Đứng trước nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã kiên định chủ trương đổi mới quản lý kinh tế và thực hiện các giải pháp quyết liệt hơn: - Từng bước hội nhập
Trang 1Phần thứ 1
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM
VỀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NƠNG NGHIỆP
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ, từ năm 1954 đến năm 1975, miền
Bắc Việt Nam trở thành hậu phương lớn
cho chiến trường miền Nam trong suốt
thời kỳ từ năm 1954 đến 1975 Việt Nam
đã nhận được sự giúp đỡ nhiều mặt của
Liên Xơ, Trung Quốc và các nước xã hội
chủ nghĩa anh em, chủ yếu là lương
thực-thực phẩm và các loại phương tiện chiến
tranh Mục tiêu của sản xuất nơng nghiệp
thời kỳ này là sản xuất ra thật nhiều sản
phẩm phục vụ nhu cầu tại chỗ và cung
cấp cho chiến trường
Sau đại thắng mùa xuân năm
1975, hịa bình và thống nhất nước nhà
đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục
hồi kinh tế sau chiến tranh Tuy nhiên,
cũng chính giai đoạn này, các chính sách
phát triển kinh tế-xã hội cũng như cơ chế
quản lý kinh tế thời chiến khơng cịn phù
hợp Bên cạnh đĩ, nguồn viện trợ của
các nước XHCN ngày càng ít đi do bản
thân Liên Xơ và các nước Đơng Âu cũng
gặp phải rất nhiều khĩ khăn Đến cuối
những năm 70, kinh tế Việt Nam khơng
thể cân đối được thu-chi ngân sách,khơng cân đối được cung-cầu lươngthực, đời sống của đại bộ phận dân cư ởdưới mức nghèo đĩi
2 Thực trạng cơ chế quản lý kinh tế
Trong suốt 30 năm liền, ViệtNam thực hiện cơ chế quản lý kinh tế kếhoạch hĩa tập trung, bao cấp theo mơhình của Liên Xơ và các nước xã hội chủnghĩa anh em:
- Nhà nước quản lý và quy địnhgiá cung cấp đầu vào (phân bĩn, thuốcbảo vệ thực vật, thuốc và vật tư thú y,xăng dầu, máy mĩc …) và đầu ra (cácloại sản phẩm, trong đĩ cĩ nơng sản);
- Tất cả các cơ sở kinh tế đều sảnxuất theo kế hoạch do nhà nước giao;
- Khơng cho phép phát triển kinh
tế tư nhân trên quy mơ lớn Chỉ cho phépcác cơ sở tư nhân trong lĩnh vực tiểu thủcơng nghiệp nhỏ lẻ, sản xuất các mặthàng tiêu thụ trên thị trường địa phương.Trong nơng nghiệp, chỉ cho phép pháttriển kinh tế phụ gia đình xã viên trêndiện tích đất 5% tổng quỹ đất của hợptác xã
Giai đoạn này ở Việt Nam lưutruyền các thuật ngữ “bán như cho, muanhư cướp” và “ngăn sơng, cấm chợ”
Trang 23 Tổ chức sản xuất nông nghiệp.
Nông lâm trường quốc doanh và
hợp tác xã nông nghiệp, đều dựa trên chế
độ công hữu về ruộng đất và các tư liệu
sản xuất khác, là hai lực lượng chính của
ngành nông nghiệp:
Việc sản xuất và bán nông sản
theo kế hoạch nhà nước giao, được các
doanh nghiệp nhà nước cung ứng vật tư,
máy móc … và thu mua sản phẩm theo
giá nhà nước quy định Tuy nhiên, trên
thực tế, vẫn có hệ thống chợ nông thôn
phục vụ việc trao đổi hàng hóa do kinh
tế phụ của các hộ xã viên làm ra (trên đất
5% của các gia đình)
Về bản chất: Mô hình kinh tế Việt Nam
thời kỳ này thực chất là “Nhà nước hóa
nền kinh tế, nhà nước làm kinh tế để
nuôi dân chứ không phải dân làm kinh tế
để đóng thuế nuôi nhà nước; cả đất
nước là một doanh nghiệp duy nhất,
chính quyền các cấp vừa là chủ sở hữu
vừa là giám đốc điều hành hoạt động
sản xuất-kinh doanh” Các nông trường
quốc doanh và hợp tác xã chỉ là đơn vị
sản xuất cơ sở, hoàn toàn không có
quyền tự chủ trong sản xuất-kinh doanh,
không chịu trách nhiệm về lãi-lỗ, hiệu
quả kinh tế
Hậu quả : Năng suất cây trồng, vật nuôi,
năng suất lao động thấp, người lao động
không tích cực lao động Hàng năm Việt
Nam phải nhập khẩu hàng trăm ngàn tấn
lượng thực (gạo, bột mỳ), có năm phải
nhập khẩu đến 1 triệu tấn (năm 1939 với
20 triệu dân, Việt Nam đã xuất khẩu
được 1,5 triệu tấn gạo) Hiệu quả kinh
doanh của mỗi tổ chức kinh tế, mỗi loại
nông sản không thể tính toán được; tệ
quan liêu, tham nhũng, thị trường chợđen bất hợp pháp phát triển tràn lan,không ngăn chặn được
II Giai đoạn đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (từ năm 1981 đến nay).
1 Bối cảnh kinh tế trong, ngoài nước và đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam.
1.1 Bối cảnh trong và ngoài nước
Các nước XHCN và Liên Xô đivào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng rồisụp đổ, Việt Nam không còn nguồn việntrợ và thị trường truyền thống, lại nằmtrong tình trạng bị cấm vận quốc tế vàchưa bình thường hoá quan hệ với TrungQuốc Công cuộc cải cách kinh tế đã bắtđầu ở Trung Quốc với việc xoá bỏ công
xã nhân dân và khoán sản phẩm đến hộ,đem lại kết quả đáng khích lệ
Việt Nam khi bắt đầu đổi mớinằm trong tình trạng khủng hoảng Cácquan hệ thu-chi của chính phủ, xuất-nhập, cung-cầu, dự trữ ngoại hối, lươngthực đều mất cân đối nghiêm trọng.Trong nông nghiệp, cuộc Cách mạngXanh bắt đầu từ thập kỷ 1960 đã chuẩn
bị sẵn các tiến bộ kỹ thuật trên nhiềuvùng Tuy nhiên, các thành quả này chưađược phát huy trong sản xuất trên quy
mô rộng
Chính bối cảnh hết sức khó khănnày đã buộc Việt Nam phải đổi mới thể
chế quản lý kinh tế; khẩu hiệu: “đổi mới
hay là chết” thay cho “độc lập hay là chết” Cán bộ, nhân dân nhiều nơi đã
chủ động tìm kiếm và thử nghiệm cácchính sách kinh tế và mô hình quản lýmới Thành công của các yếu tố mới nảy
Trang 3sinh đem lại cho Đảng những gợi ý quan
trọng để bắt đầu một quá trình đổi mới
cơ chế kinh tế toàn diện, sâu sắc
1.2 Đặc điểm của nông nghiệp
Đến đầu những năm 1980 ngành
nông nghiệp Việt Nam chiếm tới trên
75% lực lượng lao động xã hội và trên
80% dân số Yêu cầu đổi mới ngành
nông nghiệp được đặt ra hết sức bức
bách Đặc điểm chính của nông nghiệp
Việt Nam có thể khái quát như sau:
- Bình quân ruộng đất trên đầu
người thấp, khoảng 1600 m2
/nhân khẩunông nghiệp, ruộng đất lại manh mún,
phân tán;
- Quy mô sản xuất của một đơn vị
hợp tác xã và nông-lâm trường quốc doanh
lớn nhưng quy mô sản xuất của một hộ gia
đình nông dân lại quá nhỏ (0,8ha/hộ);
- Thực tế chứng minh sản xuất
nông nghiệp đa dạng theo mô hình VAC
(V: vegetation; A: aquaculture; C: cage)
hiệu quả hơn chuyên môn hóa, độc canh
Do vậy, các chỉ tiêu hiệu quả kinh
tế ngành nông nghiệp được xem xét theo
thứ tự ưu tiên sau:
1- Doanh số, thu nhập, sản lượng
thu hoạch trên 1ha đất nông nghiệp (để
đánh giá mỗi ha nuôi được bao nhiêu
người, tạo công ăn việc làm cho bao
nhiêu lao động);
2- Năng suất cây trồng và vật
nuôi;
3- Năng suất lao động (thu
nhập/lao động, sản lượng sản xuất/lao
động);
4- Thu nhập và lợi nhuận trên 1
đồng vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu
Quá trình đổi mới quản lý nôngnghiệp Việt Nam có thể được chia thành
hai giai đoạn: “Tiền đổi mới” và “Đổi
mới”.
2 Thời kỳ “tiền đổi mới” (1981-1985).
Đứng trước yêu cầu phải tự thayđổi để tồn tại và phát triển, nền kinh tếViệt Nam nói chung và ngành nôngnghiệp nói riêng đã thực hiện những đổimới quản lý mang tính đột phá bằng cácchính sách cụ thể như sau:
- Chỉ thị 100 của Ban bí thư trungương Đảng về khoán sản phẩm cuốicùng cho nhóm và người lao động (thựcchất là khoán cho hộ xã viên) tháng 01năm 1981 Đây là văn bản mang tính chủtrương lớn có tác động tích cực làm thayđổi lối làm ăn tập thể kém hiệu quả củacác hợp tác xã nông nghiệp, gắn mộtphần quyền lợi của xã viên với kết quảsản xuất cuối cùng
- Nghị quyết 217/HĐBT của Hộiđồng Bộ trưởng về “Mở rộng quyền tựchủ cho các đơn vị kinh tế cơ sở là cácdoanh nghiệp nhà nước”, trong đó có cácnông-lâm trường quốc doanh Điều đó đãbước đầu tạo ra động lực khuyến khích
và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệpchủ động thực hiện các hoạt động sảnxuất-kinh doanh, gắn quyền lợi củangười lao động với hiệu quả kinh tế cuốicùng
- Nghị quyết 25 CP của Chínhphủ về giao kế hoạch 3 phần, bao gồm:
Kế hoạch A, Kế hoạch B và Kế hoạch C
Cơ chế quản lý mới này đã cho phépdoanh nghiệp, hợp tác xã được sử dụngmột phần lợi nhuận (thuộc kế hoạch B và
Trang 4C) để tái đầu tư mở rộng và cải thiện đời
sống của người lao động, nhờ đó khuyến
khích người lao động tăng năng suất và
chất lượng công việc
Nhờ vậy, nền kinh tế nói chung,
nông nghiệp nói riêng bước đầu giải
quyết được những khó khăn trước mắt
Tuy nhiên, việc đổi mới quản lý kinh tế
nói chung và quản lý nông nghiệp nói
riêng chưa căn bản và toàn diện
3 Thời kỳ đổi mới
Đây là giai đoạn tạo bước chuyển
rõ rệt về cơ chế quản lý trên toàn bộ nền
kinh tế và kinh tế nông nghiệp Việt nam
Mốc lịch sử quan trọng nhất là Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ 6 tháng 12 năm
1986 Tại Đại hội này, Đảng cộng sản
Việt Nam đã quyết định con đường phát
triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa
* Nội dung đổi mới.
Thương mại hóa việc cung ứng
các nguồn lực đầu vào, kể cả tín dụng,
ngoại tệ và bán sản phẩm, trong đó có
nông sản, theo lộ trình từng bước, xóa bỏ
tình trạng “mua như cướp, bán như cho”
và “ngăn sông, cấm chợ” Việc đổi mới
chính sách vĩ mô đi đôi với thay đổi căn
bản cơ chế quản lý đối với tất cả các loại
hình tổ chức kinh tế như doanh nghiệp,
hợp tác xã… với mục tiêu khuyến khích
tất cả các thành phần kinh tế tham gia
sản xuất-kinh doanh, làm ra nhiều của
cải vật chất cho xã hội Quá trình đổi
mới quản lý từ năm 1986 đến nay, có thể
được chia thành 2 giai đoạn, cụ thể như
sau:
3.1 Giai đoạn “cởi trói” để thoát khỏinhững khó khăn trước mắt (Từ 1986-1994).
Đứng trước những khó khănchồng chất của nền kinh tế, dựa trênnhững thành công bước đầu của việc cảitiến cơ chế quản lý kinh tế trong nôngnghiệp, Đảng cộng sản và nhà nước ViệtNam đã có những quyết định đúng đắn
để tháo gỡ những nút thắt đã làm trì trệnền kinh tế nói chung và nông nghiệpnói riêng
- Nghị quyết 10 của Bộ chính trịĐảng cộng sản Việt Nam tháng 4 năm
1988 “Về đổi mới quản lý nông nghiệp”
thừa nhận hộ nông dân xã viên là đơn vịsản xuất nông nghiệp tự chủ, có toànquyền chủ động trong quản lý sản xuất
Có thể nói đây là sự thay đổi căn bản vềđường lối lãnh đạo kinh tế nông nghiệpViệt Nam của Đảng, được ví như việccởi bỏ1 nút thắt quan trọng của sợi dâytrói (là cơ chế tập trung quan liêu baocấp), giải thoát cho lực lượng sản xuất
Do vậy, ngay năm sau (1989) Việt Namsau 50 năm (kể từ 1939) lần đầu tiên đãxuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo
- Chính phủ cho phép thương mạihóa rộng rãi hơn quan hệ mua bán vật tư,máy móc, nhiên liệu và sản phẩm nôngnghiệp Nhờ cơ chế thương mại cởi mở,các doanh nghiệp và HTX đã có thể chủđộng trong việc chọn mua các loại nguồnlực đầu vào với mức giá tốt nhất, đồngthời bán được sản phẩm theo giá gần vớigiá trị thực nhất Cũng do thương mại hóađầu vào-đầu ra của sản xuất, các chủ thểkinh tế đã có thể hạch toán tương đối đầy
đủ hiệu quả sản xuất-kinh doanh trên cơ
sở giá cả thị trường
Trang 5- Luật đất đai ban hành năm 1993
đã giao quyền sử dụng ruộng đất có hạn
điền và có thời hạn cho hộ nông dân và
thừa nhận quyền chuyển nhượng, thừa
kế, thế chấp quyền sử dụng đất Người
nông dân được chủ động sản xuất trên
mảnh ruộng của mình theo định hướng
của nhà nước Họ kiểm soát được toàn
bộ quá trình sản xuất mang tính sinh học
của cây trồng-vật nuôi và nhờ đó nâng
cao được thu nhập, cải thiện cuộc sống
cho bản thân và gia đình
Chỉ trong 2 năm 1990 và 1991,
lần lượt các nước XHCN Đông Âu và
Liên xô bị tan rã hoặc thay đổi thể chế
chính trị Điều đó đồng nghĩa với việc
Việt Nam bị cắt hoàn toàn nguồn viện
trợ từ bên ngoài và các thị trường sản
phẩm xuất khẩu truyền thống (thuộc khu
vực Hội đồng tương trợ kinh tế) bị mất
hoặc chỉ còn một phần nhỏ, nguồn cung
ứng vật tư phục vụ sản xuất cũng gần
như không còn nữa Đứng trước nguy cơ
khủng hoảng nghiêm trọng nền kinh tế,
Đảng và Nhà nước đã kiên định chủ
trương đổi mới quản lý kinh tế và thực
hiện các giải pháp quyết liệt hơn:
- Từng bước hội nhập với kinh tế
thế giới, mở cửa nền kinh tế, đón nhận đầu
tư nước ngoài (Ban hành Luật đầu tư nước
ngoài ban hành lần đầu năm 1989);
- Xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường nhiều thành phần theo định
hướng XHCN (Ban hành Luật công ty
và doanh nghiệp tư nhân năm 1993, Luật
doanh nghiệp nhà nước năm 1995);
Nhờ vậy, Việt Nam từ một nước
phải nhập khẩu lương thực thì từ năm
1989 đã bắt đầu có gạo xuất khẩu (năm
1989 xuất khẩu 1,4 triệu tấn và liên tụcxuất khẩu gạo cho đến nay, năm 2010xuất khẩu 6,2 triệu tấn), đời sống củamọi tầng lớp dân cư được nâng cao rõrệt Liên tục nhiều năm, tăng trưởngnông nghiệp đạt mức 4,3%/năm, thuỷsản 5%/năm Các mặt hàng thuỷ sản, câycông nghiệp, cây ăn quả cũng pháttriển với quy mô ngày càng lớn Tronglâm nghiệp, rừng tự nhiên được tăngcường bảo vệ, bắt đầu chuyển sang lâmnghiệp xã hội và khuyến khích trồngrừng Các chủ trương và giải pháp này
đã tạo nên động lực quan trọng, chophép nông dân huy động nội lực, ápdụng tiến bộ KHKT và cơ sở vật chấtsẵn có, đưa sản xuất tiến lên
Mặc dù vậy, nền kinh tế nóichung và nền nông nghiệp nói riêng, vẫncòn những hạn chế như:
- Phát triển chưa vững chắc,không bảo vệ được môi trường;
- Phát triển nông nghiệp vẫn theochiều rộng, dưa trên việc khai thác tàinguyên, sức lao động cơ bắp, giá rẻ, xuấtkhẩu nông sản thô;
Điều kiện để “cởi trói” thành công:
Lãnh đạo phải dũng cảm thừa nhận sựthật và thực sự có khát vọng đưa đấtnước phát triển để đổi mới tư duy và
“cởi trói” cho người dân và doanhnghiệp, hợp tác xã
3.2 Giai đoạn xây dựng và thực hiện cơchế quản lý mới để thúc đẩy phát triểntheo chiều sâu (có thể lấy mốc từ 1995đến nay)
3.2.1 Về chính sách:
Chính phủ đã ban hành nhiều
Trang 6chính sách mới:
- Năm 1995 Chính phủ ban hành
Nghị định số 01/CP về giao khoán đất
nông, lâm nghiệp, vườn cây, đàn gia súc,
mặt nước nuôi thủy sản cho người lao
động trong các nông-lâm trường quốc
doanh;
- Năm 1996 Quốc hội ban hành
Luật Hợp tác xã, đến năm 2003 Luật này
được sửa đổi bổ sung, theo các nguyên
tắc của Liên minh hợp tác xã thế giới;
- Năm 2000 Ban chấp hành Trung
ương Đảng ban hành Nghị quyết 09 đề
ra các nội dung chính sách mở rộng thị
trường;
- Năm 2000 Luật doanh nghiệp do
Quốc hội ban hành có hiệu lực, thống nhất
2 Luật: Luật doanh nghiệp nhà nước và
Luật công ty, doanh nghiệp tư nhân;
- Năm 2003 Quốc hội ban hành
Luật đầu tư: Thống nhất Luật đầu tư
trong nước và Luật đầu tư nước ngoài;
- Năm 2002 Thủ tưởng chính phủ
ra Quyết định 80/QĐ-TTg khuyến khích
tiêu thụ nông sản theo hợp đồng kinh tế
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX năm 2001 đề ra nhiệm vụ đẩy nhanh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn, thể hiện cụ thể ở
Nghị quyết Trung ương 5 khóa 9;
- Năm 2004 Chính phủ ban hành 2
Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và
200/2004/NĐ-CP về đổi mới cơ chế quản
lý nông trường, lâm trường quốc doanh;
- Đặc biệt, năm 2005 Chính phủ
ban hành Nghị định số 135/2005/NĐ-CP
về hoàn thiện các hình thức khoán trong
doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước,
thay thế nghị định 01/CP năm 1995.Nghị định 01/CP năm 1995 và Nghị định135/2005/NĐ-CP đã tái lập trang trại giađình trong lòng các doanh nghiệp nôngnghiệp nhà nước Các doanh nghiệpnông nghiệp nhà nước chuyển sang làmdịch vụ đầu vào-đầu ra cho các trang trạigia đình
- Người lao động trong lâm trường quốc doanh được giao khoántoàn bộ việc kiểm soát quá trình sinh họccủa cây trồng-vật nuôi, họ chủ động đầu
nông-tư thêm tiền vốn và sức lao động để tăngnăng suất và chất lượng sản phẩm; Lợiích của người nhận khoán phụ thuộc trựctiếp vào kết quả, hiệu quả cuối cùng củaquá trình sản xuất nông nghiệp mangtính sinh học
- Năm 1996 Quốc hội ban hànhLuật HTX: HTX trong nông nghiệp, từchỗ tổ chức sản xuất tập thể chuyển sanglàm dịch vụ phục vụ sản xuất Khôngcòn tình trạng “đánh trống ghi tên” trong
tổ chức lao động ở các HTX nôngnghiệp như trước đây Xã viên hoàn toànchủ động sản xuất trên mảnh ruộngthuộc quyền sử dụng của mình và muavật tư, dịch vụ của HTX dựa trên quan
hệ thị trường, tự nguyện, bình đẳng Lợiích của hộ xã viên trực tiếp phụ thuộcvào kết quả và hiệu quả cuối cùng củaquá trình sản xuất nông nghiệp mangtính sinh học;
- Luật doanh nghiệp đã có hiệu lực
từ năm 2000 thừa nhận và tôn trọng quyền
tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp nhànước, hợp tác xã, hộ cá thể, doanh nghiệpdân doanh Nền kinh tế dựa trên chế độ đa
sở hữu với nhiều loại hình doanh nghiệp:
Trang 7Doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Các
doanh nghiệp được đối xử bình đẳng trước
pháp luật và được kinh doanh những gì
mà pháp luật không cấm, chứ không phải
luật pháp cho phép;
- Chính sách mở rộng thị trường
và tạo điều kiện sử dụng rộng rãi quan
hệ hàng hóa-tiền tệ và tự do hóa thương
mại nên đã chấm dứt tình trạng khan
hiếm vật tư, máy móc, xăng dầu trên thị
trường; người nông dân cũng như doanh
nghiệp, hợp tác xã có nhiều lựa chọn
trong việc mua các nguồn lực đầu vào
phục vụ sản xuất cũng như có quyền bán
sản phẩm làm ra theo mức giá thỏa thuận
trên thị trường;
Như vậy Việt Nam đã xây dựng
và đang từng bước hoàn chỉnh cơ chếquản lý kinh tế thị trường nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa đónnhận đầu tư nước ngoài
3.2.2 Những kết quả đạt được và hạn chế:
- GDP toàn ngành nông nghiệp đãgiảm từ hơn 50% xuống còn trên dưới20% vào năm 2010, nhưng giá trị sảnphẩm nông nghiệp đã tăng trên 5 lần; tốc
độ tăng trưởng cao, luôn giữ ở mức từ 4đến 5%/năm trong suốt hơn hai thập kỷqua, mặc dù toàn nền kinh tế bị ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng tài chính Đông Ánăm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu năm 2008;
Tỷ trọng của nông nghiệp Việt Nam trong tổng GDP
Trang 8Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1988-2005
- Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm
và thủy sản luôn đạt mức tăng trưởng
cao từ 15 đến 20%/năm, từ mức vài tỷ
USD lên trên 12 tỷ USD năm 2010;
Kim ngạch xuất khẩu nông lâm
thuỷ sản tăng nhanh, năm 2004 đạt gần 7
tỷ USD, tăng 48% so với năm 2001 và
đến năm 2010 đạt khoảng 12 tỷ USD
Những mặt hàng có giá trị xuất khẩu như
gạo, hồ tiêu, cà phê, cao su, đồ gỗ chế
biến không ngừng được nâng cao chất
lượng
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
-nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng
dần tỷ trọng dịch vụ và chăn nuôi, thủy
sản Công nghiệp chế biến nông lâm sản
phát triển với tốc độ trung bình 12 -14%/
năm, tập trung vào chế biến rau quả, chế
biến gỗ Ngành nghề nông thôn tăngtrưởng bình quân 15%/năm Hiện cảnước có khoảng gần 3000 làng nghề vớikhoảng 1,4 triệu cơ sở, thu hút trên 10triệu người lao động, góp phần quantrọng giải quyết việc làm trong khu vựcnông thôn
Tuy nhiên, nhược điểm của thời
kỳ này là tăng trưởng sản xuất chủ yếuvẫn theo chiều rộng, chi phí sản xuất còncao, hiệu quả sản xuất thấp, kém bềnvững và sản xuất nông nghiệp vẫn dựavào khai thác tài nguyên, xuất khẩu sảnphẩm thô
Điều kiện để thiết lập và vận hành cơ chế quản lý thúc đẩy phát triển: Lòng
dũng cảm đổi mới tư duy và trí tuệ đểthiết lập và vận hành cơ chế quản lý kinh
Trang 9tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và để thực hiện lộ trình đổi mới
hợp lý, không gây đổ vỡ và tránh gây
“shock”
4 Bài học chung về đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế.
- Thừa nhận và tôn trọng các quy
luật vận hành nền kinh tế hàng hóa Có
thể nói đây là sự đổi mới tư duy ở tầm vĩ
mô, có tính chất quyết định tạo tiền đề
cho phát triển kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần Chỉ có thừa nhận và tôn
trọng các quy luật kinh tế khách quan
mới giúp tạo động lực cho các chủ thể
kinh tế thực sự quan tâm đến hiệu quả
kinh doanh Còn nếu ngược lại, không
phải các quy luật khách quan ấy không
tồn tại mà nó vẫn hoạt động nhưng với
tính cách là sự trừng phạt của tạo hóa đối
với xã hội và con người;
- Tự do hóa thương mại theo lộ
trình hợp lý Nhà nước xóa bỏ “ngắn
sông cấm chợ”, tạo điều kiện để việc lưu
thông hàng hóa trên thị trường hoàn toàn
tự do là yếu tố quan trọng nhất để doanh
nghiệp, HTX và mọi thành phần kinh tế
khác lựa chọn sản phẩm sản xuất theo
nhu cầu của thị trường Tự do hóa
thương mại cũng là yếu tố quan trọng
giúp xóa bỏ sự tồn tại của thị trường chợ
đen-vấn nạn gây đau đầu các nhà quản lý
dưới thời kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan liêu, bao cấp;
- Từ mở rộng đến tôn trọng quyền
tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp và
người dân: “Kinh doanh bất cứ cái gì mà
luật pháp không cấm, chứ không phải là
những gì luật pháp cho phép” Điều đó
đã tạo điều kiện để mỗi chủ thể kinh tế
phát huy sáng tạo, tăng năng suất và hiệuquả sản xuất - kinh doanh
- Cạnh tranh là động lực thúc
đẩy phát triển Chấp nhận cạnh tranh
đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều đơn vịkinh tế làm ăn phát đạt và nhiều đơn vịkhác thua lỗ, thậm chí phá sản Có thểnói quy luật cạnh tranh là động lực chính
để tất cả các chủ thể kinh tế phải tự hoànthiện mình thông qua việc đổi mới quản
lý, công nghệ để nâng cao chất lượng, hạgiá thành hàng hóa vật phẩm, dịch vụ,nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển;
- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức và cơ chế quản lý kinh tế Đây có
thể xem là giải pháp cơ bản giúp thu hútđầu tư của mọi thành phần trong xã hội
để phát triển kinh tế;
- Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc
tế Trong suốt thời kỳ bao cấp, Việt Nam
đã bị tụt hậu quá xa so với thế giới Chính
vì thế, việc hội nhập trở lại là điều kiệnquan trọng nhằm thu hút 2 nguồn lực quantrọng là tài chính và tiến bộ kỹ thuật cũngnhư quản lý từ các nước phát triển Việchội nhập và mở cửa nền kinh tế đã giúpViệt Nam có được vị thế mới trên trườngquốc tế, mở rộng được thị trường xuấtkhẩu, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa;
- Nhà nước chỉ quản lý hành chính-kinh tế, không trực tiếp kinh doanh; khuôn khổ pháp luật là điều kiện tiên quyết để các loại hình doanh nghiệp vừa phát huy tự chủ, sáng tạo, kinh doanh đạt hiệu quả cao, vừa vì mục tiêu của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
“dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” Kiên định với
định hướng xã hội chủ nghĩa không có
Trang 10nghĩa là nhà nước phải chỉ huy và can
thiệp sâu vào toàn bộ nền kinh tế Nhà
nước chỉ tập trung làm tốt việc quản lý
kinh tế vĩ mô, gián tiếp tác động vào các
hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh
tế bằng các chính sách kinh tế vĩ mô Hoạt
động kinh doanh thuộc chức năng của các
chủ thể kinh tế Điều này buộc doanh
nghiệp và người dân tự chủ, tự chịu trách
nhiệm với các quyết định của mình, đồng
thời bộ máy quản lý nhà nước các cấp
cũng được tinh giản đáng kể so với trước;
- Phát triển hài hòa kinh tế - xã
hội, con người và bảo vệ môi trường.
Kinh nghiệm các nước trên thế giới cho
thấy tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ
gây áp lực lớn đến môi trường sinh thái
tự nhiên và xã hội Việc nhà nước định
hướng phát triển kinh tế song song với
thực hiện các mục tiêu xã hội và môi
trường là điều kiện quan trọng giúp cho
sự phát triển bền vững
5 Bài học đổi mới quản lý trong nông
nghiệp.
Việc thực hiện đổi mới quản lý
nông nghiệp thành công ở Việt Nam đã
tạo tiền đề cho đổi mới quản lý các
ngành kinh tế khác Từ thực tế đổi mới
quản lý nông nghiệp ở Việt Nam, có thể
rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Lựa chọn loại hình tổ chức và
cơ chế quản lý sản xuất nông nghiệp phù
hợp với đặc điểm sản xuất mang tính
sinh học Đối tượng sản xuất là sinh vật
(cây, con), cần có sự kiểm soát, chăm
sóc một cách tỷ mỷ, đúng lúc và đúng
cách ở từng khâu và toàn bộ quá trình
sản xuất mang tính sinh học trên đồng
ruộng, chuồng trại Muốn làm được điều
đó, quy mô sản xuất phải phù hợp vớitầm hạn (khả năng) quản lý của người cótrách nhiệm cuối cùng Mặt khác, đểkiểm soát tốt quá trình sản xuất sinh học,người lao động phải có trách nhiệm cao.Muốn vậy, thu nhập của mỗi người laođộng phải hoàn toàn phụ thuộc trực tiếpvào hiệu quả cuối cùng của quá trình sảnxuất;
- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất-kinh doanh và cơ chế quản lý trong nông nghiệp Quá trình đổi
mới quản lý đã hình thành và phát triển
đa dạng các loại hình tổ chức và cơ chếquản lý sản xuất kinh doanh trong nôngnghiệp Mỗi loại hình có những ưu -nhược điểm khác nhau:
+ Hộ nông dân hay trang trại giađình (farm household) là lực lượng sảnxuất chủ yếu Bởi vì, các trang trại giađình có ưu điểm sau: Quy mô phù hợpvới khả năng quản lý của người chủ vànhững người lao động khác trong hộ giađình; Thu nhập của nông hộ phụ thuộctrực tiếp vào năng suất, chất lượng, giáthành sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi Vìvậy, trang trại gia đình có thể kiểm soátchặt chẽ, chăm sóc đúng lúc, đúng cáchtrong tất cả các khâu của quá trình sảnxuất mang tính sinh học trên đồng ruộng,chuồng trại Mặt khác, nó cũng có nhữngnhược điểm: Quy mô nhỏ nên khó cơgiới hóa và thực hiện GAP; sản phẩmhàng hóa ít nên không có nhu cầu gắntrang trại với HTX, với doanh nghiệpchế biến nông sản Trang trại gia đìnhkhông thể giải quyết 3 vấn đề quantrọng: Thị trường, Công nghệ và Vốn
Trang 11+ Trang trại do 1 cá nhân làm chủ
sở hữu (sole farm) có quy mô vừa, nên
không cần thiết lập cấp quản lý trung gian,
là lực lượng quan trọng thứ 2 Ưu điểm
của loại hình này là: Có quy mô hợp lý,
trách nhiệm cao, nên chủ trang trại có thể
kiểm soát được toàn bộ các khâu của quá
trình sản xuất sinh học Nhược điểm là:
Không tự giải quyết được 3 vấn đề: Thị
trường, Công nghệ, Vốn
+ Trang trại quy mô lớn (thuộc các
loại chế độ sở hữu khác nhau: Doanh
nghiệp nhà nước, HTX và doanh nghiệp
tư nhân) Ưu điểm của loại hình này là có
thể giải quyết 3 vấn đề Thị trường, Công
nghệ sản xuất theo GAP và Vốn Tuy
nhiên, nhược điểm của nó là không thể
kiểm soát được quá trình sản xuất sinh
học Do vậy, cần khoán hộ để tái lập
trang trại gia đình trong lòng doanh
nghiệp lớn, tạo ra trang trại dự phần
(affliated farm) đảm trách các khâu của
quá trình sản xuất mang tính sinh học;
doanh nghiệp, HTX chuyển sang kinh
doanh dịch vụ cung ứng nguồn lực (đầu
vào) - chế biến và tiêu thụ sản phẩm (đầu
ra) Mô hình quản lý này vừa phát huy ưu
điểm của trang trại gia đình và doanh
nghiệp quy mô lớn, vừa khắc phục được
các nhược điểm của chúng
+ Sản xuất theo hợp đồng
(contract farming) là hình thức liên kết
chủ yếu trong chuỗi giá trị sản xuất nông
nghiệp “Từ trang trại đến bàn ăn” hay
“Từ lưỡi cày đến cái đĩa”, trên cơ sở
thương mại hóa triệt để các quan hệ giữa
những chủ thể khác nhau tham gia chuỗi
giá trị (value chain) này
+ Đa dạng hóa sản xuất nôngnghiệp (VAC) trên phạm vi từng đơn vịsản xuất và toàn bộ nền nông nghiệp
III Những vấn đề hiện nay của nông nghiệp Việt Nam và giải pháp phát triển giai đoạn tới.
1 Một số vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu nghiêm túc.
Mặc dù quá trình đổi mới quản lýnông nghiệp Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn nhưng cũng đangbộc lộ một số vấn đề cần phải kịp thờinhìn nhận và có giải pháp phù hợp:
- Chuyển đổi cơ cấu sản xuấtnông nghiệp và kinh tế nông thôn chậm,công nghiệp và dịch vụ còn non kém,nhất là công nghiệp chế biến nông sản vàcông nghiệp cơ khí phục vụ sản xuấtnông nghiệp;
← - Năng lực cạnh tranh của nôngsản thấp, giá thành sản xuất cao, chấtlượng không ổn định và chưa đạt tiêuchuẩn quốc tế; tình trạng mất vệ sinh antoàn thực phẩm khá nghiêm trọng và phổbiến;
← - Sản xuất theo hợp đồng chưađược thực hiện rộng rãi;
← - Phát triển cơ sở hạ tầng chưađáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấukinh tế, nâng cao cuộc sống nhân dân ởnhiều vùng nông thôn, nhất là ở cácvùng miền núi Cơ cấu đầu tư chậmđược điều chỉnh phù hợp với yêu cầuphát triển cơ cấu kinh tế mới
← - Quá trình đổi mới các hình thức
tổ chức sản xuất chuyển biến chậm, hoạtđộng của nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp
Trang 12nhà nước đạt hiệu quả thấp; kinh tế nông
hộ còn nhỏ bé, trang trại cá nhân không
có cấp quản lý trung gian chưa phát
triển;
← - Đời sống một bộ phận nông dân
còn nhiều khó khăn, chênh lệch về thu
nhập và mức sống giữa nông thôn và
thành thị, giữa các vùng chậm được khắc
phục, chênh lệch giàu nghèo lớn, khó
khắc phục Yêu cầu về việc làm ngày
càng bức xúc 20% GDP do nông nghiệp
tạo ra bởi 56% lực lượng lao động xã hội
nhưng hiện đang phải nuôi sống 70%
dân cư nông nghiệp;
← - Tình trạng ô nhiễm môi trường
chưa có giải pháp khắc phục hữu hiệu,
tăng trưởng không bền vững
2 Giải pháp chung.
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường và nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa và xã hội dân chủ;
- Phát triển giáo dục, đào tạo
nguồn nhân lực cho nền kinh tế;
- Tiếp tục xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội
3 Giải pháp trong nông nghiệp.
- Đẩy mạnh đào tạo nông dân
dưới 2 hình thức: khuyến nông và trường
lớp chính quy;
- Tích tụ ruộng đất tạo ra các
trang trại gia đình, trang trại cá nhân có
quy mô lớn hơn để có điều kiện thực
hiện:
+ Cơ giới hóa, tăng năng suất lao
động;
+ Phát triển các hình thức hợp tác
kiểu mới trong nông nghiệp;
+ Thực hiện sản xuất theo hợpđồng và các tiêu chuẩn, quy trình
của Global GAP và Việt GAP
+ Gắn sản xuất nông nghiệp vớicông nghiệp chế biến, tiêu thụ, xây dựngđược thương hiệu cho các loại nông sảnchủ yếu của Việt Nam trên thị trườngtrong và ngoài nước
- Bảo vệ quỹ đất nông nghiệp cóhiệu quả, đặc biệt là quỹ đất sản xuất lúa(cố gắng duy trì 3,8 triệu ha đất);
- Phát triển sản xuất công nghiệp
và dịch vụ ở nông thôn, nhất là côngnghiệp chế biến nông sản, đẩy mạnhxuất khẩu sức lao động nông thôn để giảiquyết vấn đề việc làm;
- Phát triển các HTX kiểu mới;
- Tiếp tục đổi mới doanh nghiệpnông nghiệp nhà nước theo hướng đadạng hóa chủ thể sở hữu;
- Hoàn thiện chính sách, cơ chếquản lý vĩ mô để bảo đảm cạnh tranhbình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp
có vốn nước ngoài, để phát triển bềnvững và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệuquả hơn;
- Phát triển xã hội và con ngườihài hòa với phát triển kinh tế;
- Kiểm soát dân số và và bảo vệmôi trường sinh thái tự nhiên, môitrường nhân văn;
Các giải pháp cụ thể này trongnông nghiệp chỉ có thể thực hiện đượckhi 3 giải pháp chung nêu trên được thựchiện tốt trong toàn bộ nền kinh tế quốcdân và trong toàn ngành nông nghiệp
Trang 13Phần thứ 2
KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở CUBA
I Tiến trình khảo sát.
Trong thời gian từ cuối tháng 12
năm 2010 đến ngày 18 tháng 4 năm
2011 chúng tơi đã tiến hành làm việc,
trao đổi với những người cĩ trách nhiệm
ở các tổ chức sau:
1) Chủ nhiệm hợp phần dự án sản
xuất lúa nhân dân thuộc dự án hợp tác
sản xuất lúa Việt Nam – Cuba giai đoạn
3: Ơng Luis Aleman Mansffar và chủ
nhiệm kỹ thuật dự án hợp tác sản xuất
lúa Việt Nam – Cuba giai đoạn 4: ơng
Jorge Hernandez Concepcion;
2) Tập đồn sản xuất cây cĩ hạt
trực thuộc Bộ Nơng nghiệp: Trao đổi với
các giám đốc sản xuất, hậu cần, cơ khí,
kinh tế và nhân sự;
3) Các CAI và Empresa (doanh
nghiệp) trực thuộc Tập đồn cây cĩ hạt ở
tỉnh Matanzas, Cienfuegos và tỉnh
Granma: Làm việc và trao đổi với Tổng
giám đốc, các giám đốc sản xuất, kinh tế,
nhân sự, hậu cần, cơ khí Tại mỗi đơn vị
này chúng tơi cịn làm việc với một số
đơn vị trực thuộc doanh nghiệp là UEB
và Granja phụ trách sản xuất lúa và cơ
khí;
4) Làm việc và trao đổi với lãnh
đạo của 2 CPA, 2 UBPC và 2 CCS ở 2
tỉnh Matanzas và Granma (3 loại hình
HTX của Cuba hiện nay);
5) Làm việc và trao đổi với 03nơng dân truyền thống, cĩ đất thừa kế,hiện đang là xã viên của CCS; 02 cơngnhân nhận khốn sản xuất lúa và 01 thợ
cơ khí lái máy kéo ở Granja số 10 (mộtdạng UEB) trực thuộc CAI CalisoEcheneque tỉnh Granma;
6) Làm việc và trao đổi với lãnhđạo của Sở nơng nghiệp tỉnh Granma,Phịng nơng nghiệp huyện Yara thuộctỉnh Granma;
7) Làm việc và trao đổi với ơngThứ trưởng Bộ nơng nghiệp và một sốcán bộ lãnh đạo cơ quan tham mưu của
Bộ như Vụ hợp tác quốc tế, Vụ thươngmại, Vụ kế hoạch, Vụ kế tốn, Cục quản
lý các đơn vị cơ sở, Trung tâm quản lýquốc gia về ruộng đất và máy kéo Ngồi ra, chúng tơi cịn làm việc với ơngViện trưởng Viện cây cĩ hạt trực thuộcTập đồn cây cĩ hạt và một trại thựcnghiệm của Viện ở tỉnh Granma
8) Nhĩm chuyên gia Việt Nam vàCuba thảo luận về bài học kinh nghiệmđổi mới quản lý nơng nghiệp Việt Nam,nội dung khuyến nghị thí điểm áp dụngchính sách mới trong sản xuất lúa gạo ởCuba
9) Hội thảo về bài học đổi mớiquản lý trong nơng nghiệp Việt Nam và
Trang 14đề xuất khuyến nghị áp dụng chính sách
mới trong sản xuất lúa gạo ở Cuba
II Một số thu hoạch.
1 Tình hình chung về sản xuất lúa
gạo.
Theo số liệu của Tổng cục thống
kê Cuba năm 2008: Diện tích đất nông
nghiệp rất lớn (6,619 triệu ha), bình quân
7,35ha trên 01 người lao động nông
nghiệp trực tiếp và 5,09ha trên 01 lao
động toàn ngành nông nghiệp Trong
tổng diện tích đất nông nghiệp, có 1,187
triệu ha đất trồng cây hàng năm (Khối
quốc doanh: 294 ngàn ha hay 24,76%;
khối ngoài quốc doanh: 893,2 ngàn ha
hay 75,24%) Riêng diện tích canh táclúa là 176,6 ngàn ha chiếm 14,5% đấtcanh tác hàng năm (Khối quốc doanh có85,3 ngàn ha hay 48,3%; khối nông dân
và HTX: 91,3 ngàn ha hay 51,7% đấtcanh tác lúa) Với diện tích canh tác lúanhư trên, hàng năm Cuba mới đảm bảocung ứng 30 - 35% nhu cầu tiêu dùnggạo của 11 triệu người dân (năm 2008sản xuất được 436 ngàn tấn thóc tươi (độ
ẩm 20%), quy khô là 405,48 ngàn tấnthóc khô (độ ẩm 13%), tương đương259,507 ngàn tấn gạo, đáp ứng khoảng34,6% nhu cầu Riêng năm 2010, Cubaphải dành 1,4 tỷ USD để nhập khẩulương thực - thực phẩm
Diện tích và sản lượng lúa Cuba năm 2010
TH/KH (%)
1.1 Khối quốc doanh 30.604,6 28.549,8 93
1.2 Khối HTX, nông dân 116.056,7 131.028,6 113
2 Tổng sản lượng (tấn gạo) 327.000,0 227.176,4 69
2.1 Khối quốc doanh 77.000,0 40.005,9 52
2.2 Khối HTX, nông dân 250.000,0 187.170,5 75
Nguồn: Bộ Nông nghiệp Cuba
Tiềm năng sản xuất của Cuba còn
rất lớn, vì trong tổng diện tích đất nông
nghiệp 6,619 triệu ha hiện nay, diện tích
không canh tác chiếm tới 3,631 triệu ha
(bằng 54,85% tổng diện tích đất nông
nghiệp), diện tích hoang hóa là 1,232triệu ha (bằng 18,6% tổng diện tích đấtnông nghiệp) Năm 2003, Cuba đã sảnxuất được 715 ngàn tấn thóc tươi (độ ẩm20%), tương đương 664,95 ngàn tấn thóc