1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo khảo sát thực trạng quản lý sản xuất gạo cở cu ba

29 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 297,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã kiên định chủ trương đổi mới quản lý kinh tế và thực hiện các giải pháp quyết liệt hơn: - Từng bước hội nhập

Trang 1

Phần thứ 1

BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM

VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NƠNG NGHIỆP

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên

Phủ, từ năm 1954 đến năm 1975, miền

Bắc Việt Nam trở thành hậu phương lớn

cho chiến trường miền Nam trong suốt

thời kỳ từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam

đã nhận được sự giúp đỡ nhiều mặt của

Liên Xơ, Trung Quốc và các nước xã hội

chủ nghĩa anh em, chủ yếu là lương

thực-thực phẩm và các loại phương tiện chiến

tranh Mục tiêu của sản xuất nơng nghiệp

thời kỳ này là sản xuất ra thật nhiều sản

phẩm phục vụ nhu cầu tại chỗ và cung

cấp cho chiến trường

Sau đại thắng mùa xuân năm

1975, hịa bình và thống nhất nước nhà

đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục

hồi kinh tế sau chiến tranh Tuy nhiên,

cũng chính giai đoạn này, các chính sách

phát triển kinh tế-xã hội cũng như cơ chế

quản lý kinh tế thời chiến khơng cịn phù

hợp Bên cạnh đĩ, nguồn viện trợ của

các nước XHCN ngày càng ít đi do bản

thân Liên Xơ và các nước Đơng Âu cũng

gặp phải rất nhiều khĩ khăn Đến cuối

những năm 70, kinh tế Việt Nam khơng

thể cân đối được thu-chi ngân sách,khơng cân đối được cung-cầu lươngthực, đời sống của đại bộ phận dân cư ởdưới mức nghèo đĩi

2 Thực trạng cơ chế quản lý kinh tế

Trong suốt 30 năm liền, ViệtNam thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kếhoạch hĩa tập trung, bao cấp theo mơhình của Liên Xơ và các nước xã hội chủnghĩa anh em:

- Nhà nước quản lý và quy địnhgiá cung cấp đầu vào (phân bĩn, thuốcbảo vệ thực vật, thuốc và vật tư thú y,xăng dầu, máy mĩc …) và đầu ra (cácloại sản phẩm, trong đĩ cĩ nơng sản);

- Tất cả các cơ sở kinh tế đều sảnxuất theo kế hoạch do nhà nước giao;

- Khơng cho phép phát triển kinh

tế tư nhân trên quy mơ lớn Chỉ cho phépcác cơ sở tư nhân trong lĩnh vực tiểu thủcơng nghiệp nhỏ lẻ, sản xuất các mặthàng tiêu thụ trên thị trường địa phương.Trong nơng nghiệp, chỉ cho phép pháttriển kinh tế phụ gia đình xã viên trêndiện tích đất 5% tổng quỹ đất của hợptác xã

Giai đoạn này ở Việt Nam lưutruyền các thuật ngữ “bán như cho, muanhư cướp” và “ngăn sơng, cấm chợ”

Trang 2

3 Tổ chức sản xuất nông nghiệp.

Nông lâm trường quốc doanh và

hợp tác xã nông nghiệp, đều dựa trên chế

độ công hữu về ruộng đất và các tư liệu

sản xuất khác, là hai lực lượng chính của

ngành nông nghiệp:

Việc sản xuất và bán nông sản

theo kế hoạch nhà nước giao, được các

doanh nghiệp nhà nước cung ứng vật tư,

máy móc … và thu mua sản phẩm theo

giá nhà nước quy định Tuy nhiên, trên

thực tế, vẫn có hệ thống chợ nông thôn

phục vụ việc trao đổi hàng hóa do kinh

tế phụ của các hộ xã viên làm ra (trên đất

5% của các gia đình)

Về bản chất: Mô hình kinh tế Việt Nam

thời kỳ này thực chất là “Nhà nước hóa

nền kinh tế, nhà nước làm kinh tế để

nuôi dân chứ không phải dân làm kinh tế

để đóng thuế nuôi nhà nước; cả đất

nước là một doanh nghiệp duy nhất,

chính quyền các cấp vừa là chủ sở hữu

vừa là giám đốc điều hành hoạt động

sản xuất-kinh doanh” Các nông trường

quốc doanh và hợp tác xã chỉ là đơn vị

sản xuất cơ sở, hoàn toàn không có

quyền tự chủ trong sản xuất-kinh doanh,

không chịu trách nhiệm về lãi-lỗ, hiệu

quả kinh tế

Hậu quả : Năng suất cây trồng, vật nuôi,

năng suất lao động thấp, người lao động

không tích cực lao động Hàng năm Việt

Nam phải nhập khẩu hàng trăm ngàn tấn

lượng thực (gạo, bột mỳ), có năm phải

nhập khẩu đến 1 triệu tấn (năm 1939 với

20 triệu dân, Việt Nam đã xuất khẩu

được 1,5 triệu tấn gạo) Hiệu quả kinh

doanh của mỗi tổ chức kinh tế, mỗi loại

nông sản không thể tính toán được; tệ

quan liêu, tham nhũng, thị trường chợđen bất hợp pháp phát triển tràn lan,không ngăn chặn được

II Giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (từ năm 1981 đến nay).

1 Bối cảnh kinh tế trong, ngoài nước và đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam.

1.1 Bối cảnh trong và ngoài nước

Các nước XHCN và Liên Xô đivào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng rồisụp đổ, Việt Nam không còn nguồn việntrợ và thị trường truyền thống, lại nằmtrong tình trạng bị cấm vận quốc tế vàchưa bình thường hoá quan hệ với TrungQuốc Công cuộc cải cách kinh tế đã bắtđầu ở Trung Quốc với việc xoá bỏ công

xã nhân dân và khoán sản phẩm đến hộ,đem lại kết quả đáng khích lệ

Việt Nam khi bắt đầu đổi mớinằm trong tình trạng khủng hoảng Cácquan hệ thu-chi của chính phủ, xuất-nhập, cung-cầu, dự trữ ngoại hối, lươngthực đều mất cân đối nghiêm trọng.Trong nông nghiệp, cuộc Cách mạngXanh bắt đầu từ thập kỷ 1960 đã chuẩn

bị sẵn các tiến bộ kỹ thuật trên nhiềuvùng Tuy nhiên, các thành quả này chưađược phát huy trong sản xuất trên quy

mô rộng

Chính bối cảnh hết sức khó khănnày đã buộc Việt Nam phải đổi mới thể

chế quản lý kinh tế; khẩu hiệu: “đổi mới

hay là chết” thay cho “độc lập hay là chết” Cán bộ, nhân dân nhiều nơi đã

chủ động tìm kiếm và thử nghiệm cácchính sách kinh tế và mô hình quản lýmới Thành công của các yếu tố mới nảy

Trang 3

sinh đem lại cho Đảng những gợi ý quan

trọng để bắt đầu một quá trình đổi mới

cơ chế kinh tế toàn diện, sâu sắc

1.2 Đặc điểm của nông nghiệp

Đến đầu những năm 1980 ngành

nông nghiệp Việt Nam chiếm tới trên

75% lực lượng lao động xã hội và trên

80% dân số Yêu cầu đổi mới ngành

nông nghiệp được đặt ra hết sức bức

bách Đặc điểm chính của nông nghiệp

Việt Nam có thể khái quát như sau:

- Bình quân ruộng đất trên đầu

người thấp, khoảng 1600 m2

/nhân khẩunông nghiệp, ruộng đất lại manh mún,

phân tán;

- Quy mô sản xuất của một đơn vị

hợp tác xã và nông-lâm trường quốc doanh

lớn nhưng quy mô sản xuất của một hộ gia

đình nông dân lại quá nhỏ (0,8ha/hộ);

- Thực tế chứng minh sản xuất

nông nghiệp đa dạng theo mô hình VAC

(V: vegetation; A: aquaculture; C: cage)

hiệu quả hơn chuyên môn hóa, độc canh

Do vậy, các chỉ tiêu hiệu quả kinh

tế ngành nông nghiệp được xem xét theo

thứ tự ưu tiên sau:

1- Doanh số, thu nhập, sản lượng

thu hoạch trên 1ha đất nông nghiệp (để

đánh giá mỗi ha nuôi được bao nhiêu

người, tạo công ăn việc làm cho bao

nhiêu lao động);

2- Năng suất cây trồng và vật

nuôi;

3- Năng suất lao động (thu

nhập/lao động, sản lượng sản xuất/lao

động);

4- Thu nhập và lợi nhuận trên 1

đồng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu

Quá trình đổi mới quản lý nôngnghiệp Việt Nam có thể được chia thành

hai giai đoạn: “Tiền đổi mới” và “Đổi

mới”.

2 Thời kỳ “tiền đổi mới” (1981-1985).

Đứng trước yêu cầu phải tự thayđổi để tồn tại và phát triển, nền kinh tếViệt Nam nói chung và ngành nôngnghiệp nói riêng đã thực hiện những đổimới quản lý mang tính đột phá bằng cácchính sách cụ thể như sau:

- Chỉ thị 100 của Ban bí thư trungương Đảng về khoán sản phẩm cuốicùng cho nhóm và người lao động (thựcchất là khoán cho hộ xã viên) tháng 01năm 1981 Đây là văn bản mang tính chủtrương lớn có tác động tích cực làm thayđổi lối làm ăn tập thể kém hiệu quả củacác hợp tác xã nông nghiệp, gắn mộtphần quyền lợi của xã viên với kết quảsản xuất cuối cùng

- Nghị quyết 217/HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng về “Mở rộng quyền tựchủ cho các đơn vị kinh tế cơ sở là cácdoanh nghiệp nhà nước”, trong đó có cácnông-lâm trường quốc doanh Điều đó đãbước đầu tạo ra động lực khuyến khích

và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệpchủ động thực hiện các hoạt động sảnxuất-kinh doanh, gắn quyền lợi củangười lao động với hiệu quả kinh tế cuốicùng

- Nghị quyết 25 CP của Chínhphủ về giao kế hoạch 3 phần, bao gồm:

Kế hoạch A, Kế hoạch B và Kế hoạch C

Cơ chế quản lý mới này đã cho phépdoanh nghiệp, hợp tác xã được sử dụngmột phần lợi nhuận (thuộc kế hoạch B và

Trang 4

C) để tái đầu tư mở rộng và cải thiện đời

sống của người lao động, nhờ đó khuyến

khích người lao động tăng năng suất và

chất lượng công việc

Nhờ vậy, nền kinh tế nói chung,

nông nghiệp nói riêng bước đầu giải

quyết được những khó khăn trước mắt

Tuy nhiên, việc đổi mới quản lý kinh tế

nói chung và quản lý nông nghiệp nói

riêng chưa căn bản và toàn diện

3 Thời kỳ đổi mới

Đây là giai đoạn tạo bước chuyển

rõ rệt về cơ chế quản lý trên toàn bộ nền

kinh tế và kinh tế nông nghiệp Việt nam

Mốc lịch sử quan trọng nhất là Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ 6 tháng 12 năm

1986 Tại Đại hội này, Đảng cộng sản

Việt Nam đã quyết định con đường phát

triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,

vận hành theo cơ chế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa

* Nội dung đổi mới.

Thương mại hóa việc cung ứng

các nguồn lực đầu vào, kể cả tín dụng,

ngoại tệ và bán sản phẩm, trong đó có

nông sản, theo lộ trình từng bước, xóa bỏ

tình trạng “mua như cướp, bán như cho”

và “ngăn sông, cấm chợ” Việc đổi mới

chính sách vĩ mô đi đôi với thay đổi căn

bản cơ chế quản lý đối với tất cả các loại

hình tổ chức kinh tế như doanh nghiệp,

hợp tác xã… với mục tiêu khuyến khích

tất cả các thành phần kinh tế tham gia

sản xuất-kinh doanh, làm ra nhiều của

cải vật chất cho xã hội Quá trình đổi

mới quản lý từ năm 1986 đến nay, có thể

được chia thành 2 giai đoạn, cụ thể như

sau:

3.1 Giai đoạn “cởi trói” để thoát khỏinhững khó khăn trước mắt (Từ 1986-1994).

Đứng trước những khó khănchồng chất của nền kinh tế, dựa trênnhững thành công bước đầu của việc cảitiến cơ chế quản lý kinh tế trong nôngnghiệp, Đảng cộng sản và nhà nước ViệtNam đã có những quyết định đúng đắn

để tháo gỡ những nút thắt đã làm trì trệnền kinh tế nói chung và nông nghiệpnói riêng

- Nghị quyết 10 của Bộ chính trịĐảng cộng sản Việt Nam tháng 4 năm

1988 “Về đổi mới quản lý nông nghiệp”

thừa nhận hộ nông dân xã viên là đơn vịsản xuất nông nghiệp tự chủ, có toànquyền chủ động trong quản lý sản xuất

Có thể nói đây là sự thay đổi căn bản vềđường lối lãnh đạo kinh tế nông nghiệpViệt Nam của Đảng, được ví như việccởi bỏ1 nút thắt quan trọng của sợi dâytrói (là cơ chế tập trung quan liêu baocấp), giải thoát cho lực lượng sản xuất

Do vậy, ngay năm sau (1989) Việt Namsau 50 năm (kể từ 1939) lần đầu tiên đãxuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo

- Chính phủ cho phép thương mạihóa rộng rãi hơn quan hệ mua bán vật tư,máy móc, nhiên liệu và sản phẩm nôngnghiệp Nhờ cơ chế thương mại cởi mở,các doanh nghiệp và HTX đã có thể chủđộng trong việc chọn mua các loại nguồnlực đầu vào với mức giá tốt nhất, đồngthời bán được sản phẩm theo giá gần vớigiá trị thực nhất Cũng do thương mại hóađầu vào-đầu ra của sản xuất, các chủ thểkinh tế đã có thể hạch toán tương đối đầy

đủ hiệu quả sản xuất-kinh doanh trên cơ

sở giá cả thị trường

Trang 5

- Luật đất đai ban hành năm 1993

đã giao quyền sử dụng ruộng đất có hạn

điền và có thời hạn cho hộ nông dân và

thừa nhận quyền chuyển nhượng, thừa

kế, thế chấp quyền sử dụng đất Người

nông dân được chủ động sản xuất trên

mảnh ruộng của mình theo định hướng

của nhà nước Họ kiểm soát được toàn

bộ quá trình sản xuất mang tính sinh học

của cây trồng-vật nuôi và nhờ đó nâng

cao được thu nhập, cải thiện cuộc sống

cho bản thân và gia đình

Chỉ trong 2 năm 1990 và 1991,

lần lượt các nước XHCN Đông Âu và

Liên xô bị tan rã hoặc thay đổi thể chế

chính trị Điều đó đồng nghĩa với việc

Việt Nam bị cắt hoàn toàn nguồn viện

trợ từ bên ngoài và các thị trường sản

phẩm xuất khẩu truyền thống (thuộc khu

vực Hội đồng tương trợ kinh tế) bị mất

hoặc chỉ còn một phần nhỏ, nguồn cung

ứng vật tư phục vụ sản xuất cũng gần

như không còn nữa Đứng trước nguy cơ

khủng hoảng nghiêm trọng nền kinh tế,

Đảng và Nhà nước đã kiên định chủ

trương đổi mới quản lý kinh tế và thực

hiện các giải pháp quyết liệt hơn:

- Từng bước hội nhập với kinh tế

thế giới, mở cửa nền kinh tế, đón nhận đầu

tư nước ngoài (Ban hành Luật đầu tư nước

ngoài ban hành lần đầu năm 1989);

- Xây dựng và phát triển nền kinh

tế thị trường nhiều thành phần theo định

hướng XHCN (Ban hành Luật công ty

và doanh nghiệp tư nhân năm 1993, Luật

doanh nghiệp nhà nước năm 1995);

Nhờ vậy, Việt Nam từ một nước

phải nhập khẩu lương thực thì từ năm

1989 đã bắt đầu có gạo xuất khẩu (năm

1989 xuất khẩu 1,4 triệu tấn và liên tụcxuất khẩu gạo cho đến nay, năm 2010xuất khẩu 6,2 triệu tấn), đời sống củamọi tầng lớp dân cư được nâng cao rõrệt Liên tục nhiều năm, tăng trưởngnông nghiệp đạt mức 4,3%/năm, thuỷsản 5%/năm Các mặt hàng thuỷ sản, câycông nghiệp, cây ăn quả cũng pháttriển với quy mô ngày càng lớn Tronglâm nghiệp, rừng tự nhiên được tăngcường bảo vệ, bắt đầu chuyển sang lâmnghiệp xã hội và khuyến khích trồngrừng Các chủ trương và giải pháp này

đã tạo nên động lực quan trọng, chophép nông dân huy động nội lực, ápdụng tiến bộ KHKT và cơ sở vật chấtsẵn có, đưa sản xuất tiến lên

Mặc dù vậy, nền kinh tế nóichung và nền nông nghiệp nói riêng, vẫncòn những hạn chế như:

- Phát triển chưa vững chắc,không bảo vệ được môi trường;

- Phát triển nông nghiệp vẫn theochiều rộng, dưa trên việc khai thác tàinguyên, sức lao động cơ bắp, giá rẻ, xuấtkhẩu nông sản thô;

Điều kiện để “cởi trói” thành công:

Lãnh đạo phải dũng cảm thừa nhận sựthật và thực sự có khát vọng đưa đấtnước phát triển để đổi mới tư duy và

“cởi trói” cho người dân và doanhnghiệp, hợp tác xã

3.2 Giai đoạn xây dựng và thực hiện cơchế quản lý mới để thúc đẩy phát triểntheo chiều sâu (có thể lấy mốc từ 1995đến nay)

3.2.1 Về chính sách:

Chính phủ đã ban hành nhiều

Trang 6

chính sách mới:

- Năm 1995 Chính phủ ban hành

Nghị định số 01/CP về giao khoán đất

nông, lâm nghiệp, vườn cây, đàn gia súc,

mặt nước nuôi thủy sản cho người lao

động trong các nông-lâm trường quốc

doanh;

- Năm 1996 Quốc hội ban hành

Luật Hợp tác xã, đến năm 2003 Luật này

được sửa đổi bổ sung, theo các nguyên

tắc của Liên minh hợp tác xã thế giới;

- Năm 2000 Ban chấp hành Trung

ương Đảng ban hành Nghị quyết 09 đề

ra các nội dung chính sách mở rộng thị

trường;

- Năm 2000 Luật doanh nghiệp do

Quốc hội ban hành có hiệu lực, thống nhất

2 Luật: Luật doanh nghiệp nhà nước và

Luật công ty, doanh nghiệp tư nhân;

- Năm 2003 Quốc hội ban hành

Luật đầu tư: Thống nhất Luật đầu tư

trong nước và Luật đầu tư nước ngoài;

- Năm 2002 Thủ tưởng chính phủ

ra Quyết định 80/QĐ-TTg khuyến khích

tiêu thụ nông sản theo hợp đồng kinh tế

- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

IX năm 2001 đề ra nhiệm vụ đẩy nhanh

công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông

nghiệp, nông thôn, thể hiện cụ thể ở

Nghị quyết Trung ương 5 khóa 9;

- Năm 2004 Chính phủ ban hành 2

Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và

200/2004/NĐ-CP về đổi mới cơ chế quản

lý nông trường, lâm trường quốc doanh;

- Đặc biệt, năm 2005 Chính phủ

ban hành Nghị định số 135/2005/NĐ-CP

về hoàn thiện các hình thức khoán trong

doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước,

thay thế nghị định 01/CP năm 1995.Nghị định 01/CP năm 1995 và Nghị định135/2005/NĐ-CP đã tái lập trang trại giađình trong lòng các doanh nghiệp nôngnghiệp nhà nước Các doanh nghiệpnông nghiệp nhà nước chuyển sang làmdịch vụ đầu vào-đầu ra cho các trang trạigia đình

- Người lao động trong lâm trường quốc doanh được giao khoántoàn bộ việc kiểm soát quá trình sinh họccủa cây trồng-vật nuôi, họ chủ động đầu

nông-tư thêm tiền vốn và sức lao động để tăngnăng suất và chất lượng sản phẩm; Lợiích của người nhận khoán phụ thuộc trựctiếp vào kết quả, hiệu quả cuối cùng củaquá trình sản xuất nông nghiệp mangtính sinh học

- Năm 1996 Quốc hội ban hànhLuật HTX: HTX trong nông nghiệp, từchỗ tổ chức sản xuất tập thể chuyển sanglàm dịch vụ phục vụ sản xuất Khôngcòn tình trạng “đánh trống ghi tên” trong

tổ chức lao động ở các HTX nôngnghiệp như trước đây Xã viên hoàn toànchủ động sản xuất trên mảnh ruộngthuộc quyền sử dụng của mình và muavật tư, dịch vụ của HTX dựa trên quan

hệ thị trường, tự nguyện, bình đẳng Lợiích của hộ xã viên trực tiếp phụ thuộcvào kết quả và hiệu quả cuối cùng củaquá trình sản xuất nông nghiệp mangtính sinh học;

- Luật doanh nghiệp đã có hiệu lực

từ năm 2000 thừa nhận và tôn trọng quyền

tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp nhànước, hợp tác xã, hộ cá thể, doanh nghiệpdân doanh Nền kinh tế dựa trên chế độ đa

sở hữu với nhiều loại hình doanh nghiệp:

Trang 7

Doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, doanh

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các

doanh nghiệp được đối xử bình đẳng trước

pháp luật và được kinh doanh những gì

mà pháp luật không cấm, chứ không phải

luật pháp cho phép;

- Chính sách mở rộng thị trường

và tạo điều kiện sử dụng rộng rãi quan

hệ hàng hóa-tiền tệ và tự do hóa thương

mại nên đã chấm dứt tình trạng khan

hiếm vật tư, máy móc, xăng dầu trên thị

trường; người nông dân cũng như doanh

nghiệp, hợp tác xã có nhiều lựa chọn

trong việc mua các nguồn lực đầu vào

phục vụ sản xuất cũng như có quyền bán

sản phẩm làm ra theo mức giá thỏa thuận

trên thị trường;

Như vậy Việt Nam đã xây dựng

và đang từng bước hoàn chỉnh cơ chếquản lý kinh tế thị trường nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa đónnhận đầu tư nước ngoài

3.2.2 Những kết quả đạt được và hạn chế:

- GDP toàn ngành nông nghiệp đãgiảm từ hơn 50% xuống còn trên dưới20% vào năm 2010, nhưng giá trị sảnphẩm nông nghiệp đã tăng trên 5 lần; tốc

độ tăng trưởng cao, luôn giữ ở mức từ 4đến 5%/năm trong suốt hơn hai thập kỷqua, mặc dù toàn nền kinh tế bị ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng tài chính Đông Ánăm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng kinh

tế toàn cầu năm 2008;

Tỷ trọng của nông nghiệp Việt Nam trong tổng GDP

Trang 8

Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1988-2005

- Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm

và thủy sản luôn đạt mức tăng trưởng

cao từ 15 đến 20%/năm, từ mức vài tỷ

USD lên trên 12 tỷ USD năm 2010;

Kim ngạch xuất khẩu nông lâm

thuỷ sản tăng nhanh, năm 2004 đạt gần 7

tỷ USD, tăng 48% so với năm 2001 và

đến năm 2010 đạt khoảng 12 tỷ USD

Những mặt hàng có giá trị xuất khẩu như

gạo, hồ tiêu, cà phê, cao su, đồ gỗ chế

biến không ngừng được nâng cao chất

lượng

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

-nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng

dần tỷ trọng dịch vụ và chăn nuôi, thủy

sản Công nghiệp chế biến nông lâm sản

phát triển với tốc độ trung bình 12 -14%/

năm, tập trung vào chế biến rau quả, chế

biến gỗ Ngành nghề nông thôn tăngtrưởng bình quân 15%/năm Hiện cảnước có khoảng gần 3000 làng nghề vớikhoảng 1,4 triệu cơ sở, thu hút trên 10triệu người lao động, góp phần quantrọng giải quyết việc làm trong khu vựcnông thôn

Tuy nhiên, nhược điểm của thời

kỳ này là tăng trưởng sản xuất chủ yếuvẫn theo chiều rộng, chi phí sản xuất còncao, hiệu quả sản xuất thấp, kém bềnvững và sản xuất nông nghiệp vẫn dựavào khai thác tài nguyên, xuất khẩu sảnphẩm thô

Điều kiện để thiết lập và vận hành cơ chế quản lý thúc đẩy phát triển: Lòng

dũng cảm đổi mới tư duy và trí tuệ đểthiết lập và vận hành cơ chế quản lý kinh

Trang 9

tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa và để thực hiện lộ trình đổi mới

hợp lý, không gây đổ vỡ và tránh gây

“shock”

4 Bài học chung về đổi mới cơ chế

quản lý kinh tế.

- Thừa nhận và tôn trọng các quy

luật vận hành nền kinh tế hàng hóa Có

thể nói đây là sự đổi mới tư duy ở tầm vĩ

mô, có tính chất quyết định tạo tiền đề

cho phát triển kinh tế hàng hóa nhiều

thành phần Chỉ có thừa nhận và tôn

trọng các quy luật kinh tế khách quan

mới giúp tạo động lực cho các chủ thể

kinh tế thực sự quan tâm đến hiệu quả

kinh doanh Còn nếu ngược lại, không

phải các quy luật khách quan ấy không

tồn tại mà nó vẫn hoạt động nhưng với

tính cách là sự trừng phạt của tạo hóa đối

với xã hội và con người;

- Tự do hóa thương mại theo lộ

trình hợp lý Nhà nước xóa bỏ “ngắn

sông cấm chợ”, tạo điều kiện để việc lưu

thông hàng hóa trên thị trường hoàn toàn

tự do là yếu tố quan trọng nhất để doanh

nghiệp, HTX và mọi thành phần kinh tế

khác lựa chọn sản phẩm sản xuất theo

nhu cầu của thị trường Tự do hóa

thương mại cũng là yếu tố quan trọng

giúp xóa bỏ sự tồn tại của thị trường chợ

đen-vấn nạn gây đau đầu các nhà quản lý

dưới thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung,

quan liêu, bao cấp;

- Từ mở rộng đến tôn trọng quyền

tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp và

người dân: “Kinh doanh bất cứ cái gì mà

luật pháp không cấm, chứ không phải là

những gì luật pháp cho phép” Điều đó

đã tạo điều kiện để mỗi chủ thể kinh tế

phát huy sáng tạo, tăng năng suất và hiệuquả sản xuất - kinh doanh

- Cạnh tranh là động lực thúc

đẩy phát triển Chấp nhận cạnh tranh

đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều đơn vịkinh tế làm ăn phát đạt và nhiều đơn vịkhác thua lỗ, thậm chí phá sản Có thểnói quy luật cạnh tranh là động lực chính

để tất cả các chủ thể kinh tế phải tự hoànthiện mình thông qua việc đổi mới quản

lý, công nghệ để nâng cao chất lượng, hạgiá thành hàng hóa vật phẩm, dịch vụ,nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển;

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức và cơ chế quản lý kinh tế Đây có

thể xem là giải pháp cơ bản giúp thu hútđầu tư của mọi thành phần trong xã hội

để phát triển kinh tế;

- Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc

tế Trong suốt thời kỳ bao cấp, Việt Nam

đã bị tụt hậu quá xa so với thế giới Chính

vì thế, việc hội nhập trở lại là điều kiệnquan trọng nhằm thu hút 2 nguồn lực quantrọng là tài chính và tiến bộ kỹ thuật cũngnhư quản lý từ các nước phát triển Việchội nhập và mở cửa nền kinh tế đã giúpViệt Nam có được vị thế mới trên trườngquốc tế, mở rộng được thị trường xuấtkhẩu, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa;

- Nhà nước chỉ quản lý hành chính-kinh tế, không trực tiếp kinh doanh; khuôn khổ pháp luật là điều kiện tiên quyết để các loại hình doanh nghiệp vừa phát huy tự chủ, sáng tạo, kinh doanh đạt hiệu quả cao, vừa vì mục tiêu của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa:

“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” Kiên định với

định hướng xã hội chủ nghĩa không có

Trang 10

nghĩa là nhà nước phải chỉ huy và can

thiệp sâu vào toàn bộ nền kinh tế Nhà

nước chỉ tập trung làm tốt việc quản lý

kinh tế vĩ mô, gián tiếp tác động vào các

hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh

tế bằng các chính sách kinh tế vĩ mô Hoạt

động kinh doanh thuộc chức năng của các

chủ thể kinh tế Điều này buộc doanh

nghiệp và người dân tự chủ, tự chịu trách

nhiệm với các quyết định của mình, đồng

thời bộ máy quản lý nhà nước các cấp

cũng được tinh giản đáng kể so với trước;

- Phát triển hài hòa kinh tế - xã

hội, con người và bảo vệ môi trường.

Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho

thấy tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ

gây áp lực lớn đến môi trường sinh thái

tự nhiên và xã hội Việc nhà nước định

hướng phát triển kinh tế song song với

thực hiện các mục tiêu xã hội và môi

trường là điều kiện quan trọng giúp cho

sự phát triển bền vững

5 Bài học đổi mới quản lý trong nông

nghiệp.

Việc thực hiện đổi mới quản lý

nông nghiệp thành công ở Việt Nam đã

tạo tiền đề cho đổi mới quản lý các

ngành kinh tế khác Từ thực tế đổi mới

quản lý nông nghiệp ở Việt Nam, có thể

rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

- Lựa chọn loại hình tổ chức và

cơ chế quản lý sản xuất nông nghiệp phù

hợp với đặc điểm sản xuất mang tính

sinh học Đối tượng sản xuất là sinh vật

(cây, con), cần có sự kiểm soát, chăm

sóc một cách tỷ mỷ, đúng lúc và đúng

cách ở từng khâu và toàn bộ quá trình

sản xuất mang tính sinh học trên đồng

ruộng, chuồng trại Muốn làm được điều

đó, quy mô sản xuất phải phù hợp vớitầm hạn (khả năng) quản lý của người cótrách nhiệm cuối cùng Mặt khác, đểkiểm soát tốt quá trình sản xuất sinh học,người lao động phải có trách nhiệm cao.Muốn vậy, thu nhập của mỗi người laođộng phải hoàn toàn phụ thuộc trực tiếpvào hiệu quả cuối cùng của quá trình sảnxuất;

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất-kinh doanh và cơ chế quản lý trong nông nghiệp Quá trình đổi

mới quản lý đã hình thành và phát triển

đa dạng các loại hình tổ chức và cơ chếquản lý sản xuất kinh doanh trong nôngnghiệp Mỗi loại hình có những ưu -nhược điểm khác nhau:

+ Hộ nông dân hay trang trại giađình (farm household) là lực lượng sảnxuất chủ yếu Bởi vì, các trang trại giađình có ưu điểm sau: Quy mô phù hợpvới khả năng quản lý của người chủ vànhững người lao động khác trong hộ giađình; Thu nhập của nông hộ phụ thuộctrực tiếp vào năng suất, chất lượng, giáthành sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi Vìvậy, trang trại gia đình có thể kiểm soátchặt chẽ, chăm sóc đúng lúc, đúng cáchtrong tất cả các khâu của quá trình sảnxuất mang tính sinh học trên đồng ruộng,chuồng trại Mặt khác, nó cũng có nhữngnhược điểm: Quy mô nhỏ nên khó cơgiới hóa và thực hiện GAP; sản phẩmhàng hóa ít nên không có nhu cầu gắntrang trại với HTX, với doanh nghiệpchế biến nông sản Trang trại gia đìnhkhông thể giải quyết 3 vấn đề quantrọng: Thị trường, Công nghệ và Vốn

Trang 11

+ Trang trại do 1 cá nhân làm chủ

sở hữu (sole farm) có quy mô vừa, nên

không cần thiết lập cấp quản lý trung gian,

là lực lượng quan trọng thứ 2 Ưu điểm

của loại hình này là: Có quy mô hợp lý,

trách nhiệm cao, nên chủ trang trại có thể

kiểm soát được toàn bộ các khâu của quá

trình sản xuất sinh học Nhược điểm là:

Không tự giải quyết được 3 vấn đề: Thị

trường, Công nghệ, Vốn

+ Trang trại quy mô lớn (thuộc các

loại chế độ sở hữu khác nhau: Doanh

nghiệp nhà nước, HTX và doanh nghiệp

tư nhân) Ưu điểm của loại hình này là có

thể giải quyết 3 vấn đề Thị trường, Công

nghệ sản xuất theo GAP và Vốn Tuy

nhiên, nhược điểm của nó là không thể

kiểm soát được quá trình sản xuất sinh

học Do vậy, cần khoán hộ để tái lập

trang trại gia đình trong lòng doanh

nghiệp lớn, tạo ra trang trại dự phần

(affliated farm) đảm trách các khâu của

quá trình sản xuất mang tính sinh học;

doanh nghiệp, HTX chuyển sang kinh

doanh dịch vụ cung ứng nguồn lực (đầu

vào) - chế biến và tiêu thụ sản phẩm (đầu

ra) Mô hình quản lý này vừa phát huy ưu

điểm của trang trại gia đình và doanh

nghiệp quy mô lớn, vừa khắc phục được

các nhược điểm của chúng

+ Sản xuất theo hợp đồng

(contract farming) là hình thức liên kết

chủ yếu trong chuỗi giá trị sản xuất nông

nghiệp “Từ trang trại đến bàn ăn” hay

“Từ lưỡi cày đến cái đĩa”, trên cơ sở

thương mại hóa triệt để các quan hệ giữa

những chủ thể khác nhau tham gia chuỗi

giá trị (value chain) này

+ Đa dạng hóa sản xuất nôngnghiệp (VAC) trên phạm vi từng đơn vịsản xuất và toàn bộ nền nông nghiệp

III Những vấn đề hiện nay của nông nghiệp Việt Nam và giải pháp phát triển giai đoạn tới.

1 Một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nghiêm túc.

Mặc dù quá trình đổi mới quản lýnông nghiệp Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn nhưng cũng đangbộc lộ một số vấn đề cần phải kịp thờinhìn nhận và có giải pháp phù hợp:

- Chuyển đổi cơ cấu sản xuấtnông nghiệp và kinh tế nông thôn chậm,công nghiệp và dịch vụ còn non kém,nhất là công nghiệp chế biến nông sản vàcông nghiệp cơ khí phục vụ sản xuấtnông nghiệp;

← - Năng lực cạnh tranh của nôngsản thấp, giá thành sản xuất cao, chấtlượng không ổn định và chưa đạt tiêuchuẩn quốc tế; tình trạng mất vệ sinh antoàn thực phẩm khá nghiêm trọng và phổbiến;

← - Sản xuất theo hợp đồng chưađược thực hiện rộng rãi;

← - Phát triển cơ sở hạ tầng chưađáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấukinh tế, nâng cao cuộc sống nhân dân ởnhiều vùng nông thôn, nhất là ở cácvùng miền núi Cơ cấu đầu tư chậmđược điều chỉnh phù hợp với yêu cầuphát triển cơ cấu kinh tế mới

← - Quá trình đổi mới các hình thức

tổ chức sản xuất chuyển biến chậm, hoạtđộng của nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp

Trang 12

nhà nước đạt hiệu quả thấp; kinh tế nông

hộ còn nhỏ bé, trang trại cá nhân không

có cấp quản lý trung gian chưa phát

triển;

← - Đời sống một bộ phận nông dân

còn nhiều khó khăn, chênh lệch về thu

nhập và mức sống giữa nông thôn và

thành thị, giữa các vùng chậm được khắc

phục, chênh lệch giàu nghèo lớn, khó

khắc phục Yêu cầu về việc làm ngày

càng bức xúc 20% GDP do nông nghiệp

tạo ra bởi 56% lực lượng lao động xã hội

nhưng hiện đang phải nuôi sống 70%

dân cư nông nghiệp;

← - Tình trạng ô nhiễm môi trường

chưa có giải pháp khắc phục hữu hiệu,

tăng trưởng không bền vững

2 Giải pháp chung.

- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị

trường và nhà nước pháp quyền xã hội

chủ nghĩa và xã hội dân chủ;

- Phát triển giáo dục, đào tạo

nguồn nhân lực cho nền kinh tế;

- Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ

tầng kinh tế-xã hội

3 Giải pháp trong nông nghiệp.

- Đẩy mạnh đào tạo nông dân

dưới 2 hình thức: khuyến nông và trường

lớp chính quy;

- Tích tụ ruộng đất tạo ra các

trang trại gia đình, trang trại cá nhân có

quy mô lớn hơn để có điều kiện thực

hiện:

+ Cơ giới hóa, tăng năng suất lao

động;

+ Phát triển các hình thức hợp tác

kiểu mới trong nông nghiệp;

+ Thực hiện sản xuất theo hợpđồng và các tiêu chuẩn, quy trình

của Global GAP và Việt GAP

+ Gắn sản xuất nông nghiệp vớicông nghiệp chế biến, tiêu thụ, xây dựngđược thương hiệu cho các loại nông sảnchủ yếu của Việt Nam trên thị trườngtrong và ngoài nước

- Bảo vệ quỹ đất nông nghiệp cóhiệu quả, đặc biệt là quỹ đất sản xuất lúa(cố gắng duy trì 3,8 triệu ha đất);

- Phát triển sản xuất công nghiệp

và dịch vụ ở nông thôn, nhất là côngnghiệp chế biến nông sản, đẩy mạnhxuất khẩu sức lao động nông thôn để giảiquyết vấn đề việc làm;

- Phát triển các HTX kiểu mới;

- Tiếp tục đổi mới doanh nghiệpnông nghiệp nhà nước theo hướng đadạng hóa chủ thể sở hữu;

- Hoàn thiện chính sách, cơ chếquản lý vĩ mô để bảo đảm cạnh tranhbình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước

và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp

có vốn nước ngoài, để phát triển bềnvững và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệuquả hơn;

- Phát triển xã hội và con ngườihài hòa với phát triển kinh tế;

- Kiểm soát dân số và và bảo vệmôi trường sinh thái tự nhiên, môitrường nhân văn;

Các giải pháp cụ thể này trongnông nghiệp chỉ có thể thực hiện đượckhi 3 giải pháp chung nêu trên được thựchiện tốt trong toàn bộ nền kinh tế quốcdân và trong toàn ngành nông nghiệp

Trang 13

Phần thứ 2

KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở CUBA

I Tiến trình khảo sát.

Trong thời gian từ cuối tháng 12

năm 2010 đến ngày 18 tháng 4 năm

2011 chúng tơi đã tiến hành làm việc,

trao đổi với những người cĩ trách nhiệm

ở các tổ chức sau:

1) Chủ nhiệm hợp phần dự án sản

xuất lúa nhân dân thuộc dự án hợp tác

sản xuất lúa Việt Nam – Cuba giai đoạn

3: Ơng Luis Aleman Mansffar và chủ

nhiệm kỹ thuật dự án hợp tác sản xuất

lúa Việt Nam – Cuba giai đoạn 4: ơng

Jorge Hernandez Concepcion;

2) Tập đồn sản xuất cây cĩ hạt

trực thuộc Bộ Nơng nghiệp: Trao đổi với

các giám đốc sản xuất, hậu cần, cơ khí,

kinh tế và nhân sự;

3) Các CAI và Empresa (doanh

nghiệp) trực thuộc Tập đồn cây cĩ hạt ở

tỉnh Matanzas, Cienfuegos và tỉnh

Granma: Làm việc và trao đổi với Tổng

giám đốc, các giám đốc sản xuất, kinh tế,

nhân sự, hậu cần, cơ khí Tại mỗi đơn vị

này chúng tơi cịn làm việc với một số

đơn vị trực thuộc doanh nghiệp là UEB

và Granja phụ trách sản xuất lúa và cơ

khí;

4) Làm việc và trao đổi với lãnh

đạo của 2 CPA, 2 UBPC và 2 CCS ở 2

tỉnh Matanzas và Granma (3 loại hình

HTX của Cuba hiện nay);

5) Làm việc và trao đổi với 03nơng dân truyền thống, cĩ đất thừa kế,hiện đang là xã viên của CCS; 02 cơngnhân nhận khốn sản xuất lúa và 01 thợ

cơ khí lái máy kéo ở Granja số 10 (mộtdạng UEB) trực thuộc CAI CalisoEcheneque tỉnh Granma;

6) Làm việc và trao đổi với lãnhđạo của Sở nơng nghiệp tỉnh Granma,Phịng nơng nghiệp huyện Yara thuộctỉnh Granma;

7) Làm việc và trao đổi với ơngThứ trưởng Bộ nơng nghiệp và một sốcán bộ lãnh đạo cơ quan tham mưu của

Bộ như Vụ hợp tác quốc tế, Vụ thươngmại, Vụ kế hoạch, Vụ kế tốn, Cục quản

lý các đơn vị cơ sở, Trung tâm quản lýquốc gia về ruộng đất và máy kéo Ngồi ra, chúng tơi cịn làm việc với ơngViện trưởng Viện cây cĩ hạt trực thuộcTập đồn cây cĩ hạt và một trại thựcnghiệm của Viện ở tỉnh Granma

8) Nhĩm chuyên gia Việt Nam vàCuba thảo luận về bài học kinh nghiệmđổi mới quản lý nơng nghiệp Việt Nam,nội dung khuyến nghị thí điểm áp dụngchính sách mới trong sản xuất lúa gạo ởCuba

9) Hội thảo về bài học đổi mớiquản lý trong nơng nghiệp Việt Nam và

Trang 14

đề xuất khuyến nghị áp dụng chính sách

mới trong sản xuất lúa gạo ở Cuba

II Một số thu hoạch.

1 Tình hình chung về sản xuất lúa

gạo.

Theo số liệu của Tổng cục thống

kê Cuba năm 2008: Diện tích đất nông

nghiệp rất lớn (6,619 triệu ha), bình quân

7,35ha trên 01 người lao động nông

nghiệp trực tiếp và 5,09ha trên 01 lao

động toàn ngành nông nghiệp Trong

tổng diện tích đất nông nghiệp, có 1,187

triệu ha đất trồng cây hàng năm (Khối

quốc doanh: 294 ngàn ha hay 24,76%;

khối ngoài quốc doanh: 893,2 ngàn ha

hay 75,24%) Riêng diện tích canh táclúa là 176,6 ngàn ha chiếm 14,5% đấtcanh tác hàng năm (Khối quốc doanh có85,3 ngàn ha hay 48,3%; khối nông dân

và HTX: 91,3 ngàn ha hay 51,7% đấtcanh tác lúa) Với diện tích canh tác lúanhư trên, hàng năm Cuba mới đảm bảocung ứng 30 - 35% nhu cầu tiêu dùnggạo của 11 triệu người dân (năm 2008sản xuất được 436 ngàn tấn thóc tươi (độ

ẩm 20%), quy khô là 405,48 ngàn tấnthóc khô (độ ẩm 13%), tương đương259,507 ngàn tấn gạo, đáp ứng khoảng34,6% nhu cầu Riêng năm 2010, Cubaphải dành 1,4 tỷ USD để nhập khẩulương thực - thực phẩm

Diện tích và sản lượng lúa Cuba năm 2010

TH/KH (%)

1.1 Khối quốc doanh 30.604,6 28.549,8 93

1.2 Khối HTX, nông dân 116.056,7 131.028,6 113

2 Tổng sản lượng (tấn gạo) 327.000,0 227.176,4 69

2.1 Khối quốc doanh 77.000,0 40.005,9 52

2.2 Khối HTX, nông dân 250.000,0 187.170,5 75

Nguồn: Bộ Nông nghiệp Cuba

Tiềm năng sản xuất của Cuba còn

rất lớn, vì trong tổng diện tích đất nông

nghiệp 6,619 triệu ha hiện nay, diện tích

không canh tác chiếm tới 3,631 triệu ha

(bằng 54,85% tổng diện tích đất nông

nghiệp), diện tích hoang hóa là 1,232triệu ha (bằng 18,6% tổng diện tích đấtnông nghiệp) Năm 2003, Cuba đã sảnxuất được 715 ngàn tấn thóc tươi (độ ẩm20%), tương đương 664,95 ngàn tấn thóc

Ngày đăng: 08/04/2015, 17:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w