Vốn luôn được coi là yếu tố đầu vào quan trọng hàng đầu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, là linh hồn, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vì thế có thể nói những thành tựu mà doanh nghiệp đạt được là kết quả của nghệ thuật sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả thì không phải doanh nghiệp nào cũng làm được. Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu vốn, vì thế biết cách sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quả cũng sẽ làm tăng tính hiệu quả của sử dụng vốn nói chung. Công ty cổ phần dệt kim Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước mới được cổ phần hóa năm 2005 theo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nên còn gặp rất nhiều khó khăn trong mọi hoạt động, bao gồm cả hoạt động sử dụng vốn lưu động. Việc làm thế nào để sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quả, mang lại kết quả tốt nhất đang là vấn đề được công ty rất quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em đã chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần dệt kim Hà Nội” để viết khóa luận tốt nghiệp. Qua nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng vốn lưu động tại công ty em đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty. Hy vọng nó sẽ đóng góp được phần nào đó giúp công ty tăng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mình.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM
HÀ NỘI 3
1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty 3
1.1 Quá trình hình thành và phát triển 3
2.2 Đặc điểm về sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm 11
2.3 Đặc điểm về khách hàng và thị trường tiêu thụ 12
2.3.1 Khách hàng 12
2.3.2 Các thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty 13
2.4 Tình hình tài chính của công ty 14
3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2004-2008 16
3.1 Kết quả về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm 16
3.2 Kết quả về doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động 18
3.3 Kết quả về khách hàng và thị trường tiêu thụ 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM HÀ NỘI 22
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty 22
1.1 Nhóm nhân tố khách quan 22
1.1.1 Lạm phát, tỷ giá hối đoái 22
1.1.2 Đặc điểm thị trường các yếu tố đầu vào 23
1.1.3 Các chính sách quản lý của nhà nước 24
1.2 Nhóm các nhân tố chủ quan 25
1.2.1 Đặc điểm loại hình sản xuất kinh doanh 25
Trang 21.2.2 Đặc điểm cơ sở vật chất của công ty 26
1.2.3 Năng lực hoạt động của bộ máy quản trị công ty 26
2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần dệt kim Hà Nội giai đoạn 2004-2008 27
2.1 Tình hình phân bổ vốn lưu động của công ty 27
2.1.1 Nguồn hình thành vốn lưu động của công ty 27
2.1.2 Kết cấu vốn lưu động của công ty 31
2.2 Tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty 34
2.2.1 Vốn lưu động bằng tiền 34
2.2.3 Hàng tồn kho 38
2.3 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty 42
2.3.1 Số vòng quay vốn lưu động 42
2.3.2 Số vòng quay hàng tồn kho 44
2.3.3 Kỳ luân chuyển vốn lưu động 46
2.3.4 Kỳ thu tiền bình quân 48
2.3.5 Mức sinh lời vốn lưu động 50
2.3.6 Mức đảm nhiệm vốn lưu động 51
3 Đánh giá chung 53
3.1 Ưu điểm 53
3.2 Hạn chế 54
3.3 Nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM HÀ NỘI 59
1 Định hướng phát triển Công ty 59
1.1 Định hướng phát triển chung 59
1.2 Định hướng về sử dụng vốn lưu động 60
1.3 Các mục tiêu chủ yếu trong sản xuất kinh doanh 61
Trang 32 Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại Công ty 62
2.1 Hoàn thiện phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động 63
2.4 Có kế hoạch tập trung vốn bằng tiền, đáp ứng nhu cầu thanh toán đúng hạn 70
2.5 Chú trọng công tác mở rộng thị trường và đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa 72
2.6 Tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm .73 2.7 Đào tạo, phát triển đội ngũ lao động 74
3 Một số kiến nghị 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 bq : bình quân
2 CCDC: công cụ dụng cụ
3 CP: chi phí
4 CPSXKDDD: chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
5 DDT: doanh thu thuần
6 ĐTDH: đầu tư dài hạn
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm công ty cổ phần dệt kim Hà
Nội 12
Bảng 1: Tài sản – nguồn vốn của công ty giai đoạn 2004 – 2008 14
Bảng 2: Kết quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty giai đoạn 2004-2008 17
Bảng 3: Doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động giai đoạn 2004-2008 19
Bảng 4: Các nguồn hình thành tài sản của công ty giai đoạn 2004-2008 28
Bảng 5: Cơ cấu nguồn tài trợ VLĐ năm 2007, 2008 29
Bảng 7: Vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004 – 2008 32
Bảng 8: Cơ cấu vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004 – 2008 32
Bảng 9: Kết cấu vốn bằng tiền của công ty giai đoạn 2004 - 2008 35
Bảng 10: Kết cấu các khoản phải thu của công ty giai đoạn 2004 - 2008 36
Bảng 11: Hàng tồn kho của công ty giai đoạn 2004 – 2008 39
Bảng 12: Cơ cấu hàng tồn kho của công ty giai đoạn 2004 – 2008 39
2.2.4 Tài sản lưu động và đầu tư tài chính ngắn hạn khác 41
Bảng 13: Tài sản lưu động và đầu tư TCNH khác giai đoạn 2004 – 2008 42
Bảng 14: Số vòng quay vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004-2008 42
Bảng 15: Số vòng quay hàng tồn kho của công ty giai đoạn 2004-2008 45
Bảng 16: Kỳ luân chuyển vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004-2008 47
Bảng 17: Kỳ thu tiền bình quân của công ty giai đoạn 2004-2008 48
Bảng18: Mức sinh lời vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004-2008 50
Bảng 19: Mức đảm nhiệm vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004-2008 51
Bảng 20: Các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản của công ty trong năm 2009 62 Bảng 21: Mối quan hệ giữa các khoản mục với doanh thu thuần năm 2008 64
Trang 6Biểu đồ 1: Tình hình biến động VLĐ giai đoạn 2004 - 2008 32
Biểu đồ 2: Biến động số vòng quay VLĐ giai dđạn 2004 - 2008 43
Biểu đồ 3: Biến động số vòng quay HTK giai đoạn 2004 - 2008 45
Biểu đồ 4: Biến động kỳ luân chuyển VLĐ giai đoạn 2004 - 2008 47
Biểu đồ 5: Biến động kỳ thu tiền bq giai đoạn 2004 - 2008 48
Biểu đồ 6: Biến động mức sinh lời VLĐ giai đoạn 2004 - 2008 50
Biểu đồ 7: Biến động mức đảm nhiệm VLĐ giai đoạn 2004 - 2008 51
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Vốn luôn được coi là yếu tố đầu vào quan trọng hàng đầu của mọi quátrình sản xuất kinh doanh, là linh hồn, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp Vì thế có thể nói những thành tựu mà doanhnghiệp đạt được là kết quả của nghệ thuật sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuynhiên, làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả thì không phải doanh nghiệpnào cũng làm được
Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động chiếm tỷ trọng khá caotrong cơ cấu vốn, vì thế biết cách sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quảcũng sẽ làm tăng tính hiệu quả của sử dụng vốn nói chung Công ty cổ phầndệt kim Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước mới được cổ phần hóa năm
2005 theo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nên còn gặp rấtnhiều khó khăn trong mọi hoạt động, bao gồm cả hoạt động sử dụng vốn lưuđộng Việc làm thế nào để sử dụng vốn lưu động một cách hiệu quả, mang lạikết quả tốt nhất đang là vấn đề được công ty rất quan tâm
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, em đã chọn đề tài “ Nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ phần dệt kim Hà Nội” để
viết khóa luận tốt nghiệp Qua nghiên cứu phân tích thực trạng sử dụng vốnlưu động tại công ty em đã đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng vốn lưu động tại công ty Hy vọng nó sẽ đóng góp được phần nào
đó giúp công ty tăng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mình
Kết cấu khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần dệt kim Hà Nội
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cổ
phần dệt kim Hà Nội
Trang 8- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại công ty cổ phần dệt kim Hà NộiMặc dù có nhiều cố gắng nhưng đề tài nghiên cứu của em vẫn còn rấtnhiều khiếm khuyết Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cácthầy cô và cơ quan thực tập để bài viết của em hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Việt Lâm và các cán bộ côngnhân viên công ty cổ phần dệt kim Hà Nội, đặc biệt là các cán bộ trong phòngtài chính kế toán đã giúp em hoàn thành đề tài này
Trang 9- Phân xưởng dệt bít tất của Nhà máy dệt kim Đông Xuân, thuộc BộCông nghiệp nhẹ (nay thuộc Sở công nghiệp Hà Nội);
- Phân xưởng dệt kim bàn của xí nghiệp dệt 8/5 (xí nghiệp dệt bạt cũ, nay
là Công ty dệt 19/5), thuộc Sở công nghiệp Hà Nội;
- Phân xưởng dệt bít tất của xí nghiệp Cự Doanh (nay là công ty ThăngLong), thuộc Sở công nghiệp Hà Nội
Sau đó, ngày 22/6/1997, công ty sáp nhập với xí nghiệp mũ Đội Cấn theoquyết định số 2263/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Hiệnnay, trụ sở công ty đặt tại xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nộivới tổng diện tích mặt bằng là 11000m²
Trang 10Ngay từ những ngày đầu thành lập, công ty đã có hệ thống máy móc thiết
bị gồm 140 máy dệt bít tất tự động, bán tự động và thủ công, 100 máy dệtchun và một số máy công cụ và trang thiết bị phụ trợ Tổng số cán bộ côngnhân viên là 568 người được tiếp nhận từ các cơ sở cũ và tuyển dụng mới.Sản lượng hàng năm đạt trên 1 triệu đôi bít tất và 10 triệu mét chun
Cho đến trước năm 1987, cùng với sự đầu tư thêm nhiều loại máy móc,thiết bị phục vụ sản xuất, nhiều năm liền, công ty luôn giữ vững nhịp độ pháttriển, hoàn thành chỉ tiêu kinh tế xã hội Nhà nước giao và mục tiêu sản xuấtkinh doanh mà công ty đặt ra, tăng sản lượng sản xuất lên 4 triệu đôi tất/năm
để phục vụ cho quốc phòng và nhu cầu tiêu dùng trong nước
Bước sang giai đoạn 1987, khi chuyển sang cơ chế thị trường theo chínhsách đổi mới của Đảng và Nhà nước, thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh,cùng với những doanh nghiệp khác, công ty cũng gặp không ít khó khăn trongviệc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Hàng năm, công ty phải tự cân đối 30 tấnnguyên liệu nhập ngoại, hệ thống thiết bị lạc hậu, thiếu phụ tùng thay thế,thêm vào đó lại phải cạnh tranh với thị trường ngoại nhập, lao động thì dưthừa Trước tình hình trên, công ty đã xác định mục tiêu sản xuất, tổ chức sắpxếp lại lao động theo nghị quyết 175/HĐBT, đồng thời áp dụng các biện pháp
kỹ thuật để phục hồi và cải tiến thiết bị, chú ý hơn đến thị hiếu khách hàng,nâng cao chất lượng sản phẩm Vì vậy, công ty đã vượt qua khó khăn, tồn tại
và duy trì sản xuất với triển vọng ngày càng đi lên
Năm 1990, bằng nguồn vốn tự có, công ty đã đầu tư một dây chuyền sảnxuất bít tất xùi, đưa trình độ công nghệ và trình độ sản phẩm lên một bướcphát triển mới Công ty cũng thanh lý một số máy móc cũ và bắt đầu thựchiện tốt hơn việc sản xuất các mặt hàng theo đúng thị hiếu của khách hàng
Trang 11Giai đoạn 1996 - 2005, công ty tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hàngnăm từ 15% đến 20%, năng suất sản xuất bình quân năm đạt trên 4,4 triệu đôivới sản lượng trên 4,5 tỷ đồng Sản phẩm của công ty được tiêu dùng rộng rãitrên thị trường trong và ngoài nước Nhiều năm liền, sản phẩm bít tất củacông ty được nhận giải bạc chất lượng quốc gia và được người tiêu dùng bìnhchọn là hàng Việt Nam chất lượng cao.
Ngày 17/3/2005, theo quyết định số 1288/QĐ-UB của Ủy ban nhân dânthành phố Hà Nội, công ty dệt kim Hà Nội được chuyển thành công ty cổphần dệt kim Hà Nội Ngày 31/3/2005, Công ty dệt kim Hà Nội đã khóa sổ vàquyết toán để chính thức hoạt động theo hình thức của một công ty cổ phần,
đó là Công ty cổ phần dệt kim Hà Nội với số vốn điều lệ 24.000.000.000đồng, mệnh giá 100.000đ/cổ phần, số lượng cổ phần là 240.000 cổ phần Đây
là một bước ngoặt, đánh dấu một thời kỳ mới cho sự tồn tại và phát triển củacông ty cổ phần dệt kim Hà Nội
1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Căn cứ vào giấy phép kinh doanh và điều lệ hoạt động của công ty thìcông ty cổ phần dệt kim Hà Nội có những chức năng chủ yếu sau đây:
- Sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc ngành dệt may
- Nhập khẩu các thiết bị, nguyên liệu, vật tư hóa chất phục vụ cho nhucầu sản xuất các sản phẩm trong ngành dệt may
- Liên doanh, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế trong và ngoàinước Xuất nhập khẩu và nhận ủy thác xuất nhập khẩu các sản phẩm ngànhdệt may, ngành điện - điện máy và tư liệu tiêu dùng
- Làm đại diện, đại lý bán buôn, bán lẻ các sản phẩm công nghiệp và sảnphẩm tiêu dùng
Trang 12- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ du lịch.
- Kinh doanh bất động sản, cho thuê trụ sở, văn phòng nhà ở và cửa hànggiới thiệu sản phẩm
- Mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật
Để làm tốt các chức năng trên thì công ty cần hoàn thành tốt nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, tổ chức kinh doanh nhằm thựchiện những chức năng trên
- Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường, kiến nghị và đềxuất với Sở Công nghiệp các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong sảnxuất kinh doanh
- Quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đồng thời tự tạo các nguồnvốn cho sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới trang thiết bị,
tự bù đắp chi phí, tự cân đối trong xuất nhập khẩu làm sao phải đảm bảo sảnxuất kinh doanh có hiệu quả và làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
- Nghiên cứu và học tập có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượngquản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đủ sức cạnh tranh và mở rộngthị trường tiêu thụ
- Quản lý và chỉ đạo, tạo điều kiện để các đơn vị trực thuộc công tychủ động sản xuất theo quy chế, pháp luật hiện hành của Nhà nước và Sởcông nghiệp
2 Đặc điểm chủ yếu của công ty trong sản xuất kinh doanh
2.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức
Để đảm bảo cho mọi hoạt động tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh củacông ty đi vào nề nếp ổn định, thống nhất, công ty đã tổ chức bộ máy quản trịtheo mô hình sau (mô hình 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản trị của công ty)
Trang 13Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy quản trị công ty cổ phần dệt kim Hà Nội
Quan hệ trực tuyếnQuan hệ chức năng
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc điều hành
Ban kiểm soát
P Tổ chức
P Xuất nhập khẩu
P Tài chính kế toán
P Sản xuất kinh doanh
Phân xưởng dệt 3
Phân xưởng tẩy nhuộm
Phân xưởng hoàn thành
Phân xưởng dệt 2
Đại hội đồng
cổ đông
P Hành
chính
Trang 14Theo như mô hình đó, bộ máy quản trị của công ty được bố trí gần giốngvới mô hình quản trị kiểu trực tuyến chức năng Toàn công ty được chia làm 3cấp cơ bản là hội đồng quản trị và ban giám đốc, các phòng chức năng, cácphân xưởng sản xuất Hệ thống sản xuất với các phân xưởng làm việc theonhững chức năng cụ thể sẽ góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.
Cụ thể về nhiệm vụ và chức năng của từng bộ phận như sau:
- Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết và
là cơ quan quyết định cao nhất của công ty Đại hội đồng cổ đông của công ty
có nhiệm vụ thông qua định hướng phát triển của công ty; quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết địnhmức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệmthành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát; quyết định đầu tưhoặc bán một số tài sản của công ty; quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ côngty; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; xem xét và xử lý các vi phạm củaHội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông củacông ty; quyết định tổ chức, giải thể công ty
- Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý của công ty, có quyền nhân danh
công ty để quyết định, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công ty không thuộcthẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông Những nhiệm vụ chính của Hội đồngquản trị là quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạchkinh doanh hàng năm của công ty; quyết định giá chào bán cổ phần công ty,quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư; quyết định giải pháp phát triểnthị trường, tiếp thị và công nghệ; giám sát, chỉ đạo ban giám đốc điều hành;quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế nội bộ công ty, trình báo cáo tài chínhhàng năm cho Đại hội đồng cổ đông…
Trang 15- Ban kiểm soát: có quyền thay mặt đại hội đồng cổ đông giám sát, đánh
giá công tác điều hành, quản lý của Hôi đồng quản trị và ban giám đốc; kiểmtra, thẩm định tính trung thực, đúng đắn của các bản báo cáo tài chính cũngnhư các báo cáo khác; kiến nghị hội đồng quản trị, ban giám đốc đưa ra cácgiải pháp phòng ngừa hậu quả xấu có thể xảy ra, giám sát hiệu quả sử dụngvốn của công ty…
- Ban giám đốc điều hành là bộ phận chịu trách nhiệm điều hành công
việc kinh doanh hàng ngày của công ty Các nhiệm vụ cụ thể của ban giámđốc điều hành là: quyết định các công việc kinh doanh hàng ngày của công
ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiệncác quyết định của Hội đồng quản trị; tổ chức thực hiện các kế hoạch kinhdoanh và phương án đầu tư của công ty; kiến nghị phương án cơ cấu tổ chứccông ty; quyết định mức lương và phụ cấp cho lao động và các bộ phận côngty; tuyển dụng lao động; kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trongkinh doanh
- Phòng sản xuất kinh doanh: theo dõi việc thực hiện hợp đồng, cung
ứng vật tư, quản lý hệ thống kho và vận chuyển, tiến hành hoạt động xuấtnhập khẩu Phòng cũng quản lý hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm vàbán sản phẩm của công ty, làm đại lý bán hàng cho các công ty dệt may khácnhư Hanoisimex, Dệt kim Đông Xuân Phòng còn có nhiệm vụ lập và theo dõi
kế hoạch sản xuất và đầu tư, phát triển sản xuất, nâng cao kỹ thuật sản xuất,xây dựng định mức vật tư, lập kế hoạch dự trữ nguyên vật liệu và linh kiệnthiết bị để phục vụ cho sản xuất, thanh toán vật tư, quản lý máy móc thiết bịphục vụ sản xuất tại công ty
- Phòng hành chính: có nhiệm vụ lưu giữ hồ sơ, các loại công văn, giấy
tờ của công ty Phòng còn có nhiệm vụ tổ chức lễ tân, chuẩn bị cho các buổi
Trang 16họp của ban giám đốc và hội đồng quản trị, tổ chức công tác quân sự, an ninh
an toàn trong toàn công ty và trong các dây chuyền công nghệ , đảm bảo quátrình sản xuất được liên tục và giao hàng đúng kế hoạch…
- Phòng tổ chức: thực hiện công tác quản lý nguồn nhân lực, công tác
tiền lương, quản lý hồ sơ đào tạo, hồ sơ nhân viên để có kế hoạch đào tạohoặc đào tạo lại, nâng cao, đáp ứng tình hình sản xuất ngày càng phát triển,thực hiện các chế độ chính sách theo quy định của pháp luật và nhà nước…
- Phòng xuất nhập khẩu: thực hiện các công việc về marketing, nghiên
cứu thị trường, hoạch định sản phẩm, chính sách giá và các chính sách khácnhư quảng cáo, dịch vụ bán hàng, hội chợ, triển lãm… nhằm mở rộng và pháttriển thị trường tiêu thụ, tìm ra các đoạn thị trường mới, thị trường tiềm năng
- Phòng tài chính – kế toán: cập nhật thông tin theo ngày, tháng, quý,
năm với nội dung phù hợp với nghiên cứu tài chính, tập hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm và tham gia vào việc xem xét hợp đồng Phòng còn
có chức năng thống kê và thực hiện thanh toán cho khách hàng
- Phân xưởng dệt 2: là phân xưởng sử dụng các thiết bị dệt cơ khí
- Phân xưởng dệt 3: là phân xưởng sử dụng các thiết bị dệt computer
Hai phân xưởng này chuyên dệt bít tất từ các loại nguyên liệu mộc hoặc
từ nguyên liệu hoặc nhuộm thành phẩm
- Phân xưởng nhuộm: thực hiện nhuộm tất cả các sản phẩm xuất khẩu.
Sau khi bít tất được dệt từ nguyên liệu mộc thường có màu trắng thì khâu tiếptheo chúng được qua phân xưởng nhuộm để cho ra những sản phẩm theođúng đơn đặt hàng Ngoài ra còn có thao tác nhuộm thành phẩm, tức là cácsản phẩm đã được hoàn thành ở khâu trước và phải qua công đoạn thêu thìnhuộm thành phẩm
Trang 17- Phân xưởng hoàn thành: hoàn tất các công đoạn còn lại để cho ra sản
phẩm hoàn chỉnh như sấy, gấp, thêu, sửa chữa khứu thêu
2.2 Đặc điểm về sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm
Như trên đã nói, công ty tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhưngngành nghề kinh doanh chính của công ty vẫn là dệt may Sản phẩm chủ lựccủa công ty là các sản phẩm dệt kim mà chủ yếu là bít tất Sản phẩm bít tất cómẫu mã đa dạng, màu sắc phong phú, độ đàn hồi và bền màu cao nhưng vẫnđảm bảo an toàn về vệ sinh, mang lại cảm giác thoải mái, mềm mại, thoángmát khi sử dụng Bên cạnh bít tất, công ty còn sản xuất các sản phẩm phụ như
áo thun, mũ, khăn mặt, khăn quàng, quần mùa đông… Trước kia, những sảnphẩm này phần lớn mang tính mùa vụ cao, nhưng ngày nay, đặc điểm và sởthích của người tiêu dùng đã thay đổi rất nhiều nên tính mùa vụ của sản phẩmcũng giảm dần, đặc biệt là sản phẩm bít tất
Những sản phẩm của công ty luôn được sản xuất theo những tiêu chuẩnchặt chẽ, đảm bảo an toàn và thoải mái cho người tiêu dùng Cụ thể, tiêuchuẩn được công ty xây dựng và công bố là tiêu chuẩn TC01 (bít tất namgiới), TC02 (bít tất thêu nam, nữ, trẻ em), TC03 (bít tất giấy nữ) Tính chất cơ
lý của sản phẩm được kiểm tra tại trung tâm I – tổng cục tiêu chuẩn đo lườngchất lượng Thêm vào đó, công ty thường xuyên thăm dò, nghiên cứu thịtrường, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng nhằm tạo ra những sản phẩm cótính thời trang và cạnh tranh cao về kỹ thuật , thẩm mỹ Chính những điều này
đã làm cho sản phẩm của công ty luôn đảm bảo đạt được chất lượng tốt nhất,đáp ứng cao nhất với những nhu cầu của khách hàng
Với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh là sản xuất đơn chiếc từng loạibít tất theo đơn đặt hàng mà công ty ký được, quy trình công nghệ sản xuấtsản phẩm của công ty như sau:
Trang 18Sơ đồ 2: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm công ty cổ phần dệt kim
Hà Nội
Quy trình công nghệ sản xuất của công ty là quy trình chế biến liên tục,mỗi dây chuyền sản xuất bao gồm 8 công đoạn riêng biệt Nguyên liệu đầuvào (mua ngoài hoàn toàn) sẽ được nhập kho để phục vụ cho nhu cầu sảnxuất Khi có lệnh hoặc có giấy xuất kho cho các bộ phận sử dụng thì sẽ xuấtkho nguyên liệu Sau đó, nguyên liệu đầu vào đó sẽ đi qua lần lượt các khâuchế biến để tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh
2.3 Đặc điểm về khách hàng và thị trường tiêu thụ
2.3.1 Khách hàng
Khách hàng trực tiếp hiện nay của công ty chủ yếu là những thươngnhân và các nhà nhập khẩu ở các nước, còn các khách hàng mua lẻ từ công tythì vẫn rất hạn chế Điều này là do chức năng sản xuất là chức năng chính củacông ty nên công ty chưa có sự đầu tư chiều sâu vào hoạt động bán lẻ mà chủyếu là bán buôn để có thể quay vòng vốn nhanh cho dù lãi không được cao.Một nguyên nhân nữa khiến công ty chưa thể đầu tư mạng lưới bán lẻ hiện đại
và phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng nhỏ lẻ là do nguồn vốn kinhdoanh còn hạn chế nên không thể đầu tư dàn trải cho mọi hoạt động Với đặc
Thêu
gói
Kho
Trang 19điểm này, hoạt động tiêu thụ chính của công ty là thực hiện các thương vụ,khách hàng chủ yếu là những khách hàng quen Tuy nhiên, có thể thấy sảnphẩm hiện tại của công ty được người tiêu dùng trong nước khá ưa chuộngnên nếu công ty chú trọng hơn nữa đến việc bán lẻ thì rất có thể số lượngkhách mua lẻ của công ty sẽ tăng lên.
2.3.2 Các thị trường tiêu thụ chủ yếu của công ty
Thị trường tiêu thụ của công ty được chia làm hai nhánh chính là thịtrường trong nước và thị trường nước ngoài
Do đặc điểm khí hậu của Việt Nam là lạnh nhiều ở miền Bắc và lạnh íthơn ở miền Trung và miền Nam nên thị trường tiêu thụ của công ty cũng có
sự phân biệt rõ rệt Hiện nay, miền Bắc vẫn là thị trường tiêu thụ chủ lực củacông ty Trước đây công ty chỉ có 6 cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm tậptrung ở Hà Nội nên việc tiêu thụ ở các thị trường ngoài vẫn phụ thuộc nhiềuvào các nhà buôn ở các tỉnh đến mua hàng trực tiếp tại công ty Tuy nhiên,cho đến thời điểm hiện tại, mạng lưới tiêu thụ của công ty đã phát triển khárộng rãi với nhiều cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm ở Hà Nội (5 cửahàng), Hồ Chí Minh (5 cửa hàng), Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, QuảngNinh, Hà Tĩnh, Vinh, Đà Nẵng … Điều này đã tạo thuận lợi hơn rất nhiều choviệc giới thiệu và quảng bá hình ảnh công ty cũng như tiêu thụ sản phẩm củacông ty
Thị trường nước ngoài của công ty cũng khá đa dạng, bao gồm NhậtBản, Nga, Hà Lan, Canada, Lào… Tuy doanh thu từ hoạt động xuất khẩu củacông ty trong những năm gần đây không cao lắm nhưng cũng ghi nhận được
sự phát triển đáng kể của công ty khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Trong các thị trường nước ngoài thì Nhật Bản được xem là thị trườngtrọng tâm của công ty với sức tiêu thụ 70% tổng sản phẩm xuất khẩu Đây là
Trang 20một thị trường khá khó tính nhưng sản phẩm của công ty đã được người tiêudùng Nhật Bản chấp nhận Điều này cho thấy, nếu tận dụng tối đa những cơhội và lợi thế sẵn có thì công ty cũng có thể thâm nhập được vào những thịtrường khó tính khác và đạt được những thành công nhất định Để mở rộng thịtrường xuất khẩu, giới thiệu sản phẩm của mình tới các thị trường mới vàcủng cố niềm tin của những khách hàng cũ, công ty cũng đã thường xuyêntiến hành các chương trình xúc tiến thương mại và tham gia các hội chợ triểnlãm quốc tế.
2.4 Tình hình tài chính của công ty
Bảng 1: Tài sản – nguồn vốn của công ty giai đoạn 2004 – 2008
(Đơn vị : 1000đ)
(%) Tài sản 55.068.432 54.041.992 51.506.550 52.924.798 60.476.206 100
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Hiện nay, vốn điều lệ của công ty vẫn là 24 tỷ đồng, tuy nhiên nguồnvốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã tăng lên rất nhiều Bên cạnh vốnchủ sở hữu, công ty cũng sử dụng linh hoạt nguồn vốn vay để hoạt động sản
Trang 21xuất, kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao hơn Có thể thấy rõ hơn điềunày qua bảng 1 về tình hình tài sản – nguồn vốn của công ty giai đoạn 2004 –
Như vậy có thể thấy hệ số vốn tự có của công ty là tương đối cao, mức
độ chủ động về mặt tài chính của công ty là khá tốt và tình hình tài chínhcũng khá lành mạnh, tuy nhiên hệ số này năm 2008 nhỏ hơn năm 2007 thểhiện tình hình tài chính năm 2007 của công ty khá hơn năm 2008
* Hệ số thanh toán hiện thời =
Hệ số thanh toán hiện thời năm 2007 = 52.924.798/25.349.588
= 2,088
Hệ số thanh toán hiện thời năm 2008 = 60.476.206/33.165.289
= 1,823
Như vậy, tại thời điểm cuối năm 2007 và 2008, nếu công ty bán toàn bộ
số tài sản hiện có thì công ty có đủ khả năng để thanh toán tất cả các khoản
nợ Hệ số này trong 2 năm cũng khá cao chứng tỏ được khả năng thanh toáncủa công ty là khá cao
* Vốn hoạt động thuần = Tổng giá trị thuần của tài sản lưu động – Tổng
nợ ngắn hạn
Vốn hoạt động thuần năm 2007 = 17.086.225 - 16.815.441
Trang 223 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2004-2008 3.1 Kết quả về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Công ty tham gia vào rất nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh nhưngngành nghề kinh doanh chính của công ty vẫn là dệt may Sản phẩm chủ lựccủa công ty là các sản phẩm dệt kim mà chủ yếu là bít tất Sản phẩm bít tất cómẫu mã đa dạng, màu sắc phong phú, độ đàn hồi và bền màu cao nhưng vẫnđảm bảo an toàn về vệ sinh, mang lại cảm giác thoải mái, mềm mại, thoángmát khi sử dụng Bên cạnh bít tất, công ty còn sản xuất các sản phẩm phụ như
áo thun, mũ, khăn mặt, khăn quàng, quần mùa đông… nhưng những mặt hàngnày chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số, bít tất vẫn là mặt hàng mang lạidoanh số cao nhất cho công ty
Cụ thể kết quả về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chính bít tất của công ty được thể hiện qua bảng sau:
Trang 23Bảng 2: Kết quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty
(Nguồn: Phòng sản xuất kinh doanh)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy:
* Về sản xuất sản phẩm: ngoại trừ năm 2005 số lượng bít tất sản xuất ra
có giảm đôi chút so với năm 2004, còn lại sản phẩm sản xuất đều tăng qua cácnăm Cụ thể, tốc độ tăng năng suất qua các năm 2006, 2007 và 2008 lần lượt
là 107%, 155% và 122% Đặc biệt năm 2008, công ty đã có sự nhảy vọt đáng
kể khi sản xuất tới gần 6 triệu đôi bít tất Mặc dù vậy, năng lực sản xuất củamáy móc thiết bị hiện nay đang là 6 triệu đôi/năm Điều này chứng tỏ, công ty
đã không tận dụng hết năng lực sản xuất hiện có, tuy nhiên, cũng đang ngàycàng nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất Thêm vào đó, việc sản xuất baonhiêu còn bị chi phối bởi các yếu tố thị trường như sức tiêu thụ hay khả năngcạnh tranh của công ty Nếu sản xuất quá nhiều có thể sẽ gây ra tình trạngkhông tiêu thụ hết, dư thừa sản phẩm, làm tăng chi phí lưu kho Ngược lại,nếu sản xuất quá ít thì lại dẫn đến tình trạng lãng phí chi phí cố định, hiệu quảsản xuất không cao và có thể không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường
* Về tiêu thụ sản phẩm:
Trang 24- Trên 90% số sản phẩm sản xuất ra của công ty đều được tiêu thụ hếttrong năm Điều này chứng tỏ khả năng dự đoán và bám sát nhu cầu thịtrường của công ty là khá tốt.
- Phần lớn bít tất của công ty được tiêu thụ ở thị trường nước ngoài (hayđược xuất khẩu ra nước ngoài) Đặc biệt, năm 2007 và 2008, tỷ trọng xuấtkhẩu của công ty tăng cao, đạt trên 70% số lượng sản phẩm tiêu thụ Công tácnghiên cứu, mở rộng và tìm kiếm thị trường nước ngoài của công ty đangđược thực thi một cách có hiệu quả Xuất khẩu đang là hoạt động mang tínhchiến lược của công ty
- Năm 2008, trong khi cả thế giới đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tếtrầm trọng, sức tiêu dùng giảm sút thì công ty vẫn duy trì được mức tiêu thụđạt 94,92% số sản phẩm sản xuất ra Điều này là một cố gắng khá lớn củacông ty
- Sức tiêu thụ của thị trường nội địa chỉ đạt khoảng hơn 30% tổng sảnphẩm tiêu thụ của công ty với mức tiêu thụ hàng năm vào khoảng trên 1 triệuđôi bít tất Thị trường nội địa có thể vẫn là thị trường có thể khai thác vàmang lại lợi nhuận lâu dài cho công ty
3.2 Kết quả về doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động
Cùng với những tiến bộ trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, doanhthu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động cũng có những chuyển biếntích cực Có thể thấy rõ qua bảng 3, bảng kết quả về doanh thu, lợi nhuận vàthu nhập người lao động
Trang 25Bảng 3: Doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động
26.907.21 0
29.867.00 0
39.467.14 0
47.380.41 0
- DT bán buôn XK 1000
đ
12.748.59 0
10.105.75
19.872.88 0
24.971.22 0 Lợi nhuận trước thuế 1000
đ 1.621.450 1.372.980 1.565.410 3.542.340Lợi nhuận sau thuế 1000
đ 1.167.440 1.372.980 1.565.410 2.542.040 2.901.120Kim ngạch xuất khẩu USD 1.098.104 808.792 868.532 1.267.698 1.539.804
Thu nhập bq của
người lao động
1000
đ 974,860 925,750 1.005,471 1.421,200 2.027,300
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Qua bảng số liệu trên ta có nhận xét:
- Về doanh thu: tổng doanh thu của công ty liên tục tăng kể từ sau khi cổphần hóa Từ năm 2007, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thứccủa WTO và có nhiều mối quan hệ hơn với bạn bè quốc tế thì doanh thu tăngmạnh, đặc biệt là doanh thu từ hoạt động bán buôn xuất khẩu Nếu năm 2006,doanh thu từ hoạt động bán buôn xuất khẩu chỉ đạt 8.782.920 nghìn đồng,chiếm 29,41% tổng doanh thu thì sang năm 2007, doanh thu từ hoạt động này
đã đạt 19.872.880 nghìn đồng, chiếm 50,35% tổng doanh thu và tăng126,27% so với năm 2006
- Cùng với sự tăng lên của tổng doanh thu thì lợi nhuận cũng tăng lênđáng kể Lợi nhuận trước thuế liên tục tăng từ năm 2005 đến 2008, kéo theo
đó là sự tăng lên của lợi nhuận sau thuế và cổ tức trên một cổ phần
- Kim ngạch xuất khẩu của công ty cũng không ngừng gia tăng qua các
Trang 26năm Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt mức hơn 1,2 triệu đô la Mỹ, tăng399.166 đô la và bằng 145,96% kim ngạch xuất khẩu năm 2006 Năm 2008,kim ngạch xuất khẩu đạt 1.539.804 triệu đồng, tăng 21,46% so với năm 2007.Đây là điều rất đáng mừng Cùng với sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu thìkim ngạch nhập khẩu cũng tăng tương ứng với mức tăng qua các năm lần lượt
là 138,42% (năm 2007) và 27,55% (năm 2008) Mặc dù vậy, có thể dễ dàngnhận thấy cán cân thương mại vẫn nghiêng nhiều hơn về phía xuất khẩu Hoạtđộng xuất khẩu vẫn là hoạt động tương đối mạnh và là hoạt động chủ lực củacông ty trong tiêu thụ hàng hóa
- Về thu nhập cho người lao động: năm 2005, sau khi cổ phần hóa, công ty
đã tiến hành sắp xếp lại lao động theo hướng tinh giảm đội ngũ lao động, nângcao chất lượng lao động và qua đó để tăng thu nhập cũng như quyền lợi chongười lao động Kết quả là thu nhập trung bình của người lao động đã tăng lênđáng kể Mức thu nhập này đã tăng dần qua các năm với số lượng tương ứng là1,005 triệu (năm 2006), 1,4 triệu năm 2007 và 2,03 triệu năm 2008 Tuy nhiên,
có lẽ tốc độ tăng thu nhập này chỉ đủ để duy trì cuộc sống hiện tại của ngườilao động mà không đủ để làm tăng mức sống cho người lao động được.Nguyên nhân là do tình trạng lạm phát đang tăng nhanh ở Việt Nam
Từ những nhận xét trên có thể thấy trong những năm gần đây, công ty đãsản xuất kinh doanh có lãi và phát triển ổn định Mặc dù tình hình kinh tế thếgiới, khu vực cũng như trong nước có nhiều bất ổn nhưng công ty vẫn duy trìđược mức tăng trưởng khá và có doanh thu, lợi nhuận liên tục tăng qua cácnăm, đảm bảo được đời sống của cán bộ công nhân
3.3 Kết quả về khách hàng và thị trường tiêu thụ
Như ở trên đã phân tích, hoạt động mang lại doanh thu nhiều nhất chocông ty là hoạt động xuất khẩu, trong đó chủ yếu là xuất khẩu công nghiệp.Sản phẩm xuất khẩu chính của công ty vẫn là bít tất Trong những năm qua,
Trang 27hoạt động nghiên cứu và mở rộng thị trường tiêu thụ được quan tâm khánhiều và đã mang lại những kết quả nhất định
Với thị trường trong nước, công ty đã cố gắng củng cố những thị trườngtruyền thống, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với những khách hàng quen, cải tiếnmẫu mã, chất lượng sản phẩm cũng như giá cả cho phù hợp hơn với sở thíchtiêu dùng của người Việt Nam Tuy nhiên, sức tiêu thụ trên thị trường nàyđang có xu hướng bão hòa, không còn phát triển nữa Số lượng bít tất tiêu thụđược ở thị trường nội địa chỉ đạt khoảng 30% tổng sản phẩm tiêu thụ củacông ty
Thị trường nước ngoài vẫn là thị trường hứa hẹn nhiều sự hấp dẫn hơncho công ty Nhật Bản là khách hàng tiêu thụ sản phẩm lớn nhất của công tyvới mức tiêu thụ hàng năm đạt trên 70% tổng sản phẩm xuất khẩu Bên cạnhnhững thị trường truyền thống như Nhật Bản, Lào, Canada…, công ty cũngđang hướng sự cố gắng của mình vào việc thâm nhập vào những thị trườngkhó tính như EU hay Mỹ Năm 2008, công ty đã ký được một số hợp đồngvới các đối tác của Mỹ và đã xuất sang thị trường này 2.851.854 đôi bít tất.Đây có thể coi là thành công lớn của công ty trong những bước đầu thâmnhập vào thị trường này
Xét chung trong cả giai đoạn 2004-2008 thì định hướng của công ty vẫn
là tiếp tục duy trì và giữ vững mối quan hệ tốt đẹp với các thị trường truyềnthống vốn có và mở rộng, thâm nhập vào những thị trường mới Tỷ trọng sảnphẩm xuất khẩu của công ty có mặt trên các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật,Bản, Canada ngày càng nhiều cho thấy sự lớn mạnh của các khu vực thịtrường này Mặc dù vậy, một số khu vực thị trường khác của công ty lại đang
bị thu hẹp dần như Czech, Yemen Đây là kết quả của những chiến lược pháttriển của công ty nhằm tăng cường sức mạnh xuất khẩu vào các thị trường
Trang 28mới hơn và giảm lượng xuất khẩu vào những thị trường đã có dấu hiệu bãohòa và suy thoái
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT KIM HÀ NỘI
1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty
1.1 Nhóm nhân tố khách quan
1.1.1 Lạm phát, tỷ giá hối đoái
Do đặc điểm của công ty là phải nhập khẩu gần như toàn bộ nguyên vậtliệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh và hàng hóa sản xuất ra có tớigần 70% là xuất khẩu nước ngoài nên tình hình lạm phát và tỷ giá hối đoái cóảnh hưởng rất lớn tới việc sử dụng vốn lưu động của công ty Khi tỷ giá hốiđoái tăng cao đi đôi với tình hình lạm phát trong nước, đồng nội tệ bị mất giátrị thì để mua được một số lượng các yếu tố đầu vào như cũ, công ty cần phải
bỏ ra một lượng vốn lớn hơn so với trước kia Ngược lại, khi tỷ giá hối đoáigiữa đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ giảm, công ty sẽ là người có lợi do chỉphải sử dụng một lượng vốn ít hơn vào việc mua sắm các yếu tố đầu vào phục
vụ sản xuất
Thời gian gần đây, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,tình hình kinh tế của các nước nói chung đều xấu đi, Việt Nam cũng nằmtrong số đó, lạm phát tăng cao còn tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ với cácngoại tệ mạnh không ổn định Điều này đã làm cho việc sử dụng vốn củacông ty gặp nhiều khó khăn hơn do phải tìm cách phân bổ nguồn vốn một
Trang 29cách hợp lý để vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục.
1.1.2 Đặc điểm thị trường các yếu tố đầu vào
Yếu tố đầu vào đầu tiên phải kể đến là con người Đây là yếu tố quantrọng quyết định hiệu quả mọi hoạt động của công ty nói chung và hiệu quả
sử dụng vốn nói riêng Thị trường lao động của Việt Nam hiện nay khá phongphú và đa dạng, lao động đã qua đào tạo chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trongtổng số lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển dụng và tuyển chọnlao động của công ty Khi đội ngũ cán bộ công nhân có trình độ cao hơn, khảnăng làm việc tốt hơn thì tất yếu sẽ dẫn tới hiệu quả và kết quả làm việc tốthơn, và do đó hiệu quả sử dụng vốn của công ty sẽ tăng lên Cùng một lượngvốn bỏ ra sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận hơn, vốn được quay vòng nhanh hơn vàkhông bị ứ đọng trong khâu sản xuất
Nguyên vật liệu cũng là một yếu tố đầu vào quan trọng Thị trườngnguyên vật liệu đầu vào của Việt Nam phục vụ cho sản xuất sản phẩm dệtkim hiện vẫn chưa được quan tâm phát triển đúng mức, nguồn nguyên liệutrong nước chưa đủ để cung cấp cho nhu cầu của các nhà sản xuất, đồng thờichất lượng của nguyên vật liệu cũng chưa cao Do đó, hầu hết các doanhnghiệp dệt may, trong đó có công ty cổ phần dệt kim Hà Nội đang phải nhậpkhẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài để phục vụ cho nhu cầu sản xuất củamình Mặc dù vậy thì công ty cũng đã thiết lập được những đối tác tin cậy choriêng mình Gần như tất cả các hãng cung cấp vật liệu của nước ngoài đều yêucầu có những ký kết và điều kiện ràng buộc lâu dài như ngoài việc đặt hàngtheo đơn thì còn phải có các hợp đồng định kỳ và cho phép công ty đặt ký quỹ10% tiền hàng, số còn lại được phép trả chậm trong một thời hạn nhất định,thông thường là 2 tháng Đây là một điều kiện thuận lợi cho việc chiếm dụng
Trang 30vốn đối tác của công ty Tuy nhiên, cũng với điều kiện này thì công ty phảichấp nhận một thực tế là giá thành sản phẩm của mình cao hơn so với giá trịthực của sản phẩm đã làm ra do có tính đến yếu tố trả chậm Vì vậy, giá vốnhàng bán của công ty thường cao hơn các đối thủ khác Bên cạnh đó còn phảixét đến yếu tố hoàn trả tiền hàng cho bên cung cấp nguyên vật liệu Khi đến
kỳ trả tiền, công ty lại phải huy động nhiều nguồn vốn hơn để trả Mặt khác,trong điều kiện thị trường tài chính không ổn định, giá ngoại tệ bất ổn thìcông ty rất dễ bị thiệt Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lượng tiền của công
ty và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
1.1.3 Các chính sách quản lý của nhà nước
Nhà nước có chủ trương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển,đặc biệt khuyến khích và thúc đẩy mở rộng hình thức công ty cổ phần Công
ty cổ phần dệt kim Hà Nội là một trong những công ty nhà nước đã cổ phầnhóa theo chủ trương này nên đã nhận được khá nhiều ưu đãi từ phía Chínhphủ như được miễn thuế thu nhập trong 2 năm 2005 và 2006 Thêm vào đó,Nhà nước cũng phát triển thị trường tài chính bằng các chính sách khuyếnkhích nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào thị trường trong nước như cho phépnhà đầu tư nước ngoài được phép mở ngân hàng 100% vốn nước ngoài tạiViệt Nam Điều này có tác động tích cực tới thị trường tài chính nói chung vàthị trường vốn nói riêng Nó tạo được cơ chế thông thoáng trong hoạt độngcủa các ngân hàng, tạo môi trường cạnh tranh đối với các ngân hàng trongnước vốn đã độc quyền Chủ trương này của Nhà nước giúp công ty có thểhuy động vốn dễ dàng, nhanh chóng, giúp hoạt động sản xuất được liên tục,
có cơ hội xúc tiến các hoạt động đầu tư có quy mô rộng hơn, tận dụng đượccác cơ hội Việc phát triển thị trường chứng khoán và các cơ chế thông thoáng
sẽ làm thị trường vốn trở nên sôi động hơn, và do đó, các công ty cổ phần sẽ
Trang 31hình thức cổ phần này.
Chủ trương giảm lãi suất cũng là một trong những khuyến khích của nhànước để tạo điều kiện thuận lợi cho công ty, nó giúp công ty sử dụng hiệu quảhơn các khoản nợ do phải trả lãi suất ít hơn Tuy vậy, do các thủ tục để vayvốn còn quá rườm rà nên phần nào đã gây khó khăn cho công ty khi phải vayvốn ngân hàng hoặc khi tiếp cận với các nguồn vốn vay khác Điều này cũngảnh hưởng đáng kể đến khả năng huy động vốn vay của công ty khi cần thiết,qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của công ty
1.2 Nhóm các nhân tố chủ quan
1.2.1 Đặc điểm loại hình sản xuất kinh doanh
Mặc dù công ty tham gia vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau nhưnghoạt động kinh doanh chính của công ty vẫn là sản xuất và xuất khẩu bít tất,ngoài ra công ty cũng tiến hành gia công theo đơn hàng cho một số kháchhàng khác Do đặc điểm này nên công ty luôn có một lượng hàng hóa, thànhphẩm và bán thành phẩm trong kho nhất định để đảm bảo đáp ứng kịp thờicác đơn hàng cho khách hàng Do đó, vốn lưu động dưới dạng hàng tồn kho
sẽ chiếm một tỷ trọng tương đối trong tổng vốn lưu động Thêm vào đó, dophải mua nguyên vật liệu từ nước ngoài, kỳ hạn mỗi lần giao hàng của ngườicung cấp dài và số lượng vật tư được cung cấp mỗi lần ít nên doanh nghiệpluôn phải đầu tư một lượng vốn lưu động để dự trữ vật tư hàng hóa thì mới cóthể đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục Như vậy,lượng vốn lưu động bị ứ đọng đó sẽ không đem lại hiệu quả sử dụng cao,ngoài ra công ty còn phải chịu thêm phần chi phí lưu kho và bảo quản vật tư,thành phẩm… qua đó làm tăng chi phí sản xuất và giảm năng lực cạnh tranhcho sản phẩm của công ty Đối với những đơn hàng gia công thì công tykhông phải mua nguyên vật liệu mà chỉ trực tiếp sản xuất theo đúng yêu cầucủa khách hàng dựa trên số nguyên vật liệu mà khách hàng đem đến nên nhu
Trang 32cầu vốn lưu động trong trường hợp này sẽ ít hơn.
Một đặc điểm nữa cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu độngcủa công ty, đó là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩm chính của công ty làcác loại bít tất nên chu kỳ sản xuất kinh doanh không quá dài, điều này giúpcông ty thu hồi vốn nhanh, do đó sẽ tạo điều kiện để công ty nhanh chóngquay vòng vốn để tái sản xuất
1.2.2 Đặc điểm cơ sở vật chất của công ty
Hiện nay, công ty đã trang bị được một hệ thống máy móc thiết bị kháhiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm hệ thống dâychuyền sản xuất liên hoàn và nhiều máy móc thiết bị được nhập khẩu từnhững nước có nền công nghiệp tiên tiến Phần lớn các máy móc thiết bị củacông ty là hoàn toàn tự động, trong đó có một số thiết bị thêu, dệt sử dụng vimạch điều khiển, thiết kế và lập trình máy tính Với đặc điểm này, công ty đã
có thể đổi mới được quy trình công nghệ, tạo ra những sản phẩm có chấtlượng cao và mẫu mã phong phú, đồng thời cũng tiết kiệm được nguyên vậtliệu sản xuất, giảm được chi phí tiền lương trả cho những lao động cơ bản…Trên khía cạnh nào đó, doanh nghiệp chỉ cần một lượng vốn lưu động ít hơnnhưng hiệu quả đem lại sẽ cao hơn
1.2.3 Năng lực hoạt động của bộ máy quản trị công ty
Bộ máy quản trị của một doanh nghiệp nói chung được chia thành ba cấp
là cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở, có nhiệm vụ định hướng chiến lược, lập kếhoạch sản xuất kinh doanh và ra các quyết định liên quan đến mọi hoạt độngcủa công ty Cụ thể, bộ máy quản trị chính là người đưa ra các quyết định vềsản xuất, tài chính, cung ứng, dự trữ, tiêu thụ… và trực tiếp quản trị các hoạtđộng đó Tất cả những hoạt động trên đều có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệuquả sử dụng vốn lưu động của công ty, do vậy, năng lực của ban quản trị cũng
Trang 33sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hay không.Nếu năng lực của bộ máy quản trị tốt, họ sẽ đưa ra những quyết định đúngđắn, kịp thời và phù hợp nhất với tình hình thực tế của công ty, từ đó làm tănghiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hiệu quả sử dụngvốn lưu động nói riêng Ngược lại, bộ máy quản trị làm việc kém khoa học thìhiệu quả mọi hoạt động của công ty cũng sẽ không cao.
Đối với công ty cổ phần dệt kim Hà Nội, hiện nay tất cả các cán bộ cấpcao trong bộ máy quản trị đều có trình độ đại học và trên đại học và có nhiềukinh nghiệm làm việc Do đó, những quyết định mà họ đưa ra đều được dựatrên những cơ sở lý luận và thực tiễn hợp lý, góp phần làm tăng tính đúng đắntrong các quyết định quản trị và giảm thiểu việc đưa ra những quyết định sai.Việc hoạch định nhu cầu vốn và bố trí để sử dụng hợp lý các nguồn vốn cũngđược cán bộ quản trị tính toán và sắp xếp một cách hợp lý nhất Thêm vào đó,các cán bộ quản trị cấp cơ sở cũng luôn sát sao, quản lý mọi hoạt động thườngnhật của công ty nên tình trạng sử dụng vốn lãng phí, không hợp lý cũng ítxảy ra
2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần dệt kim Hà Nội giai đoạn 2004-2008
2.1 Tình hình phân bổ vốn lưu động của công ty
2.1.1 Nguồn hình thành vốn lưu động của công ty
Về nguyên tắc, TSCĐ (tài sản dài hạn) trước hết phải được tài trợ bằngnguồn vốn thường xuyên (nguồn vốn dài hạn) Tuy nhiên, sự phối hợp giữacác nguồn vốn để đảm bảo nhu cầu về vốn đầu tư TSLĐ (cả TSLĐ thườngxuyên và TSLĐ tạm thời) hoặc TSCĐ còn phụ thuộc vào tình hình cụ thể củatừng doanh nghiệp Đối với công ty cổ phần dệt kim Hà Nội ta thấy nguồnhình thành tổng tài sản của công ty giai đoạn 2004-2008 như ở bảng 4 ở dưới
Trang 34Bảng 4: Các nguồn hình thành tài sản của công ty giai đoạn 2004-2008
Đơn vị: 1000đ
Nguồn hình
TT TB (%)
I Nguồn vốn
ngắn hạn
11.099.54 3
13.092.04 6
13.069.14 2
16.815.44 1
13.069.14 2
16.815.44 1
40.949.54 6
38.437.40 8
36.109.35 7
27.094.15 2
27.575.21 0
51.506.55 0
52.924.79 8
60.476.20
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Theo như bảng 1 về cơ cấu tài sản – nguồn vốn của công ty giai đoạn
2004 - 2008 ta thấy TSCĐ & ĐTDH của công ty giai đoạn 2004-2008 chiếm71,84% tổng tài sản, trong khi đó theo như bảng 4 thì nguồn vốn dài hạn củacông ty chiếm 74,25% tổng nguồn vốn Điều này chứng tỏ một phần TSLĐcủa công ty đã được tài trợ bằng nguồn vốn dài hạn Như vậy công ty đã đảmbảo được nguyên tắc tài trợ và dùng nguồn tài trợ ổn định (tức nguồn vốn dàihạn để đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư về TSCĐ và một phần TSLĐ)
Căn cứ vào thời gian huy động thì nguồn vốn lưu động được chia thànhnguồn vốn lưu động thường xuyên và nguồn vốn lưu động tạm thời
Trong đó: Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ – Nợ ngắn hạn
Nếu chỉ xét riêng 2 năm 2007 và 2008 thì ta có:
Nguồn VLĐ thường xuyên năm 2008 = 16.493.857 - 16.482.168
= 11.689 (nghìn đồng)
Trang 35Nguồn VLĐ thường xuyên năm 2007 = 17.086.225 – 16.815.441
TT (%)
Số tiền (1000đ)
TT (%)
A TSLĐ & ĐTNH 17.086.225 100 16.493.857 100
I Nguồn VLĐ thường xuyên 270.784 1,58 11.689 0,07
II Nguồn VLĐ tạm thời 16.815.441 98,42 16.482.168 99,93
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Từ bảng trên ta thấy, tính đến thời điểm 31/12/2008, tổng TSLĐ vàĐTNH của công ty là 16.493.857 nghìn đồng Số vốn lưu động này được tàitrợ 0,07% từ nguồn vốn lưu động thường xuyên với số tiền tương ứng là11.689 nghìn đồng, phần còn lại (99,93%) được tài trợ từ nguồn vốn lưu độngtạm thời Đánh giá về tính ổn định của nguồn vốn thì có 0,07% nguồn vốn lưuđộng thường xuyên được tài trợ bằng nguồn dài hạn và 99,93% được tài trợbằng nguồn có tính chất tạm thời nên đã giúp cho công ty chủ động được vốnlưu động và đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinhdoanh Mô hình tài trợ này cũng giúp công ty xác lập được sự cân bằng vềthời hạn sử dụng vốn và nguồn vốn, do đó có thể hạn chế được các chi phí sửdụng vốn phát sinh thêm và những rủi ro về mặt tài chính cho công ty Cơ cấutài trợ này cũng cho ta thấy khả năng thanh toán của công ty khá tốt, tình hìnhtài chính tương đối lành mạnh
Để đảm bảo đủ vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh, công ty phải huyđộng từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu vẫn là nợ ngắn hạn Cụ thểcác nguồn tài trợ cho vốn lưu động của công ty trong hai năm 2007-2008 có
Trang 36thể thấy rõ trong bảng sau:
Bảng 6: Nguồn hình thành vốn lưu động của công ty năm 2007-2008
Chỉ tiêu
Số tiền (1000đ)
TT (%)
Số tiền (1000đ)
TT (%)
Số tiền (1000đ)
TT (%)
I Nguồn VLĐ tạm thời 16.815.441 98,42 16.482.168 99,93 -333 -1,98
4 Thuế và các khoản phải
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn quan trọng nhất giúp công ty
đảm bảo nhu cầu vốn lưu động của mình là vay và nợ ngắn hạn Năm 2007,
công ty đã vay ngắn hạn hơn 9 tỷ đồng, chiếm 54,36% tổng nguồn tài trợ
Năm 2008, tỷ lệ vay nợ ngắn hạn đã giảm 7,11% so với năm 2007 nhưng
cũng chiếm tới 52,31% tổng vốn
Bên cạnh nợ ngắn hạn, công ty còn sử dụng các khoản phải trả khi chưa
đến kỳ thanh toán để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của mình Cụ
thể, công ty đã sử dụng các khoản này như sau:
- Phải trả cho người bán: đây là nguồn tài trợ ngắn hạn mà công ty không
phải trả chi phí khi không thanh toán tiền hàng trong thời hạn được hưởng
chiết khấu Năm 2007, khoản vốn lưu động được tài trợ từ nguồn này là hơn
3,67 tỷ đồng, chiếm 21,49% tổng nguồn vốn Sang năm 2008, khoản tài trợ
này tăng thêm 340 triệu đồng, đạt 4,013 tỷ đồng, chiếm 24,33% tổng vốn
Như vậy đã có sự gia tăng về tỷ lệ tài trợ từ nguồn phải trả người bán Trên
Trang 37thực tế, khi sử dụng tín dụng của nhà cung cấp, công ty phải có sự cân nhắc
kỹ lưỡng các khoản nợ này vì bề ngoài, công ty có thể không phải trả lãi,nhưng thực chất bên trong công ty đã phải chịu các điều kiện ràng buộc từphía nhà cung cấp (như phải mua với giá cao, số lượng nhiều…) Sử dụng tíndụng thương mại cũng làm tăng rủi ro tài chính cho công ty vì đòi hỏi công typhải thanh toán cho người bán trong thời gian ngắn
- Người mua trả trước: đây là khoản mà khách hàng phải ứng trước chocông ty khi có đơn hàng với công ty Năm 2007, nguồn tài trợ từ khoản nàychỉ chiếm 1,15% trong tổng các nguồn tài chợ, nhưng sang năm 2008, sốtiền mà khác hàng ứng trước đã tăng thêm 745.552 nghìn đồng và chiếm5,69% tổng nguồn vốn Sử dụng khoản này cũng mang lại khá nhiều lợi íchcho công ty do khi sử dụng khoản chiếm dụng này công ty không mất chiphí sử dụng vốn
- Ngoài những khoản ở trên, công ty còn sử dụng khoản tiền phải nộpngân sách nhưng chưa nộp để làm khoản tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động củamình Tuy vậy thì khoản này chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng số nợngắn hạn và đã giảm trong năm 2008 so với 2007 Khoản phải trả công nhânviên và các khoản phải trả, phải nộp khác cũng là những khoản chiếm dụnghợp pháp để công ty đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động của mình Cáckhoản này cũng tăng trong năm 2008 so với 2007
2.1.2 Kết cấu vốn lưu động của công ty
Vốn lưu động của bất kỳ công ty nào cũng đều tồn tại trong tài sản ngắnhạn của công ty đó, bao gồm: tiền và các khoản tương đương tiền, các khoảnđầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tàisản ngắn hạn khác Cụ thể cơ cấu và sự biến động vốn lưu động của công ty
cổ phần dệt kim Hà Nội giai đoạn 2004-2008 như sau:
Bảng 7: Vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004 – 2008
Trang 38(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Bảng 8: Cơ cấu vốn lưu động của công ty giai đoạn 2004 – 2008
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán)
Biểu đồ 1: Tình hình biến động VLĐ giai đoạn 2004 - 2008
Trang 390 2000000
Từ bảng kết cấu tài sản lưu động của công ty ta thấy trong tổng số tài sảnlưu động và đầu tư ngắn hạn thì hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất.Năm 2007, hàng tồn kho chiếm 55,40% tổng tài sản lưu động với số tiền9.464.988 nghìn đồng Sang năm 2008, vốn lưu động tồn tại dưới dạng hàngtồn kho tăng lên 10.231.328 nghìn đồng, chiếm 62,03% tổng tài sản lưu động
Do đặc trưng của công ty là công ty sản xuất nên luôn phải có một lượng nhấtđịnh thành phẩm, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và nguyên vật liệu dựtrữ cho quá trình sản xuất Vì vậy, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn trong cơcấu vốn lưu động là bình thường Tuy vậy, việc để quá nhiều hàng tồn khocũng sẽ gây khó khăn rất nhiều cho công ty do bị ứ đọng vốn, tiền không sinh
ra tiền ngay được và do đó sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động củacông ty
Cùng với hàng tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm một tỷ
lệ đáng kể trong tổng số tài sản ngắn hạn Năm 2008, các khoản phải thu ngắnhạn chiếm 25,23% tổng tài sản ngắn hạn với lượng tiền tương ứng là hơn 4,16
tỷ đồng, giảm 1,48 tỷ đồng so với năm 2007 Điều này cho thấy tình hình thutiền hàng của công ty năm 2008 đã được thực hiện tốt hơn so với năm 2007.Tuy vậy, nếu xét trên toàn giai đoạn 2004-2008 có thể thấy các khoản phải
Trang 40thu này có sự biến động không ổn định, khi tăng, khi giảm Điều đó lại chothấy một sự bất ổn trong việc thu tiền hàng của công ty Do đó, công ty cầnchú trọng hơn đến khâu này để vốn lưu động được sử dụng một cách có hiệuquả nhất.
Tiền và các khoản tương đương tiền là khoản tài sản lưu động lớn thứ basau hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn Trong toàn giai đoạn 2004-
2008, nhìn chung lượng tiền của công ty khá ổn định, luôn chiếm khoảng10% tổng số tài sản lưu động Duy nhất có sự tăng lên đột biến của năm 2008.Năm 2008, tiền và tương đương tiền của công ty là 1.995.081 nghìn đồng,chiếm 12,09% tổng tài sản ngắn hạn Việc công ty duy trì được một lượngtiền mặt như vậy vừa giúp công ty có thể đảm bảo cho các hoạt động giaodịch hàng ngày diễn ra bình thường đồng thời cũng không quá nhiều để gâylãng phí do tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi
Ngoài hàng tồn kho, phải thu ngắn hạn, tiền và các khoản tương đươngtiền thì đầu tư tài chính ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác cũng là thành phầncủa tài sản lưu động, tuy nhiên hai thành phần này chiếm một tỷ lệ rất nhỏtrong tổng số tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn và không ảnh hưởng quánhiều đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty
2.2 Tình hình sử dụng vốn lưu động của công ty
2.2.1 Vốn lưu động bằng tiền
Vốn lưu động bằng tiền của công ty bao gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửingân hàng Cụ thể, tình hình biến động vốn lưu động bằng tiền giai đoạn2004-2008 của công ty như sau: