Khái niệm Ngân hàng thương mại “Ngân hàng thương mại NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Trong bối cảnh nền kinh tế - tài chính của thế giới có nhiều biến động, nhưngĐảng và Nhà nước ta luôn kiên trì với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đạivào năm 2020, kiên trì với con đường đổi mới, mở cửa hội nhập và tăng cường tiềmlực kinh tế của đất nước
Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất quantrọng, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộcvào quy mô và hiệu quả vốn đầu tư Do vậy để đáp ứng nhu cầu phát triển và cạnhtranh các doanh nghiệp Việt Nam cũng đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy
mô ngày càng lớn, đổi mới dây truyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch
vụ, vươn lên cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của các nước khác trong khu vực vàtrên thế giới Bởi vậy nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng Một địa chỉquen thuộc và tiện ích nhất mà người cần vốn nghĩ đến đó là các Ngân hàng thươngmại
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày càng tăng vàđòi hỏi phải được đáp ứng nhanh chóng kịp thời Do vậy, trong thời gian tới để pháthuy hơn nữa vai trò của mình và đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế cũng nhưcho chính bản thân hệ thống ngân hàng, việc huy động vốn cho kinh doanh trongtương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các ngân hàng thương mại vàvới Ngân hàng TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa cũng không là ngoại lệ Vấn
đề tìm ra những giải pháp để hoàn thiện công tác huy động vốn là rất thiết thực và cấpbách
2 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của chuyên đề:
Xuất phát từ lý luận về huy động vốn của NHTM, chuyên đề sẽ phân tích, đánhgiá thực trạng nguồn vốn, hoạt động huy động vốn từ bên ngoài của NHTM CP
Trang 2Sacombank chi nhánh Thanh Hóa và dựa trên thực trạng đó để nâng cao kết quả huyđông vốn của NH TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa.
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của chuyên đề:
Đề tài nghiên cứu tập trung vào các vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn từbên ngoài của NHTM Phân tích, đi sâu nghiên cứu hoạt động huy động vốn củaNHTM CP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa trên các khía cạnh: các loại hình, quy
mô, cơ cấu, chi phí vốn và sự phù hợp với sử dụng vốn trên cơ sở các số liệu của ngânhàng từ năm 2011 đến hết tháng 6 năm 2013
4 Phương pháp nghiên cứu:
Với những kiến thức đã học ở trường cùng với những kinh nghiệm thực tiễn thuđược trong thời gian thực tập tại Ngân hàng Sacombank Chi nhánh Thanh Hóa, em
xin mạnh dạn đi vào nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này qua đề tài “Nâng cao hiệu
quả huy động vốn tại Ngân Hàng Sacombank chi nhánh Thanh Hóa”
5 Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu và kết luận chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực Trạng hiệu quả huy đông vốn tại Ngân hàng TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa.
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1 Ngân hàng thương mại và các hoạt động chủ yếu
1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
“Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.”
Cùng với sự phát triển kinh tế và khoa học công nghệ, hoạt động ngân hàng đã
có những bước tiến mạnh mẽ Trước hết là sự đa dạng về các hình thức và hoạt độngngân hàng Bên cạnh các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước là số lượng lớn các ngânhàng cổ phần, ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài Nhiều nghiệp vụ ngânhàng hiện đại đang ngày càng phát triển bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng truyềnthống Nhiều ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư bấtđộng sản, cho vay kinh doanh chứng khoán, cho thuê tài chính Các hình thức huyđộng cũng ngày càng phong phú, đa dạng; Các loại hình tiền gửi khác nhau được đưa
ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Ngày nay, việc ứng dụng công nghệngân hàng hiện đại đã và đang góp phần làm thay đổi căn bản các hoạt động của ngânhàng thương mại Thanh toán điện tử chiếm ưu thế và thay đổi dần thanh toán thủcông, đẩy nhanh tốc độ, tính thuận tiện và an toàn trong thanh toán Dịch vụ thanhtoán không dùng tiền mặt và dịch vụ ngân hàng trực tuyến đang tạo ra các tiện íchngày càng lớn cho xã hội
Đặc trưng của ngân hàng thương mại so với các tổ chức tài chính khác là chuyên
về huy động vốn, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán Bất kỳ ngân hàngthương mại hay tổ chức tài chính nào đều hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép
Trang 4và đều hoạt động dựa trên cơ sở sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh trongnền kinh tế.
1.1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
* Thứ nhất: hoạt động tạo lập nguồn vốn.
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàngtạo lập, huy động để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm:
+ Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của ngân hàng thương mại baogồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và các tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàngTrung ương Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn kinhdoanh của ngân hàng nhưng nó có ý nghĩa rất lớn Nó là điều kiện pháp lý cho sự rađời và hoạt động của ngân hàng thương mại, là căn cứ để tính toán các tỷ lệ an toàntrong kinh doanh, đánh giá năng lực tài chính, mức độ chịu đựng rủi ro đồng thời là
cơ sở, nền tảng để thu hút các nguồn vốn khác Bởi vậy, các ngân hàng thương mạikhông ngừng tăng cường bổ sung vốn điều lệ, trích lập các quỹ dự trữ và sử dụng cáctài sản nợ
+ Vốn huy động: Ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế tạo ranguồn vốn chủ lực trong kinh doanh thông qua các hình thức nhận tiền gửi, phát hànhcác chứng từ có giá
Vốn tiền gửi bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư vàtiền gửi khác Huy động tiền gửi là hình thức huy động phổ biến của ngân hàngthương mại Các khoản tiền gửi có thể là không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn với các kỳhạn khác nhau, đồng thời ngân hàng sẽ mở các tài khoản tương ứng để thuận tiệntrong việc sử dụng
Huy động vốn thông qua phát hành chứng từ có giá là việc các ngân hàng thươngmại phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứngchỉ tiền gửi Trong hình thức này, ngân hàng chủ động phát hành chứng từ có giá theođợt để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, mà chủ yếu là vốn trung và dài hạn
+ Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác và của Ngân hàng Trung ương tronghoạt động kinh doanh nếu ngân hàng thương mại thiếu vốn ngắn hạn để thanh toán thìngân hàng có thể đi vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác thôngqua thị trường liên ngân hàng hoặc vay của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái
Trang 5cấp vốn, vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng thương mại và vay khingân hàng mất khả năng thanh toán Lượng vốn vay này thường chiếm một tỷ trọngnhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại do vậy nó khôngnhững góp phần tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh mà nó còn có ý nghĩa trongviệc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dụng vốncủa ngân hàng thương mại.
+ Nguồn vốn khác: như tiền ký quỹ vào tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền chuchuyển trong thanh toán, vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của chính phủ hoặc của các tổchức trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội…Nguồn vốn khác này tuy không lớn nhưng ngân hàng không phải tốn kém chiphí huy động nhưng lại có điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàngkhác, phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng
* Thứ hai: hoạt động sử dụng vốn
Đây là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất của ngân hàng thươngmại Hoạt động sử dụng vốn trong nền kinh tế thị trường ngày càng đa dạng và đượcthự hiện dưới nhiều hình thức:
+ ngân hàng thương mại cho vay đối với khách hàng: đây là hướng chủ yếutrong việc sử dụng vốn của ngân hàng, đem lại cho ngân hàng nguồn thu chính nhưngcũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất
+ Hoạt động đầu tư: ngân hàng thương mại đầu tư vào chứng khoán như tínphiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp Tuy nhiên,ngân hàng thương mại chỉ được phép đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất địnhtheo quy định của pháp luật nhà nước ngân hàng thương mại còn đầu tư vốn liêndoanh, liên kết với các ngân hàng thương mại khác và các doanh nghiệp thuộc lĩnhvực sản xuất thương mại, dịch vụ nhằm tạo ra lợi thế cho ngân hàng và cho nền kinhtế
* Thứ ba: hoạt động dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh mẽ trong điều kiện nền kinh tế thịtrường và đưa lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng thương mại Bao gồm các hìnhthức: bảo lãnh, thanh toán, kinh doanh vàng và ngoại tệ, môi giới kinh doanh chứngkhoán, hoạt động ủy thác, thông tin, tư vấn
Trang 6Như vậy, nguyên tắc hoạt động của ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay,ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian tín dụng giữa người đi vay và ngườicho vay, giải quyết cung và cầu tín dụng về khối lượng vốn và thời hạn cho vay ngânhàng thương mại làm trung gian thanh toán trên cơ sở hoạt động đi vay để cho vay,thông qua đó ngân hàng có thể huy động tiền gửi của khách hàng, mở rộng cho vay vàđầu tư Thông qua các hoạt động của ngân hàng thì người gửi thu được khoản tiền lãi,được hưởng các dịch vụ thanh toán tiện lợi mà vẫn đảm bảo an toàn về vốn Đồngthời, người đi vay thỏa mãn được các nhu cầu vốn cho sản xuất, tiêu dùng Ngân hàngthu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất- điều kiện tồn tại và phát triển của ngânhàng Còn đối với nền kinh tế góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, luânchuyển vốn, điều hòa lưu thông tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạmphát.
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại
NHTM kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ dưới hình thức huy động vốn, cho vay,đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác Như vậy toàn bộ các hoạt động kinh doanh củangân hàng đều dựa trên nguồn vốn mà ngân hàng đó có
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàngtạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm:
Tiền gửi là nguồn vốn vay mượn chính, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tàisản nợ của ngân hàng thương mại Thực chất nguồn này thuộc các chủ sở hữu khácnhau và ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu, phải có tráchnhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng gửi tiền có nhu cầu rút
Trang 7Tiền gửi của ngân hàng thương mại bao gồm:
* Tiền gửi của các tổ chức kinh tế:
Khi các tổ chức kinh tế có một khoản tiền nhàn rỗi chưa cần đến trong hoạt độngkinh doanh thì họ có nhu cầu gửi tại các ngân hàng thương mại Thông thường đây làcác khoản tiền tạm thời chưa được sử dụng hoặc được sử dụng vào mục tiêu định sẵnvào một thời điểm nhất định trong tương lai
Các tổ chức kinh tế thường gửi tiền vào ngân hàng dưới 2 hình thức:
• Tiền gửi không kỳ hạn (hay tiền gửi thanh toán)
Đặc điểm của loại tiền gửi này là người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào để sửdụng và ngân hàng luôn có trách nhiệm phải thoả mãn nhu cầu rút tiền của kháchhàng Các khoản tiền gửi này có mức lãi suất thấp xong thay vào đó chủ tài khoản cóthể được hưởng các dịch vụ của ngân hàng với mức phí thấp Các tổ chức kinh tế khigửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức này nhằm mục đích thanh toán và đảm bảo antoàn vốn Ngân hàng sẽ quản lý việc thanh toán của khách hàng thông qua số dư trêntài khoản tiền gửi của họ tại ngân hàng Lý do chủ yếu khiến khách hàng mở tài khoảnthanh toán tại ngân hàng đó là đảm bảo có thể sử dụng đồng vốn một cách nhanhchóng khi cần thiết và có thể chuyển nhượng được Đối với hầu hết khách hàng, việchưởng lãi đối với số tiền gửi nhằm mục đích thanh toán chỉ là thứ yếu và ngân hàngcũng chỉ áp dụng một mức lãi xuất nhỏ đối với loại tiền gửi này Tuy nhiên nguồn vốnhuy động từ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán thường biến động, ngân hàngthương mại chỉ sử dụng nguồn vốn này với một tỷ trọng nhất định để cho vay và đầu
tư, tỷ trọng này phụ thuộc vào khối lượng tiền gửi và mức độ ổn định thường xuyêntrong quá trình gửi tiền của khách hàng
• Tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào ngân hàng có sự thỏathuận về thời hạn rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận Tuy nhiên, trong thực tế, đểthu hút tiền gửi các ngân hàng cho phép khách hàng được rút trước hạn nhưng chỉđược hưởng mức lãi suất thấp hơn
Loại tiền gửi này có ưu điểm hơn tiền gửi thanh toán đó là lãi suất cao hơn vàđối với ngân hàng đây là nguồn vốn huy động tương đối ổn định Vì thế ngân hàng cóthể sử dụng một cách chủ động để làm nguồn vốn kinh doanh dùng trong đầu tư vàcho vay Để sử dụng nguồn vốn này một cách hợp lý và chủ động và cũng để hấp dẫn
Trang 8khách hàng, ngân hàng thường đưa ra các loại kỳ hạn khác nhau như kỳ hạn 3 tháng,
6 tháng, 9 tháng, 1 năm , mỗi mức kỳ hạn ứng với một lãi xuất khác nhau, kỳ hạncàng dài thì lãi suất càng cao
* Tiền gửi của dân cư
Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập của người dân gửi tại ngân hàng.Khi tiêu dùng không hết thu nhập, người dân dùng để tích luỹ, khi thu nhập càng caothì nhu cầu tích luỹ càng lớn và một trong những cách tích luỹ có lợi nhất là gửi vàongân hàng Vì thế đại bộ phận tiền gửi của dân cư ở ngân hàng là dành cho tích luỹ.Tiền gửi dân cư bao gồm:
• Tiền gửi tiết kiệm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn: là loại tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nàosong không được dùng cho mục đích thanh toán qua ngân hàng Số dư tài khoản tiềngửi này không lớn nhưng ổn định hơn so với tiền gửi thanh toán vì thế ngân hàng phảitrả lãi suất cao hơn để huy động được nguồn vốn này
- Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn: là loại tiền gửi nhằm mục đích tiết kiệm và có sựthỏa thuận về thời hạn rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng Loại tiền gửi này cótính ổn định cao do đó nó có lãi suất cao Dân chúng khi gửi tiền dưới hình thức nàychủ yếu với mục đích sinh lợi và an toàn vốn
Để thu hút tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng cố gắng khuyến khích người dân thâyđổi thói quen nắm giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động,đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn Ngân hàng có thể
mở cho mỗi người gửi tiền nhiều sổ tiết kiệm cho mỗi kỳ hạn và được xuất trình khingười gửi tiền rút tiền hay gửi tiền thêm vào Đây là một loại chứng từ đảm bảo tiềngửi nên người sở hữu nó có thể mang đến ngân hàng để xin cầm cố hoặc xin chiết khấu
để vay vốn
• Tài khoản tiền gửi cá nhân:
Khi đời sống vật chất của con người ngày càng nâng lên thì ngày càng có nhiều
cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng và thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngânhàng Vì thế loại tiền gửi này cũng góp phần tăng cường nguồn vốn tín dụng cho ngânhàng
Trang 9Tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định vì thế ngân hàng có thể sử dụng nómột cách chủ động hơn và nhiều hơn cho mục đích đầu tư, cho vay.
* Tiền gửi khác.
Ngoài hai loại tiền gửi trên, các ngân hàng thương mại còn có các loại tiền gửikhác:
- Tiền gửi vốn chuyên dùng
- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
- Tiền gửi của Kho bạc nhà nước
Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng đem lại cho ngân hàng một nguồnvốn lớn để kinh doanh Đặc điểm chung của tiền gửi là chúng phải được thanh toánngay khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn Sựthay đổi tiền gửi, đặc biệt là ngắn hạn làm thay đổi khả năng thanh khoản của ngânhàng Trong ngân hàng thương mại quy mô tiền gửi quyết định chủ yếu đến các khoảntín dụng dưới hình thức cho vay và đầu tư Thông thường nguồn nay chiếm hơn 50%tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm củangân hàng Đa số tiền gửi hoàn toàn dễ hoán chuyển thành tiền mặt và tiền lãi sẽ chỉphản ánh mức thu nhập từ các lệ phí do tiến hành các dịch vụ khác nhau
+ Vốn vay của các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thương mại tạm thời thừa vốn và thiếuvốn Do đó giữa các ngân hàng thương mại nảy sinh vay mượn lẫn nhau trên thịtrường liên ngân hàng Các ngân hàng tạm thời dư thừa vốn có thể cho các ngân hàngthương mại khác vay để kiếm lãi, ngược lại các ngân hàng thương mại khi thiếu hụtvốn sẽ đi vay các ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách thay vì phảivay ngân hàng trung ương Quá trình vay mượn này rất đơn giản, có thể thực hiệnbằng cách các ngân hàng thương mại liên hệ trực tiếp với nhau hoặc thông qua ngânhàng trung ương, thời hạn của các khoản vay này rất ngắn, thường không quá 7 ngày.Khoản vay có thể không cần hoặc có đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc.Nguồn vốn vay chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thươngmại chủ yếu nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời khi nhu cầu thanh toáncủa khách hàng tăng cao Vay ngân hàng trung ương phụ thuộc rất lớn vào mục tiêucủa chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, việc vay mượn các tổ chức tớn dụng khác
Trang 10trên thị trường liên ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn khi trong cùng một lúc cácngân hàng thương mại cùng thiếu phương tiện thanh toán.
+ Vốn vay của Ngân hàng trung ương
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của ngân hàngthương mại trong trường hợp thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán ngân hàngthương mại thường vay ngân hàng trung ương tuỳ theo mục đích sử dụng và hình thứcvay vốn Nguồn vay này được chia thành các loại:
* Vốn vay ngắn hạn bổ sung: là hình thức ngân hàng thương mại xin vay vốn bổsung ngắn hạn của mình Trong hình thức vay này, các ngân hàng thương mại chỉđược vay khi còn hạn mức tín dụng và trong hạn mức tín dụng đã thoả thuận
* Vay để thanh toán: các ngân hàng thương mại vay ngân hàng trung ương nhằmthực hiện công tác thanh toán giữa các ngân hàng để bù đắp thiếu hụt tạm thời trongthanh toán
* Tái cấp vốn: ngân hàng trung ương cho ngân hàng thương mại vay trên cơ sởchứng từ có giá Các chứng từ này phải là các chứng từ có chất lượng đảm bảo hợp lệ,hợp pháp và an toàn Tái cấp vốn có hai hình thức:
• Vay có đảm bảo: là hình thức các ngân hàng thương mại đem chứng từ có giáđến ngân hàng trung ương để đảm bảo xin vay vốn
• Vay tái chiết khấu: ngân hàng trung ương nhận các chứng từ có giá mà ngânhàng thương mại đã chiết khấu trước đây để cho ngân hàng thương mại vay vốn.Khoản mục vay ngân hàng trung ương cú thể xếp loại cho vay cũng hình thànhnên nguồn vốn của ngân hàng thương mại Vì trong hệ thống ngân hàng hai cấp, ngânhàng trung ương luôn đóng vai trò là người cho vay cuối đối với ngân hàng thươngmại ngân hàng thương mại sau khi khai thác hết nguồn vốn trên thị trường sẽ vayngân hàng trung ương Khoản vay này liên quan đến thị trường trung ương, đến chínhsách tiền tệ của ngân hàng trung ương
+ Phát hành các giấy tờ có giá
Đây chính là việc các ngân hàng thương mại phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳphiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn Trong hình thức huy động vốn, ngânhàng thương mại chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội bằng việc phát hànhchứng từ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh doanh.Việc phát hành chứng từ có giáchỉ được thực hiện sau khi đã tiến hành cân đối toàn hệ thống giữa nguồn vốn và nhu
Trang 11cầu sử dụng Khi nguồn vốn không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn của cả hệ thốngthì các ngân hàng thương mại có thể phát hành chứng từ có giá để huy động vốnnhưng phải được sự chấp thuận của Thống đốc ngân hàng nhà nước.
Đây là hình thức huy động vốn nhanh nhất, có thể tập trung vốn trong một thờihạn ngắn với số lượng vốn lớn Các ngân hàng thương mại sử dụng hình thức huyđộng vốn này khi đầu tư cho các dự án vốn lớn, phải đáp ứng ngay như thời hạn giảingân dài Song do nhu cầu tập trung vốn lớn trong thời hạn ngắn nên lãi suất thườngcao hơn lãi suất thường cao hơn lãi suất tiền gửi huy động cùng kỳ hạn
Nguồn vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá trị của ngân hàngthương mại thường có thời hạn và quy mô xác định trước do vậy tạo nguồn vốn ổnđịnh cho ngân hàng Khác với nhận tiền gửi, ngân hàng không nhất thiết phải huyđộng nguồn vốn này thường xuyên mà chỉ huy động khi cần thiết và hoàn toàn chủđộng trong việc quyết định khối lượng bao nhiêu cho phù hợp với nhu cầu sử dụng.Nguồn này có nhiều rủi ro hơn tiền gửi nên lãi suất thường cao hơn so với tiền gửicùng kỳ hạn
1.2 Hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Hiệu quả huy động vốn của NHTM chính là kết quả huy động mà ngân hang đạt đượcphù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh lời cao chongân hang trong từng thời kỳ
Ngân hàng thương mại với chức năng trung gian tín dụng của nền kinh tế thựchiện tập trung huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cho vay và đầu tư vớilãi xuất cao hơn Đây là công việc của một định chế tài chính người trung gian, đóngvai trò môi giới giữa người có vốn và người cần vốn Các hoạt động này đòi hỏi ngânhàng thương mại phải có nguồn lực tài chính lớn (nguồn vốn) và trong khi các nguồnvốn chủ sở hữu hay nguồn vốn vay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nguồnvốn của ngân hàng thương mại thì việc huy động vốn từ các nguồn nhàn rỗi trong xãhội chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kinhdoanh của ngân hàng
Trang 12Nguyên tắc “đi vay để cho vay” trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại cũng chỉ ra rằng nguồn vốn chủ yếu và quan trọng được sử dụng cho mọihoạt động đầu tư, kinh doanh của ngân hàng thương mại là nguồn vốn huy động.Nguồn vốn huy động càng lớn, chất lượng càng tốt thì càng tạo điều kiện cho ngânhàng mở rộng và phát triển các hoạt động của mình Vì thế để có nguồn vốn huy động
đủ mạnh thì công tác huy động vốn phải được quan tâm hàng đầu Do đó có thể nóicông tác huy động vốn là tiền đề quan trọng để quyết định sự tồn tại và phát triển củamột ngân hàng
Nguồn vốn huy động được coi là chất lượng nếu như nó đủ lớn để đáp ứng nhucầu và đầu tư ngày càng mở rộng của ngân hàng, có chi phí thấp để tiết kiệm chi phíchung cho ngân hàng và tăng lợi nhuận Hơn nữa nguồn vốn huy động phải đảm bảo
cơ cấu hợp lý, phù hợp với các mục tiêu, chiến lược đầu tư kinh doanh của ngân hàng
đó Song trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, ngân hàng thương mại chỉ
là một trong các kênh huy động vốn của nền kinh tế, các ngân hàng thương mại đuanhau cạnh tranh tìm kiếm khách hàng trong khi nguồn vốn trong dân cư có hạn và nhucầu sử dụng cho đầu tư và phát triển là rất lớn thì không phải ngân hàng nào cũng đạtđược những tiêu chí trên Vì thế nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn là nhân tố
cơ bản và là điều kiện kiên quyết cho việc nâng cao chất lượng hoạt động của ngânhàng cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó trên thị trường
Xuất phát từ các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại như hoạt độngcho vay, thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ Các hoạt động này không thểphát triển được nếu như không có vốn Ví dụ như trong cho vay: nguồn vốn trong chovay của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động (vốn chủ sở hữu chỉ là cơ sở để tính hạn
nợ vay của ngân hàng) vì thế nếu nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế cao mà vốn huyđộng của ngân hàng không đáp ứng được thì ngân hàng không thể cho vay với số vốnlớn Hay nhu cầu vốn trung dài hạn lớn tất yếu đòi hỏi nguồn vốn trung, dài hạn cũngphải lớn để đáp ứng (mặc dù ngân hàng được sử dụng một tỷ lệ vốn ngắn hạn nhấtđịnh để cho vay trung, dài hạn) Trong hoạt động thanh toán, việc cung ứng cácphương tiện thanh toán và quy mô thanh toán phụ thuộc vào nguồn vốn trong hoạtnày Nếu vốn nhỏ, khả năng chi trả, thanh toán của ngân hàng sẽ kém và vì thế khôngthu hút được khách hàng Như vậy để thấy rằng nhân tố quan trọng để phát triển các
Trang 13dịch vụ ngân hàng là vốn và trong đó vốn huy động là chủ yếu Vì vậy để phát triểncác dịch vụ ngân hàng thì hoạt động huy động vốn phải được quan tâm trước nhất.Tóm lại, huy động vốn là công tác quan trọng, quyết định và có ý nghĩa quantrọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì thế nâng cao hiệu quả và chấtlượng công tác huy động vốn là điều tất yếu nếu muốn nâng cao năng lực kinh doanhcủa ngân hàng thương mại
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Nhân tố khách quan
* Môi trường kinh tế xã hội
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ tiết kiệm của mỗi cá nhân, tổ chức kinh tế
và của nhà nước trong nền kinh tế Vì vậy khi nền kinh tế càng phát triển, của cải xãhội và thu nhập tăng sẽ tạo ra nhiều nguồn vốn do đó tạo ra môi trường cho việc thuhút vốn của ngân hàng được thuận lợi Mặt khác nó cũng tạo môi trường đầu tư chongân hàng từ đó ngân hàng phải tìm ra những biện pháp để huy động vốn sao cho cóhiệu quả đối với hoạt động kinh doanh của mình Ngược lại, khi nền kinh tế khôngtăng trưởng, hay lạm phát tăng cao làm giá trị đồng tiền bị mất giá, người dân sẽkhông gửi tiền vào ngân hàng mà họ dùng tiền để mua hàng tích trữ vì vậy ảnh hưởngkhông tốt đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
* Môi trường pháp lý
Hành lang pháp lý là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động vốn của ngânhàng thương mại Vấn đề pháp luật, chính sách của Chính Phủ trong kinh doanh ngânhàng luôn phải được phân tích kỹ lưỡng vì nó có ảnh hưởng đến hệ thống tài chínhquốc gia Do đó so với các ngành kinh doanh khác, Nhà nước có sự kiểm soát chặtchẽ hơn về phương diện pháp luật, chính sách đối với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng
Có những bộ luật điều chỉnh lĩnh vực này như Luật các tổ chức tín dụng, luật ngânhàng nhà nước, các nghị định, quy định Hoạt động huy động vốn của ngân hàngcũng được điều chỉnh cụ thể trong hệ thống pháp luật như quy định về tỷ lệ huy độngvốn so với vốn chủ sở hữu của nhân hàng, quy định về các hình thức huy động vốn.Mặt khác chính sách tài chính tiền tệ điều chỉnh các vấn đề về lãi suất, tỷ giá,thuế và hoạt động của các cơ quan hữu quan như Bộ thương mại, Bộ tài chính cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
Trang 14Chẳng hạn khi lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tănglãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài lưu thông thì các ngân hàng thương mại sẽ huyđộng vốn dễ dàng hơn Ngược lại, nếu Nhà nước thực thi chính sách khuyến khíchđầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó huy động vốn hơn vì nguồn tiền nhàn rỗitrong xã hội được sử dụng để đầu tư kinh doanh thay vì gửi tiết kiệm ở ngân hàng.
Vì vậy những điều chỉnh về mặt pháp luật, chính sách của nhà nước hợp lý haykhông hợp lý sẽ ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động huy động vốn củangân hàng thương mại
* Sự phát triển của thị trường tài chính
Đây là yếu tố ảnh hưởng đến nguồn vốn vay trung, dài hạn của ngân hàngthương mại Thị trường tài chính là thị trường trong đó nguồn tài chính được chuyển
từ người có vốn dư thừa sang người thiếu vốn Thị trường tài chính là tổng hoà cácmối quan hệ cung cầu về vốn, nó bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường chứngkhoán
Với sự xuất hiện của thị trường tài chính chúng ta sẽ thấy rõ vai trò của nó trongviệc huy động vốn cho đầu tư Qua thị trường thứ cấp cho phép lấy vốn và trực tiếpchuyển đổi khoản tiết kiệm của gia đình thành các nguồn vốn trung, dài hạn cho cácchủ thể khác trong nền kinh tế thông qua ngân hàng thương mại ngân hàng thươngmại đóng vai trò là người cho vay và người cho vay thực hiện việc kinh doanh chuyểnngười dư thừa vốn sang người có nhu cầu về vốn bằng việc đặt một lãi suất cao hơncác món cho vay so với các món mà họ đi vay để thu lợi nhuận
* Thói quen tâm lý tiêu dùng của người gửi tiền.
Ở những nước phát triển, nhu cầu giao dịch thanh toán qua ngân hàng rất pháttriển Hầu hết người dân có thu nhập đều mở tài khoản séc để thanh toán qua ngânhàng Tuy nhiên ở những nước kém phát triển, thu nhập của người dân còn thấp, nhucầu giao dịch thanh toán qua ngân hàng còn hạn chế nên ít người mở tài khoản tạingân hàng Điều này hạn chế khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại,không phát huy được tính hiệu quả của tài khoản giao dịch do đó làm giảm tỉ lệ tiềngửi thanh toán
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
* Hình thức huy động vốn.
Trang 15Ngân hàng muốn dễ dàng tìm kiếm nguồn vốn huy động thì trước hết phải đadạng hóa hình thức huy động Ngân hàng càng có nhiều hình thức huy động hấp dẫnthì càng thu hút người dân gửi tiền vào ngân hàng có hình thức huy động cho phùhợp.
* Lãi suất.
Việc duy trì lãi suất tiền gửi cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau đã trở nêncực kì quan trọng trong việc thu hút các khoản tiền gửi mới và duy trì các khoản tiềngửi hiện có tại ngân hàng Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện lãi suất thị trường ởmức cao Các ngân hàng cạnh tranh nhau trong việc huy động vốn từ nền kinh tế nên
dù chỉ một sự biến động nhỏ về lãi suất cũng thúc đẩy người gửi tiền và nhà đầu tưchuyển vốn từ ngân hàng này sang ngân hàng khác Chính vì thế, để thu hút vốn ngânhàng cần có chính sách lãi suất hợp lý, vừa đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền vừa tiếtkiệm chi phí cho ngân hàng mình Vì thế, khi đưa ra mức lãi suất huy động, ngânhàng phải căn cứ vào tình hình kinh tế, chính sách nhà nước và lãi suất của các ngânhàng
* Các chính sách cơ bản và sức mạnh của ngân hàng.
Chính sách của ngân hàng liên quan đến tín dụng, đầu tư vào các vấn đề khác làtiêu chuẩn quan trọng để đánh giá năng lực lãnh đạo cũng như năng lực làm việc củamột ngân hàng Nếu ngân hàng có tổ chức ổn định và có kỉ luật cao chứng tỏ các hoạtđộng giao dịch tại ngân hàng đó được điều hành một cách chính xác và lành mạnh.Điều này sẽ gây dựng và củng cố niềm tin của khách hàng vào ngân hàng Khi kháchhàng tin tưởng vào ngân hàng thì tất nhiên sẽ có tâm lý gửi tiền vào ngân hàng hơn sovới các ngân hàng khác
Các chính sách của ngân hàng như chính sách cho vay, thanh toán cũng ảnhhưởng đến khách hàng gửi tiền Nếu các chính sách này thuận lợi cho khách hàng thìchắc chắn sẽ thu hút được người dân gửi tiền mặc dù họ chưa có nhu cầu sử dụng cácdịch vụ này ngay thời điểm đó Sự quan tâm thường xuyên đến khách hàng của ngânhàng cũng thu hút người dân gửi tiền vào ngân hàng
* Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng.
Nếu như ngân hàng đưa ra các dịch vụ tốt đa dạng hơn thường có lợi thế hơn sovới các ngân hàng có dịch vụ trong việc thu hút khách hàng Ví dụ nếu ngân hàng cócác dịch vụ thuận tiện như các máy rút tiền tự động, hệ thống chi trả tự động, các dịch
Trang 16vụ gửi tiền đơn giản và tốn ớt thời gian, thời gian phục vụ dài chắc chắn thu hỳtđược người dõn đến giao dịch.
* Nguồn lực của ngõn hàng.
Thụng thường, khỏch hàng luụn mong muốn giao dịch với cỏc ngõn hàng cú bềdày kinh nghiệm trong hoạt động, cú uy tớn trờn thị trường Bờn cạnh đú nguồn lựccủa ngõn hàng cũng là yếu tố quan trọng để thu hỳt khỏch hàng đến với ngõn hàng.Nguồn lực ngõn hàng ở đõy chớnh là cơ sở vật chất và nguồn lực con người
- Cơ sở vật chất là điều kiện cần thiết và quan trọng để đỏnh giỏ tỡnh hỡnh hoạtđộng của ngõn hàng Khi cỏ nhõn cú nhu cầu gửi tiền thỡ họ muốn tỡm đến với ngõnhàng cú đầy đủ tin cậy Một ngõn hàng cú cơ sở vật chất tốt, khang trang hiện đại, đầy
đủ trang thết bị sẽ tỏc động tốt đến tõm lý người gửi tiền
- Yếu tố con người cú tầm quyết định tương đối đặc biệt trong hoạt động củangõn hàng Nếu ngõn hàng mà đội ngũ nhõn viờn cú thỏi độ phục vụ tốt, nhiệt tỡnh,chu đỏo, vui vẻ, lịch sự, tỏc phong làm việc nhanh nhẹn thỡ chắc chắn để lại ấn tượngtốt cho khỏch hàng Nếu làm được điều này thỡ đú chớnh là điểm mạnh của ngõn hàng
Sự hài lòng của khách hàng đợc thể hiên:
- Lãi suất huy động: Lãi suất huy động là công cụ quan trọng trong công tác huy
động vốn Một chính sách lãi suất vừa có sức cạnh tranh, vừa đảm bảo hiệu quả kinhdoanh thể hiện công tác huy động vốn của ngân hàng có chất lợng cao
- Thái độ phục vụ khách hàng: Ngân hàng nào xây dựng đợc một đội ngũ cán bộ
có năng lực, có thái độ phục vụ tốt sẽ là nhân tố quan trọng để thu hút khách hàng, thuhút nguồn vốn của họ
b Huy động vốn kèm theo phát triển các dịch vụ đi kèm.
Hoạt động của ngân hàng mang tính hệ thống và có quan hệ mật thiết với nhau.Chất lợng huy động vốn đợc đánh giá là tốt khi ngân hàng phát triển đợc các dịch vụ
đi kèm với công tác huy động vốn
1.2.3.2 Chỉ tiêu đinh lợng
Thứ nhất : Chi phí huy động vốn.
Trang 17Chi phí huy động vốn đợc phản ánh thông qua chỉ tiêu lãi suất đầu vào bình quân( LSHĐVBQ ):
LSHĐVBQ càng cao càng chứng tỏ ngân hàng đã tốn nhiều chi phí trong việc huy
động vốn, từ đó dẫn đến lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị giảm sút
Ngợc lại nếu LSHĐVBQ càng thấp thì ngân hàng càng tiết kiệm đợc chi phí huy
động vốn, từ đó làm gia tăng lợi nhuận, mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Thứ hai: Hiệu quả sử dụng vốn ( HQSDV )
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh mối quan hệ giữa đồng vốn vào và đồngvốn ra của ngân hàng Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng sử dụng vốn có hiệu quả haykhông? Chỉ tiêu này càng cao càng tốt bởi ngân hàng càng sử dụng nó một cách triệt
để Ngợc lại khi chỉ tiêu này thấp thì số vốn dùng để cho vay và đầu t còn hạn chế, nênhiệu quả sử dụng vốn là không cao
Ngoài một số chỉ tiêu trên thì các NHTM còn sử dụng rất nhiều chỉ tiêu đánh giáhiệu quả của hoạt động huy động vốn nh: ROA ( tỷ suất sinh lời trên tài sản ), ROE( tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu )
Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn vốn của ngân hàng, chúng ta
có thể thấy vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồnvốn của ngân hàng Với đặc trng “đi vay để cho vay”, nguồn vốn huy động là nguồnlực chính, đóng vai trò quyết định và có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Chính vì vậy các ngân hàng cần phải chú trọng xây dựng nguồnvốn huy động lớn mạnh, hợp lý để mở rộng quy mô hoạt động, đem lại lợi nhuận caocho ngân hàng và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
1.2.4.Sự cần thiết của việc nõng cao hiệu quả huy động vốn của NHTM
Đối với ngõn hàng:
Trong mụi trường kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thỡ vốn là một yếu tố giỳp cỏc ngõn hàng thắng thế trong cạnh tranh Ngõn hàng nào trường vốn sẽ cú khả năng thoả món tốt nhất nhu cầu của khỏch hàng, cú khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thờm thu nhập và củng cố vị thế trờn thị thương trường Nhận thức được vai trũ to lớn của vốn trong hoạt động kinh doanh, cỏc Ngõn hàng Thương
Trang 18mại luôn tìm cách phát triển nguồn vốn của mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy động vốn.
Huy động vốn là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng Từ khi có các ngân hàng ra đời thì nghiệp vụ huy động vốn đã gắn liền với các hoạt động của nó, trải qua quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thì nghiệp vụ huy động vốn cũng được đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Hiệu quả công tác huy động vốn được các ngân hàng quan tâm không chỉ vì nó là một nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng ma còn vì nó là một trong những hoạt động chủ yếu và mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Do đó trong mọi giai đoạn, nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn luôn là vấn đề được các Ngân hàng Thương mại chú trọng.
Nhu cầu phát triển của xã hội ngày càng tăng kéo theo nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế, của dân cư Để đáp ứng được mọi yêu cầu này thì các ngân hàng phải có một nguồn vốn đủ lớn để có thể phục vụ cho sự phát triển chung của nền kinh tế, mà nguồn vốn tự có của ngân hàng luôn là quá “nhỏ bé” trước yêu cầu phát triển của xã hội Do đó để có thể có một lượng vốn cần thiết để thực hiện sứ mệnh “bà đỡ” cho nền kinh tế thì các Ngân hàng Thương mại phải tìm cách tăng trưởng nguồn vốn hiện có của mình và vấn đề nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn được đặt ra rất bức thiết.
Các Ngân hàng Thương mại hoạt động trên thị trường với tư cách là các trung gian tài chính với chức năng chủ yếu là phân phối lại tiền tệ trong xã hội, thúc đẩy nền kinh tế không ngừng phát triển Hoạt động huy động vốn chính là việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để rồi sau đó ngân hàng phân phối đến nơi thiếu vốn (bằng các hoạt động cho vay, đầu tư) Làm tốt công tác huy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt nhiệm vụ quan trọng nhất của mình Cho nên mọi Ngân hàng Thương mại đều ý thức được sự cần thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Đối với khách hàng:
• Đối với dân cư:
Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi người dân các phương thức tiết kiệm tiền hợp lý và an toàn Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cư rất dồi dào, có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh Để thu hút được các nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốn phong phú và tiện lợi Điều này giúp người dân dễ dàng lựa chọn một hình thức gửi tiền phù hợp với đặc điểm khoản tiền của mình Do đó tâm lý người dân luôn mong ngân hàng đưa ra được các hình thức huy động vốn hiệu quả, có lợi cho cả hai bên: vừa ích nước vừa lợi nhà, vừa an toàn tài sản.
• Đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp :
Nghiệp vụ huy động vốn đã giúp cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp thuận tiện trong thanh toán giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán Nếu ngân hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn thì sẽ giúp các doanh nghiệp rất nhiều trong hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế luôn trôi chảy Hơn nữa, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động vốn có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp có vốn kịp thời bất cứ lúc nào mà doanh nghiệp cần vốn Do đó đứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn ở mỗi ngân hàng là cần thiết.
Trang 19Đối với nền kinh tế :
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng Tránh được tình trạng lãng phí nguồn vốn, một số người tổ chức “hụi”,
“họ” gây mất ổn định trong xã hội.Với nền kinh tế thì hoạt động huy động vốn là không thể thiếu nhất là khi nền kinh tế có lạm phát, lúc đó huy động vốn là một trong những công cụ để kìm chế lạm phát.
Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp cho nó phát triển nhịp nhàng, hiệu quả hơn Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn ở mỗi Ngân hàng Thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về nâng cao hiệu quả huy động vốn của một số ngân hàng thương mại trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả huy động vốn của một số ngân hàng thương mại trên thế giới
Kể từ ngày 1/1/2012, theo lộ trình gia nhập WTO, ngân hàng nước ngoài sẽ đượchoạt động như ngân hàng bản địa thì áp lực cạnh tranh sẽ còn lớn hơn rất nhiều Điềunày cũng có mặt tích cực là giúp các ngân hàng trong nước phải tự thân vận động,trưởng thành, lớn mạnh để cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài Các ngân hàngnước ngoài hiện nay đã tham gia sâu vào lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, tập trung vàokhách hàng VIP - một thị trường truyền thống của ngân hàng trong nước Hay tậptrung vào các thương vụ lớn, doanh nghiệp lớn làm ăn tương đối bài bản, có kinhnghiệm đi vay, trả nợ với các ngân hàng nước ngoài Với chiến lược rõ ràng, ngânhàng nước ngoài đã có giải pháp cụ thể, tưởng chừng rất nhỏ như: thuê riêng cán bộngười Việt nói tiếng Hoa hoặc người Hoa nói tiếng Việt để giao dịch trực tiếp vớikhách hàng VIP là người Trung Quốc Đó là một trong những lợi thế mà ngân hàngtrong nước khó có thể cạnh tranh được Phát hành trái phiếu quốc tế là một trong bốnkênh huy động tài chính lớn mà các tập đoàn kinh tế nhà nước hướng tới cho việc huyđộng vốn năm 2011 và đến năm 2020 Đối với sản phẩm tiền gửi, mạng lưới là yếu tốquan trọng tạo thuận lợi cho việc huy động Tuy nhiên, hiện số chi nhánh của cácngân hàng nước ngoài tại Việt Nam rất khiêm tốn Các ngân hàng nước ngoài sẽ cóthể sử dụng các hình thức giao dịch như SMS, mobile, internet để đưa dịch vụ đếnkhách hàng nhiều hơn là mở rộng mạng lưới Mở chi nhánh không phải là kênh chính.Mạng lưới là bất lợi nhưng họ sẽ hoá thành ưu thế của mình khi đưa công nghệ caovào
Trang 20Nhiều ngân hàng trên thế giới như ở Mỹ hiện không còn hình thức giao dịch viênvới khách hàng, có chi nhánh chỉ có máy giao dịch Ngân hàng đưa dịch vụ đến đíchqua nhiều kênh SMS, mobile…
Một ưu thế rất lớn khác của ngân hàng nước ngoài là đồng vốn dồi dào nên giảingân rất nhanh Đối với khách hàng lớn, vấn đề giải ngân rất quan trọng, nhất là giảingân một lượng tiền lớn Tại ngân hàng nước ngoài, không có vấn đề nói khách hàngtrở lại sau, chúng tôi sẽ điều vốn sau 2, 3 ngày Không chỉ dừng ở đó, ngân hàng nướcngoài có cách bán chéo sản phẩm, tạo ra một gói dịch vụ tổng thể thuận tiện chokhách hàng
Ngân hàng nước ngoài rõ ràng không chú trọng cạnh tranh trên lãi suất mà làcạnh tranh trên chất lượng dịch vụ và uy tín Có thể ngân hàng nước ngoài có lãi suấthuy động thấp hơn ngân hàng trong nước Nhưng ngân hàng nước ngoài chú trọngđến vấn đề mà ngân hàng trong nước không quan tâm nhiều Đó là bảo hiểm tiền gửi
1.3.2 Bài học cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Sau khi gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài đã có nhiều hoạt động phongphú và đa dạng tại Việt Nam và được đối xử ngang bằng theo đúng nguyên tắc tối huệquốc của WTO Khi này các ngân hàng trong nước sẽ gặp phải những đối thủ nặng ký
về thương hiệu, vốn, công nghệ, nhân lực, kinh nghiệm, sản phẩm… ngay trên thịtrường Việt Nam Vấn đề thanh khoản của các ngân hàng thương mại thực sự là đề tàihết sức nóng bỏng trong thời điểm cuối năm cận kề Đây là hệ lụy của việc nguồn vốnhuy động vào thấp hơn vốn cho vay ra tại các ngân hàng thương mại Mất cân đối đầuvào và đầu ra là thực tế khiến các ngân hàng khó tránh khỏi nguy cơ thiếu vốn Cácngân hàng thương mại đã chạy đua với nhau về lãi suất huy động do các chính sáchkiềm chế lạm phát của Chính phủ như tăng dự trữ bắt buộc, duy trì lãi suất cơ bảnthấp để hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp, kiềm chế tăng trưởng tín dụng, điều hành tỷ giángoại tệ, … Vậy tại sao các ngân hàng thương mại phải huy động bằng mọi giá, ngay
cả khi bị lỗ khi cho vay ra? Đó là vì: Phải bằng mọi giá xóa ngay sự mất thanh khoản,hay chêch lệch tài sản có và tài sản nợ trên báo cáo tài chính Một dấu hiệu nhỏ củavấn đề trên nếu thể hiện ở Báo cáo tài chính năm của một ngân hàng thương mại nào
đó cùng đồng nghĩa với việc thang điểm về xếp hạng rủi ro của ngân hàng đó do các
tổ chức trong và ngoài nước đánh giá sẽ bị ảnh hưởng và kéo theo là rất nhiều hậu quảxấu Mặt khác, các ngân hàng thương mại buộc phải huy động lỗ để tiếp tục cung cấp
Trang 21vốn cho các hợp đồng tín dụng đã cam kết với các khách hàng truyền thống, kháchhàng VIP, nhằm giữ được uy tín trong kinh doanh và giữ chân được khách hàng.Trong khi đó hiện nay, các ngân hàng thương mại lớn, ngân hàng thương mại quốcdoanh với mạng lưới giao dịch phục vụ huy động vốn ở khắp nơi và quan trọng lànắm giữ khá nhiều lượng trái phiếu Chính phủ nên tính thanh khoản rất tốt và vì thếvào thời điểm khó khăn này các ngân hàng thương mại lớn không những luôn ổn địnhthanh khoản mà còn là đại gia trên thị trường liên ngân hàng, trong khi một số ngânhàng khác phải đôn đáo xoay xở nguồn và chấp nhận mức chi phí vốn khủng khiếp.Trong tương lai, Ngân hàng nhà nước sẽ phải xem xét cho phép các ngân hàng cótiềm lực tài chính mua lại các ngân hàng nhỏ, tránh nguy cơ phá sản và đổ vỡ dâychuyền Hệ thống các ngân hàng nước ta hiện nay đang đứng trước một áp lực rất lớn
để nâng cao năng lực hệ thống và đảm bảo phát triển bền vững Áp lực của hội nhậpthị trường quốc tế càng khiến nhu cầu củng cố vị thế cạnh tranh của ngân hàng trở nênbức thiết Do đó, hoạt động trong một môi trường có mức cạnh tranh cao, tất yếu sẽdẫn đến một số ngân hàng phải sáp nhập với nhau nhằm hình thành chỗ đứng vữngchắc trên thị trường Trong điều kiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nguồn vốn huy độngkhó khăn, thanh khoản của các ngân hàng này suy giảm mạnh đe dọa đến an toàn hệthống Ngân hàng nhà nước sẽ phải xem xét cho phép các ngân hàng có tiềm lựcmạnh hơn mua lại các ngân hàng này tránh nguy cơ phá sản và đổ vỡ dây chuyền.Điều này buộc các ngân hàng nhỏ sẽ tìm kiếm cơ hội sáp nhập với nhau hoặc vớingân hàng lớn hơn để có thể đáp ứng được yêu cầu về vốn Những ngân hàng yếukém sẽ phải rời khỏi cuộc chơi, qua đó nâng cao tính ổn định của cả hệ thống, đảmbảo tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh cao
Kết luận chương 1: từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn vốn huy
động của ngân hàng thương mại, ta có thể đưa ra một kết luận là: vốn huy động là vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Với đặc trưng
“đi vay để cho vay”, nguồn vốn huy động là nguồn lực chính, đóng vai trò quyết định
và có ý nghĩa sống còn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Chính vì vậy, các ngân hàng thương mại cần phải chú trọng xây dựng nguồn vốn huy động lớn mạnh hợp lý để mở rộng quy mô hoạt động, đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI
SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN
ĐỘI
2.1 Giới thiệu về NH TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NH TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa:
Ngân hàng TMCP Sacombank chi nhánh Thanh Hóa, có trụ sở tại Số 73Nguyễn Huệ, Khu Phố 2, Phường Ngọc Trạo, Thị Xã Bỉm Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.PGD nằm trên tuyến đường I Bắc Nam, giao thông thuận tiện
Sacombank chi nhánh Thanh Hóa được thành lập ngày 22/02/2006, tại địa chỉ
số 02 Phan Chu Trinh, Tp Thanh Hóa với số lượng CBNV ban đầu là 37 người Hiệnnay số lượng CBNV đã lên tới gần 90 người Hoạt động chủ yếu của chi nhánh làhuy động vốn, cho vay và dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, chuyển tiền, ngân quỹ và cácdịch vụ khác Ngày 10/08/07 thành lập PGD Nguyễn Trãi Ngày 19/03/2008 thànhlập PGD Bỉm Sơn, ngày 20/01/2010 thành lập PGD Lam Sơn, và ngày 04/07/2011thành lập PGD Tĩnh Gia Ngày 16/11/2009 đưa vào hoạt động trụ sở chính tại 126-130 Nguyễn Trãi Ngày 14/12/2009 chính thức khánh thành và khai trương trụ sởmới tại 126 -130 Nguyễn Trãi
Theo quyết định ủy quyền số: 66/2013/UQ-CNTH ngày: 25/04/2013 của Giámđốc Ngân hàng Sài gòn Thường tín – chi nhánh Thanh Hóa
ĐT: 0373.771.886
Fax: 0373.771.887
Giám đốc PGD: Ông Lê Ánh Ngọc.
Chức năng hoạt động: Huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngânquỹ; các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật và Ngân hàng
Trang 232.1.2 Cơ cấu tổ chức:
* Nhiệm vụ của các phòng, ban trong chi nhánh
a Phòng cá nhân: công việc thực hiện
+ Chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi xuyên suốt quá trình sử dụng sản phẩmdịch vụ của khách hàng và khai thác hiệu quả mối quan hệ này
BP Dịch vụ KH
GĐ Chi nhánh
PGĐ 2 PGĐ 1
P Kế toán / TC
PB Hành chính
BP Kế toán
P Hỗ trợ KD
BP Xử lý GD
Trưởng phòng GD Phó Phòng / TBP Hỗ trợ
Trang 24+ Tìm kiếm, thu thập và quản lý thông tin khách hàng cá nhân, hướng dẫn chokhách hoàn thành các bộ hồ sơ, chứng từ và thực hiện thủ tục theo quy định của từngloại sản phẩm khi khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ đó
+ Thực hiện công tác xác minh, thẩm định và đề xuất ý kiến đối với các bộ hồ
sơ tín dụng
+ Tiến hành bán/ bán chéo các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng cho kháchhàng cá nhân, thực hiện công tác chăm sóc khách hàng cá nhân
b Phòng doanh nghiệp: công việc thực hiện
+ Chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi xuyên suốt quá trình sử dụng sản phẩmdịch vụ của khách hàng và khai thác hiệu quả mối quan hệ này
+ Tìm kiếm, thu thập và quản lý thông tin khách hàng doanh nghiệp nhằm đánhgiá tiềm năng khách hàng và cung cấp thông tin về khách hàng cho các bộ phận khác
+ Thực hiện công tác xác minh, thẩm định và đề xuất ý kiến đối với các bộ hồ
sơ tín dụng
+ Tiến hành bán/ bán chéo các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng cho kháchhàng doanh nghiệp, thu thập và xử lý các phản hồi của khách hàng
+ Thực hiện các công việc khác theo phân công của cấp quản lý
* Thanh toán quốc tế
+ Xử lý các giao dịch thanh toán quốc tế: Xử lý các nghiệp vụ liên quan đếnL/C nhập khẩu, nhờ thu nhập khẩu, L/C xuất khẩu, nhờ thu xuất khẩu, nhờ thu trơn,mua bán ngoại tệ, thực hiện báo cáo về công tác thanh toán quốc tế cho Phòng Thanhtoán quốc tế
+ Xử lý các giao dịch chuyển tiền quốc tế: Xử lý các nghiệp vụ chuyển tiền đinước ngoài; thực hiện việc xác nhận mang ngoại tệ; đầu mối thực hiện phát hànhbankdraft theo ủy quyền của Ban Tổng Giám đốc, xử lý nghiệp vụ hủy bankdraft theoyêu cầu của khách hàng; phối hợp kiểm kê bankdraft rỗng theo quy định; mua bánngoại tệ phục vụ nhu cầu chuyển tiến đi nước ngoài hợp pháp theo quy định; thựchiện các báo cáo về công tác chuyển tiền quốc tế cho Phòng Thanh toán quốc tế
Trang 25+ Chức năng khác: Lập chứng từ kế toán có liên quan đến công việc do bộ phậnphụ trách; quản lý và lưu trữ hồ sơ thanh toán quốc tế theo quy định; triển khai thựchiện các phần công việc trong các quy trình tác nghiệp liên quan đến chức năng của
bộ phận; tham gia thực hiện các phần công việc trong các quy trình có liên quan đến
bộ phận; lập bảng phân công cho các nhân sự để thực hiện các nhiệm vụ trên
c Phòng Hỗ trợ: bao gồm các bộ phận: Quản lý tín dụng, xử lý giao dịch.
+ Quản lý nợ: Quản lý danh mục cho vay, bảo lãnh theo danh mục ngành nghềkinh doanh, loại hình cho vay, hạn mức tín dụng theo chính sách tín dụng của ngânhàng trong từng thời kỳ và đề xuất biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro, nâng caohiệu quả; Theo dõi và báo cáo cho Ban lãnh đạo Chi nhánh, thông báo cho Phòngdoanh nghiệp và Phòng cá nhân về tình hình thu vốn, lãi của chi nhánh và diễn biếncủa từng món vay; Kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ gia hạn, nợ quá hạn, đề xuất cácbiện pháp cụ thể để giảm thiểu nợ quá hạn, nợ không thu được lãi; đề xuất biện phápthực hiện việc thu nợ đối với các khoản nợ trễ hạn, nợ quá hạn, nợ xấu; thực hiện cácbáo cáo định kỳ và đốt xuất sau: tình hình nợ đến hạn trong 10 ngày kế tiếp; nợ trễhạn; nợ được gia hạn; nợ quá hạn đến 03 tháng, 06 tháng, 09 tháng, 12 tháng, trên 12tháng; danh mục cho vay theo ngành nghề, theo loại khách hàng, theo lãi suất, theo
Trang 26hạn mức và một số báo cáo khác có liên quan đến tín dụng; lập kế hoạch nợ quá hạn,
kế hoạch dự phòng rủi ro và theo dõi thực hiện
+ Chức năng khác: Lưu trữ, bảo quản bản chính hợp đồng tín dụng, hợp đồngbảo lãnh, giấy nhận nợ, giấy gia hạn nợ và các giấy tờ liên quan khác; tổ chức lưu trữtoàn bộ các bản sao hồ sơ cấp tín dụng đang lưu hành, đã tất toán và các hồ sơ đã từchối cho vay để tham khảo, cung cấp khi có yêu cầu; thông báo nhắc nợ nội bộ chochuyên viên khách hàng
* Xử lý giao dịch: Thực hiện các nghiệp vụ tiền gửi như các nghiệp vụ tiền gửitiết kiệm,tiền gửi thanh toán, kế toán tiền vay liên quan đến việc thu nợ, chuyển tiềnthanh toán nội địa, chi trả kiều hối và chi trả chuyển tiển mậu dịch; thực hiện thu đổingoại tệ tiền mặt, séc du lịch và thanh toán các loại thẻ quốc tế; thực hiện các tácnghiệp vụ về thẻ được giao; thu chi tiền mặt theo đúng nhiệm vụ quy định của từnggiao dịch viên; lập chứng từ kế toán có liên quan đến các tác nghiệp do bộ phận đảmtrách; quản lý các loại tài khoản tiền gửi, tiền vay của khách hàng; thực hiện các tácnghiệp mua bán vàng, ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng
d Phòng Kế toán và Quỹ:
* Quản lý công tác kế toán tại chi nhánh: Hướng dẫn, kiểm tra công tác hạchtoán kế toán tại Chi nhánh và các đơn vị thuộc chi nhánh; thực hiện các nghiệp vụthanh toán và kiểm soát các hoạt động thanh toán trong nội bộ toàn chi nhánh, giữachi nhánh đối với các đơn vị khác trong hệ thống ngân hàng và giữa chi nhánh thanhtoán trực tiếp với các ngân hàng khác; tiếp nhận, kiểm tra và tổng hợp số liệu kế toánphát sinh hàng ngày/tháng/quý/năm của các đơn vị trực thuộc; chịu trách nhiệm hậukiểm kịp thời chứng từ kế toán tại chi nhánh do các đơn vị trực thuộc chi nhánh thựchiện, đề xuất các biện pháp xử lý các trường hợp sai sót; lưu trữ và bảo quản khochứng từ kế toán theo quy định
* Quản lý công tác an toàn kho quỹ: Thu chi và xuất nhập tiền mặt, tài sản quý,giấy tờ có giá; kiểm đếm, phân loại, đóng bó tiền theo quy định; bốc xếp, vận chuyển,bảo quản tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá
Trang 27* Quản lý công tác nhân sự: Xây dựng kế hoạch tuyển dụng nhân sự hàng năm;phối hợp với phòng nhân sự tại Hội sở trong việc tuyển dụng tại chi nhánh; quản lýcác vấn đề nhân sự liên quan đến luật lao động; tổng hợp kết quả thi đua khen thưởng;chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm tra tính tuân thủ chấp hành nội quy, quy chế,quy định có liên quan đến nhân sự trong toàn chi nhánh.
* Công tác IT: Giám sát hệ thống công nghệ thông tin tại chi nhánh và các đơn
vị trực thuộc; hỗ trợ sử dụng và khai thác tài nguyên công nghệ thông tin tại chinhánh và các đơn vị trực thuộc; bảo dưỡng trang thiết bị CNTT tại chi nhánh và cácđơn vị trực thuộc
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại
cổ phần Quân đội trong thời gian qua (2010-2012)
Sở giao dịch tuy được thành lập muộn hơn so với các chi nhánh khác của Ngânhàng thương mại cổ phần Quân đội nhưng với sự giúp đỡ từ phía ban lãnh đạo Ngânhàng thương mại cổ phần Quân đội cùng với sự cố gắng nỗ lực không ngừng của toànthể cán bộ, nhân viên Sở đã bước đầu khẳng định được vị thế của mình trong Ngânhàng thương mại cổ phần Quân đội cũng như trên thị trường Với phương châm “pháthuy nội lực, chủ động sáng tạo tìm ra nhứng giải pháp, cách thức đẩy mạnh hoạt độnghuy động vốn, đáp ứng kịp thời, có hiệu quả các nhu cầu về vốn đầu tư của các thànhphần kinh tế, góp phần giành thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
Trong những năm đầu hoạt động, Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phầnQuân đội đã đạt được một số kết quả sau:
Trang 282.1.3.1 Về công tác huy động vốn tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
Trong những năm đầu hoạt động, với phương châm “huy động để cho vay, chủđộng lo nguồn”, Sở giao dịch đã không ngừng đẩy mạnh công tác huy động vốn do đó
đã tạo lập được một nguồn vốn ổn định và ngày càng tăng trưởng vững chắc, phục vụnhu cầu vốn cho các hoạt động kinh doanh của cá nhân và mọi thành phần kinh tế
Từ năm 2010-2012, nguồn vốn huy động của Sở giao dịch - Ngân hàng thươngmại cổ phần Quân đội không ngừng tăng trưởng, đã đạt được một số kết quả sau:
- Năm 2010, tổng nguồn vốn huy động của Sở đạt 1.870 tỷ đồng, trong đó nguồnvốn huy động ngắn hạn là 1.394 tỷ đồng, chiếm 74,54% tổng nguồn vốn huy động;nguồn vốn huy động trung dài hạn đạt 476 tỷ đồng chiếm 25,46% tổng nguồn vốn huyđộng Kết cấu vốn huy động ngắn hạn và trung dài hạn khá là chênh lệch Điều này là
do tình hình kinh tế năm 2010 có nhiều biến động về lãi suất, tỷ giá và giá vàng, lạmphát tăng cao, đang trong giai đoạn phục hồi khủng hoảng kinh tế năm 2008; vốn huyđộng trung và dài hạn trước đây đã chuyển sang thành vốn huy động ngắn hạn
- Năm 2011, Nguồn vốn huy động của Sở đạt 2.330 tỷ đồng, tăng 460 tỷ đồng,tương ứng với tỷ lệ tăng 24,6 % so với năm 2010 Trong đó nguồn vốn ngắn hạn là
1770 tỷ đồng, chiếm 75.97% tổng nguồn vốn huy động So với năm 2010, nguồn vốnngắn hạn tăng 376 tỷ đồng Nguồn vốn trung dài hạn năm 2011 đạt 560 tỷ đồng, tăng
84 tỷ đồng
- Năm 2012, Nguồn vốn huy động của Sở đạt 3.495 tỷ đồng, tăng 1.165 tỷ đồng,tương ứng với tỷ lệ tăng 50% so với năm 2011 Trong đó nguồn vốn ngắn hạn là2.741 tỷ đồng, chiếm 78.51% tổng nguồn vốn huy động So với năm 2011, nguồn vốnngắn hạn tăng 971 tỷ đồng Nguồn vốn trung dài hạn năm 2012 đạt 754 tỷ đồng, tăng
194 tỷ đồng
Như vậy, ta thấy rằng trong tổng nguồn vốn huy động thì vốn huy động ngắn hạnchiếm tỷ trọng cao hơn vốn huy động trung dài hạn Nguồn vốn huy động của Sở khácao và tương đối ổn định qua các năm tuy kết cấu vốn huy động ngắn hạn và trung dàihạn có sự thay đổi, tăng dần tỷ trọng vốn huy động ngắn hạn, giảm dần tỷ trọng vốntrung dài hạn Do nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động nên côngtác huy động vốn được quan tâm hơn, sử dụng nhiều hình thức huy động, đa dạng về
kỳ hạn và lãi suất… Công tác huy động vốn đã giúp Sở đáp ứng được nhu cầu đầu tư,
Trang 29phát triển cho các cá nhân, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đảm bảo khảnăng thanh toán, an toàn trong hoạt động, đảm bảo duy trì tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nângcao năng lực cạnh tranh trong hoạt động tài chính - ngân hàng.
2.1.3.2 Về công tác cho vay tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, đem lại cho ngânhàng phần lớn thu nhập nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất và cókhả năng dẫn đến nguy cơ mất vốn Vì vậy, ngân hàng đã tiến hành nghiên cứu, xâydựng kế hoạch sử dụng vốn sao cho đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở số vốn huy độngđược và thực tế tình hình kinh tế Với phương châm “hiệu quả- an toàn- phát triển bềnvững”, Sở giao dịch luôn coi trọng chất lượng tín dụng thông qua việc tìm kiếm, lựachọn khách hàng, thẩm định phương án sản xuất kinh doanh phù hợp, hiệu quả Nhờ
đó, công tác cho vay đã đạt được một số kết quả sau:
- Năm 2010 dư nợ cho vay của Sở đạt 1.493 tỷ đồng Năm 2011, dư nợ của Sởđạt 1.827 tỷ đồng, tăng 334 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 22,37% so với năm
2010 Năm 2012, dư nợ tăng thêm 585 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 39,18% sovới năm 2010, đạt 2.412 tỷ đồng Như vậy dư nợ của ngân hàng tăng qua các năm
- Ngân hàng huy động phần lớn bằng đồng nội tệ nên chủ yếu là cho vay bằngđồng nội tệ, chiếm trên 80% dư nợ Đây có thể là hợp lý vì ngân hàng huy động bằngloại tiền nào thì sẽ cho vay bằng loại tiền đó để tránh nguy cơ rủi ro về tỷ giá, lãisuất… tuy nhiên sẽ là không hợp lý, không cân bằng trong nền kinh tế hội nhập do đóngân hàng cần phải chú trọng đến vấn đề này hơn
- Về thời hạn cho vay, thì ngân hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn, dư nợ ngắnhạn chiếm trên 60% tổng dư nợ Điều này có nghĩa là ngân hàng chú trọng đến chovay ngắn hạn hơn là trung, dài hạn Chủ trương này rất đúng vì cho vay ngắn hạn cóthể nhanh chóng thu hồi được vốn, phù hợp với nguồn vốn huy động của ngân hàng,vốn quay vòng nhanh, hạn chế tối đa rủi ro cũng như khả năng mất vốn
- Về công tác thu hồi nợ, ngân hàng chú trọng đến việc kiểm soát các khoản vayđến hạn cũng như các khoản vay đã giải ngân theo đúng cam kết với khách hàng.Ngân hàng luôn đảm bảo đúng quy định pháp lý trong hoạt động cho vay, luôn coitrọng khâu tìm kiếm, lựa chọn và thẩm định khách hàng vay vốn theo đúng quy trìnhnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị, giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi
Trang 30Tuy nhiên, hoạt động tín dụng không thể tránh khỏi những rủi ro về nợ quá hạn Đặcbiệt năm 2008 là năm nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng nên hoạt động kinh
tế của cá nhân cũng như các thành phần kinh tế khác cũng không tránh khỏi nhữngkhó khăn Năm 2010, nợ quá hạn là 45 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là3,01% Năm 2011, nợ quá hạn đã giảm xuống còn 28 tỷ đồng, tỷ lệ nợ quá hạn trêntổng dư nợ là 1,53% Năm 2012 với sự giám sát, đôn đốc từ phía ban lãnh đạo củangân hàng trong công tác thu hồi nợ nên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ chỉ còn 19
tỷ đồng Trong thời gian tới ngân hàng cần giám sát chặt chẽ và đốc thúc khách hànghơn nữa trong việc thu hồi nợ quá hạn nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng tíndụng
Tóm lại, hoạt động cho vay của Sở giao dịch- Ngân hàng thương mại cổ phầnQuân đội ngày càng tăng trưởng theo hướng phát triển ổn định và bền vững Sở luônluôn tuân thủ trung thực, minh bạch, cẩn thận trong nghiệp vụ tín dụng, lấy chất lượngtín dụng, an toàn cho vay, hiệu quả đầu tư làm mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triểnbền vững, đảm bảo dựa trên nguyên tắc “đi vay để cho vay ” Do đó công tác tín dụngluôn cố gắng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi, tích cực thu hồi lãi treo, đảm bảo các móncho vay đều được kiểm tra trước, trong và sau cho vay, phối hợp cùng khách hàng tìmcác biện pháp tháo gỡ khó khăn, đảm bảo an toàn trong hoạt động, góp phần vào thúcđẩy kinh tế phát triển
2.1.3.3 Các hoạt động khác tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
Bên cạnh nghiệp vụ chính là tín dụng, Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
đã chú trọng và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ tốt hơn nhu cầungày càng cao của khách hàng Các hoạt động như thanh toán trong và ngoài nước,bảo lãnh, ủy thác, tư vấn, kinh doanh ngoại tê,… đã đem lại cho ngân hàng không ítlợi nhuận Các hoạt động chuyển tiền trong nước, dịch vụ chuyển tiền kiều hối, thanhtoán quốc tế được đảm bảo thực hiện nhanh chóng, hiệu quả với mứ phí hợp lý do đóđáp ứng được nhu cầu của khách hàng về thanh toán trong nước và nước ngoài, doanh
số thanh toán quốc tế đạt 350 triệu USD góp phần khai thác thêm nguồn vốn ngoại tệ
từ nước ngoài chuyển về
Từ năm 2010 đến nay ngân hàng không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, dặcbiệt là triển khai “ngân hàng điện tử” với nhiều tiện ích cho cả khách hàng cá nhân và
Trang 31khách hàng doanh nghiệp lựa chọn như Internet banking- EMB, SMS banking, dịch
vụ Bank plus…
* Kết quả hoạt động kinh doanh: năm 2011 lợi nhuận đạt 52 tỷ đồng, tăng 15 tỷđồng so với năm 2010 với tỷ lệ tăng 32,43% Năm 2012 lợi nhuận của Sở đạt 78 tỷđồng, tăng 41 tỷ đồng so với năm 2010
Hoạt động trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng trong những năm qua gặp rấtnhiều khó khăn, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng là rất lớn, vừa cạnh tranh giữa cácngân hàng trong nước với nhau, lại thêm cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài,hơn nữa nền kinh tế biến động mạnh và khó có khả năng dự báo trước được, trong khikhách hàng đòi hỏi nhu cầu phục vụ ngày càng cao mà lại có nhiều cơ hội để lựa chọnhơn, do đó ngân hàng cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ để đáp ứng vàthỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng
2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại
cổ phần Quân đội (2010-2012)
2.2.1 Thực trạng huy động vốn tại Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
2.2.1.1 Cơ cấu nguồn vốn
Về cơ cấu nguồn vốn của Sở giao dịch - Ngân hàng thương mại cổ phần Quân
đội, ta tham khảo bảng 2.1
BẢNG 2.2: CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA SỞ GIAO DỊCH
tiền %
Số tiền %Tổng nguồn
vốn 2.021 100 2.512 100 491 24,29 3.764 100 1.252 49,841.Vốn tự huy
động 1.870 92,53 2.330 92,75 460 24,6 3.514 93,36 1.184 50,822.Nguồn vốn
3.Nguồn vốn
Trang 32(Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch 2010-2012)
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tình hình cơ cấu nguồn vốn của Sở giao dịch trongnhững năm qua không ngừng tăng lên Năm 2010, tổng nguồn vốn của ngân hàng là2.021 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tự huy động chiếm tới 92,53% Nguồn vốn đi vay
và nguồn vốn khác chiếm tỷ trọng nhỏ, điều này là hợp lý vì nguồn vốn này có thểđáp ứng được nhu cầu vốn của ngân hàng nhưng nó không ổn định , tính chủ độngchưa cao và phải chịu chi phí vay (lãi suất vay) có khi cao hơn lãi suất huy động.Năm 2011, cơ cấu tổng nguồn vốn của ngân hàng có sự thay đổi so với năm
2010 Tổng nguồn vốn đạt 2.512 tỷ đồng, tăng 491 tỷ đồng tương ứng với tủ lệ tăng24,29% so với năm 2010 Trong đó, nguồn vốn tự huy động đạt 2330 tỷ đồng, chiếm92,75% tổng nguồn vốn, nguồn này tăng 460 tỷ đồng (24,6%) Nguồn vốn đi vay cótăng nhưng lại giảm về mặt tỷ trọng, điều này cho thấy, ngân hàng đã giảm huy độngvốn từ việc đi vay của Ngân hàng trung ương cũng như các tổ chức tín dụng khác.Nguồn vốn khác có tăng lên cả về số tuyệt đối cũng như tỷ trọng trong tổng nguồnvốn mà ngân hàng huy động được
Năm 2012, Tổng nguồn vốn đạt 3.764 tỷ đồng, tăng 1.252 tỷ đồng tương ứng với
tỷ lệ tăng 49,84% so với năm 2011 Trong đó, nguồn vốn tự huy động đạt 3.544 tỷđồng, chiếm 94,16% tổng nguồn vốn Cũng như năm 2011 nguồn vốn đi vay có tăngnhưng lại giảm về mặt tỷ trọng Nguồn vốn khác tăng lên cả về số tuyệt đối cũng như
tỷ trọng trong tổng nguồn vốn và ngân hàng huy động được Ta thấy, nguồn vốn củangân hàng chủ yếu là do nguồn vốn tự huy động được, nguồn vốn tự huy động đểthực hiện các mục tiêu chiến lược kinh doanh, đây là một dấu hiệu tốt tạo điều kiệncho ngân hàng mở rộng quy mô kinh doanh và phát triển các loại hình phục vụ Về cơcấu các loại vốn, nguồn vốn mà ngân hàng tự huy động được tăng lên cả về số tuyệtđối và số tương đối, cho thấy tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động là đều đătnj quacác năm tạo tiền đề cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh và pháttriển bền vững
2.2.1.2 Tình hình biến động từng loại nguồn vốn huy động
Nguồn vốn tự huy động chiếm vị trí quan trọng nhất trong tổng nguồn vốn củangân hàng Để có thể đánh giá được quy mô, chất lượng vốn huy động, để xem xétnguồn vốn đó có thực sự hiệu quả hay không, có tạo được sự tự chủ cho ngân hàng
Trang 33* Thứ nhất: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo hình thức huy động vốn.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiềngửi của dân cư và phát hành giấy tờ có giá Tình hình các loại nguồn vốn này trongnhững năm qua được thể hiện qua bảng số liệu 2.2 sau:
BẢNG 2.3: NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG THEO HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN
Vốn Tự huy động 1.870 100 2.330 100 460 24,60 3.514 100 1.184 50,82
1 Tiền gửi 1.773 94,81 2.210 94,85 437 24,65 3.370 95,90 1.184 52,491.1 TG không kỳ hạn 399 22,50 508 22,99 109 37,32 809 23,02 1.160 59,251.2 TG có kỳ hạn 1.374 77,50 1.702 77,01 328 23,87 2.561 72,88 301 50,47
2 Phát hành giấy tờ
(Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch 2010-2012)
Trong tổng nguồn vốn tự huy động thì ta thấy là nguồn vốn từ tiền gửi chiếm tỷtrọng lớn còn phát hành giấy tờ có giá chiếm tỷ trọng nhỏ
Trang 34Số tiền %
2011/2010 Số
tiền %
2012/2011 Số
tiền %
Số tiền %
1 Tiền gửi của tckt 560 31,58 605 27,38 45 8,04 726 21,54 121 201.1 Tiền gửi không kỳ hạn 356 63,57 394 65,12 6 1,69 473 65,15 79 20,051.2 Tiền gửi có kỳ hạn: 204 36,43 211 34,88 7 3,43 253 35,85 42 19,90
(Nguồn: tổng hợp của phòng kế toán)
- Tiền gửi của tổ chức kinh tế:
Đối tượng tiền gửi của hình thức huy động này chủ yếu là các doanh nghiệp hoạtđộn trên địa bàn quận dưới hai hình thức là tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳhạn Khi các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thì nguồn tiền gửi vào ngân hàngcàng nhiều mà ổn định, chất lượng hơn
Năm 2010, nguồn tiền gửi của tổ chức kinh tế là 560 tỷ đồng chiếm 31,58% tổngvốn tiền gửi Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn là 356 tỷ đồng, chiếm 63,57% tổng sốtiền gửi của tổ chức kinh tế Nguồn tiền gửi này bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửivốn chuyên dung và tiền gửi không kỳ hạn thuần túy, trong đó chủ yếu là tiền gửikhông kỳ hạn của các doanh nghiệp để thực hiện các mục đích thanh toán Tiền gửicủa có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng 36,43% tổng số tiền gửi của các
tổ chức kinh tế Trong đó loại tiền gửi dưới 12 tháng là 972 tỷ đồng, chiếm 83,08%
Trang 35còn lại là tiền gửi trên 12 tháng Tuy nhiên, loại nguồn vốn này không ảnh hưởngnhiều đến tổng nguồn vốn huy động vì nó chiếm tỷ trọng nhỏ.
Sang năm 2011, tổng nguồn tiền gửi có xu hướng tăng lên, đạt 2.210 tỷ đồng,tăng 437 tỷ đồng (24,65%), trong đó tiền gửi của các tổ chức kinh tế có tăng nhưngkhông đáng kể, chủ yếu vẫn là tiền gửi không kỳ hạn, chiếm 65,12% tổng tiền gửi của
tổ chức kinh tế, tăng 6 tỷ đồng so với năm 2010 Lượng tiền gửi có kỳ hạn của các tổchức kinh tế có tăng lên nhưng tỷ trọng tăng còn hạn chế Cụ thể là nguồn tiền gửi có
kỳ hạn tăng lên 7 tỷ đồng so với năm 2010, đạt 211 tỷ đồng; chủ yếu là tăng tiền gửidưới 12 tháng còn tiền gửi trên 12 tháng có xu hướng giảm xuống
Năm 2012, tổng nguồn tiền gửi đạt 3.370 tỷ đồng, tăng 1.160 tỷ đồng (52,49%),chiếm 21,54% tổng số tiền gửi; trong đó tiền gửi của các tổ chức kinh tế có tăngnhưng vẫn chưa nhiều mà chủ yếu vẫn là tiền gửi không kỳ hạn, chiếm 65,15% tổngtiền gửi của tổ chức kinh tế, tăng 79 tỷ đồng so với năm 2011 Do tình hình nền kinh
tế khó khăn nên các doanh nghiệp vẫn tập trung vốn vào đầu tư sản xuất kinh doanh,nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp ngày càng tăng mạnh nhằm tạo cơ sở vật chất,đầu tư trang thiết bị, cải thiến công nghệ Lượng tiền gửi có tăng hơn năm 2011 xongvẫn còn ở mức hạn chế Nguồn tiền gửi có kỳ hạn tăng lên 42 tỷ so với năm 2011, tiềngửi trên 12 tháng đã có xu hướng chứ không giảm xuống như năm trước Tiền gửidưới 12 tháng vẫn duy trì tăng ở mức đều đặn Tóm lại, nguồn tiền gửi của tổ chứckinh tế trong cơ cấu nguồn vốn huy động của Sở là khá hợp lý, chủ yếu là nguồn tiềngửi không kỳ hạn với chi phí huy động thấp, hơn nữa nguồn này có xu hướng tăngdần qua các năm là điều kiện tốt cho ngân hàng huy động vốn lớn cũng như tạo mốiquan hệ tốt với các doanh nghiệp trên địa bàn quận Về phía ngân hàng cần phải duytrì và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm tăng hiệu quả huy động nguồn tiền nàyđồng thời tạo thêm mối quan hệ với các khách hàng truyền thống, phát triển thêm cácdịch vụ của ngân hàng
- Tiền gửi dân cư:
Tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động củangân hàng Bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các cá nhân có nhu cầu thanh toángiao dịch qua ngân hàng và tiền gửi tiết kiệm của dân cư Tuy nhiên, lượng tiền gửiphục vụ nhu cầu thanh toán của cá nhân chiếm tỷ trọng nhỏ nên cũng không ảnhhưởng nhiều đến tổng nguồn vốn Trong những năm gần đây nhu cầu giao dịch thanh
Trang 36toán giữa các ngân hàng của cá nhân ngày càng lớn vì nhiều ưu điểm nên lượng cánhân mở tài khoản thanh toán tăng lên rõ rệt Ngoài việc thu hút được lượng tiền gửikhông kỳ hạn thì ngân hàng còn có thể cung cấp nhiều dịch vụ khác liên quan đến tàikhoản cá nhân.
Qua bảng số liệu trên ta thấy, lượng tiền huy động từ tiền gửi của dân cư tăng lên
rõ rệt Cụ thể:
Năm 2010, tiền gửi có kỳ hạn của dân cư chỉ huy động được 1.213 tỷ đồng,chiếm tỷ trọng 68,42% tổng nguồn vốn huy động, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn là
1170 tỷ đồng, chiếm 96,46% nguồn tiền gửi dân cư Trong đó, tiền gửi có kỳ hạn dưới
12 tháng là 972 tỷ đồng chiếm 83,08% tổng số tiền gửi có kỳ hạn của dân cư Phầnlớn khách hàng lựa chọn kỳ hạn gửi từ 3-6 tháng vì thời gian này là hợp lý, linh hoạt.Đây là nguồn vốn huy động chủ yếu của ngân hàng, do đó ngân hàng có thể chủ động
sử dụng vốn vào kế hoạch, mục đích nhất định mà vẫn đảm bảo an toàn về vốn Còntiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn Do biến động của nền kinh tếnăm 2010 diễn ra phức tạp, lạm phát ở mức cao, thất nghiệp xảy ra nhiều hơn dokhủng hoảng kinh tế, vì thế kỳ hạn gửi trên 12 tháng không được khách hàng lựa chọnnhiều
Đến năm 2011 tiền gửi của dân cư có bước khởi sắc mới, tăng lên cả về tiền gửi
có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn Tổng nguồn tiền gửi dân cư đạt 1.605 tỷ đồng,tăng 392 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng là 32,32%, trong đó đáng chú ý là tiền gửi thanh toánđạt 114 tỷ đồng, tăng 71 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 165,12%
Bước sang năm 2012, tiền gửi dân cư vẫn tiếp tục tăng lên cả về tiền gửi có kìhạn và tiền gửi không kì hạn Tổng nguồn tiền gửi dân cư đạt 2.644 tỷ đồng, tăng1.039 tỷ đồng Năm 2012 vừa qua, được coi là một năm đầy những khó khăn trongviệc huy động vốn Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng về huy động vốn được thể hiện
rõ nét nhất thông qua cuộc chạy đua lãi suất làm cho thị trường huy động vốn gặp rấtnhiều khó khăn Tuy nhiên, uy tín mà ngân hàng đã tạo dựng được trong lòng kháchhàng cùng với những chính sách hợp lý nên Sở đã tăng thêm được nguồn vốn huyđộng Tiền gửi có kỳ hạn tăng 941 tỷ đồng, chủ yếu là do tiền gửi ngắn hạn tăng.Đứng trước những khó khăn của nền kinh tế nói chung nhưng hoạt động huy độngvốn của Sở vẫn đạt được những thành tích nhất định, đó là một thành công đáng ghinhận của ban lãnh đạo cũng như toàn thể nhân viên ngân hàng
Trang 37Tóm lại, tiền gửi tiết kiệm dân cư là nguồn vốn huy động lớn nhất và là mộtcông cụ huy động truyền thống của ngân hàng Tiền gửi không kỳ hạn của tổ chứckinh tế và cá nhân vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ, vì vậy cần phải đẩy mạnh hoạt độngthanh toán không dùng tiền mặt thông qua các sản phẩm, dịch vụ thanh toán chuyểntiền… nhằm tạo dựng nguồn vốn có chi phí thấp nhất này Bên cạnh đó để đảm bảo
cơ cấu nguồn vốn hợp lý giữa ngắn hạn và trung dài hạn đòi hỏi phải có những biệnpháp cụ thể và tích cực để đảm bảo cân đối giữa hình thức huy động và nhu cầu sửdụng vốn sao cho có hiệu quả, an toàn, tiết kiệm chi phí nhất
Xét nguồn vốn huy động do phát hành giấy tờ có giá
Nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng vốn trung dài hạn để đầu tư
mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa sản xuất ngày càng cao Sở giaodịch đã thực hiện huy động vốn thông qua nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá dướihình thức kỳ phiếu, trái phiếu Nguồn vốn này góp phần giải tỏa nhu cầu vốn tín dụnghết sức cấp bách, đặc biệt là vốn tín dụng trung dài hạn hiện nay Vì vậy đây được coi
là hình thức có khả năng cung ứng vốn trung dài hạn nhanh nhất và hoàn toàn chủđộng
BẢNG 2.5: NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG DO PHÁT HÀNH GIẤY TỜ CÓ GIÁ
(Đơn vị: tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Số tiền %
Số tiền %
2011/2010 Số
tiền %
2012/2011 Số
tiền %
Số tiền %Phát hành giấy tờ có giá 97 100 120 100 23 23,71 141 100 41 34,17
1.Kỳ phiếu ngắn hạn 57 58,76 68 56,67 11 19,30 82 58,16 14 20,59
2.Trái phiếu dài hạn 40 41,24 52 43,33 12 30,00 59 31,84 7 13,46
(Nguồn: tổng hợp của phòng kế toán)
Năm 2010, nguồn vốn huy động thông qua phát hành giấy tờ có giá là 97 tỷ đồngchiếm 5,19 % tổng số vốn tự huy động của ngân hàng Trong đó, nguồn do phát hànhgiấy tờ có giá ngắn hạn (kỳ phiếu) là 57 tỷ đồng, chiếm 58,76% và nguồn phát hànhgiấy tờ có giá trung, dài hạn (trái phiếu) là 40 tỷ đồng chiếm 41,24% Việc phát hành
kỳ phiếu, trái phiếu đã tạo ra một cơ cấu nguồn vốn ngày càng đa dạng về hình thứchuy động Năm 2011, nguồn vốn huy động theo hình thức này tăng lên thêm 23 tỷ