1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

188 Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam ở nước ta hiện nay

244 1,2K 13
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Thực Trạng Quản Lý Nhà Nước Về Môi Trường Tại Một Số Tỉnh Phía Nam Ở Nước Ta Hiện Nay
Thể loại Khóa Luận
Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 9,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

188 Khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam ở nước ta hiện nay

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG QUAN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HOC CAP BO

NĂM 2004 - 2005

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MôI TRƯỜNG

TẠI MỘT SỐ TÍNH PHÍA NAM NƯỚC TA HIỆN NAY

Cơ quan chủ trì: HỌC VIỆN CTQG HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYÊN HỮU CÁT

Phó Chủ nhiệm đề tài: TS VƯƠNG CƯỜNG Thư ký khoa học: TS TRẦN MINH TUẤN

5808 41906

Trang 2

lý nhà nước về môi trường

Vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về môi trường trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội nước ta hiện nay Môi trường là đối tượng quản lý của Nhà nước

Nội dung quản lý nhà nước về môi trường

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY TẠI ĐỊA BÀN KHẢO

SÁT

Khái quát tình hình kinh tế - xã hội địa bàn khảo sát

Tỉnh Đồng Tháp Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Tỉnh Bình Dương

Tỉnh Đồng Nai

Thành phố Hồ Chí Minh Tỉnh Cà Mau

Thực trang quản lý nhà nước về môi trường

hiện nay tại các tỉnh, thành khảo sát Mội số thông tin chung

Thực trạng môi trường các tỉnh, thành khảo sát Thực trạng môi trường kinh tế, văn hoá - xã hội Thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường

Trang 3

Khoa học công nghệ lạc hậu

Vai trò của cộng đồng trong việc tham gia

bảo vệ môi trường

Nội dung và hình thức quản lý nhà nước về

môi trường hiện nay

Nội đung về quản lý nhà nước về môi trường _ Hình thức quản lý nhà nước về môi trường

VI Một số thách thức đối với công tác quản lý nhà nước về môi trường hiện nay

Dự báo tình hình môi trường Việt Nam thời gian tới

Môi trường không khí Môi trường nước

Môi trường đất

Suy giảm tính đa dạng sinh học

GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ

Những quan điểm cơ bản về quản lý nhà

nước vé môi trường Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường ở khu vực các tỉnh phía Nam

._ Các giải pháp chung

._ Các giải pháp cụ thể

II Một số khuyến nghị Đối với Đảng và Nhà nước _ Đối với cơ quan Bộ Tài nguyên và Môi trường các cơ quan chuyên môn ở các địa phương Đối với các cấp uỷ dang và chính quyền địa phương các cấp

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHAN MO DAU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác bảo

vệ môi trường, coi đây là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các

cấp, các ngành; là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bên vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Yêu

cầu này xuất phát từ nhu cầu cấp bách về bảo vệ môi trường như là một điều kiện cần thiết cho sự phát triển bên vững nói chung và cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong

tâm nhìn đến năm 2020

Thực hiện chủ trương đó của Đảng, trong những năm vừa qua, đặc biệt

là từ những năm đầu thập niên 90 trở lại đây, công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước đã được xúc tiến một cách mạnh mẽ Cùng với đó, nhiêu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ở

các địa phương đã được xây dung và phê duyệt Trong các quy hoạch tổng

thể đó, những vấn đề về tài nguyên môi trường đã được đề cập đến và nhiều

giải pháp bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên đã được đưa vào thành nội dung, chương trình hành động

Công tác bảo vệ môi trường ở nước (ta trong thời gian vừa qua đã đạt được những kết quả quan trọng Nhiều chính sách, văn bản pháp luật về bảo

vệ môi trường đã được ban hành như Luật Bảo vệ môi trường (1993); Nghị định 175/CP về "Hướng dẫn thị hành Luật Bảo vệ môi trường"; Nghị định 26/CP về "Xứ phạt hành chính các vì phạm về bdo vệ môi trường” Năm

1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 36-CT/TW về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị

quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương và ở các bộ, ngành đã được hình thành, ngày càng được tăng cường và đi vào hoạt động có nề nếp Chính phủ

Trang 5

2

đang từng bước xây đựng và hoàn thiện một hệ thống các thể chế nhằm đảm

bảo cho công tác bảo vệ môi trường được chú trọng ở mọi lúc, mọi nơi, từ ý nghĩ đến hành động Ý thức trách nhiệm về bảo vệ môi trường của các cơ

quan nhà nước, các tổ chức đoàn thể, tư nhân, doanh nghiệp và cộng đồng

ngày càng được nâng cao Việt Nam đã có vai trò quan trọng trong hội nhập quốc tế về bảo vệ môi trường, tham gia hầu hết các công ước và hiệp định quốc tế về bảo vệ mới trường Việc thực hiện tốt kế hoạch quốc gia đó đã góp phần ngăn chặn ô nhiễm, giảm bớt tình trạng suy thoái môi trường và sự

cố môi trường

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ, tình hình môi

trường ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại Cùng với đà tăng trường kinh tế, môi trường đô thị, khu công nghiệp tập trung và một số vùng nông thôn đang bị ô nhiễm ngày càng nặng Nếu không được phòng ngừa và ngăn

chặn kịp thời, có thể gây tác hại nghiêm trọng tới sức khoẻ nhân dân, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và sự phát triển bển vững của đất nước

Sở đĩ có tình trạng trên là do tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân quan trọng là thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường, đặc biệt là ở các địa phương Điều này được thể hiện ở chỗ: trong các quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố tài nguyên môi

trường chưa được phát hiện và đánh giá một cách toàn diện trên cơ sở phát triển bền vững; chưa được trình bày theo một trình tự thống nhất, thậm chí một số vấn đề còn bị bỏ sót; chưa có một hệ thống tiêu thức có thể đánh giá đúng về mức độ tiến bộ trong bảo đảm phát triển bền vững; chưa gắn việc xử lý các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường ngay từ đầu

mà còn mang tính tách biệt; thiếu các biện pháp và chế tài xử lý vi phạm

về môi trường Hệ thống tổ chức quản lý môi trường còn mỏng, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao Công tác quản lý nhà nước về môi trường chưa được tiến hành chặt ché va thường xuyên Việc xây dựng năng lực cán bộ về kế hoạch quản lý môi trường tuy đã được chú ý, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Thêm vào đó, phong trào quần

Trang 6

chúng rộng rãi để hỗ trợ cho các giải pháp, kế hoạch của cơ quan quản lý cũng chưa được chú trọng nhiều

Chính vì vậy, việc xây dựng đề tài nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về môi trường ở một số tỉnh phía Nam nước ta là

vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết Một mặt, đề tài sẽ giúp cho việc tìm hiểu, làm rõ hơn chủ trương, đường lối của Đảng; các chính

sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường, xác định những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng những cơ chế chính sách đó tại các địa phương với những đặc thù khác nhau Mặt khác, thông qua việc đánh giá ưu khuyết điểm của công tác quản lý nhà nước về môi trường tại các địa bàn khảo sát, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trong thời gian tới, hỗ trợ thiết thực cho hoạt động quản lý môi trường của trung ương và các địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về môi trường trong tình hình mới

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong hoạt động quản lý môi trường từ nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu này đều có chung một số kết luận về những hạn chế của nhà nước trong quản lý môi trường như không có đủ kinh phí, đội ngũ các nhà quản lý chưa có đủ kiến thức chuyên môn, thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động quản lý như thanh tra, kiểm soát, giám sát môi trường

Thời gian gần đây, đã xuất hiện một số các nghiên cứu về vai trò của các tác nhân xã hội mới, đó là thị trường, cộng đồng đân cư và các

tổ chức xã hội Các nghiên cứu này cho rằng, bên cạnh nhà nước với vai trò quản lý môi trường theo các quy định của pháp luật đã ban hành, thị trường và cộng đồng, tổ chức xã hội cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng với tư cách là những người quản lý môi trường không chính thức

Ở Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề môi trường

Trang 7

Hiện nay, do nhận thức được tính cần thiết, đã có một số dự án hợp tác với nước ngoài nhằm nghiên cứu về vấn để này, ví dụ như Dự án SEMA về "Tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường" Trọng tâm của chương trình là tăng cường năng lực, thể chế

về quản lý môi trường tại Việt Nam, cũng như nâng cao nhận thức về môi trường và sự tham gia của các bên liên quan vào quản lý và bảo vệ môi

trường với mục tiêu chính và dài hạn là nhằm thúc đẩy sự phát triển bền

vững ở Việt Nam thông qua bảo vệ và quản lý có hiệu quả đối với môi trường và tài nguyên Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu mới dừng lại

ở việc tái hiện lại thực trạng môi trường ở một số địa phương và vùng trọng điểm; nâng cao năng lực quản lý môi trường nói chung Điều này

do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân quan trọng là cơ quan quản lý môi trường ở cấp quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường)

và ở các địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc các Phòng Quản

lý môi trường thuộc Sở Khoa học và Công nghệ) mới được thành lập (2002) hoặc đang trong quá trình sát nhập nên chưa có nhiều thời gian dành cho việc nghiên cứu, xây dựng cơ chế và nội dung quản lý Nhà nước

về môi trường

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam nước ta

3.2 Kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý

Nhà nước về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý.

Trang 8

4.1 Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam nước ta: các thành tựu, khó khăn, bài học kinh nghiệm

4.2 Xác định các nguyên nhân chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến

công tác quản lý Nhà nước về môi trường

4.3 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà

nước về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý

Những nội dung chính sẽ được thực hiện trong đề tài:

1 Lầm rõ cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về môi trường:

- Hệ thống khái niệm: môi trường; quản lý Nhà nước; quản lý Nhà nước về môi trường

- Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

chủ trương, đường lối của Đảng ta về công tác quản lý Nhà nước về môi trường

- Các chính sách, pháp luật và văn bản đưới luật của Quốc hội, Chính phủ đối với quản lý Nhà nước về môi trường

2 Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam nước ta:

- Tình hình kinh tế - xã hội địa bàn khảo sát

- Đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về môi trường tại một số tỉnh phía Nam Các thành tựu đạt được, các khó khăn, hạn chế, bài học kinh

nghiệm quản lý Nhà nước về môi trường

- Xác định các nguyên nhân chủ yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý Nhà nước về môi trường

- Dự báo về môi trường và những thách thức trong quản lý Nhà nước

về môi trường trong thời gian tới

3 Kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về môi trường cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý

- Quan điểm chung.

Trang 9

- Giải pháp trước mắt

- Giải pháp lâu dài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để có được những nhận định, đánh giá, để xuất những kiến nghị mang tính khách quan, chính xác, Ban chủ nhiệm đề tài đứng trên quan

điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta,

đồng thời sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp, phương pháp nghiên cứu xã hội học, cụ

thể là phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu

định tính

Nghiên cứu định lượng: đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu

ngẫu nhiên đơn giản (random sampling) để đảm bảo tính khách quan giữa các nhóm đối tượng trong mẫu nghiên cứu Các địa bàn nghiên cứu được lựa chọn đảm bảo tính đại diện và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của

đề tài

Nghiên cứu định tính: bên cạnh các câu hỏi đóng, các bảng hỏi được thiết kế bao gồm một số câu hỏi mở mang tính chất khám phá các vấn đề còn nhiều ẩn số và các vấn để mới Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng phục vụ cho việc thu thập các thông tin phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau như phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn lãnh đạo, phỏng vấn các cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý về môi trường, phỏng vấn người dân Các kỹ thuật nghiên cứu định tính phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung, phương pháp chuyên gia, nghiên cứu hồi cố, thu thập tài liệu cũng được sử dụng trong đề tài

Phương pháp xử lý thông tin: Kết quả thu thập thông tin được xử

lý bằng chương trình phần mềm SPSS 10.9 và chương trình hỗ trợ Epi6

6 Địa bàn khảo sát

- Tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh

- Tỉnh Đồng Nai

- Tỉnh Bình Dương

Trang 10

- Tỉnh Đồng Tháp

- Cà Mau

Cỡ mẫu:

- Cỡ mẫu khảo sát định lượng của 6 tỉnh được chọn là 1.000 phiếu hỏi

- Phỏng vấn sâu 30 mẫu, bao gồm: phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan, ban ngành địa phương, cán bộ quản lý môi trường và người dân tại địa bàn khảo sát

- Thảo luận nhóm gồm I8 nhóm lãnh đạo, cán bộ và người dân tại địa bàn (mỗi nhóm từ 10 - 15 người)

Trang 11

8

Phần thứ nhất

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1 Khái niệm môi trường, quản lý nhà nước về môi trường

1.1 Khái niêm môi trường

"Môi trường” là khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt là sau hội nghị Stockhom về môi trường năm1972

- Định nghĩa của S.V Kalenski (1959,1970): Môi trường chỉ là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người Định nghĩa này về môi trường là muốn nói đến môi trường địa lý

- Định nghĩa của I.P Gheraximou (1972): Môi trường là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng tư của con người, trong đó môi trường

tự nhiên là cơ sở cho sự cần thiết cho sự tồn tại của nhân loại

- Báo cáo toàn cầu công bố năm 1982 đã nêu ra định nghĩa sau đây:

"Môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh con người mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽ đến mức mà

sự phân biệt giữa cá thể con người với môi trường bị xoá nhoà đi"

- Trong cuốn "Địa lý hiện tại và tương lai, hiểu biết về quả đất hành tinh của chúng ta" Magnard P (1980) đã nêu khái niệm về môi trường là:

"môi trường là tổng hợp, ở một thời điểm nhất định - các trạng huống vật

lý - hoá học sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp tức là theo thời kỳ ngắn hạn hay dài hạn đối với các sinh vật hay hoạt động của con người”

- Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981: "Môi trường là toàn

bộ hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tao ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai

Trang 12

của con người”

R G Shama 1988 da dua ra định nghĩa về môi trường như sau:

"môi trường là tất cả những gì xung quanh con người"

Theo Luật bảo vệ môi trường của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 27/12/1993:

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất, nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên"

Ngoài ra dưới nhiều góc độ khác nhau người ta còn có thể đưa ra những khái niệm môi trường như sau:

- Môi trường của một vật thể, hoặc một sự kiện là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó

- Môi trường là những yếu tố liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội và đời sống của con người

- Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh

vật Bất cứ một vật thể nào, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến

trong một môi trường

- Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới

sự sống và phát triển của các cơ thể

- Môi trường sống của con người - môi trường nhân văn: là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, kinh tế, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của từng cá nhân và của những cộng đồng con người Môi trường sống của con người là cả vũ trụ bao la, trong đó có hệ mặt trời và trái đất là bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt nhất Trong môi trường sống này luôn tồn tại sự tương tác giữa các thành phần vô sinh

và hữu sinh

Môi trường luôn chịu sự tác động của con người theo một trong hai chiều, có thể là tiêu cực, có thể là tích cực Con người sử dụng các tài

Trang 13

10 nguyên thiên nhiên phục vụ cho lợi ích của mình nhưng con người cũng

có những tác động, gây ra những hậu quả tiêu cực cho môi trường; các hoạt động công nghiệp hoá, phát triển kinh tế đã gây ra những hậu quả suy thoái môi trường một cách trầm trọng, làm cho tài nguyên môi trường

ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm nặng nề

Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong

một môi trường Nói đến môi trường tức là nói tới môi trường của một vật thể, một sự kiện nhất định Khái niệm chung như vậy về môi trường được

cụ thể hoá đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu

Trong nghiên cứu về các cơ thể sống người ta quan tâm tới “Môi trường sống”, đó là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự

sống và phát triển của các cơ thể này Trong một số tài liệu ở nước ta có lúc

sử dụng thuật ngữ môi sinh (living environment) để chỉ môi trường sống

Đối với con người thì môi trường quan trọng nhất là “Môi trường sống của người”, đó là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học,

xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người Đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường nêu trong tài liệu này chính là môi trường sống của con người Thuật ngữ “môi trường” thường được dùng mội cách phổ biến để nói

“môi trường sống của con người”

Các định nghĩa nêu trên tuy có khác nhau về quy mô, giới hạn và thành phần của môi trường, nhưng đều thống nhất ở bản chất hệ thống của môi trường và mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Các bản chất

đổi chất - năng lượng và thông tin Vì vậy một sự thay đổi di là rất nhỏ

của phần tử cơ cấu của hệ môi trường đều gây ra phản ứng dây chuyền trong toàn bộ hệ thống

Trang 14

- Tính động: Hệ môi trường không phải là một hệ tính mà luôn luôn thay đổi trong cấu trúc của nó Vì vậy, cân bằng động là đặc tính cơ bản của môi trường với tư cách là một hệ thống Đặc tính đó cần được tính đến trong hoạt động tư duy và trong tổ chức thực hiện của con người

- Tính mở: Môi trường dù quy mô nhỏ thế nào cũng là một hệ thống

mở Các dòng vật chất, năng lượng, thông tin luôn luôn chảy trong không

gian và theo thời gian từ trạng thái này sang trạng thái khác Vì vậy các vấn đề môi trường thường mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài cần

được giải quyết bằng nỗ lực của cộng đồng

- Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh: Trong hệ môi trường, có các phần tử cơ cấu là các vật thể sống (con người, sinh vật) hoặc các sản phẩm của chúng Các phần tử này có khả năng tổ chức các hoạt động của mình

và tự điều chỉnh để thích ứng với những thay đối của bên ngoài

1.2 Khái niệm quản lý môi trường

Quản lý môi trường là một nội dung quản lý hành chính của nhà nước Quản lý môi trường là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở

khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường

“Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người hướng tới phát

triển bền vững và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên”),

1.3 Các nguyên tắc của quản lý môi trường:

Tiêu chí chung của quản lý môi trường là đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần gìn giữ môi trường chung của loài người trên Trái đất Quản lý môi trường gồm các nguyên tắc chính yếu sau:

a) Hướng tới sự phát triển bền vững

b) Kết hợp các mục tiêu quốc gia - quốc tế - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường

(1) TS Lưu Đức Hải-TS Nguyễn Ngọc Sinh Quản lý môi trường cho sự phát triển bên vững

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2001, tr 1§6.

Trang 15

12 c) Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và

thích hợp

đ) Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý, phục hồi chất lượng môi trường nếu để xảy ra sự cố, 6 nhiễm môi trường

e) Người gây ô nhiễm phải trả tiền: người nào gây 6 nhiễm, tổn hại đến môi trường phải trả kinh phí cho công tác phục hồi chất lượng môi trường

1.4 Mục tiêu cơ bản và mục tiêu cụ thể của quản lý môi trường: 4) Mục tiêu cơ bản:

Mục tiêu cơ bản của quản lý môi trường là hướng tới sự phát triển bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo

vệ môi trường Tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng địa phương mà mục tiêu quản lý môi trường có sự thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng

Mục tiêu cơ bản của bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị, nông thôn, góp phần phái triển kinh tế - xã hội bên vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

Trang 16

* Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được

thông qua tại Hội nghị Môi trường do Liên hợp quốc tổ chức vào năm

1992 tai Rio - de Zaneiro (Braxin)

* Xây đựng các công cụ hữu hiệu về quan lý môi trường quốc gia,

các vùng lãnh thổ riêng biệt

1.5 Khái niêm quản lý nhà nước về môi trường

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triển như vũ bão cùng với những tiến bộ kinh tế xã hội đã cải thiện đời sống con người trên thế giới, nhưng cũng chính vì thế mà tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, ô nhiêm môi trường ngày một trầm trọng, đòi hỏi con người

phải tìm ra phương thức phát triển mới, phải "phát triển bên vững”

Khái niệm “phát triển bên vững” xuất hiện từ những năm 1970 trong phong trào bảo vệ môi trường trên toàn thế giới Theo báo cáo “T- ương lai chung của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát

triển thì “phái triển bên vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu

cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của

các thế hệ mại sau”? Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển (Rio de Janeiro - Braxin, 1992) và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (Iohannesburg - Nam Phi, 2002) cũng xác định phát triển bển vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà ba mục tiêu phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường Đó chính là sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế, ổn định,

công bằng xã hội và tài nguyên thiên nhiên được bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý, môi trường sống của con người ngày càng được nâng cao

Có thể dễ đàng nhận thấy rằng, phát triển bền vững chỉ có thể thực

hiện được khi có sự quản lý nhà nước một cách chặt chẽ, hiệu quả Quản

lý nhà nước về môi trường đang được rất nhiều các quốc gia quan tâm, cho dù quốc gia đó là quốc gia phát triển hay đang phát triển Quản lý nhà

nước về môi trường có thể được hiểu như sau: “Quản lý Nhà nước về nôi

? Định hướng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam)

Trang 17

14 trường là quá trình Nhà nước bằng cách thức, công cụ và phương tiện khác nhau tác động lên các hoạt động của con người làm hài hoà mối quan hệ giữa môi trường và phát triển sao cho thoả mãn nhu cầu về mọi mặt của con người, đồng thời đảm bảo chất lượng của môi trường

sống”

Các công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi một công cụ có chức năng nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Quản lý môi trường đòi hỏi phải phối hợp các loại công cụ nhằm đạt được một cách hiệu quả nhất công tác bảo vệ môi trường

Các loại công cụ quản lý môi trường

- Phân loại theo chức năng: Công cụ điều chỉnh vĩ mô (các chính sách, luật pháp liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường) Công cụ hành động (các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế - xã hội như các quy định hành chính, quy định xử phạt Công cụ hành động là biện pháp quan trọng nhất của tổ chức môi trường trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường); Công cụ hỗ trợ (các công cụ được đưa ra để quan sát, giám sát chất lượng môi trường, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, công

cụ hỗ trợ có tác dụng hỗ trợ và hoàn chỉnh hai loại công cụ trên)

- Phân loại theo bản chất: Công cụ luật pháp chính sách: Bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các

kế hoạch, chính sách môi trường quốc gia, của các ngành, địa phương

- Công cụ kỹ thuật quản lý: Các công cụ này thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bổ chất ô nhiễm trong môi trường Loại công cụ này bao gồm: đánh giá tác động môi trường, quan trắc môi trường, tái chế và

? Nghị định 149/2004/NĐ-CP qui định vẻ việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài

nguyên nước, xả nước thải và nguồn nước, tr 23.

Trang 18

xử lý chất thải Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành

công trong bất kỳ nên kinh tế phát triển nào

- Công cụ kinh tế“ gôm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền của các hoạt động sản xuất, kinh doanh Các công cụ kinh tế được áp dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế để tổ chức đó đưa ra các hành vi ứng xử có lợi, hoặc ít nhất là không gây hại tới môi trường

Một số thuật ngữ liên quan đến công tác quản lý môi trường

- Ô nhiễm môi trường: Là sự làm thay đổi tính chất môi trường (bởi các chất gây ô nhiễm môi trường) vi phạm các tiêu chuẩn của môi trường

- Suy thoái môi trường: Đó là những sự làm thay đổi chất lượng

thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới đời sống con người và thiên nhiên

- Sự cố môi trường: Là những tai biến rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc những biến đổi bất thường gây suy thoái môi trường như:

+ Bão, lũ lụt, hận hán, nứt đất, động đất, sụt nở đất, núi lửa, mưa a- xít, mưa đá và các biến động thiên tai khác

+ Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây huy hại về môi trường của cơ sở sản xuất và kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng

+ Sự cố trong tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển khoáng sản, đầu khí, sập hâm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu,

dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở hoá học, lọc hoá đầu và các cơ sở

công nghiệp khác

+ Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất và tái chế nguyên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ

- Hệ sinh thái: là tổng thể những mối tác động qua lại giữa nước,

không khí, đất (môi trường vô sinh) và những cơ thể sống (môi trường sinh học)

Trang 19

16

- Bảo vệ môi trường: là tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc

phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí ) nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít hoặc không có phế liệu nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống con người

- Đánh giá tác động môi trường - ĐTM: (Enviromental Tmpact Assesment - EIA): Là quá trình nghiên cứu để dự báo các hậu quả đối với môi trường của các công trình hay dự án phát triển để xuất phương thức làm giảm các hậu quả tiêu cực nhằm giúp việc ra quyết định xây dựng công trình hoặc dự án phát triển phù hợp nhất với môi trường bản địa Đánh giá tác động môi trường hết sức phức tạp do phải dự báo những điều chưa xảy ra, đồng thời phải tham gia vào quá trình quyết định với khu sản xuất; quá trình hình thành và hoàn thiện môi trường rất phức tạp Luật Bảo vệ môi trường của tất câ các nước đều bắt buộc tiến hành Đánh giá

tác động môi trường đối với tất cả các công trình, dự án phát triển kinh tế

Xã hội

2 Quan điểm C.Mác-Ph.Ăngghen, tư tưởng Hồ Chí Minh và

quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý Nhà nước về môi trường

2.1 Quan điểm C.Mác - Ph.Ăngghen

Theo quan điểm của Mác thì thiên nhiên tồn tại độc lập, những biến đổi diễn ra trong tự nhiên không tuân thủ nguyện vọng và ý chí của con người nhưng văn hoá thì lại phải phát triển phù hợp với mục tiêu và nguyện vọng, nhu cầu và lợi ích của con người Xét đến cùng, văn hoá là trình độ phát triển của bản thân con người và xã hội, là sự hoàn thiện sức mạnh vật chất và tinh thần của con người Trình độ phát triển văn hoá phụ thuộc vào trình độ khám phá, sử dụng lực lượng tự nhiên và làm chủ bản than minh Theo C Mac, căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người chuyển thành năng lực “bản chất người”, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo, thì có thể biết được trình độ văn hoá chung của Con người.

Trang 20

Khi nghiên cứu về lao động con người, C.Mác viết: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều

tiết, kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên Bản thân con người đối

diện với thực thể của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự

nhiên”t”, Như vậy, ở một phương diện nào đó, lao động sản xuất của con

người và tự nhiên là hai lực lượng tự nhiên, có quan hệ tác động biện chứng với nhau Nhưng lao động sản xuất không chỉ đơn giản là hành vi tự nhiên mà là hoạt động có ý thức của con người, sức mạnh của con người trong lao động sáng tạo đã tạo nên kết quả to lớn làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của loài người Sức mạnh của con người trong việc khám phá, khai thác, sử dụng thiên nhiên không nên hiểu đơn giản như một quyền lực tuyệt đối của con người buộc tự nhiên phải tuân theo các mục tiêu thực dụng của mình Ở đây, cần có sự hiểu biết sâu sắc những quy luật phát triển, điều hoà mối quan hệ giữa con người, văn hoá và môi trường Bảo

vệ môi trường tự nhiên, chăm sóc nguồn tài nguyên thiên nhiên, khai thác

hợp lý và hiệu quả bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những tiêu chuẩn xác định trình độ tiến bộ văn hoá

Mặc dù ở thời đại của mình, vấn dé môi trường tự nhiên chưa trở thành vấn đề gay gắt như hiện nay, nhưng C Mác và Ph Ăngghen đã phát

hiện và lý giải vấn đề này rất sớm Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”,

khi phê phán quan điểm của Đuy-rinh cho rằng tính thống nhất của thế

giới là ở sự tồn tại của nó Ph Ăngghen khẳng định: “Tính thống nhất thế giới không phải là ở sự tôn tại của nó, mặc dn tồn tại là tiển đề của tính thống nhất của nó, vì trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì

trước hết thế giới phải tôn tại đã Tính thống nhất thật sự của thế giới là tính vật chất của nó và tính vật chất này được chứng mình không phải

bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”? Như vậy, ở

một mức độ nhất định, Ph Ängghen đã xác định sự thống nhất của con người

và giới tự nhiên ở tính vật chất của sự tồn tại và sự tiến hoá của chúng

® C.Mác và Ph ăngghen: Toàn tập, Tập 23, Nhà xuất bản CTQG, H, 1991, tr266

® Sdd, Tập 20, tr 67

Trang 21

18 Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế-triết học” năm 1844, C Mac viết:

“Giới tự nhiên - cụ thể là các giới tự nhiên trong chừng mực như bản thân

nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con

người Con người sống bằng giới tự nhiên, như thế nghĩa là giới tự nhiên

là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong

quá trình thường xuyên giao tiếp để tôn tại Nói rằng đời sống thể xác và

tịnh thân của con người gắn liên với giới tự nhiên vì con người là bộ

phận của giới tự nhiên”0),

C Mác đã nhìn nhận xã hội là giai đoạn cao nhất trong sự phát triển thống nhất giữa lịch sử xã hội và lịch sử tự nhiên Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C Mác và Ph Ăngghen khẳng định: “Mọi lịch sử đều xuất phát từ những cơ sở tự nhiên và từ những thay đổi của chúng do hoạt động của con người gây ra trong quá trình lịch sử” Và “có thể xem xét lịch sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuy nhiên, hai mặt đó không tách rời nhau Chữừng nào mà lịch sử loài người còn

tôn tại thì lịch sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau”?

Trong quan niệm của C Mác và Ph Angghen, con người và môi trường tự nhiên đã có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau, đồng thuận và hỗ trợ nhau Những gì chống lại tự nhiên, phá vỡ mối quan hệ hài hoà giữa con người - môi trường tự nhiên là phá vỡ hệ sinh thái liên quan đến sự sống còn của loài người C.Mác và Ph Ăngghen đánh giá cao năng lực khám phá, cải tạo tự nhiên của con người Nhưng sự cải tạo đó

không vợt quá khuôn khổ để dẫn đến phá vỡ tính thống nhất của hệ

thống C.Mác đã phê phán tình trạng vô ý thức của con người đối với tự nhiên “nếu canh tác - được tiến hành một cách tự phát mà không được

hướng dẫn một cách có § thức thì sẽ để lại ở sau nó đất hoang”©),

Như vậy, theo C Mác và Ph Ăngghen, lịch sử của xã hội loài người

dù phát triển đến đâu cũng luôn luôn gắn bó với lịch sử tự nhiên Thái độ ứng xử với môi trường tự nhiên phản ánh trình độ văn hoá của con người

® C.Mác và Ph ăngghen : Toàn tập, Tập 42, Nhà xuất bản CTQG, H, 2000, tr 135

® Sdđ, Tập 3, tr 21, 25

C, Mác và Ph angghen : Toàn tập, tập 32, Nhà xuất bản CTQG, H, 1997, tr.80.

Trang 22

và cộng đồng xã hội “Giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao động”, còn lao động thì biến những vật liệu đó thành của cải Lao

động đã giúp con người cải biến tự nhiên và hoàn thiện chính bản thân

mình

Ph Ăngghen phê phán quan điểm quyết định luận tự nhiên cho rằng

“chỉ có tự nhiên mới tác động đến con người, chỉ có những điều kiện tự nhiên mới quyết định ở khắp mọi nơi sự phát triển lịch sử của con người,

quan niệm ấy là phiến diện; nó quên rằng con người cũng tác động trở lại

tự nhiên, cải biến tự nhiên”), Chính nhờ lao động sáng tạo mà con người

giảm bớt sự lệ thuộc của mình vào thiên nhiên và “loài người đã có đủ khả năng hoàn thành những công việc ngày càng phức tạp hơn, có khả

năng tự đề ra và đạt được những mục đích ngày càng cao hơn”?, Theo

Ph Ăngghen : “ t chỗ lợi dụng tự nhiên bên ngoài, dựa vào tự nhiên một cách thụ động, con người đã tiến đến chỗ biến đổi, cải tạo một cách

chủ động, có phương pháp, tuân theo quy luật vốn có của nó; từ chỗ bị các lực lượng tự nhiên chỉ phối, con người dần dần thống trị lại tự nhiên;

từ chỗ thuần tuý bóc lột tự nhiên, con người đã biết từ bỏ “kinh tế tước

đoạt ” theo kiểu loài vật, biết cách làm giàu cho tự nhiên, bất tự nhiên

phải phục vụ cho mục đích lớn hơn của mình Thắng lợi đó của con người

phải được coi là thắng lợi hết sức vĩ đại, thắng lợi của nên văn mình nhân loại Đó cũng chính là chỗ khác nhau, chỗ phân biệt chủ yếu và cuối cùng giữa con người và dong vat’

Tuy nhiên, cũng chính Ph Ăngghen là người đã cảnh báo sâu sắc về thái độ con người với tự nhiên: “Chúng ta không nên quá tự hào về những

thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta dat duoc một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thà lại chúng ta Thật thế, mỗi

một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng

® Sdd, tap 20, tr 720

© Sdd, tap 20, tr 644

® Sdd, tap 20, tr 648

Trang 23

20 thường hay phá huỷ tất cả những kết quả đâu tiên của nó” Đặc biệt, Ph.Ăngghen đã nêu ra lời tiên đoán thiên tài về hậu quả khó lường mà con người gây ra cho thiên nhiên và sự trả giá cho hành động đó: “Nếu chúng

ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại càng phải trải

qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu được những hậu quả xế hội

xa xôi của những hành động ấy "€)

Sự phá hoại tự nhiên có nguồn gốc sâu xa từ việc tìm kiếm lợi nhuận, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản Bằng sức mạnh của kẻ đi chiếm đoạt và bóc lột sức lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên, chủ nghĩa tư bản phá huỷ môi trường tự nhiên trong vòng 300 năm vừa qua vượt hơn cả sự phá huỷ trong 3.000 năm của thời kỳ văn minh nông nghiệp cộng lại Ph Ăngghen đã phê phán tư tưởng muốn thống trị tự nhiên: “Chứng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng ta, với cả xương thịt, máu mù và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong

lòng giới tự nhiên”00),

Việc khám phá bí mật của giới tự nhiên, tìm hiểu và khai thác hợp

lý giới tự nhiên hoàn toàn khác xa với quan điểm đối lập con người với tự

nhiên, biến con người thành kẻ thù của tự nhiên Ph Ăngghen đã chỉ rõ:

“Chúng ta học hỏi để ngày càng hiểu được một cách chính xác hơn những

quy luật của tự nhiên, khi chúng ta biết được những hậu quả gần gũi cũng như xa xôi của những sự can thiệp tích cực của chúng ta vào trong tiến hành bình thường của các sự vật trong giới tự nhiên thì “con người không

những càng cảm thấy, mà lại càng hiểu biết thêm rằng mình với giới tự nhiên chỉ là một 2 Như vậy, trong quan điểm của chủ nghĩa C.Mác -

© Sdd, tap 20, tr 654

© Sdd, tap 20, tr 655-656

® Sdd, tập 20, tr 655

® Sđd, tập 20, tr 655.

Trang 24

Ph.Ăngghen về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên được giải quyết một cách hợp lý trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Con người với năng lực lao động sáng tạo được tiếp nối qua các thời đại khác nhau đã tạo nên những thành tựu văn hoá lớn lao, đã góp phần cải biến tự nhiên, nhân hoá môi trường tự nhiên để tạo thành môi trường văn hoá, môi trường sống của con người Môi trường văn hoá chính là môi trường tự nhiên được con người cải tạo sử dụng, hướng tới cái đúng, cái tốt đẹp Sự hợp lý và hài hoà trong mối quan hệ giữa lợi ích của con người và môi trường tự nhiên là điều kiện để tạo nên sự phát triển bền vững Con người vừa khai thác tự nhiên, vừa phải biết nuôi dưỡng và làm giàu cho tự nhiên, chung sống đồng thuận với tự nhiên là cơ sở để tạo lập

sự cân bằng sinh thái Mọi sự lộng hành của con người, tiến công và tàn phá môi trường tự nhiên vì lợi ích của chính mình mà quên mất lợi ích của tự nhiên sẽ phải trả giá

Trong thời kỳ hiện nay, những tư tưởng vĩ đại của C.Mác - Ph.Ăngghen càng sáng rõ khi chúng ta đang chứng kiến sự đối mặt của con người trước sự tiến công lại của giới tự nhiên “Những hậu quả xa xôi” do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền đại công nghiệp khổng

lồ đang gây nên những thách thức to lớn cho nhân loại, đặc biệt là đối với

những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mốt quan hệ giữa con người với

môi tường tự nhiên

Hồ Chí Minh vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là danh nhân văn hoá kiệt xuất của dân tộc và nhân loại Tư tưởng của người về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên được thể hiện rất sâu sắc trong những bài nói, bài viết, trong thơ ca và trong hành động của Người

Là nhà văn hoá lớn hiểu biết sâu sắc cả văn hoá phương Đông và phương Tây, Hồ Chí Minh đã kế thừa những quan niệm của chủ nghĩa Mác -

Lênin và những giá trị tỉnh hoa của văn hoá dân tộc về cách ứng xử với

Trang 25

2 môi trường tự nhiên và giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên

Ngay trong những năm đầu tiên đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã phê phán thái độ tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đối với các nước thuộc địa, trước hết ở sự chiếm hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên của các nước này nhằm làm giàu cho chúng Chính vì có một tầm nhìn rộng lớn và sâu sắc như vậy, khi giành được độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Trồng cây gây rừng” và

“Tết trồng cây” Phong trào này được đề xuất vào năm 1959, trong lúc vấn đề môi trường chưa đặt ra những vấn đề cấp bách như hiện nay Bằng

sự mẫn cảm thiên tài và trí tuệ tuyệt vời của mình, Hồ Chí Minh đã sớm

phát hiện ra vấn đề này và tổ chức cho nhân dân thực hiện phong trào trồng cây gây rừng ngay trong những ngày miền Bắc mới giải phóng và còn gặp nhiều khó khăn Ngày 8 -12 -1961, trong buổi làm việc với Ban chấp hành Đảng bộ Nghệ An, Người đã chỉ rõ: “Trồng cây gây rừng là rất

quan trọng Bây giờ dân chưa thấy đâu Có khi các chú cũng chưa thấy”%,

Trong thư gửi Đại hội hợp tác xã và đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền Trung và trung du, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mùa, gây ra lụt lội và hạn

hán” * Người so sánh việc phá rừng là hành vi “đem vàng đổ xuống biển” và cảnh báo nghiêm khắc: “nếu cứ để tình trạng đồng bào phá một

ft, nông trường phá một ít, công trường phá mội ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất phá một ít thì rất tại hại Phá rừng thì dễ, nhưng gây lại được rừng phải mất hàng chục năm Phá rừng nhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống” Rất đáng tiếc là lời cảnh báo của Người đã không được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên, thậm chí đến nay, nạn phá rừng ở nước ta vẫn chưa được ngăn chặn, mà còn có xu hướng tiêu cực hơn

Sự gắn bó mật thiết của Hồ Chí Minh đối với thiên nhiên, tôn trọng

và bảo vệ thiên nhiên luôn luôn thống nhất và nhất quán trong toàn bộ

© Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản CTQG, H, 1996, tr 243.

Trang 26

cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh Trong tập thơ

“Nhật ký trong ft” của mình, Người luôn luôn hướng về thiên nhiên, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, giao hoà với thiên nhiên như người bạn tri

ân, trí kỷ Nơi ở, nơi làm việc của Hồ Chí Minh dù ở trong kháng chiến hay thời kỳ hoà bình, làm Chủ tịch nước, bao giờ Người cũng sống trong

sự gần gũi, chia sẻ với thiên nhiên Tình yêu con người, tình yêu nhân dan của Hồ Chí Minh hoà quyện với tình yêu thiên nhiên tạo nên hài hoà đẹp

dé cha một tâm hồn vĩ nhân cao cả, một tấm gương sáng về cách ứng xử giữa con người với tự nhiên

2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh

tế gắn liền với bảo vệ môi trường - sinh thái

Đảng ta đã xác định quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng tới không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động, tạo điều kiện và cơ hội để nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, mọi hoạt động kinh tế phải chú ý tới hiệu quả văn hoá, bảo đảm môi trường tỉnh thần và môi trường tự nhiên cho cộng đồng Mọi đề án, dự án, chương trình phát triển tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng b- ước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường là quan điểm thống nhất của Đảng và Nhà nước ta Đây cũng chính là sự kế thừa truyền thống quý trọng và đề cao vai trò của môi trường tự nhiên trong nền văn hoá dân tộc và thực hiện sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sự ứng xử với

tự nhiên

Hiện nay, xu hướng chung của cộng đồng quốc tế là hướng tới công nghiệp hoá theo hướng sinh thái và nhân văn trên cơ sở công nghệ cao và sạch cùng với sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao Đặc trưng cơ bản của quá trình công nghiệp hoá kiểu mới này là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và bảo vệ môi trường sinh thái Con người được đặt

vào trung tâm của sự phát triển và mục tiêu của sự phát triển phải hướng

tới phục vụ con người Trong khi đó, con người là một bộ phận của giới tự

Trang 27

24 nhiên Muốn đem lại hạnh phúc cho con người, cần phải bảo vệ môi trường tự nhiên, ngôi nhà chung của loài người Đảng ta nhấn mạnh:

“Mọi hoạt động kinh tế được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp về kinh tế,

tài chính, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh”0),

Quan điểm của Đảng ta về giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề con

người và môi trường là rõ ràng và nhất quán Chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải xuất phát từ lợi ích của con người

và vì con người Đồng thời, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tạo ra sự thống nhất và đồng thuận giữa lợi ích của con người và lợi ích của môi trường tự nhiên, chống xu hướng chạy theo lợi ích kinh tế mà hy sinh văn hoá hoặc hy sinh môi trường tự nhiên Thái độ ứng xử với môi trường phản ánh trình độ văn hoá của con người Vì vậy, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một yêu cầu

thiết yếu để đảm bảo sự phát triển bên vững của đất nước

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định:

*Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" Nghị quyết Đại hội Dang IX con nhấn mạnh: “Phớt triển kinh tế - xã hội gắn

chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn âa dạng sinh hoc Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động bất lợi và tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi qui hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọng đánh giá các giải pháp phát

triển "),

Trong phần phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5

năm (2000 - 2005) tại mục “Bảo vệ và cải thiện môi trường ”, Nghị quyết

© Sdd, tr 92

® Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thit IX Nxb CTQG H., tr 162-164.

Trang 28

đã cụ thể hoá hơn vấn đề bảo vệ môi trường: “Kết hợp hài hoà giữa kinh

tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phái triển bên

vững; tiến tới bảo đảm cho mọi người dân đêu được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân

tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực tối thiểu do Nhà nước qui

định Trước mắt tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khu vực công nghiệp, các khu dân cư đông đúc, chật chội ở các thành

phố lớn và một số vùng nông thôn Kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự cố

môi trường do thiên tai lã lụt gây ra, có kế hoạch cải tạo, khắc phục sự cố

ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, hồ ao, kênh mương Thực hiện các dự án về cải tạo, bảo vệ môi trường; xây dựng vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh hoc, bdo tôn các nguồn gen dì truyền, xây dựng các công trình làm sạch môi trường Bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiết kiệm và tiết chế sử dụng tài nguyên không tái tạo được Tăng cường kiểm tra và giám sát môi trường trong từng dự án đầu

tự và từng qui hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh

thổ Áp dụng các công nghệ và quả trình sản xuất ít chất thải, ít gây ô nhiễm môi trường ”0),

Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ môi trường còn được cụ thể hoá

trong Chỉ thị 36 - CI/TW ngày 25-6-1998 về “Tăng cường công tác bảo

vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”

Đảng ta đã khẳng định: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng,

toàn dân và toàn quân Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không

thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở đảm bảo phát triển bên

vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo, kết

hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tôn thiên nhiên Kết

hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phái triển bên vững” Chỉ thị này cũng đã xác định mục tiêu

® Sdd, tr 302.

Trang 29

26

cần đạt là: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi

trường ở những nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tôn da dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp,

đô thị và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bên vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Mục tiêu này đã được cụ thể hoá trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn 2001-2010

Để đạt mục tiêu trên, Chỉ thị 36-CT/TW đề ra 8 giải pháp cần thực

hiện Trong các giải pháp này, Đảng ta đặc biệt chú ý đến giải pháp giáo

dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần

chúng bảo vệ môi trường Thực chất là xây dựng văn hoá môi trường, hình thành trong xã hội lối sống, nếp sống, thói quen, tập quán tôn trọng

và bảo vệ môi trường, trong đó ý thức tư tưởng của nhân dân đóng vai trò cốt lõi Quá trình giáo dục, tuyên truyền ở đây phải khai thác, phát huy những mặt tích cực, tiến bộ của đồng bào các dân tộc để tham gia bảo vệ

Và tái tạo môi trường

3 Chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý nhà nước về

môi trường

- Hiến pháp 1992, tại Điều 29, chương Chế độ kinh tế có quy định

rõ : “Các tổ chức, cá nhân phải thực hiện các quy định của nhà nước về

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường”

- Luật Bảo vệ môi trường với 7 chương, 55 điều đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua vào tháng 12/1993, trong đó tập trung điều chỉnh các quan hệ liên quan đến phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường

- Chính phủ ban hành Nghị định 26/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, quy định cụ thể các hành vi vi phạm Luật bảo vệ môi trường

- Ngày 2/12/2003 Chính phủ ban hành Quyết định 256/2003/QĐ-

TTg phê duyệt Chiến lược Bảo vệ Môi trường quốc gia đến năm 2010 và

định hướng đến 2020

Trang 30

- Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 36 - CT/TW ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;

- Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Quyết định 82/2002/QĐ-TTg ngày 26/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTG ngày 22/4/2003 về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về việc thu phí bảo

vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt

- Quốc hội đã thông qua Bộ luật Hình sự sửa đổi trong đó có

Chương XYVII quy định 10 tội danh môi trường, hình thành cơ chế truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng

- Ngoài ra, vấn đề môi trường cũng đã được đưa vào các luật có liên quan như Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thuỷ sản tạo nên một hệ thống luật ngày càng thống nhất, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về môi trường

II VỊ TRÍ, VAI TRO CUA QUAN LY NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, môi trường

luôn là một vấn để hết sức quan trọng Muốn phát triển bên vững thì không thể không quan tâm đến bảo vệ môi trường Để bảo vệ môi trường

tốt thì nâng cao vai trò quản lý của nhà nước luôn là một yếu tố sống còn của bất kỳ quốc gia nào Ở Việt Nam, đặc biệt là sau khi có Luật Bảo vệ môi trường, vị trí và vai trò của quản lý nhà nước về môi trường ngày

Trang 31

28 càng được nâng cao, hiệu lực quản lý ngày càng tăng và đã góp phần

không nhỏ vào bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội

Nhu cầu tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải mở rộng qui mô sản xuất, phát triển các ngành nghề Sản xuất càng tăng thì tài nguyên khai thác, sử dụng càng lớn và chất thải công nghiệp và sinh hoạt đổ vào môi trường

càng tăng Để giải quyết mối quan hệ này không thể ngừng sản xuất để

giữ gìn môi trường hay khai thác tài nguyên bằng mọi hình thức mà cần

có sự quản lý một cách thích hợp Sự phát triển như vũ bão của khoa học

kỹ thuật cũng đã giúp cho việc khai thác tài nguyên thiên nhiên dễ đàng hơn nhưng cũng lại là nguyên nhân làm cho các nguồn tài nguyên không tái tạo được ngày càng bị cạn kiệt Việc khai thác tuỳ tiện tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường sống chính là những tác nhân hạn chế sự phát triển bền vững, là nguyên nhân dẫn tới các thảm hoạ về môi trường như hạn hán, lụt bão Chính vì vậy, chính quyền các cấp, các ngành và người dân phải nhận thức được vai trò, vị trí của con người, môi trường và mối quan hệ hữu cơ giữa chúng Nhận thức đúng vai trò quan trọng của môi trường đối với đời sống con người và đối với sự phát triển bền vững, Nhà nước sẽ có những chủ trương, chính sách phù hợp để kết hợp hài hoà các mục tiêu kinh tế, xã hội với quản lý và bảo vệ môi trường

Giữa quản lý môi trường và bảo vệ môi trường có mối quan hệ biện chứng với nhau Mục tiêu của quản lý môi trường là nhằm hướng tới sự

phát triển bền vững, tạo ra sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường; còn bảo vệ môi trường sẽ tạo ra các tiểm năng tự nhiên

và xã hội mới để phát triển kinh tế xã hội trong tương lai Tuỳ thuộc vào

điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm dân cư của mỗi vùng, mỗi địa

phương mà hoạt động và mục tiêu quản lý môi trường có thể có nhiều cách khác nhau nhưng tất cả phải cùng tiến tới mục tiêu và phát triển bền

vững Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường đã trở thành nhu cầu

cấp bách và là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người Việc bảo vệ môi trường không thể chỉ được thực hiện ở các quốc gia riêng rẽ, mà tất cả các quốc gia trên thế giới phải đoàn kết lại, cùng

nhau thực hiện công tác quản lý môi trường

Trang 32

Sau hơn 10 năm thực hiện Luật bảo vệ môi trường, công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta đã đạt được những kết quả quan

trọng Kể từ năm 1994 đến nay hàng trăm các văn bản quy phạm pháp

luật, qui trình, qui phạm hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường đã được xây dựng và ban hành Cùng với Luật Bảo về môi trường, vấn đề môi trường cũng đã được đưa vào các luật có liên quan như Bộ Luật hình

sự, Luật Tài nguyên nước, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thuỷ sản

tạo nên một hệ thống ngày càng thống nhất, đồng bộ, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về môi trường

Thực hiện các cam kết quốc tế và bảo vệ môi trường, Đại hội Đẳng

IX nêu 1õ: “Từ nay đến 2010, phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo

vệ và cải tuện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học Chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tại, của sự biến động khí hậu bất lợi và tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường Bảo vệ và cải tạo môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lý Nhà nước ải đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân Chủ động gắn kết yêu cầu cải thiện môi trường trong mỗi qui hoạch,

kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường làm một tiêu chí quan trọng đánh giá các giải pháp phát

triển"0),

Như vậy, đi đôi với các hoạt động kinh tế, phát triển xã hội không thể không có các hoạt động quản lý của Nhà nước về môi trường Bảo vệ môi trường chính là bảo vệ các yếu tố tiểm năng cho phát triển trong tương lai, phân phối nguồn tài nguyên hợp lý cho các ngành kinh tế cho giai đoạn trước mất và lâu dài theo hướng bền vững Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam cần ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn Sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ tạo điều kiện có đủ nguồn lực để thực hiện

® Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr 164.

Trang 33

30 các giải pháp bảo vệ môi trường Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là trong quá trình tiến vào nền kinh tế tri thức, kinh tế Việt Nam nên dần tạo ra nền sản xuất hàng hoá ít dựa vào tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu dựa vào nguồn lực con người, tri thức khoa học - công

nghệ và đảm bảo cân bằng sinh thái Điều này không những đảm bảo

được hiệu quả kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá mà còn thực

hiện được mục tiêu phát triển bền vững Tuy nhiên, để kết nối được mối

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, tạo ra sự phát triển bền vững thì cần phải có sự quản lý của Nhà nước về môi trường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đưa ra mục tiêu tổng quát

của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tỉnh thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của

xã hội, sự hài hoà giữa con người với tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt

chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường

Mục tiêu phát triển bên vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng

ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời

sống của nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng cho các thế hệ mai sau

Mục tiêu phát triển bên vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ định dưỡng và

chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, mọi người đều có cơ hội được học hành và có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong xã hội, duy trì và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và

tinh thần

Mục tiêu phát triển bên vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử

dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn

chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi

Trang 34

trường sống; bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự

trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dang sinh học; khắc phục suy thoái và cải

thiện chất lượng môi trường

Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và

môi trường nêu trên, cần thực hiện các nguyên tắc sau đây:

+ Coi con người là trung tâm của phát triển bền vững Đáp ứng ngày

càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tỉnh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là nguyên tắc nhất quán trong mọi giai đoạn phát triển

+ Coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát

triển sắp tới, kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà với phát triển xã hội; khai

thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền Từng

bước thực hiện nguyên tắc kinh tế, xã hội và môi trường đều có lợi

+ Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời quá trình phát triển Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc “người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn” Xây dựng

hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường; chủ động gắn kết và có chế tài bát buộc lông ghép yêu cầu bảo vệ môi

trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững

+ Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng

nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai Tạo lập điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng frong

xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận tới những nguồn

lực chung và được phân phối công bằng những lợi ích công cộng, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho những thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn

Trang 35

32 giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường; xây dựng lối sống lành mạnh, hài hoà, gần gũi

và yêu quý thiên nhiên

+ Khoa học và công nghệ là nên tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất

nước Công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ư-

u tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất, trước mắt cần được đẩy mạnh sử dụng ở những ngành và lĩnh vực sản xuất có tác dụng lan

truyền mạnh, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh

vực sản xuất khác

+ Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương: của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân Phải huy động tối đa

sự tham gia của mọi người có liên quan việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy

mô cả nước Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin va nâng cao vai trò của các tâng lớp nhân dân, đặc biệt của phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc ít người trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước

+ Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bên vững đất nước Phát triển các

quan hệ song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế và khu vực; tiếp thu có chọn lọc những tiến bộ khoa học công nghệ, tăng cường

hợp tác quốc tế để phát triển bền vững Chú trọng phát huy lợi thế, nâng

cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra

+ Kết hợp chặt chế giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo

vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Quản lý Nhà nước về môi trường là một trong những hoạt động quản lý xã hội chung của Nhà nước Hiện nay, bảo vệ môi trường là một

Trang 36

trong những hoạt động quan trọng của xã hội loài người, nhằm duy trì và

sử dụng hợp lý cac dạng tài nguyên môi trường cho sự phát triển nhân loại Nhà nước với tư cách đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội sử dụng sức mạnh quyền lực và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đường lối chủ đạo (phát triển bên vững) của mình thành hiện thực

thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý (cơ cấu kinh

tế xã hội và hệ thống tổ chức quyền lực quản lý môi trường); một cơ chế

sử dụng nhân lực hữu hiệu; với các phương pháp, hình thức, giải pháp quản lý thích hợp, tạo ra và tận dụng thời cơ, các quan hệ quốc tế để phát triển bền vững đất nước Trong công tác quản lý môi trường có ba nội dung quan trọng bao gồm: xây dựng cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác quản lý môi trường, thiết lập các công cụ quản

lý môi trường, tổ chức các công tác bảo vệ và quản lý môi trường

II MÔI TRƯỜNG LÀ ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

Quản lý môi trường là một nội dung cơ bản của quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước Nhà nước với tư cách đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội sử dụng sức mạnh quyền lực và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đường lối chỉ đạo của mình thành hiện thực thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý, một cơ chế sử dụng nhân lực hữu hiệu với các phương pháp, hình thức, giải pháp quản lý thích

hợp, tạo ra và tận dụng các thời cơ, các quan hệ quốc tế để phát triển bền

vững đất nước

Mỗi quốc gia có hệ thống tổ chức các cơ quan làm nhiệm vụ bảo vệ môi trường khác nhau tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, xã hội, trình độ phát triển của các quốc gia Các cấp quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay bao gồm:

- Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ quan cao nhất của đất nước thực hiện trách nhiệm hoạch định đường lối chiến lược bảo vệ môi trường của đất nước Quốc hội có Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tư vấn

về các vấn đề môi trường.

Trang 37

34

- Thủ tướng Chính phủ - Văn phòng chính phủ và Vụ Khoa học

Giáo dục Văn hoá, xã hội có cố vấn cấp cao về các vấn đề môi trường

- Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (tham mưu cho Bộ là Cục Môi trường) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường trên phạm vi toàn quốc

- Các Bộ, cơ quan ngang bộ đều có một đơn vị (thường là Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) chịu trách nhiệm về nội dung bảo vệ môi trường trong ngành của mình

- Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (phòng quản lý môi trường) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn tỉnh Một số tỉnh đã có hệ thống quản lý môi trường xuống các cấp huyện, thị

Điều 38 Luật bảo vệ môi trường năm 1993 có quy định rõ cơ quan

quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường như sau:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong cả nước

- Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các

cơ sở thuộc quyền quản lý trực tiếp

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương

- Sở Khoa học, công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương

Căn cứ Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 22/5/1993, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành Quyết định số 545/QĐÐ-TCCB ngày

7710/1993 giao cho Cục môi trường là đơn vị trực thuộc Bộ Khoa hoc

Trang 38

Công nghệ và Môi trường có trách nhiệm thống nhất hoạt động bảo vệ môi trường trong cả nước Quyết định quy định rõ 12 nhiệm vụ và quyền hạn của Cục Môi trường

Trong Công văn số 1541/TCCB ngày 17/9/1993, Bộ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn tổ chức, chức năng của Phòng quản

lý môi trường thuộc các Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Đối với

bộ phận quản lý Khoa học Công nghệ và Môi trường các huyện thị tương đương được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường giao theo Công văn

số 1541/TCCB ngày 17/9/1993 như sau: Ở cấp huyện nên bố trí 2, 3 người chuyên theo dõi về hoạt động khoa học, công nghệ và môi trường

và nên đặt ở Phòng Kế hoạch huyện

Năm 2002, Quốc hội ra quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường từ Tổng cục Địa chính và Cục Môi trường (thuộc Bộ Khoa học - công nghệ, môi trường), Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam và Viện Địa chất và khoáng sản (Bộ Công nghiệp)

và bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục quản lý nước và công trình

thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn)

Ngày 11/11/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2002/ND-

CP quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng quản

lý Nhà nước về tài nguyên đất, nước, khoáng sản, khí tượng thuỷ văn và

đo đạc bản đồ trong cả nước Năm 2003, Chính phủ đã cho phép các tỉnh thành lập các Sở Tài nguyên và môi trường thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương giúp các địa phương quản lý nguồn tài nguyên, đất đai và môi trường tại địa phương

IV NỘI DŨNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG

Luật Bảo vệ môi trường 1993 đề cập đến các nội dung quản lý Nhà

nước về bảo vệ môi trường, cụ thể như sau:

1) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ

môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường

Trang 39

36 2) Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường

3) Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, công trình

có liên quan đến bảo vệ môi trường

4) Tổ chức, xây đựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường

5) Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án

Và các cơ sở sản xuất, kinh doanh

6) Cấp, thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường

7) Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường: giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo bảo vệ môi trường; xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

8) Đào tạo cán bộ khoa học và quản lý môi trường; giáo dục tuyên

truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường

9) Tổ chức nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường

10) Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Quản lý Nhà nước về môi trường là một trong những hoạt động quản lý xã hội chung của Nhà nước Trong công tác quản lý môi trường

có ba nội dung quan trọng bao gồm: (ï) xây dựng cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác quản lý môi trường; (ïi) thiết lập các công cụ quản lý môi trường; (ii) tổ chức các công tác bảo vệ và quản lý môi trường

Để quản lý môi trường một cách hiệu quả, phù hợp với các mục tiêu chung của đất nước và cộng đồng quốc tế, hoạt động quản lý Nhà nước về môi trường cần phải:

1 Hướng tới sự phát triển bên vững Đây chính là mục đích của việc quản lý môi trường Để có thể thực hiện được điều này, Nhà nước cần xác

Trang 40

lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế đất nước dưới hình thức các dự

án phát triển cụ thể, giao cho cho các ngành, địa phương quản lý và các

dự án này sẽ được xem xét cùng với chiến lược phát triển bền vững và bảo

vệ tài nguyên, môi trường sinh thái Hoạt động đầu tư phát triển nguồn năng lượng sạch, công nghiệp sạch, ứng dụng công nghệ sinh học thay thế các loại hoá chất độc hại cũng cần được tăng cường

2 Kết hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng

đồng dân cư trong việc quản lý môi trường Môi trường không có ranh giới không gian, do vậy sự ô nhiễm hay suy thoái môi trường ở quốc gia, vùng lãnh thổ này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới quốc gia khác Bảo vệ tài

nguyên và môi trường là nhiệm vụ chung của nhân loại, không thể thực

hiện riêng rẽ mà cần có sự liên minh giữa các quốc gia Các quốc gia cần tích cực tham gia và tuân thủ các công ước, hiệp định quốc tế về môi trường, đồng thời ban hành các văn bản quốc gia về luật pháp, tiêu chuẩn, qui định về quản lý môi trường

3 Tạo lập hệ thống pháp lý thống nhất, thuận lợi cho việc bảo vệ tài nguyên và môi trường Một xã hội phát triển bền vững là xã hội có sự kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương phải có cơ cấu tổ chức

và hệ thống pháp lý thống nhất để quản lý môi trường và bảo vệ các dạng tài nguyên Một cơ cấu thống nhất cần kết hợp được các nhân tố con người, sinh thái và kinh tế; đây là yếu tố quan trọng để xây dựng một xã

hội phát triển bền vững Muốn xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững

thì trước hết phải lựa chọn những mục tiêu và chương trình ưu tiên như: Phải có thể chế thống nhất, có tầm nhìn xa, bao quát các lĩnh vực khi quyết định các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; phải có các chính

sách và cơ chế quản lý hữu hiệu để đảm bảo quyền lợi trước mắt của con

người và lợi ích của thế hệ tương lai; xây dựng các chính sách kinh tế - kỹ

thuật hợp lý không gây tác hại đến nguồn tài nguyên mà còn hỗ trợ đắc

lực cho việc bảo vệ tài nguyên và môi trường

4 Phòng ngửa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm Phòng ngừa là

biện pháp ít tốn kém và hiệu quả hơn xử lý nếu để xảy ra ô nhiễm Ngoài

Ngày đăng: 30/03/2013, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w