Chính những đóng góp đáng kể đó của ngành “công nghiệp không khói” vào sự phát triển nhanh của nhiều nền kinh tế mà hiện nay rất nhiều quốc gia coi trọng việc phát triển du lịch và nâng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Chủ tịch Hội Đồng:
TS TRẦN Đ NH CHẤT Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của học viên Chung Lợi Hưng với sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố bởi tác giả khác trong bất kỳ công trình nào trước đây
n n y 10 tháng 07 năm 2017
Tác giả luận văn
Chung Lợi Hƣng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý Thầy Cô giảng dạy Chương trình cao học Quản trị kinh doanh của trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh đã dành thời gian quý báu tận tình hướng dẫn hoàn thành luận văn
Cám ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thời gian thực hiện đề tài!
n n y 10 tháng 07 năm 2017
Tác giả luận văn
Chung Lợi Hƣng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 4
1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh 4
1.1.1 Cạnh tranh là gì? 4
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh 5
1.1.3 Năng lực cạnh tranh 5
1.2 Công cụ phân tích Năng lực cạnh tranh vận dụng vào ngành du lịch 9
1.2.1 Giới thiệu khung phân tích 9
1.2.2 Các nhân tố trong mô hình 10
1.3 Lý luận cơ bản về du lịch và điểm đến du lịch 17
1.3.1 Khái niệm du lịch 17
1.3.2 Khái niệm về điểm đến du lịch 19
1.3.3 Khái niệm về ngành du lịch 19
1.3.4 Khái niệm về sản phẩm du lịch 21
1.3.5 Khái niệm về khách du lịch 22
1.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ở một số nước 25
Tóm tắt chương 1 27
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DU LỊCH HÀ TIÊN 28 2.1 Khái quát tình hình du lịch Hà Tiên 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên -kinh tế -xã hội của thị xã Hà Tiên 28
Trang 62.1.2 Tình hình du lịch tại thị xã Hà Tiên 30
2.2 Phân tích Năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên theo mô hình kim cương của M.Porter 36
2.2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất của ngành du lịch 36
2.2.2 Điều kiện về cầu du lịch 39
2.2.3 Các ngành hỗ trợ liên quan 40
2.2.4 Chiến lược, cơ cấu cạnh tranh ngành du lịch Hà Tiên 43
2.2.5 Quản lý nhà nước 44
2.2.6 Vai trò của cơ hội 47
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Hà Tiên qua ma trận hình ảnh cạnh tranh 48
2.3.1 Quy trình đánh giá 48
2.3.2 Kết quả đánh giá 49
2.4 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh du lịch Hà Tiên 55
Tóm tắt chương 2 59
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DU LỊCH HÀ TIÊN 60
3.1 Định hướng phát triển du lịch Hà Tiên thời gian tới 60
3.1.1 Quan điểm phát triển 60
3.1.2 Định hướng phát triển 61
3.1.3 Mục tiêu cụ thể 62
3.2 Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Hà Tiên 64
3.2.1 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch 65
3.2.2 Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 66
3.2.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 67
3.2.4 Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và an ninh 68
3.2.5 Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch và quảng bá hình ảnh điểm đến Hà Tiên 69
Tóm tắt chương 3 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ĐĐDL: Điểm đến du lịch
GDP: Gross Dometsic Product: Tổng thu nhập quốc dân
ISO: International Organization for Standardization: Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế MICE: Du lịch Công vụ [là viết tắt của 4 từ tiếng Anh: Meeting (gặp gỡ), Incentive (khen thưởng), Conventions (hội thảo), Exhibition (triển lãm)]
UNWTO: World Tourism Organization: Tổ chức du lịch thế giới
UBND: Ủy ban nhân dân
VH & DL: Văn hóa và du lịch
WEF: Wold Economic forum : Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đơn vị hành chính, diện tích và dân số thị xã Hà Tiên năm 2015 29
Bảng 2.2 Tổng lượt khách và doanh thu du lịch Hà Tiên (2012-2015) 31
Bảng 2.3 Doanh thu và lượt khách của Hà Tiên 32
Bảng 2.4 Bảng lượt khách Hà Tiên qua các năm 2012-2015 39
Bảng 2.5 Thống kê cơ ở lưu trú tại Hà tiên năm 2015 41
Bảng 2.6 Bảng Ma trận hình ảnh cạnh tranh 49
Bảng 2.7 Ma trận hình ảnh cạnh tranh nhóm tiêu chí “hoạt động kinh doanh du lịch” 49
Bảng 2.8 Ma trận hình ảnh cạnh tranh nhóm tiêu chí 51
Bảng 2.9 Ma trận hình ảnh cạnh tranh về nhóm tiêu chí 52
Bảng 2.10 Ma trận hình ảnh cạnh tranh về nhóm tiêu chí 53
Bảng 2.11 Ma trận hình ảnh cạnh tranh về nhóm tiêu chí 54
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình kim cương của Micheal Porter 9
Hình 2.1 Biểu đồ doanh thu một số điểm du lịch 32
Hình 2.2 Biểu đồ lượt khách ở một số điểm du lịch 33
Hình 2.3 Biểu đồ lượt khách đến Hà Tiên năm 2012 – 2015 40
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Với xu thế toàn cầu hóa đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch trên phạm vi toàn cầu phát triển nhanh và trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của thế giới Tại nhiều quốc gia đang phát triển, du lịch là nguồn thu nhập chính, ngành xuất khẩu hàng đầu, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội cho sự phát triển Chính những đóng góp đáng kể đó của ngành “công nghiệp không khói” vào sự phát triển nhanh của nhiều nền kinh tế mà hiện nay rất nhiều quốc gia coi trọng việc phát triển du lịch và nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến để thu hút khách du lịch
Hà Tiên – Kiên Giang là một điểm du lịch nổi tiếng được nhiều người biết đến với thập cảnh non nước hữu tình, cảnh quan thiên nhiên đa dạng phong phú cùng với các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống văn hóa mang nét đặt trưng nên Hà Tiên ngày càng thu hút nhiều lượt khách du lịch đến tham quan Tuy nhiên, hiện nay các tỉnh lân cận trong khu vực cũng đang xúc tiến phát triển ngành du lịch, đó là một thách thức lớn đối với điểm đến du lịch Hà Tiên Để có thể cạnh tranh với các điểm đến khác thì du lịch Hà Tiên cần phải xác định được những điểm mạnh và điểm yếu của mình để có những biện pháp cụ thể trong chiến lược phát triển và cạnh tranh với các điểm du lịch khác trong khu vực
Nghiên cứu này với mục tiêu là đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên; từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho du lịch Hà Tiên Để hoàn thành mục tiêu đầu tiên tác giả đã tiến hành nghiên cứu lý thuyết liên quan đến đề tài trong và ngoài nước Mô hình lý thuyết chính được tác giả sử dụng là mô hình kim cương của Micheal Porter và năng lực cạnh tranh quốc gia, nhưng được tác giả điều chỉnh lại để phân tích năng lực cạnh tranh ngành du lịch Hà Tiên
Tác giả đã sử dụng cả 2 phương pháp là thống kê, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số liệu sơ cấp, thứ cấp và phương pháp chuyên gia Ma trận hình ảnh cạnh tranh điểm đến du lịch Hà Tiên và các điểm du lịch so sánh khác được thảo luận và lấy ý kiến từ các chuyên gia, đồng thời tác giả sử dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh dựa trên mô hình kim cương của Micheal Porter để phân tích năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên
Kết quả đánh giá về năng lực cạnh tranh cho thấy điểm đến du lịch Hà Tiên có năng lực cạnh tranh cao hơn so với các điểm đến so sánh là Bạc Liêu, An Giang và
Trang 11Châu Đốc Kết quả cũng cho thấy được hiện tại trong khu vực tây Nam Bộ thì Châu Đốc chính là đối thủ cạnh tranh lớn nhất đối với Hà Tiên vì điểm năng lực cạnh tranh của Châu Đốc xấp xỉ bằng với Hà Tiên Theo các chuyên gia thì hạn chế lớn nhất của du lịch
Hà Tiên là về nhân lực phục vụ du lịch chưa được phát triển để đáp ứng với nhu cầu du lịch Hà Tiên hiện tại; các tài nguyên du lịch Hà Tiên được đánh giá cao nhất trong các chỉ tiêu so sánh
Cuối cùng, dựa vào các kết quả nghiên cứu và thực trạng tình hình du lịch Hà Tiên tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như: đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục
vụ du lịch, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện chính sách bảo vệ môi trường và an ninh du lịch, đầu tư và quảng bá hình ảnh điểm đến du lịch
* Từ khóa: năng lực cạnh tranh, du lịch, Hà Tiên
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, với những tác động của toàn cầu hóa, không chỉ những ngành sản xuất hàng hóa mà ngành cung ứng dịch vụ cho xã hội cũng phát triển không ngừng Đặc biệt, ngành Du lịch là ngành vừa mang giá trị văn hóa lịch sử vừa đem lại lợi ích kinh tế đáng kể mà còn đáp ứng nhu cầu khám phá, học hỏi, nghỉ dưỡng… đến người tiêu dùng Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù mà không thể so sánh giá cả của các loại sản phẩm du lịch khác nhau Sự tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan hệ đến nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên đáng kể cho nên du lịch còn được mệnh danh là ngành “công nghiệp không khói”
Hòa vào xu hướng phát triển của du lịch toàn cầu và khu vực, Du lịch đã tăng trưởng khá nhanh, trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng Vì tạo hóa đã ban tặng cho Kiên Giang – vùng đất nơi cuối trời phía Tây Nam của
Tổ quốc nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến đó là thập cảnh Hà Tiên và đảo ngọc Phú Quốc; trong đó Huyện đảo Phú Quốc được mệnh danh là Đảo Ngọc nơi cực Nam Tổ quốc, được đánh giá có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế du lịch bậc nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Mặt khác, Thị xã Hà Tiên – vùng đất có quá trình hình thành và phát triển đã hơn 300 năm;
có nhiều di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh; là đầu mối giao thông, cửa ngõ giao thương; thuận lợi cho phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch của tỉnh Kiên Giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng
và phát triển để Hà Tiên trở thành một đô thị hiện đại, văn minh và phát triển du lịch theo hướng bền vững thì mới chỉ là những bước đi ban đầu; trước những nguồn lực du
Trang 13lịch đang bị chia sẻ, lợi thế phát triển du lịch đang giảm dần và áp lực cạnh tranh càng gia tăng; yêu cầu đặt ra là làm thế nào để giữ chân khách du lịch đến với Hà Tiên dài ngày hơn, đòi hỏi cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm cung ứng chuỗi giá trị du lịch bền vững Trước những yêu cầu cấp thiết đó và là một người con của đất Hà Tiên
nên quyết định chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên” để
nghiên cứu nhằm góp phần thiết thực vào sự phát triển bền vững của du lịch Hà Tiên, đồng thời giúp cho ngành du lịch tại thị xã xác định những lợi thế cần tạo lập, củng cố
và nâng cao năng lực cạnh tranh ngành “công nghiệp không khói” của thành phố Hà Tiên trong tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch
Hà Tiên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý thuyết và thực tế liên quan về năng lực cạnh
tranh của du lịch Hà Tiên
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên địa bàn thị xã Hà Tiên, số liệu thu
thập trong 04 năm gần nhất và được thu thập từ Phòng Văn hóa Thông tin thị xã, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Du lịch thị xã; trong đó có sử dụng số liệu của Tổng cục Thống kê, báo đài, website, báo cáo của các cơ quan chuyên môn và thu thập từ kết quả của phương pháp chuyên gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
Trang 14- Phương pháp thống kê, so sánh và suy luận logic để tổng hợp các số liệu sơ cấp và thứ cấp, tài liệu nhằm xác định lợi thế cạnh tranh của du lịch Hà Tiên
- Phương pháp chuyên gia, tham khảo ý kiến để nhận định những yếu tố tác động
và mức độ tác động đối với ngành du lịch tại thị xã; cụ thể, tác giả đã tiến hành phỏng
vấn ý kiến của 10 chuyên gia (d n s c đín kèm ở p ần p ụ lục)
5 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Tổng hợp cơ sở lý thuyết về lợi thế cạnh tranh; hệ thống hóa một số vấn đề lý luận vào thực tiễn ngành du lịch thị xã Hà Tiên
- Giúp ngành du lịch Hà Tiên sử dụng hiệu quả các nguồn lực và phương hướng phát triển bền vững trong thời gian tới thông qua việc xác định rõ lợi thế cạnh tranh Đây
là cũng là đề tài đầu tiên thực hiện tại thị xã Hà Tiên về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch nhằm xác định lợi thế cạnh tranh, cần được giữ vững, phát triển bền vững ngành này
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 3 chương không kể phần mở đầu:
C ươn 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh
C ươn 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên
C ươn 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Hà Tiên
Trang 15CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1 Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
1.1.1 Cạnh tranh là gì?
Cạnh tranh có nguồn gốc la tinh là: competere, nghĩa là tham gia đua tranh với nhau, thuật ngữ này cũng được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, chính trị, thương mại, luật và thường xuyên được đề cập trong sách, báo, các diễn đàn kinh tế -xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng; tùy theo từng góc độ tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về cạnh tranh, cụ thể như:
Theo K Marx: “Cạn tr n l sự n đu đấu tr n y ắt iữ c c n tư bản
n ằm gi n iật n ữn điều kiện t uận lợi tron sản xuất v tiêu dùn n ó để t u được lợi n uận siêu n ạc ”
Theo Bách khoa toàn thư mở (http://vi.wikipedia.org): “Cạn tr n l n độn
n đu đấu tr n c ốn lại c c c n ân y c c n óm c c lo i vì mục đíc i n được sự tồn tại sốn c n i n được lợi n uận đị vị sự kiêu ãn c c p ần t ưởn
y n ữn t ứ k c”
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế
thị trường được định nghĩa là: sự n đu kìn địc iữ c c n kin do n trên t ị
trườn n ằm tr n i n cùn một loại t i n uyên sản xuất oặc cùn một loại k c hàng về p í mìn ”
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus cho rằng Cạn tr n l sự
kìn địc iữ c c do n n iệp cạn tr n với n u để d n k c n oặc t ị trường
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về cạnh tranh khác nhau tùy theo từng quan điểm nhưng khái niệm cạnh tranh có tính bao quát nhất là của Giáo sư Michael E Porter –
người được mệnh danh là “cha đẻ” của chiến lược cạnh tranh; theo Ông thì: cạn tr n
là tạo r năn suất v năn suất l i trị sản lượn do một đơn vị l o độn oặc vốn sinh ra Nó p ụ t uộc v o cả c ất lượn lẫn đặc điểm củ sản p ẩm (yếu tố quyết địn
i củ sản p ẩm) v tín iệu quả m n ờ v o đó sản p ẩm được sản xuất r Điều
này cho thấy, bản chất của cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ mà là tạo ra và
Trang 16mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để họ có thể lựa chọn chúng ta mà không đến với đối thủ cạnh tranh
1.1.2 Lợi thế cạnh tranh
Theo Michael E Porter (1985) thì Lợi t ế cạn tr n l i trị m một do n
n iệp m n lại c o n ười mu m i trị đó vượt qu c i p í củ do n n iệp tạo r
nó Gi trị m n ười mu sẵn s n để trả v i trị c o ơn n ăn trở việc đề n ị
n ữn i t ấp ơn đối t ủ c o n ữn lợi íc tươn đươn y cun cấp n ữn lợi íc độc n ất ơn l nảy sin một i c o ơn
Điều này cho thấy rằng lợi thế cạnh tranh chính là tâm điểm của mọi chiến lược; muốn đạt được lợi thế cạnh tranh thì cần phải lựa chọn, nghĩa là xác định rõ lợi thế cạnh tranh nào và trong phạm vi nào Đồng thời, lợi thế cạnh tranh khởi nguồn từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng, lợi thế này có thể biểu hiện bằng những giá
cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (tron điều kiện lợi íc c o k c n l tươn đươn )
hay cũng có thể là những giá trị gia tăng cao hơn so với đối thủ làm cho khách hàng sẵn sàng chi trả một mức giá cao hơn; là những giá trị mà đối thủ khác không có và những phương pháp mà đối thủ khó có thể làm theo được
1.1.3 Năng lực cạnh tranh
Nói đến cạnh tranh thì không thể không nói đến thuật ngữ “năn lực cạn tr n ”
– đó cũng chính là sự quan tâm thường trực của các nhà hoạch định chính sách quốc gia, chính phủ, doanh nhân và các nhà nghiên cứu Theo khái niệm về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh có thể hiểu rộng về năng lực cạnh tranh là sự bao hàm cả thực lực và lợi thế cạnh tranh của một ngành, của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng
Hiện nay, tùy theo từng quan điểm nghiên cứu khác nhau trên mỗi cấp độ: quốc gia, ngành, doanh nghiệp, sản phẩm và dịch vụ mà có từng định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh như:
1.1.3.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Báo
cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index – GCI) định nghĩa:
“Năn lực cạn tr n quốc i l k ả năn củ nước đó đạt được n ữn t n quả
Trang 17n n v bền vữn về mức sốn n ĩ l đạt được mức tăn trưởn c o x c địn sự
t y đổi tổn sản p ẩm quốc nội trên đầu n ười t eo t ời i n”
Theo đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF- World Economic Forum) thì
năn lực cạn tr n củ một quốc i l k ả năn đạt v duy trì được mức tăn trưởn
c o l tăn năn lực sản xuất bằn việc đổi mới sử dụn c c côn n ệ c o ơn đ o tạo kỹ năn liên tục qu n tâm đến côn bằn xã ội v bảo vệ môi trườn
Nói đến năng lực cạnh tranh quốc gia là nói đến cách thức các quốc gia tạo ra điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế; nó đo lường những
gì hình thành nên sự phát triển này như: chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất Nghĩa là nó theo dõi những yếu tố quan trọng giúp một nền kinh tế có năng suất cao và so sánh thành quả của mỗi quốc gia với chuẩn mực quốc tế
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh ngành
Theo Michael E Porter (1980) thì một ngành (sản p ẩm y dịc vụ) là một nhóm
doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những sản phẩm hay dịch vụ này cạnh tranh trực tiếp với nhau Ngoài ra, ngành còn được định nghĩa là một nhóm các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm thay thế gần gũi cho nhau
Trong nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành thì chủ thể của cạnh tranh chính là ngành; để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành, giáo sư Michael E Porter đưa ra cách phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích cơ cấu ngành trong quản trị chiến lược, theo đó năng lực cạnh tranh ngành chịu ảnh hưởng bởi một số nhóm nhân tố: các yếu tố về lợi thế tự nhiên, vị trí địa lý, quy mô địa phương; chất lượng môi trường kinhh doanh, trình độ phát triển cụm ngành, độ tinh thông trong hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp trong ngành; hạ tầng xã hội – thể chế chính trị, các chính sách tài khóa –chính sách tiền tệ
1.1.3.3 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần tạo ra thu nhập và phát triển bền vững Trong thực tế, doanh nghiệp không thể hội tụ tất cả các lợi thế cùng một lúc, nếu như có lợi thế về mặt này thì bất lợi ở mặt kia; nhưng không phải là không có lợi thế cạnh tranh cho riêng mình bằng chiến lược khác biệt hóa, chiến lược chi phí tối ưu, chiến lược tập trung
Trang 18Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực lực
và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm tạo ra những sản phẩm –dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cao hơn cho khách hàng
1.1.3.4 Năng lực cạnh tranh sản phẩm –dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của SPDV chính là năng lực nắm giữ, tiêu thụ nhanh chóng
và nâng cao thị phần của loại SPDV đó so với SPDV cùng loại của một doanh nghiệp khác tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và trong cùng thời gian nhất định Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung ứng, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán và đặc biệt là Năng lực cạnh tranh của SPDV được tạo ra bởi doanh nghiệp, nghĩa là sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm –dịch vụ cao trong khi năng lực cạnh tranh của chính doanh nghiệp tạo ra sản phẩm –dịch vụ đó ở mức thấp Đây là hai cấp độ có phạm trù khác nhau nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau, cho thấy sự ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp về cơ bản và lâu dài đối với năng lực cạnh tranh của sản phẩm –dịch vụ
1.1.3.5 Năng lực cạnh tranh cấp Tỉnh
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thì chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh (được viết tắt l PCI -Provinvial Competitiveness Index) là chỉ số
dùng để đánh giá và xếp hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để thúc đẩy phát triển của lĩnh vực kinh tế tư nhân PCI được phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố lần đầu tiên vào năm 2005 gồm tám chỉ
số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh giá
1.1.3.6 Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về NLCT trong ngành du lịch ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu du lịch trên thế giới vì nó được coi là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thành công của các điểm đến du lịch Trước đây, cạnh tranh trong du lịch thường chủ yếu quan tâm đến giá cả và thường chỉ được chú trọng ở tầm mức vi mô
Trang 19NLCT điểm đến được xem xét đến hai góc độ: (1) Điểm đến; và (2) Năng lực cạnh tranh Thuật ngữ NLCT đã trở thành điểm trọng tâm của chính sách du lịch, khi cạnh tranh gia tăng, chính sách du lịch tập trung vào cải thiện NLCT thông qua việc tạo ra khuôn khổ pháp lý nhằm giám sát, kiểm soát và tăng cường chất lượng và hiệu quả của ngành, bảo vệ các nguồn lực
Với cách tiếp cận xem xét NLCT gắn với số lượng khách du lịch và thu nhập của
điểm đến, nghiên cứu của Larry Dwyer và Chulwon Kim (2003) cho rằng: “Năn lực
cạnh tranh củ điểm đến là khả năng củ điểm đến tạo ra và kết hợp các sản phẩm có giá trị i tăn để duy trì nguồn lực trong khi giữ vững vị thế trên thị trườn trước đối thủ cạn tr n ” và “một điểm đến có năn lực cạnh tranh nếu thị phần củ nó được
đ n i bởi số lượng khách du lịch và lợi nhuận tăn lên”
Crouch và Ritchie (1999) cho rằng điểm đến có khả năng cạnh tranh nếu “sự
phát triển du lịch là bền vững, không chỉ về khía cạnh kinh tế, sinh thái, mà cả về khía cạnh xã hội văn o v c ín trị” Crouch và Ritchie tập trung vào sự thịnh vượng
của nền kinh tế trong dài hạn như là tiêu chuẩn để đánh giá khả năng cạnh tranh của
điểm đến Do đó, “điểm đến có khả năn cạnh tranh nhất l điểm đến có thể tạo ra sự
thịn vượng bền vữn c o dân cư một cách hiệu quả nhất”
Từ sự phân tích ở trên, tác giả cho rằng năng lực cạnh tranh điểm đến được xem
là tập hợp các yếu tố nguồn lực như: tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, các chính sách, thể chế và con người của một điểm đến tạo
ra một hình ảnh về sự phát triển du lịch bền vững, có hiệu quả, có khả năng hấp dẫn, thu hút và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của du khách hơn so với các điểm đến khác
1.1.3.7 Mối quan hệ ở mỗi cấp độ của năng lực cạnh tranh
Trong quá trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, thì NLCT được xem xét dưới các cấp độ như: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành –doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của SPDV Giữa chúng có mối quan hệ hai chiều, tác động qua lại lẫn nhau rất cơ hữu, liên kết tạo điều kiện phát triển hay cũng có thể chế định nhau, ảnh hưởng đến nhau tạo thành một chuỗi liên kết Chẳng hạn, NLCT quốc gia sẽ phát triển bền vững khi nâng cao NLCT của ngành –doanh nghiệp và NLCT quốc gia mở ra cơ hội cho ngành –doanh nghiệp khai thác điểm mạnh, khắc phục điểm yếu nhằm nâng cao NLCT ngành –doanh nghiệp; về quan hệ giữa NLCT của SPDV và NLCT của doanh nghiệp cũng có sự tác động qua lại lẫn nhau, NLCT của ngành –doanh nghiệp cũng có thể được đo lường bằng NLCT của SPDV mà ngành –doanh nghiệp sản xuất ra
Trang 201.2 Công cụ phân tích Năng lực cạnh tranh vận dụng vào ngành du lịch
1.2.1 Giới thiệu khung phân tích
Trong luận văn này, tác giả điều chỉnh khung phân tích NLCT quốc gia của Michael Porter (1990) để đánh giá NLCT của du lịch Hà Tiên Mô hình kim cương của Michael Porter bao gồm bốn nhân tố chính và hai biến số bổ sung Bốn nhân tố này là những yếu tố riêng lẽ hoặc hệ thống tạo ra môi trường kinh doanh, trong đó các doanh nghiệp trong quốc gia đó thành lập và cạnh tranh
Thêm vào đó, mô hình kim cương là một hệ thống có khả năng tương tác, củng cố lẫn nhau; tác động của một yếu tố sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác; lợi thế của một yếu
tố cũng có thể tạo ra hoặc phát triển lợi thế ở một số yếu tố khác Tuy nhiên, lợi thế trong mỗi yếu tố không phải là điều kiện tiên quyết để có lợi thế cạnh tranh trong một ngành Sự tương tác lẫn nhau của các lợi thế trong điều kiện quyết định sẽ đem lại lợi ích tự củng cố lẫn nhau, khiến cho các đối thủ cạnh tranh khác khó có thể vô hiệu hóa hoặc bắt chước Phân tích lợi thế cạnh tranh ngành du lịch Hà Tiên dưới mô hình kim cương thì sự lựa chọn và lồng ghép tính đặc thù của ngành kinh tế dịch vụ này vào các nhân tố cơ bản của mô hình là vô cùng quan trọng
Hình 1.1 Mô hình kim cương của Micheal Porter
N uồn M Porter (1990)
Trang 211.2.2 Các nhân tố trong mô hình
1.2.2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất
Các yếu tố sản xuất bao gồm lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở
hạ tầng sẽ quyết định quan hệ buôn bán giữa các nước, mang lại sự thịnh vượng cho một quốc gia trong thương mại quốc tế Lập luận này không còn đầy đủ trong thời đại hội nhập ngày nay, nhưng không thể phủ nhận vai trò của các điều kiện về yếu tố sản xuất trong cạnh tranh dịch vụ, đặc biệt là một ngành dịch vụ mà người mua được thu hút đến một địa điểm như ngành du lịch Yếu tố then chốt trong các điều kiện về yếu
tố đầu vào là nguồn lực đầu vào sẵn có và việc hoàn thiện, nâng cấp lâu dài nguồn lực
đó Không thể phủ nhận tính sẵn có của nhóm nguồn lực này bởi nếu không có những
nguồn lực đầu vào và những điểm thu hút du khách nói riêng - các nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và do con người tạo ra thì sẽ không có hoạt động du lịch Tuy nhiên, không phải những đầu vào sẵn có mà là những yếu tố đầu vào do mỗi quốc gia
tự tạo ra trong quá trình phát triển của mình mới chính là các yếu tố đầu vào tác động mạnh nhất tới lợi thế cạnh tranh của hầu hết các ngành, đặc biệt là ngành du lịch Do
đó, số lượng các đầu vào không quan trọng bằng hiệu quả và hiệu suất sử dụng chúng
Đánh giá các vai trò của các điều kiện đầu vào đối với hoạt động của ngành du lịch, cần thiết phải xem xét các nhóm nhân tố: Nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguồn tài nguyên lịch sử, văn hóa; nguồn vốn và cơ sở hạ tầng; nguồn nhân lực
Nguồn tài nguyên thiên nhiên
Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn với yếu tố tài nguyên thiên nhiên Chính vì vậy, khi đánh giá các điều kiện đầu vào tác động tới lợi thế cạnh tranh của ngành du lịch, trước tiên cần đánh giá lợi thế cạnh tranh về tài nguyên thiên nhiên, đây chính là điều kiện cốt yếu tạo ra các sản phẩm du lịch Tài nguyên thiên nhiên trong du
lịch thể hiện rõ nét qua lợi thế so sánh về vị trí địa lý và địa hình Lợi thế về vị trí địa
lý chính là thành tố góp phần gia tăng hiệu quả cho chuyến đi, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách trong việc tiếp cận điểm đến du lịch Sự đa dạng của bề mặt địa hình có
ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động du lịch, tạo nên sự phong phú của loại hình du lịch Trong đó, mỗi dạng địa hình với đặc điểm riêng biệt tạo nên những loại hình dịch vụ
đặc trưng Nhân tố thứ hai trong nhóm tài nguyên thiên nhiên phải kế tới là khí hậu;
hoạt động du lịch, nhất là du lịch nghỉ ngơi tham quan và thể thao chịu ảnh hưởng trực tiếp về khí hậu và đặc biệt là diễn biến của thời tiết Với những điều kiện khí hậu điều
Trang 22hoà thì hoạt động du lịch diễn ra quanh năm Ánh nắng mặt trời, bầu không khí trong lành cũng là các yếu tố quan trọng cùng với các dạng địa hình, núi non hiểm trở góp phần tạo nên một sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế Ngoài ra, khi đánh giá các yếu tố sản xuất của ngành du lịch, một nhân tố không thế bỏ qua đó là hệ động thực vật; thế giới động thực vật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tính đặc hữu, vì ngày nay quá trình đô thị hóa và cuộc sống hiện đại của con người ngày càng xa rời thiên nhiên Chính vì vậy, trong đời sống hiện đại, con người lại muốn quay trở về gần với thiên nhiên; do
đó, các loại hình du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến; đồng thời, du khách luôn có cảm giác thích thú trước những loại động, thực vật không có ở đất nước họ
Nguồn tài nguyên nhân văn
Cùng với các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có sự hấp dẫn không kém với du khách; nó bao gồm các giá trị lịch sử và các giá trị văn hóa
Về c c i trị lịc sử: bao gồm những địa điểm sự kiện lịch sử đã diễn ra hoặc
các di vật để lại sau sự kiện đó và cũng có thể là những nơi sinh ra, lớn lên của các vị anh hùng dân tộc, danh nhân thế giới, những nơi là cố đô cũ, những thánh địa là nơi sinh ra của các trường phái tôn giáo Nhất là đối với một đất nước đã trải qua các cuộc kháng chiến cứu nước như Việt Nam, cụm du lịch di tích lịch sử phát triển khá phổ biến
Về các giá trị văn ó : bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể; các giá trị văn
hóa vật thể là toàn bộ công trình kiến trúc, bảo tàng, tác phẩm nghệ thuật; bên cạnh những giá trị vật thể là những giá trị phi vật thể bao gồm các phong tục tập quán, các
lễ hội, các loại hình nghệ thuật, văn hóa ẩm thực
Du lịch và thưởng thức nét đẹp văn hóa của các vùng miền đang là xu hướng phát triển khá mạnh trên trị trường du lịch khi mà nhu cầu hiểu biết và tiếp cận các nền văn hóa của con người ngày một mở rộng Nắm bắt được nhu cầu đó, việc phát huy màu sắc văn hóa, lưu giữ và phát triển truyền thống trong sản phẩm du lịch đang là vấn
đề đặt ra đối với mỗi đối tượng kinh doanh du lịch
Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng
Một trong những thành phần quan trọng của môi trường du lịch là mức độ phát
triển hạ tầng du lịch bao gồm hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngành và các cơ sở lưu
Trang 23trú, các cơ sở dịch vụ cùng những hạ tầng khác như hệ thống giao thông, y tế, du lịch,
hệ thống an ninh quốc gia Đây là điều kiện cần thiết, đảm bảo những dịch vụ cơ bản trong hoạt động du lịch Do đó, vấn đề đặt ra là cần thu hút ngày một nhiều hơn và có
hệ thống các nguồn vốn đầu tư vào mở rộng và nâng cao chất lượng hạ tầng du lịch
Nguồn vốn đầu tư chủ yếu bao gồm vốn đầu tư trực tiếp ngân sách nhà nước, nguồn
vốn đầu tư của khu vực dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nguồn vốn ODA là không thể thiếu được trong nhu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng Các dự án đầu tư liên quan du lịch có phạm vi ngày càng rộng và hình thức ngày càng phong phú Tuy nhiên, cũng cần chú ý lượng vốn và quy mô vốn đầu tư
là cần thiết nhưng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đóng một vai trò quyết định Nếu hiệu quả đầu tư thấp và lãng phí thì việc tăng lượng vốn đầu tư cũng không đem lại kết quả
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai; là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó Nguồn nhân lực, cùng với tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ đã trở thành một trong những yếu tố cơ bản nhất cho sự phát triển; đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng như toàn thể xã hội Có thể nói rằng trong bất cứ lĩnh vực nào nếu không có “con người” trong khi có đầy các nguồn lực thì các hoạt động cũng trở nên vô nghĩa; nhất là đối với một ngành mang
đậm tính giao tiếp như du lịch, khả năng ngôn ngữ của lực lượng lao động được đặt lên
hàng đầu Trong Lý thuyết lợi thế cạn tr n quốc i đề cập tới lợi thế cạnh tranh quốc gia trong các ngành dịch vụ, M Porter đã khẳng định rằng “ngôn n ữ củ một
quốc i v c c kỹ năn n ôn n ữ củ côn dân nước đó có t ể đón một v i tr quan trọn trong nhiều ngành dịc vụ”; do dó, thiếu hiểu biết về ngoại ngữ sẽ là một trở
ngại rất lớn, việc thông thạo ít nhất một trong các ngôn ngữ thông dụng quốc tế là cần thiết không chỉ đối với ngành du lịch mà còn đối với tất cả các ngành kinh tế trong giai đoạn hiện nay
Thêm vào đó, trình độ hiểu biết về kinh tế cũng có ý nghĩa quan trọng đối với
mọi chức danh trong hoạt động du lịch Mỗi doanh nghiệp được thành lập đều có chung mục đích nhằm tăng nguồn thu, lợi nhuận; trong công tác tổ chức kinh doanh và quản lý tồn tại hàng loạt những hoạt động có nội dung kinh tế đòi hỏi mọi chức danh
Trang 24lao động cần được bồi dưỡng, đào tạo về trình độ nghề nghiệp chuyên môn và tư duy kinh tế Những kiến thức này sẽ góp phần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả công việc trong các hoạt động tổ chức, thực hiện các quá trình thiết lập, cải tạo, duy trì, hiện đại hóa cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp tổ chức hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao nhất; đồng thời, không chỉ những hiểu biết về kinh tế mà những hiểu biết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa, lịch sử cũng đem lại lợi thế về nhân lực
Bên cạnh đó, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên vùng và xã hội hóa cao Khách du lịch có thể đến từ nhiều vùng miền khác nhau trên lãnh thổ một đất nước, từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới; hiểu biết về nhiều nền văn hóa khác nhau sẽ mang lại lợi thế trong mối quan hệ với du khách, giúp nắm bắt tâm lý và tiếp cận gần hơn với nhu cầu của du khách Ngoài ra, đội ngũ lao động trong ngành du lịch cần có tâm lý thoải mái, nhiệt tình, sẵn sàng phục vụ, hướng dẫn du khách trong mọi điều kiện Sự thân thiện và thái độ nhiệt tình sẽ tạo tâm
lý thoải mái với khách du lịch, giúp người làm du lịch có thể hoàn thành tốt công việc
1.2.2.2 Điều kiện về cầu
Nhân tố thứ hai của lợi thế cạnh là điều kiện về cầu, đặc biệt là cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ Để lý giải vai trò đóng góp của cầu trong nước đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành; là ngành dịch vụ du lịch, trước tiên ta cần tìm hiểu kết cấu của cầu trong nước Tác động quan trọng nhất của cầu trong nước đối với lợi thế cạnh tranh là thông qua kết cấu và tính chất của nhu cầu khách hàng trong nước, các công ty có thể nắm bắt, nhận biết, giải thích và phản ứng với nhu cầu khách hàng Các nước sẽ chỉ có được lợi thế cạnh tranh trong những ngành hoặc phân ngành
mà cầu trong nước dự báo được nhu cầu của những nước khác; Các nước cũng có được những lợi thế cạnh tranh nếu khách hàng trong nước nằm trong số những khách hàng khó tính đối với sản phẩm hay dịch vụ đó Khi đó, những nhu cầu trong nước sẽ gây áp lực với các công ty để đổi mới nhanh hơn và đạt được những lợi thế cạnh tranh cao cấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Đặc biệt, khi có dấu hiệu bão hòa đối với nhu cầu trong nước, các doanh nghiệp không còn lựa chọn nào khác ngoài đổi mới, cải tiến, tạo ra các đặc tính mới của sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm giá thành Kết quả là các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh yếu hơn sẽ bị loại bỏ, chỉ còn lại các doanh nghiệp mạnh và đổi mới hơn Ngoài ra, khi xem xét các
Trang 25điều kiện về cầu, không thế bỏ qua quy mô lựa chọn và thời điểm của cầu dịch vụ; các quốc gia khác nhau có sự khác biệt lớn về mức độ nhu cầu với các dịch vụ cụ thể Sự tăng trưởng của một ngành dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhu cầu của đối tượng khách hàng tiêu thụ dịch vụ đó; chẳng hạn như các quốc gia phát triển có nhu cầu cao đối với các gói du lịch cao cấp, còn đối với các quốc gia đang phát triển, nhu cầu của
du khách đa phần hướng tới gói sản phẩm du lịch vừa túi tiền, mang tính kinh tế cao Chính vì vậy, khi xây dựng chiến lược kinh doanh cho một sản phẩm du lịch, cần thiết phải khoanh vùng nhóm khách hàng mục tiêu, phân tích nhu cầu về sản phẩm du lịch của nhóm khách hàng này; đồng thời, lựa chọn phương thức kinh doanh và loại sản phẩm phù hợp
Cuối cùng phải kể tới sự quốc tế hóa cầu dịch vụ trong nước, cấu thành cầu trong nước là gốc rễ của lợi thế cạnh tranh quốc gia; sự quốc tế hóa cầu trong nước đặc biệt quan trọng đối với nhiều dịch vụ xuất phát từ nhiều nguyên nhân Người tiêu dùng trong nước cơ động, những người mà thường xuyên di chuyển rất nhiều lần tới các quốc gia khác, tạo nên một lợi thế rất to lớn cho các doanh nghiệp dịch vụ của quốc gia; cơ hội để thiết lập những địa điểm kinh doanh ở nước ngoài nhanh chóng xuất hiện
và các doanh nghiệp cũng có được một nền tảng những người mua trung thành ở nước ngoài; do đó, hiệu ứng này khá rõ ràng trong những ngành liên quan đến du lịch
1.2.2.3 Các ngành hỗ trợ liên quan
Vai trò ngày càng gia tăng của các ngành hỗ trợ và liên quan đối với việc xác lập
và duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành đòi hỏi phải tách riêng chúng thành một nhóm nhân tố riêng, với mức độ ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở phạm vi là một yếu tố cấu thành trong nhóm các điều kiện yếu tố sản xuất
Các công ty nằm trong các ngành có khả năng cạnh tranh cao không hề tồn tại biệt lập Sự đóng góp của những ngành hỗ trợ và liên quan là vô cùng thiết yếu trong quá trình xác lập và phát huy lợi thế cạnh tranh của một ngành, đặc biệt là ngành kinh
tế dịch vụ như du lịch Do đặc tính liên ngành mà các hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu sử dụng sản phẩm của các ngành hỗ trợ và liên quan để nâng cao thế mạnh sản phẩm của mình
Thế mạnh trong một số ngành như ngành giao thông (bao gồm các phương tiện vận chuyển, hệ thống bến bãi, đường xá); ngành công nghệ thông tin và viễn thông;
Trang 26các ngành cung cấp phương tiện văn hóa, giải trí và thể thao; những ngành công nghiệp hàng lưu niệm; ngành y tế hay các ngành bảo vệ an ninh trật tự góp phần rất lớn trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Trong đó, một nhóm đặc biệt quan trọng những ngành hỗ trợ cho nhiều dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch là các ngành liên quan tới công nghệ thông tin; nhiều ngành dịch vụ đang được cách mạng hóa bởi công nghệ mới, nhiều trong số đó liên quan tới hệ thống cung cấp thông tin; công nghệ làm giảm thành phần lao động trong các dịch vụ và giúp cho đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ nâng cao hiệu quả hoạt động, nói một cách khác là nâng cao năng suất hoạt động Đây chính là điểm mới và một trong những thước đo đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia mà M Porter muốn nhấn mạnh Đổi mới công nghệ kết hợp với đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh chính là chìa khóa thành công cho nhiều ngành, và du lịch không phải là một ngoại lệ
1.2.2.4 Chiến lƣợc, cơ cấu và cạnh tranh ngành
Nhân tố lớn thứ tư trong số các nhân tố tác động tới lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành là bối cảnh mà các công ty trong ngành được thành lập, tổ chức và quản trị cũng như bản chất cạnh tranh của ngành đó Cạnh tranh trong hầu hết các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch liên quan tới sự tinh tế nắm bắt nhu cầu đa dạng của khách hàng, tinh tế trong chi tiết và không ngừng cải tiến các loại hình dịch vụ đã
và đang hoạt động cũng như nghiên cứu cho ra đời những sản phẩm dịch vụ du lịch mới Cạnh tranh ngành trong nước không chỉ giới hạn ở cạnh tranh giá cả; trên thực tế, cạnh tranh dưới những hình thức khác như cạnh tranh về công nghệ cũng dẫn đến những lợi thế bền vững hơn
Về mặt chiến lược hình thành và phát triển, các ngành dịch vụ có khuynh hướng
đi lên từ những doanh nghiệp nhỏ hơn là doanh nghiệp có quy mô lớn ngay từ đầu Các quốc gia sẽ chiếm được một lợi thế đặc biệt trong các dịch vụ nếu việc khởi đầu một doanh nghiệp mới dễ dàng và được thừa nhận tại những quốc gia đó Thêm vào
đó, khu vực dịch vụ với đa số những công ty nhỏ và cơ cấu phân khúc rất dễ bị Chính phủ can thiệp Các quy định bảo hộ những doanh nghiệp nhỏ hoặc tác động đến các hoạt động kinh doanh nhỏ rất phổ biến; nếu những quy định này cản trở sự áp dụng công nghệ, trì hoãn hoặc ngăn cản sự sáng tạo ra các dịch vụ mới, làm chậm sự thống nhất của các ngành dịch vụ địa phương, ngăn cản cạnh tranh nước ngoài hoặc cạnh tranh trong nước, chúng sẽ gần như phá hủy khả năng của quốc gia đạt được lợi thế cạnh tranh trong các ngành dịch vụ bị ảnh hưởng
Trang 271.2.2.5 Vai trò của cơ hội
Những nhân tố quyết định của lợi thế cạnh tranh định hình môi trường cạnh tranh trong những ngành cụ thể Tuy nhiên, cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan tới tình trạng hiện tại của quốc gia và thường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công
ty (v t ườn cả củ C ín p ủ) Những cơ hội đặc biệt quan trọng, có sức ảnh hưởng
đến lợi thế cạnh tranh có thể kể đến như sự ra đời của các phát minh thuần túy, những
đột phá về công nghệ, những thay đổi về chi phí đầu vào (n ư i dầu mỏ), sự dịch
chuyển lớn của thị trường tài chính thế giới, sự bùng nổ nhu cầu trong khu vực hoặc trên thế giới, những quyết định chính trị của Chính phủ nước ngoài hay chiến tranh Với ngành du lịch, một ngành kinh tế dịch vụ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự thay đổi nhu cầu khách hàng, vai trò của cơ hội càng trở nên rõ nét Tuy nhiên cần lưu ý, trong mô hình kim cương, cơ hội chỉ đóng vai trò là một biến số, ảnh hưởng lên lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua ảnh hưởng của nó lên các nhân tố chính của mô hình
Rõ ràng, một quốc gia có tài nguyên du lịch phong phú đến đâu chăng nữa cũng không thể cải thiện các điều kiện về cầu nội địa cho sản phẩm du lịch nếu quốc gia đang xảy
ra chiến tranh; hay những thay đổi về giá thành các yếu tố đầu vào cũng tạo ra những bất lợi thế về điều kiện yếu tố sản xuất
Ảnh hưởng quan trọng của yếu tố cơ hội còn vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ, cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh; chúng có thể xóa đi lợi thế của những công ty thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới có thể khai thác để có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt Thêm vào đó, các nhân tố quyết định đối với lợi thế quốc gia cũng vận hành như một hệ thống nhằm duy trì lợi thế Tuy nhiên, hệ thống này thường được "điều chỉnh" theo một cấu trúc ngành cụ thể; do
đó, cần phải có sự đột biến đủ để thay đổi những cơ sở của những lợi thế, đủ để cho phép "mô hình kim cương mới" thay thế mô hình kim cương trước đó
1.2.2.6 Vai trò Chính phủ
Biến số cuối cùng quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia là vai trò của Chính phủ Chính phủ được bàn luận kỹ càng trong nghiên cứu cạnh tranh quốc tế và được cho là đóng vai trò thiết yếu, ảnh hưởng tới cạnh tranh quốc tế hiện đại; nhiều người
có xu hướng coi Chính phủ là nhân tố thứ năm Tuy nhiên, điều này không đúng cũng như không phải là cách thức tốt nhất để hiểu vai trò của Chính phủ trong cạnh tranh
Trang 28khi mà vai trò thực tế của chính phủ là tác động gián tiếp tới lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành thông qua những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới bốn nhóm nhân tố quyết định
Điều kiện yếu tố sản xuất có thể chịu ảnh hưởng thông qua trợ cấp, các chính sách liên quan tới thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, chính sách giáo dục phát triển nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch hay những chính sách tương tự Chính phủ cũng có thể tác động lên các điều kiện cầu trong nước, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xây dựng các tiêu chuẩn sản phẩm hay những quy định
về sản phẩm trong nước; dưới tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chính phủ, những ngành hỗ trợ và liên quan cũng có thể được kiến tạo theo nhiều cách như các quy định
về kiểm soát các phương tiện bến bãi, phương tiện vận tải, phương tiện thông tin liên lạc Chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đáng kể tới chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội địa thông qua những công cụ như các điều khoản luật ban hành, các quy định về thị trường vốn, chính sách thuế hay việc cấp phép đầu tư vào các dự án kinh doanh Cũng cần lưu ý là các tác động của chính phủ lên mỗi nhân tố trong số bốn nhân tố có thể là tác động tích cực hoặc tiêu cực và ngược lại, Chính phủ cũng có thể chịu ảnh hưởng tới những nhân tố quyết định Chính vì vậy, mối quan hệ giữa Chính phủ và các nhóm nhân tố chính quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành
là mối quan hệ hai chiều
1.3 Lý luận cơ bản về du lịch và điểm đến du lịch
1.3.1 Khái niệm du lịch
Có thể điểm qua một vài khái niệm về du lịch:
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Du lịc b o ồm tất cả mọi oạt độn
củ n ữn n ười du n tạm trú tron mục đíc t m qu n k m p v tìm iểu trải n iệm oặc tron mục đíc n ỉ n ơi iải trí t ư iãn cũn n ư mục đíc n
n ề v n ữn mục đíc k c nữ tron t ời i n liên tục n ưn k ôn qu một năm ở bên n o i môi trườn sốn địn cư n ưn loại trừ c c du n có mục đích chính là kiếm tiền Du lịc cũn l một dạn n ỉ n ơi năn độn tron môi trườn sốn k c
Trang 29Theo Hội nghị Liên hợp Quốc tế về Du Lịch ở Roma, Italia (1963): “Du lịc l
tổn c c mối qu n ệ iện tượn c c oạt độn kin tế bắt n uồn từ c c cuộc
n trìn v lưu trú củ c n ân y tập t ể ở bên n o i nơi ở t ườn xuyên củ ọ
y n o i nước củ ọ với mục đíc bìn Nơi ọ đến lưu trú k ôn p ải l nơi l m việc củ ọ”
Ngoài các tổ chức thế giới đưa ra các khái niệm về du lịch, một số cá nhân cũng đưa ra quan điểm của mình về du lịch:
- Nghiên cứu của Hunziker & Kraft cho rằng: “Du lịc l tổn ợp c c mối quan
ệ v iện tượn bắt n uồn từ việc đi lại v lưu trú tạm t ời củ con n ười Nơi ọ lưu lại k ôn p ải l nơi ở t ườn xuyên oặc l nơi l m việc để kiếm tiền”
- Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng ngoài tiếp cận môi trường, phải có tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho một sự phát triển lâu dài Theo các tác giả
Goeldner, Ritchie và McIntosh (2000, trang 20) thì du lịch là: “Tổn c c iện tượn
v mối qu n ệ nảy sin từ t c độn qu lại iữ du k c n cun ứn c ín quyền v cộn đồn c ủ n tron qu trìn t u út đón tiếp k c du lịc ”
- Theo Nhẫn Trần (1996): “Du lịc l qu trìn oạt độn củ con n ười rời k ỏi
quê ươn đến một nơi k c với mục đíc c ủ yếu l được cảm n ận n ữn i trị vật
c ất v tin t ần đặc sắc độc đ o k c lạ với quê ươn k ôn n ằm mục đíc sin lời được tín bằn đồn tiền”
Ở Việt Nam, định nghĩa về du lịch được ban hành trong Pháp lệnh Du lịch và Luật
Du lịch Việt Nam:
- Pháp lệnh Du lịch – công bố ngày 20/2/1999 trong Chương I - Điều 10 đã nêu :
“Du lịc l oạt độn củ con n ười n o i nơi cư trú t ườn xuyên củ mìn n ằm
t ỏ mãn n u cầu t m qu n iải trí n ỉ dưỡn tron k oản t ời i n n ất địn ”
- Trong Luật Du lịch Việt Nam – công bố ngày 27/6/2005 trong Chương I - Điều 4
thì: “Du lịc l c c oạt độn có liên qu n đến c uyến đi củ con n ười n o i nơi cư
trú t ườn xuyên củ mìn n ằm đ p ứn n u cầu t m qu n tìm iểu iải trí n ỉ dưỡn tron một k oản t ời i n n ất địn ”
Tóm lại, với đặc thù của mình định nghĩa về du lịch vẫn còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau và đang được tranh luận Dựa trên việc hệ thống các định nghĩa về du
Trang 30lịch ở trên, có thể hệ thống lại một số nội dung cơ bản làm định hướng cho nghiên cứu như sau:
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội được đặc trưng bởi sự tăng nhanh về số lượng, phạm vi và cơ cấu dân cư tham gia vào quá trình du lịch ở từng nước, ở các khu vực và trên toàn thế giới
- Du lịch là việc đi lại, lưu trú tạm thời của cá nhân và tập thể ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, với nhiều mục đích khác nhau và nhiều nhu cầu đa dạng
- Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh được tổ chức nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người
1.3.2 Khái niệm về điểm đến du lịch
Có khá nhiều cách hiểu khác nhau về điểm đến du lịch, song về cơ bản, điểm đến du lịch được hiểu là một vùng địa lý được xác định cụ thể trong đó khách du lịch tận hưởng các loại trải nghiệm du lịch khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của chuyến đi của du khách
- Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) (1993) đưa ra khái niệm: “Điểm đến du lịc
l một k ôn i n vật c ất m du k c ở lại ít n ất l một đêm Nó b o ồm c c sản
p ẩm du lịc n ư c c dịc vụ ỗ trợ c c điểm đến v tuyến điểm du lịc tron t ời i n một n y Nó có c c iới ạn vật c ất v quản lý iới ạn ìn ản sự quản lý x c địn tín cạn tr n tron t ị trườn C c điểm đến du lịc đị p ươn t ườn b o ồm
n iều bên ữu qu n n ư một cộn đồn tổ c ức v có t ể kết nối lại với n u để tạo
Xét trên phạm vi toàn thế giới, du lịch là một ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất Hằng năm, UNWTO đều tổ chức nghiên cứu và đo lường chính xác sự tác
Trang 31động của ngành du lịch vào nền kinh tế toàn cầu để thấy được vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế thế giới
Du lịch đã trở thành ngành kinh tế đứng thứ tư, chỉ sau các ngành: Công nghệ thông tin–truyền thông, công nghiệp dầu khí và công nghiệp chế tạo xe hơi Do có ý nghĩa về nhiều mặt và nội dung phạm trù du lịch rộng lớn nên việc nhận thức về du lịch
có nhiều quan niệm khác nhau, có người cho rằng:
- Du lịch là một ngành “công nghiệp không khói”
- Du lịch là một ngành “công nghiệp đẻ trứng vàng”
- Du lịch là ngành “kinh tế hỗn hợp”
- Du lịch là ngành “kinh tế xuất khẩu tại chỗ”
- Hay đơn giản hơn du lịch là ngành dịch vụ đáp ứng những nhu cầu nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí
Tuy nhiên, cũng có quan niệm cho rằng du lịch là một trong những tác nhân phá hoại nghiêm trọng các nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, làm xói mòn các giá trị đạo đức, tinh thần và truyền thống của các dân tộc và cũng là môi trường thuận lợi cho các tệ nạn xã hội phát sinh và phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1996): “Du lịc l một n n kin
do n tổn ợp có iệu quả c o về n iều mặt: nân c o iểu biết về t iên n iên truyền
t ốn lịc sử v văn ó dân tộc từ đó óp p ần tăn t êm tìn yêu đất nước; đối với
n ười nước n o i l tìn ữu n ị với dân tộc mìn ; về mặt kin tế du lịc l lĩn vực kin do n m n lại iệu quả rất lớn – có t ể coi l ìn t ức xuất k ẩu n ó v dịc vụ tại c ỗ”
Những quan niệm trên mới chỉ nhận thức về ngành du lịch một cách tổng quát, để định hướng đúng cho sự phát triển của ngành du lịch, không thể chỉ dựa vào cái nhìn tổng thể bên ngoài như vậy Do đó, việc xác định được thành phần, cách thức hoạt động
và phát triển của ngành du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng:
- Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch tiến hành các hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí
- Ngành du lịch lấy du khách làm đối tượng, lấy tài nguyên thiên nhiên làm chỗ dựa, lấy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất, cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho hoạt động du lịch
Trang 32- Ngành du lịch đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa du khách với tài nguyên du lịch, đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, khu vực
- Ngành du lịch chủ yếu do các nhân tố chính sau hình thành:
+ Công ty kinh doanh du lịch: Lữ hành, khách sạn, nhà hàng, tổ chức hội nghị, vui chơi giải trí, các tour du lịch…
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng giao thông, cơ
Theo Kotler và Turner (1981): “Một sản p ẩm l tất cả n ữn ì có t ể cun cấp
c o sự c iếm ữu sự sử dụn oặc sự tiêu t ụ củ t ị trườn b o ồm n ữn vật t ể
n ữn k o ọc n ữn n ân vật n ữn nơi c ốn n ữn tổ c ức v n ữn ý tưởn ”
Du lịch được hiểu là một ngành dịch vụ, do vậy ngành này cũng có những sản phẩm của riêng mình và luôn tìm cách đưa ra các sản phẩm du lịch độc đáo
Sản phẩm du lịch là tổng thể các yếu tố có thể trông thấy được hoặc không trông thấy được nhưng lại làm thỏa mãn nhu cầu của du khách về tham quan, thưởng ngoạn, vui chơi, giải trí,…
Theo UNWTO: “Sản p ẩm du lịc l sự tổn ợp củ b yếu tố cấu t n : (i) kết
cấu ạ tần du lịc ; (ii) t i n uyên du lịc v (iii) cơ sở vật c ất kỹ t uật dịc vụ l o độn v quản lý du lịc ” Thực tế cho thấy, khái niệm này của UNWTO là “bao trùm”
và thể hiện đầy đủ những gì chứa đựng trong một sản phẩm du lịch
Theo định nghĩa của Tổng cục du lịch Việt Nam: “Sản p ẩm du lịc l tập ợp
c c dịc vụ cần t iết để t ỏ mãn n u cầu củ k c du lịc tron c uyến đi du lịc ”
Như vậy có thể hiểu sản phẩm du lịch được hợp thành bởi những bộ phận sau (xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến đi du lịch):
Trang 33- Dịch vụ vận chuyển;
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống;
- Dịch vụ tham quan, giải trí;
- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;
vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Như vậy, sản phẩm du lịch là một tổng thể phức tạp bao gồm nhiều thành phần không đồng nhất cấu tạo thành, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm các sản phẩm hữu hình, tồn tại ở dạng vật thể như: đồ lưu niệm, các món ăn, đồ uống,…và sản phẩm vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ
có thể biết được thông qua cảm nhận của khách du lịch
1.3.5 Khái niệm về khách du lịch
Ngành du lịch muốn hoạt động và phát triển thì đối tượng “k c du lịc ” là nhân
tố quyết định; nếu không có “k c du lịc ” thì các nhà kinh doanh du lịch không thể kinh doanh được, không có “k c du lịc ” thì hoạt động của các nhà kinh doanh du
lịch trở nên vô nghĩa Khách du lịch là một thành phần không thể thiếu, là nhân tố tác động hình thành nên các hoạt động du lịch, là đối tượng trực tiếp sử dụng các sản phẩm
du lịch và đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch
Nếu xét trên góc độ thị trường thì “khách du lịch” chính là “cầu thị trường”, còn các nhà kinh doanh du lịch là “cung thị trường” Vậy “khách du lịch” là gì? Để nghiên cứu một cách đầy đủ và có cơ sở tin cậy cần tìm hiểu và phân tích một số định nghĩa về
“khách du lịch” được đưa ra từ các Hội nghị quốc tế về du lịch hay của các tổ chức quốc
tế có quan tâm đến các vấn đề về du lịch Sau đây là một số định nghĩa về khách du lịch:
- Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations) về khách du lịch
nước ngoài (1937):“Bất cứ i đến t ăm một đất nước k c với nơi cư trú t ườn xuyên
củ mìn tron k oản t ời i n ít n ất l 24 ”
Trang 34- Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị Roma do Liên hợp quốc tổ chức (1963): “Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24h hay hơn”
Theo Luật Du lịch Việt Nam – Chương I Điều 2: “ c du lịc l n ười đi du
lịc oặc kết ợp đi du lịc trừ trườn ợp đi ọc l m việc oặc n n ề để n ận
t u n ập ở nơi đến”
- Phân loại khách du lịch:
Theo Luật Du lịch Việt Nam, Chương V - điều 34: Khách du lịch bao gồm khách
du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
+ Khách du lịch nội địa: là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
+ Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Ngoài ra còn có các cách phân loại khác:
+ Phân loại khách du lịch theo nguồn gốc dân tộc: Qua việc phân loại này các nhà kinh doanh du lịch nắm được nguồn gốc khách, hiểu được mình đang phục vụ ai, khách thuộc dân tộc nào, nhận biết được văn hóa của khách để phục vụ khách tốt hơn
+ Phân loại theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp: Các nhà kinh doanh sẽ nắm bắt được cơ cấu khách, các yêu cầu cơ bản và đặc trưng tâm lý về khách du lịch
+ Phân loại khách theo khả năng thanh toán: Việc xác định khả năng thanh toán của khách du lịch sẽ là điều kiện để các nhà kinh doanh cung cấp các dịch vụ một cách tương ứng thích hợp khả năng chi trả của từng đối tượng khách
Trên đây chỉ là một số tiêu thức phân loại khách du lịch thường dùng Mỗi tiêu thức đều có ưu nhược điểm riêng vì vậy khi nghiên cứu khách du lịch cần kết hợp nhiều cách phân loại Việc phân loại khách du lịch một cách đầy đủ, chính xác sẽ tạo tiền đề cho việc hoạch định các chiến lược, chính sách kinh doanh từ đó việc kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hơn
Trang 35- Theo Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch (2000): Điểm đến du lịch - ĐĐ DL
(Tourism Destination) là một khái niệm rất rộng trong hoạt động kinh doanh du lịch, là nơi có sức hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch Điểm đến du lịch dựa vào tài nguyên
du lịch
Tài nguyên du lịch được hiểu là tất cả các nhân tố có thể kích thích được động cơ
du lịch của con người, được ngành du lịch tận dụng kinh doanh để sinh ra lợi ích kinh
tế và lợi ích xã hội, hoặc là bất kỳ nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách du lịch Điều này có nghĩa rằng không chỉ các tài nguyên tự nhiên, các tài nguyên nhân văn mà cả các sự kiện xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao,… được tổ chức có khả năng thu hút khách du lịch đều được gọi là tài nguyên du lịch
Mặt khác, không phải tài nguyên du lịch nào cũng được khai thác và trở thành điểm du lịch Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dịch vụ phục vụ khách, thời gian khai thác điểm du lịch (thường xuyên, theo thời vụ, ngắn ngày ), số lượng khách đến tham quan du lịch trong đó có khách du lịch quốc tế
và khách du lịch nội địa…
Điểm đến du lịch có tính hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến càng lớn Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số lượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao
- Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005 – Chương I Điều 4: “Điểm du lịc l nơi có
+ Điểm du lịch có đủ điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương: (1) Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; (2) Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm
Trang 361.4 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh ở một số nước
Thái Lan
Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á; truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này; ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan Hàng năm, Thái Lan đón một lượng khách du lịch quốc tế trên 10 triệu lượt người Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…
Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan Sự hoạt động của TAT rất hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định
Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đó giúp ngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng bá
và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là Rattanakosin Bicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và dần tăng trưởng trở lại
Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển
du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước,
Trang 37bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực tham gia vào quá trình phát triển du lịch
cơ quan du lịch quốc gia khoảng trên 40 triệu USD mỗi năm
Ngoài ra, Malaysia rất coi trọng công tác quảng bá sản phẩm du lịch trên cơ sở đa dạng sản phẩm-thỏa mãn khách hàng Đồng thời, Chính phủ Malaysia thường xuyên
nâng cấp trang thiết bị cho ngành du lịch (mỗi năm c i n triệu Ringgit cho công tác
này) và duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
Trung Quốc
Chính phủ Trung Quốc xác định du lịch là một trong những trọng điểm tăng trưởng kinh tế mới; là một ngành kinh tế trọng điểm, trụ cột cần ưu tiên đầu tư phát triển Để quản lý và phát triển tốt ngành du lịch, các chính sách về du lịch của Trung Quốc không ngừng được ban hành, điều chỉnh và hoàn thiện
Trung Quốc đề ra phương châm chỉ đạo phát triển du lịch là tăng cường phát triển du lịch Inbound (đưa khách du lịch quốc tế vào), khuyến khích du lịch nội địa, phát triển du lịch Outbound (đưa khách du lịch ra nước ngoài) vừa phải Hằng năm, Trung Quốc đón hàng chục triệu lượt khách du lịch quốc tế; thu nhập ngoại tệ đạt trên
20 tỷ USD
Trong quá trình phát triển ngành du lịch, Trung Quốc chủ yếu phát triển mô hình Nhà nước và lấy đó làm chủ đạo với hai nội dung chính: Một là Nhà nước và các địa phương dựa vào bộ máy quản lý hành chính quản lý du lịch là chủ yếu để chỉ đạo phương hướng, chính sách phát triển của các doanh nghiệp du lịch, tổ chức và tuyên truyền xúc tiến, quản lý thị trường; Hai là phát huy tính chủ động tích cực của chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp tỉnh trong việc phối hợp các lực lượng, phát triển mạnh du lịch các địa phương
Trang 39CHƯƠNG 2:
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DU LỊCH HÀ TIÊN
2.1 Khái quát tình hình du lịch Hà Tiên
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên -kinh tế -xã hội của thị xã Hà Tiên
- Đặc điểm tự nhiên xã hội
Thị xã Hà Tiên ở phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, điểm cuối cùng vùng đất Tây Nam của tổ quốc, phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 13,7 km, phía Đông
và Nam giáp huyện Kiên Lương, phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 22 km; cách thành phố Hồ Chí Minh 340 km về phía Đông Bắc, cách thành phố Cần Thơ
220 km về phía Đông, cách thành phố Rạch Gía 90 km về phía Nam và cách đảo Phú
Quốc 40 km về phía Tây (đườn c im b y) Đường xuyên Á, đường hành lang ven biển,
quốc lộ 80, quốc lộ 955A đi qua Hà Tiên, nối vùng lãnh thổ rộng lớn Nam Bộ với các nước bạn Đường biển từ Hà Tiên đi Phú Quốc, Kiên Lương, Cà Mau, Rạch Giá và đi Thành phố Kep, cảng Conpongxom (Campuchia) hình thành các tam giác kinh tế du lịch
- thương mại Với vị trí trên, Hà Tiên trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, đầu mối giao thông, giao thương của tỉnh Kiên Giang, của vùng đồng bằng sông Cửu Long với nước bạn Campuchia, Thái Lan và các nước khác trong khu vực Với vị trí tiền đồn, trong các cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ và bảo vệ biên giới Tây Nam của tổ quốc, Hà Tiên luôn đứng tuyến đầu, trung dũng, kiên cường bảo vệ an ninh lãnh thổ và chủ quyền vùng biển đảo Tây Nam của tổ quốc
Hà Tiên có diện tích đất tự nhiên là 10.048,83 ha tương đương 100,49 km2; với
dân số 49.496 (tín đến năm 2016) người; được chia thành 07 đơn vị hành chính là 04 phường và 03 xã, tổng cộng có 28 ấp, khu phố (tron đó có 01 xã biên iới l xã Mỹ
Đức v 01 xã đảo l xã Tiên ải); Hà Tiên có 03 dân tộc chính là Kinh - Khmer – Hoa (tron đó dân tộc mer c iếm 12 31%); đây là vùng đất có bản sắc văn hóa rất đặc thù
và đa dạng, được hình thành cách đây hơn 300 năm, gắn liền với tên tuổi dòng họ Mạc Khi Mạc Cửu đến khai phá và quy phục Chúa Nguyễn ở Đàng trong vào năm Mậu Tý -
1708 và được Chúa Nguyễn Phúc Chu sắc phong làm Tổng binh Trấn Hà Tiên, tước Cửu Ngọc Hầu và người kế vị là Mạc Thiên Tích - con trai trưởng của Mạc Cửu, đã xây dựng Hà Tiên thành một vùng đất trù phú, phố thị sầm uất, giao thương với nhiều nước,
Trang 40đời sống người dân ấm no, an lạc Hơn thế nữa, Mạc Thiên Tích còn thành lập và làm Chủ soái Tao đàn Chiêu Anh Các quy tụ nhiều học sĩ, thi nhân đến làm thơ, xướng họa; đây là Tao đàn được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học đánh giá là Tao đàn lớn thứ hai, sau Tao đàn Nhị thập bát tú của Vua Lê Thánh Tông lúc bấy giờ
Năm 2012, Ủy ban Nhân dân thị xã Hà Tiên đã lập Đề án đề nghị công nhận thị xã
Hà Tiên là đô thị loại III trình HĐND, UBND, Bộ Xây dựng Ngày 11/9/2012, Hội đồng thẩm định Nhà nước họp xét và nhất trí đề nghị Bộ Xây dựng công nhận thị xã Hà Tiên
là đô thị loại III Ngày 17/9/2012, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 839/QĐ-BXD công nhận thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là đô thị loại III
Bảng 2.1.Đơn vị hành chính, diện tích và dân số thị xã Hà Tiên năm 2015
Tên gọi Diện tích
(Km 2 )
Dân số trung bình (Người)
Mật độ dân số (Người/ km 2
địa phương (GDP): 9.697 tỷ đồng (tron đó cơ cấu kin tế tron GDP: dịc vụ c iếm
61,84%, côn n iệp - xây dựn 21 41% nôn - lâm - n ư n iệp 16 75%), thu nhập
bình quân đầu người: 61,511 triệu đồng, tăng trưởng thương mại - dịch vụ bình quân 23,35 , công nghiệp - xây dựng 26,25 , nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7,45 Kim ngạch xuất khẩu đạt 424,928 triệu USD Giá trị sản xuất thủy hải sản tăng bình quân