của quốc tế, Việt Nam xếp hạng 139/155 nước về mức độ dễ dàng
trong việc đăng ký bất động sản và bị xếp hạng cuối cùng về tính minh bạch
Trang 38Chỉ số “ Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất” đánh giá mức độ khó
khăn/ thuận lợi của doanh nghiệp trong tiếp cận đất đai, và sự ổn định, an toàn trong
khi sử dụng mảnh đất đó Do tính đặc thù của Thủ đô, đánh giá theo chỉ số này Hà Nội
xếp thứ hạng rất thấp, năm 2006 xếp vị trí 63/64; năm 2008 mặc dù đã cải thiện điểm
số từ 4,19 lên 4,73 nhưng Thành phố lại tụt xuống vị trí cuối cùng Các thành phố khác
như Đà Nẵng, TPHCM cũng đều xếp hạng thấp, chỉ riêng Bình Dương đứng vị trí cuối
trong nhúm Khỏ
Chỉ số này được xem xét trên hai khía cạnh: Thứ nhất, tiếp cận đất đai; thứ hai,
sự ổn định trong sử dụng đất đai Xột trờn hai khía cạnh này, Hà Nội đều đứng ở nhóm
thấp, tương ứng vị trí thứ 59 và 61, với 7/10 chỉ tiêu xếp hạng “thấp” và “tương đối
Trang 39doanh do bị chính quyền thu hồi
cho mục đích khác, phân chia
theo 5 mức độ (5=rủi ro thấp
nhất)
Tỷ lệ % DN cho rằng số tiền bồi
thường trong trường hợp đất bị
thu hồi là thỏa đáng
35,00 21,82 21,43 21,25 40,00 38,82 58,33 52,75
Mức độ rủi ro về thay đổi các
điều kiện cho thuê đất, phân chia
Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước
Trong đánh giá của VCCI, chỉ số thành phần “Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà
nước” chỉ chiếm trọng số 5% nhưng là một chỉ số khá quan trọng bởi nó phản ánh
được sự trong sạch và bình đẳng trong môi trường đầu tư kinh doanh ở địa phương
Chỉ số này không những có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng nhiều
tới mặt tâm lý xã hội vì với sự bình đẳng giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân sẽ giúp
cho các DN dân doanh thêm tự tin và tiết kiệm được thời gian khi giao dịch với đối tác,
vì nay họ trở thành chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh, không còn mang nặng
ám ảnh khái niệm doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nhà nước nữa
Trang 40Đánh giá theo chỉ số này, năm 2006 Hà Nội đứng cuối cùng trong cả nước với
4,7 điểm tuy nhiên đến năm 2008, đó cú sự cải thiện khi Hà Nội vươn lên đứng thứ 50
với 7,08 điểm trên TPHCM đứng thứ 55 với 6,86 điểm
Bảng 2.5 Chỉ số ưu đãi với DN nhà nước của Hà Nội năm 2006 và 2008
Tỷ lệ % DN cho rằng chính
quyền có ưu đãi đối với DNNN 47,62 47,68 21,00 23,81 34,61 38,38 53,16 50,29
Tỷ lệ % DN đồng ý với nhận định
chính quyền địa phương có thái
độ tích cực đối với khu vực KT
dân doanh
30,21 38,18 30,21 32,71 48,28 53,40 71,56 72,22
Tỷ lệ % DN cho biết sự quan tâm
của CQ địa phương không phụ
thuộc vào mức đóng góp của DN
dân doanh cho sự phát triển của
địa phương (như số lđ sử dụng, số
thuế nộp cho nhà nước)
47,31 66,46 18,28 51,94 36,56 65,07 50,00 84,62
Đánh giá của DN về chính sách
Tỷ lệ % DN cho rằng chính
quyền địa phương vẫn còn ưu đãi
đối với các DN cổ phần hóa và
điều đó là trở ngại đối với hđộng
kinh doanh của DN dân doanh