Đứng trước yêu cầu đó, lãnh đạo nhà trường cùng với cán bộ quản lý, trưởng các Khoa, Phòng, Ban, Trung tâm, Bộ môn luôn trăn trở về công tác quản lý đội ngũ giảng viên của đơn vị mình, đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
5 Giả thuyết khoa học
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Cấu trúc của Luận văn
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Giảng viên
1.2.2 Đội ngũ giảng viên
1.2.3 Quản lý đội ngũ giảng viên
1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đội ngũ giảng viên Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.3.1 Đặc điểm của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.3.2 Nội dung quản lý giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.3.3 Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.4.1 Yếu tố khách quan
1.4.2 Yếu tố chủ quan
Tiểu kết chương 1
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THÁI BÌNH 2.1 Những thông tin cơ bản về trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
2.1.1 Quá trình thành lập
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh Nhà trường
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Nhà trường
2.1.4 Hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Nhà trường
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
2.2.1 Thực trạng về số lượng
2.2.2 Thực trạng về chất lượng
2.2.3 Thực trạng về cơ cấu
Trang 7 8 8 9 9 10 10 11 12 12 20 23 33 34
37
38
39
39
40
41
42
42
43
44
45
47
48
54
60
Trang 42.2.4 Đánh giá chung về đội ngũ giảng viên
2.3 Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
2.3.1 Kế hoạch tổng thể công tác quản lí ĐNGV
2.3.2 Những định hướng của Nhà trường nhằm quản lí ĐNGV giai đoạn 2011- 2020
Tiểu kết chương 2
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2011- 2020 3.1 Định hướng phát triển Nhà trường
3.2 Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lí ĐNGV của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011- 2020
3.3 Nguyên tắc đề ra các biện pháp
3.4 Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
3.4.1 Biện pháp 1: Xây dựng, lập kế hoạch phát triển ĐNGV theo lộ trình nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2020
3.4.2 Biện pháp 2: Tập trung xây dựng đội ngũ giảng viên đầu đàn, nòng cốt trong việc thực hiện lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2020
3.4.3 Biện pháp 3: Đổi mới công tác đánh giá ĐNGV của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
3.4.4 Biện pháp 4: Tăng cường điều kiện, vật chất và tinh thần cho ĐNGV theo chính sách hiện hành
3.5 Mối quan hệ giữa các biện pháp
3.6 Kháo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận
2 Khuyến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
62
67
74
75
77
82
84
85
87
88
90
92
95
97
98
100
101
102
103
105
Trang 5KÝ HIỆU CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng quy mô đào tạo của Nhà trường qua các năm 44
Bảng 2.2 Thực trạng quy mô đào tạo của Nhà trường qua 5 năm 45
Bảng 2.3 Kết quả đào tạo liên kết đại học VLVH và ĐA26 của Tỉnh ủy 47
Bảng 2.5 Kết quả đào tạo bậc Trung học VLVH ở cơ sở đào tạo liên kết 48
Bảng 2.6 Bảng thống kê chất lượng đào tạo từ năm 2006- 2010 49
Bảng 2.7 Tình hình việc làm của HSSV bậc CĐ&TH hệ CQ 50
Bảng 2.8 Tình hình sử dụng cán bộ xã, phường theo ĐA26 của Tỉnh ủy 51
Bảng 2.11 Bảng thống kê số lượng GV theo Khoa, Trung tâm 57
Bảng 2.12 Bảng thống kê trình độ học vấn của ĐNGV theo Khoa, Tr.Tâm 63
Bảng 2.13 Bảng thống kê trình độ học vấn của đội ngũ GVCH 64
Bảng 2.15 Bảng thống kê tuổi đời GV theo từng Khoa, Trung tâm 66
Bảng 2.20 Nhu cầu đội ngũ cán bộ viên chức đến năm 2020 74
Bảng 2.22 Nhu cầu về cơ cấu học hàm, học vị của GVCH đến năm 2020 75 Bảng 3.1 Kết quả của các nhóm đối tượng về tính cấp thiết của HT các BP 102 Bảng 3.2 Kết quả của các nhóm đối tượng về tính khả thi của HT các BP 103
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy Trường CĐKTKT Thái Bình 42 Hình 2.2 Biểu đồ quy mô đào tạo của Nhà trường qua 5 năm 45
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong văn kiện Hội nghị TW2 khóa VIII ghi nhận: “ Giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu” Tại đại hội khóa IX quan điểm này tiếp tục được phát
triển: “ Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững ” Phát triển giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực chất
lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội
Sự phát triển của một quốc gia trong thế kỷ XXI sẽ phụ thuộc lớn vào tiềm năng tri thức của đất nước đó Giáo dục cùng với khoa học công nghệ là
nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đại hội Đảng lần
thứ X tiếp tục nhấn mạnh Đảng ta coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển
Đội ngũ giảng viên có một vai trò vô cùng quan trọng để làm cho giáo dục
thực hiện được sứ mệnh cao cả như Hồ Chủ Tịch đã từng nói:“Không có
Thầy thì không có giáo dục” điều đó chứng tỏ rằng quản lý đội ngũ giảng
viên là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong chiến lược phát triển giáo dục
Chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ký ngày 15/06/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục, đã chỉ đạo: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục một cách toàn diện” Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng nhu cầu trước
mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài Công tác quản lý đội ngũ giảng viên đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục là giải pháp trọng tâm có tính sống còn của Nhà trường Công tác quản lý đội ngũ
Trang 9giảng viên của Nhà trường là yếu tố mang tính chiến lược đáp ứng lộ trình nâng cấp trường lên Đại học và mục tiêu phát triển của Nhà trường đến năm
2020
Đứng trước yêu cầu đó, lãnh đạo nhà trường cùng với cán bộ quản lý, trưởng các Khoa, Phòng, Ban, Trung tâm, Bộ môn luôn trăn trở về công tác quản lý đội ngũ giảng viên của đơn vị mình, để từ đó cùng với lãnh đạo Nhà trường xây dựng đội ngũ giảng viên thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình là một trường Cao đẳng trực thuộc Ủy Ban nhân dân Tỉnh Thái Bình và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục & Đào tạo Nhà trường với bề dày truyền thống 50 năm xây dựng và phát triển Trường được Chính Phủ và Bộ Giáo dục & Đào tạo quyết định Đề
Án nâng cấp trường thành trường Đại học Nhà trường với chức năng, nhiệm
vụ đào tạo nguồn nhân lực có trình độ Cao đẳng, Trung cấp và các trình độ khác thấp hơn Nhà trường đào tạo liên thông với các trường Đại học trong cả nước, phấn đấu trở thành một trường trọng điểm, đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực trong và ngoài Tỉnh Nhà trường xây dựng chiến lược phát triển giai đoạn 2011- 2020 với mục tiêu trọng tâm phát triển đội ngũ giảng viên đảm bảo chất lượng, hợp lý về cơ cấu, có đầy đủ phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường thành trường Đại học Trước yêu cầu đó, tác giả thấy đây là vấn đề quan trọng và là một trong những yếu tố mang tính chiến lược
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan như trên, tác giả mạnh
dạn chọn đề tài:“ Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao
đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011-2020”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên nhằm đáp ứng nhu
Trang 10cầu nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình trong mối quan hệ với lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học và các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường đến năm 2020
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Về nội dung
Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình đáp ứng lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện mục tiêu chiến lược của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020
4.2 Về khách thể khảo sát
- Đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
- 106/ 123 giảng viên trong toàn trường
- 28/35 cán bộ quản lí các khoa, phòng, trung tâm, bộ môn
4.3 Về thời gian nghiên cứu
Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu giới hạn từ năm 2006- 2011
5 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được những biện pháp tác động đồng bộ vào các thành tố, cấu trúc của đội ngũ giảng viên, có phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn phù hợp với điều kiện thực tiễn của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình thì sẽ phát triển được đội ngũ giảng viên của Nhà trường đáp ứng
lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 116.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp tài liệu hiện có để hình thành lý luận của đề tài
- Thu thập các tài liệu, số liệu, những vấn đề có liên quan đến biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của Nhà trường đáp ứng lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiên các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, phỏng vấn, đối chiếu, phân tích, so sánh
- Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên ở các trường Cao đẳng khối Kinh tế Kỹ thuật
Chương 2: Thực trạng về đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
Chương 3: Những biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011- 2020
Trang 12Toi da doc va thay tuong doi tot roi.Co the bo sung mot vai diem nhu sau.Trong phan 1.4.1 noi ve dac diem cua giang vien cac truong cao dang kinh te ki thuat can lam ro nhung dac thu ve CHUYEN MON, NANG
LUC
SU PHAM , KHA NANG THUC HANH, SU DUNG TRANG THIET BI,
CONG NGHE THONG TIN,, dac trung cho doi ngu nay.Hai la mot so cau trinh dan cua em chua co nguon, can bo sung.The thoi.Con lai la tot roi.Chuc thanh
congC H|ƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CÁC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KHỐI KINH TẾ KỸ THUẬT
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quản lý đội ngũ giảng viên là một đề tài được nhiều tác giả quan tâm
và nghiên cứu với những mục đích và dưới nhiều góc độ khác nhau Cụ thể như:
- Đề tài: “ Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng sư phạm Hòa Bình trong giai đoạn 2006- 2010” của Thạc sĩ Nguyễn
Thị Lệ Hường, năm 2006; Đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình giai đoạn 2006- 2010
- Đề tài: “ Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng Cộng đồng Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của Thạc sĩ Hoàng Ngọc
Hiền, năm 2007;
- Đề tài: “ Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu
cầu nâng cấp trường Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Công nghiệp I thành trường Đại học” của Thạc sĩ Trần Ngọc Huy, năm 2007;
- Đề tài: “ Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường
Cao đẳng Xây dựng” của Thạc sĩ Lê Văn Dũng, năm 2008;
Các công trình, đề tài nghiên cứu với những mục tiêu và hoàn cảnh khác nhau Tuy nhiên, các đề tài trên cũng đã đề cập nhiều biện pháp trong công tác quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên của trường mình Song, các
đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích và đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ
Trang 13giảng viên cho tổ chức của mình nên phạm vi áp dụng còn hạn chế Chưa có
đề tài nào nghiên cứu quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh
tế Kỹ thuật giai đoạn 2011- 2020 Chính vì vậy tác giả nghiên cứu Đề tài:
“ Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình giai đoạn 2011- 2020” Tác giả cố gắng phân tích, đề xuất
các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu nâng cấp trường thành trường Đại học và thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển của Nhà trường giai đoạn 2011- 2020
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Giảng viên
Theo điều 61 Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam được Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 chỉ rõ: “ Nhà giáo
là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên” [4, tr 56]
Theo Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“ Giảng viên là tên gọi chỉ nhà giáo thực hiện hoạt động dạy học và giáo dục tại các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học” Trang 50 Luật giáo
dục (1999), Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (10.2004), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nhà giáo là nhân tố ảnh hưởng chính và quyết định đến chất lượng của giáo dục Sản phẩm lao động của họ là những con người được giáo dục, đào tạo về kiến thức cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng lao động đáp ứng nhu cầu của kinh tế xã hội Trong thời kỳ Hội nhập Kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay càng đòi hỏi một nền giáo dục chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài phục vụ cho sự phát triển của đất nước Những người trực tiếp tạo ra sản phẩm đó chính là nhà giáo, họ là người mang kiến thức đến cho
Trang 14người học và đồng thời hình thành ở họ nhân cách và đạo đức cho lớp lớp thế
hệ nối tiếp nhau trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Với nguồn nhân lực vừa hồng, vừa chuyên đó sẽ góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới
Họ không những truyền thụ kiến thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng thực hành cho sinh viên mà còn dạy cho các em cách học, cách đưa ra sáng kiến, ý tưởng trong công việc; xây dựng nhân cách cho sinh viên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Luật Giáo dục, điều 14 nói về vai trò của nhà giáo: “Nhà giáo có vai
trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục Nhà giáo phải không
ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học” [4, tr 13]
Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục, để đáp ứng với những thay đổi không ngừng trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa
và xã hội thì yêu cầu đối với đội ngũ nhà giáo ngày một chất lượng hơn
* Yêu cầu nhà giáo phải có các phẩm chất, năng lực sau:
Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong các nghề cao quý Người thầy giáo được xã hội tôn vinh là những kỹ sư tâm hồn Để xứng đáng với nghề cao quý đó, nhà giáo phải thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình được quy định rõ ràng trong Luật Giáo dục
a) Phẩm chất chính trị, đạo đức tốt
Bất cứ một nghề nào cũng đặt phẩm chất chính trị, đạo đức lên hàng đầu, đặc biệt là nghề nhà giáo thì phẩm chất này càng được đề cao hơn bao giờ hết Bởi người giáo viên như những tấm gương soi rọi, tấm gương có trong, có sáng thì mới thấy hết được ưu, nhược điểm và khả năng nhận thức của người học trò mình dậy Chính vì vậy, người giáo viên cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh
Trang 15Phẩm chất chính trị của nhà giáo được chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá
rất cao Người cho rằng: “…có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù
học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng” Người cũng nghiêm túc phê phán tư
tưởng bàng quan chính trị trong đội ngũ nhà giáo: “Nếu thầy giáo, cô giáo
bàng quan thì lại đúc ra một số công dân không tốt, cán bộ không tốt”.[6]
Đối với người giảng viên, có nhận thức chính trị đúng chưa đủ, mà còn phải có khả năng xử lý được những tình huống chính trị và định hướng nhận thức chính trị, xã hội cho sinh viên Thầy giáo, cô giáo luôn là tấm gương đạo đức cho sinh viên noi theo Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay càng đòi hỏi người giảng viên phải giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp của mình Người giảng viên là những người tham gia trực tiếp vào việc đào tạo nên các thế hệ sinh viên phục vụ vào sự phát triển của đất nước Do vậy, người giảng viên cũng phải có đủ sức khỏe theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ; có lý lịch bản thân rõ ràng
b) Kiến thức chuyên môn
được của con người về thế giới tự nhiên và xã hội nhờ học tập trong trường
và trải nghiệm trong thực tế cuộc sống”
Kiến thức của người giảng viên không phải là nguồn kiến thức độc tôn đối với người học, song nhiệm vụ quan trọng của họ là cung cấp kiến thức chính xác, có hệ thống và giúp người học biết cách tự học, tự nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình Người giảng viên phải có kiến thức chuyên môn về môn học mình đảm nhiệm, có khả năng tổ chức, điều khiển và làm trọng tài trong các hoạt động của người học
Kiến thức chuyên môn của người thầy phải giỏi và thật sâu, có khả năng trả lời những câu hỏi của người học với chuyên môn mà mình phụ trách Luôn luôn quan tâm việc đổi mới, lựa chọn nội dung, phương pháp, chương
Trang 16trình phù hợp với mục tiêu đào tạo, đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng người học để đạt chất lượng cao nhất
Người giảng viên xác định khi bước lên bục giảng phải có một khối lượng kiến thức sâu rộng về chuyên môn và có kiến thức về một số môn khoa học khác phục vụ cho chuyên ngành giảng dạy để giúp các em nhìn nhận và hiểu rõ hơn những vướng mắc của mình, từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp phù hợp với chương trình và mục tiêu đào tạo
Đặc thù của giáo dục Đại học và Cao đẳng là tạo ra lực lượng lao động
có trình độ từ Cao đẳng trở lên, có chuyên môn, nắm được kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng đòi hỏi của xã hội trong việc phát triển kinh tế của đất nước
Do đó, giáo dục Đại học và Cao đẳng phải đảm bảo thống nhất giữa dạy lý thuyết và thực hành, gắn tri thức lý luận với thực tiễn cuộc sống, làm cho sinh viên trở thành người hiểu sâu về một chuyên ngành, biết rộng về nhiều lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay
Như vậy, GV không chỉ là người có kiến thức chuyên môn sâu, mang tính lý luận sách vở mà còn phải có những kinh nghiệm giải quyết những vấn
đề nảy sinh trong thực tiễn Một người GV giỏi phải là người tinh thông lý luận, nhuần nhuyễn thực tiễn, thực sự là điểm tựa tin cậy cho sinh viên
c) Năng lực sư phạm
NLSP là yếu tố cấu thành cơ bản tạo nên tư chất người GV Năng lực
sư phạm là tổng hợp những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng những nhu cầu của hoạt động sư phạm và quyết định sự thành công trong việc giảng dạy NLSP thể hiện trước hết ở khả năng truyền thụ kiến thức ở người học
Tuy nhiên, theo lý luận dạy học hiện đại thì “ Dạy là sự điều khiển tối ưu hóa
quá trình người học, chiếm lĩnh nội dung học và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân cách”; “ học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên” [15]
Như vậy, nhiệm vụ của người GV không đơn thuần là người truyền thụ
Trang 17kiến thức, mà còn là người biết gợi mở, hướng dẫn, dạy người học cách tìm kiếm và xử lý thông tin để vận dụng thông tin một cách hợp lý, chính xác Theo GS Nguyễn Đức Chính, NLSP có thể được cụ thể hóa bằng các
kỹ năng sau:
+ Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức và tiến hành dạy học;
+ Kỹ năng tổ chức quản lý, tư vấn, giúp đỡ SV ngoài giờ học;
+ Kỹ năng giao tiếp;
+ Kỹ năng đánh giá (tự đánh giá, đánh giá đồng nghiệp, đánh giá chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của SV);
+ Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học;
+ Kỹ năng thích ứng với những thay đổi trong giáo dục cũng như trong đời sống xã hội;
+ Kỹ năng tự học và học tập suốt đời
* Vị trí vai trò của giảng viên
Dân tộc ta, từ ngàn xưa vốn có truyền thống hiếu học, nhà giáo bao giờ
cũng được nhân dân yêu mến, kính trọng, vì thế ca dao có câu: “ Muốn sang
phải bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy Thầy” đã truyền tụng
trong dân gian từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Dân tộc Việt Nam có truyền thống
hiếu học, tôn sư trọng đạo, quý trọng thầy giáo Thầy giáo là một nghề cao quý Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người Bác mong các cô, các chú luôn xứng đáng với nghề thầy giáo của mình”
Đảng, Nhà nước ta luôn xác định: “ Nhà giáo giữ vai trò quyết định
trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” Nhà giáo phải không ngừng học
tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm những điều kiện cần thiết về vật chất
Trang 18và tinh thần để nhà giáo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học Ở mọi thời đại nghề dạy học vẫn được xã hội tôn vinh, vị trí của nhà giáo luôn được đề cao:
“Chúng ta có ĐNGV là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục; người thầy giáo là người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận tư tưởng văn hóa Đó là người truyền thụ cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, dạy cho các em có tri thức và kỹ năng lao động nghề nghiệp, tạo nên lớp người có ích cho đất nước”.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, người giáo viên nói chung, giảng viên nói riêng luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời tham gia vào xây dựng kinh tế, phát triển đất nước, tạo vị thế về mọi mặt của Việt Nam trên chính trường quốc tế và khu vực Vì vậy, trong lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước,
vị trí của người giáo viên nói chung, giảng viên nói riêng luôn được quý trọng
và tôn vinh
* Quyền của giảng viên
Chương III, Điều 25 Điều lệ trường Cao đẳng ghi rõ GV trường Cao đẳng có quyền:
(1) Được bố trí giảng dạy theo chuyên ngành được đào tạo, xác định nội dung các giáo trình giảng dạy phù hợp với quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
(2) Lựa chọn phương pháp và phương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân, đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo;
(3) Được tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo và bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được thi nâng bậc, chuyển ngạch giảng viên theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ- Công chức;
Trang 19(4) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần theo các chế độ chính sách quy định cho nhà giáo, được hưởng các chế độ nghỉ lễ theo quy định của nhà nước và được nghỉ hè, nghỉ Tết, nghỉ học kỳ theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo;
(5) Được ký hợp đồng giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục, nghiên cứu khoa học ngoài trường, theo quy định của Bộ luật Lao động và Quy chế thỉnh giảng do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành;
(6) Tham gia thực hiện Quy chế dân chủ trong nhà trường;
(7) Được Nhà nước xét tặng các danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú, Huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục” và các danh hiệu thi đua khác
* Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của giảng viên
Chương III, Điều 26, Điều lệ trường Cao đẳng quy định tiêu chuẩn, nhiệm
vụ của giảng viên trường Cao đẳng như sau:
bằng khá, giỏi có phẩm chất tốt và những người có trình độ Đại học và sau Đại học, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên để tiếp tục đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm
- Nhiệm vụ của giảng viên
sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường Cao đẳng và Quy chế tổ chức và hoạt động của trường;
Trang 20(2) Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình đã được Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhà trường quy định Viết giáo trình, phát triển tài liệu phục
vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của Trường, Khoa, Bộ môn;
phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;
chuyển giao công nghệ theo sự phân công của Nhà trường, Khoa, Bộ môn;
cách của người học, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học, hướng dẫn người học nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống;
dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
giao;
1.2.2 Đội ngũ giảng viên
1.2.2.1 Đội ngũ
Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng
nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “ Đội ngũ là một tập thể người gắn
kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc”.[8]
1.2.2.2 Đội ngũ giảng viên
ĐNGV là một tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục tại các trường Cao đẳng, Đại học được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức) cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tập hợp đó, tổ chức đó Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật,
Trang 21thể chế xã hội Tập hợp giảng viên của một trường Đại học, Cao đẳng nhất định thì được gọi là đội ngũ giảng viên của trường đó
Khi nói đến ĐNGV thì phải hiểu và xem xét trên quan điểm hệ thống
Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối quan
hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó Trong khuôn
các Phòng, Khoa, Trung tâm của trường Cao đẳng mà không đề cập đến GV làm công tác quản lý trường học và các nhân viên phục vụ giảng dạy
1.2.2.3 Yêu cầu đối đối với đội ngũ giảng viên
+ Số lượng: Số lượng là biểu thị về mặt chất lượng của ĐNGV Mỗi trường phải có đủ GV tương ứng với số lượng sinh viên và chương trình đào tạo của trường theo một tỉ lệ nhất định Trên cơ sở đó, mỗi trường tự lập quy hoạch xây dựng cho mình một kế hoạch phát triển ĐNGV của mình sao cho vừa đảm bảo chất lượng giảng dạy, vừa đảm bảo quy định của nhà nước về tỉ
lệ sinh viên trên GV, vừa đảm bảo đời sống cho GV
+ Chất lượng: Chất lượng của ĐNGV là một trong những điều kiện quyết định chất lượng đào tạo của một trường Chất lượng ĐNGV bao hàm nhiều yếu tố như: Trình độ đào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên làm việc trong tổ chức, thâm niên trong vị trí làm việc, sự hài hòa giữa các yếu tố Tuy nhiên, cần chú trọng 2 nội dung:
Thứ nhất, trình độ đào tạo: GV có được đào tạo chính quy hay không, chất lượng và uy tín của nhà trường, bằng cấp, học vị
Thứ hai, sự hài hòa giữa nội dung công việc và trình độ đào tạo: Có
được bố trí giảng dạy đúng chuyên môn hay không? Có đủ tiêu chuẩn về trình độ, năng lực để giảng dạy hay không? Việc phân công hoặc tuyển dụng giảng viên về các khoa, bộ môn đã hợp lí chưa?
Từ phân tích trên, ta xác định được nội dung và nhiệm vụ nâng cao chất lượng ĐNGV Một số biện pháp phát triển như tuyển dụng, đào tạo, bồi
Trang 22dưỡng, Song song với việc thực hiện các biện pháp là vấn đề kiểm tra, đánh giá tình hình giảng dạy của mỗi giảng viên một cách thường xuyên, có kế hoạch nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
+ Cơ cấu
Cơ cấu ĐNGV phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, hợp lí dựa trên các nội dung sau:
các môn học, nó cho thấy sự thừa, thiếu của giảng viên;
trọng ở các trình độ đào tạo như tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân (kỹ sư);
Cơ cấu ĐN theo độ tuổi: Đó là tỉ trọng giảng viên theo độ tuổi của họ Đây là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng phát triển của tổ chức, là
cơ sở cho việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ kế cận, các vị trí chủ chốt, giảng viên đầu ngành;
Cơ cấu ĐN theo giới tính: Là tỉ lệ giảng viên theo giới tính nam - nữ
Tỉ lệ này được xem xét nhằm mục đích có sự cân đối, đảm bảo công việc tránh nhiều xáo trộn khi giảng viên nghỉ vì lí do cá nhân, đồng thời có những tác động cần thiết thông qua quản trị nhân sự, nhằm nâng cao chất lượng hiệu xuất công tác của từng cá nhân và cả đội ngũ
1.2.3 Quản lí đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng trong các trường Cao đẳng, Đại học Nó có ảnh hưởng trực tiếp, quyết định đến chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường Chính vì thế cần phải quản lý đội ngũ giảng viên trong nhà trường để phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng nhu cầu ngày một chất lượng cao của nền giáo dục nước nhà Sau đây là các khái niệm
cơ bản
1.2.3.1 Quản lí
Từ khi xuất hiện hoạt động lao động, tạo ra các giá trị phục vụ cuộc
Trang 23sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng xuất lao động cao hơn Do đó, cần phải có người đứng đầu chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh , từ đó xuất hiện người quản lý
Hoạt động QL bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả hơn, năng xuất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lí Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra
QL là một loại hình hoạt động xã hội vô cùng quan trọng của con người trong cộng đồng, nhằm mục đích thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra Khái niệm quản lí xuất hiện cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại, khi các hoạt động của xã hội loài người còn khá đơn giản thì việc quản lí được thực hiện theo kinh nghiệm với sự linh hoạt, nhạy bén của người đứng đầu tổ chức Xã hội loài người phát triển thì công tác quản lí, kinh nghiệm của người đứng đầu ngày càng phong phú hơn Điều này đồng nghĩa với khái niệm quản lí được xây dựng trên cơ sở các hoạt động thực tiễn và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn
Mọi hoạt động trong xã hội đều cần đến quản lí Ngày nay, quản lí không còn đơn giản bằng kinh nghiệm, mà quản lí được xác định vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô
và vi mô Quản lí có vai trò quyết định tới sự thành công hay thất bại trong nhiều lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội
Nói đến quản lí là nói đến công tác tổ chức, xây dựng tổ chức, điều phối tổ chức, phát triển tổ chức nếu không thì quản lí không có mục tiêu, không vận động đến mục tiêu Một tổ chức không có quản lí thì sẽ là tổ chức
đi đến diệt vong, không tồn tại Quản lí nhằm đạt tới chất lượng tổng thể và hiệu quả bền vững, thích ứng mọi sự thay đổi Đòi hỏi nhà quản lí vừa phải
Trang 24biết làm việc đúng và làm đúng việc theo chức trách, bổn phận của mình Khái niệm quản lí là một khái niệm rộng, có nhiều cách định nghĩa theo các cách tiếp cận khác nhau
Đề cập đến quản lí C.Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp
hay chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần phải
có một sự chỉ đạo, điều hòa những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng”.
F.W Taylor- Người được coi là cha đẻ của thuyết quản lí khoa học cho
rằng: “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái
đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”.
Henry Fayol (nhà lí luận quản lí kinh tế người Pháp)- Người đầu tiên
chỉ ra chức năng quản lí thì cho rằng: “Quản lí là sự dự đoán và lập kế hoạch,
tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra”.
Theo tác giả người Mỹ, H.Koontz trong tác phẩm: “Những vấn đề cốt
yếu của quản lí”, thì cho rằng: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm, với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn ít nhất”
Ở Việt Nam nhiều tác giả có những khái niệm về quản lí như sau:Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí cho rằng:
“Hoạt động quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản
lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Khái niệm này hiện nay đã được định nghĩa rõ hơn: “Quản lí là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lí là tác động có mục
Trang 25đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến những lao động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”
Tác giả Mai Hữu Khuê trong tác phẩm “Lí luận quản lí nhà nước”
xem quản lí là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác
Từ các quan niệm của các học giả đã nêu, tác giả Trần Khánh Đức khái
quát lại: “Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành
động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu
đề ra một cách hiệu quả nhất”.[12]
Như vậy, khái niệm quản lí có nhiều cách diễn đạt khác nhau, song cho
dù diễn đạt bằng cách nào đi chăng nữa thì các tác giả cũng đều thống nhất quan điểm:
- Quản lí là một quá trình tác động liên tục có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí trong một tổ chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đề
ra trong điều kiện biến động của môi trường
- Quản lí là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Hoạt động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho tổ chức tồn tại, vận hành và phát triển
Do vậy, quản lí gồm các yếu tố sau:
+ Chủ thể quản lí: Là một cá nhân, hay một nhóm, một tổ chức tạo ra
những tác động quản lí (ai quản lí ?)
+ Khách thể quản lí: Là đối tượng quản lí, đó có thể là người (quản lí
ai?), vật (quản lí cái gì?) hay sự việc (quản lí việc nào?)
+ Công cụ quản lí: Là phương tiện tác động của chủ thể quản lí tới
khách thể quản lí, (quản lí thông qua cái gì? Công cụ, phương tiện nào?) như: Quyết định, chính sách, luật lệ, nội quy, quy định
+ Biện pháp quản lí: Là cách thức tác động của chủ thể quản lí tới
Trang 26khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu đề ra ( quản lí bằng cách nào, quản
lí như thế nào?)
Do vậy, ta có thể khẳng định, quản lí vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, bởi vì các hoạt động quản lí có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những qui luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể (tính khoa học), đồng thời nó cũng cần được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, con người cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác trong đời sống xã hội
Các hoạt động tác động của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí thông qua các khâu hay các hoạt động xác định khi được chuyên môn hóa gọi là chức năng quản lí Chức năng quản lí là tổng hợp vai trò, vị trí các mặt hoạt động của hệ thống quản lí đối với môi trường bên ngoài và bên trong nó Trong giáo dục đào tạo là sự tác động của nhà quản lí giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh, sinh viên và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu quản lí giáo dục Các chức năng quản lí là những hoạt động chuyên biệt, đặc thù của công tác quản lí Có nhiều ý kiến khác nhau khi xác định chức năng quản lí, song đều thống nhất ở bốn chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch hóa; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra
- Chức năng kế hoạch hóa: Là một trong những chức năng quan
trọng nhất của hoạt động quản lí Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chứa và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Để thực hiện tốt chức năng kế hoạch hóa phải: Xác định, hình thành mục tiêu (phương pháp) đối với tổ chức; Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để thực hiện các mục tiêu này và quyết định xem các hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ
giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm chúng thực
Trang 27hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lí có thể điều hành, phối hợp tốt hơn các nguồn nhân lực, vật lực khi chức năng tổ chức có hiệu quả Việc sử dụng các nguồn lực của tổ chức có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lí của nhà quản lí
và điều này sẽ tạo ra thành tựu của tổ chức
- Chức năng kiểm tra: Là việc đo lường, đánh giá kết quả của quá
trình lao động trong một thời gian nhất định, trên cơ sở đối chiếu với những chuẩn mực của tổ chức đã đặt ra, từ đó tìm ra ưu, khuyết điểm để phát huy, sửa chữa và điều chỉnh trong tổ chức nhằm thực hiện mục tiêu đề ra Trong chức năng này tổ chức có thể điều chỉnh hoặc sửa lại chuẩn mực nếu cần thiết Các chức năng quản lí diễn ra theo một chu trình mang tính logic chặt chẽ Tuy nhiên, sự kế tiếp và độc lập của các chức năng chỉ là tương đối, tùy theo nội dung, điều kiện, thời điểm mà nếu một số chức năng có thể tiến hành độc lập, đan xen hay đồng thời với nhau
a) Quản lí giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên Nhà sư phạm Cô-men-xki (1592- 1670) - người đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường, mà cho đến nay vẫn còn giá trị đã tạo cơ sở ra đời của
vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản lí giáo dục là “tổ chức hệ thống giáo
dục” trên qui mô toàn xã hội Ông đã đề xuất một hệ thống các trường học
dành cho các lứa tuổi khác nhau
Theo tác giả X.T.Groupe Lewin trong cuốn: “Hỗ trợ từ xa- Giải thích
thuật ngữ tâm lí giáo dục” của dự án Việt Bỉ thì “Quản lí giáo dục là quá trình nghiên cứu khoa học về các sự kiện và phương pháp tham gia và quyết định tổ chức hoạt động giáo dục và khoa học quản lí chương trình giáo dục”
Trang 28Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lí giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các qui luật khách quan của các cấp quản lí giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của hệ giáo dục, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì: “Quản lí giáo dục là quản lí trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[16]
Theo UNESCO thì quản lí giáo dục là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy chế và cách thức vận hành của
hệ thống giáo dục, tất cả các cấu phần hoạt động của hệ thống
Trang 29Ngày nay, GD không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì nó
được gắn với quá trình phát triển xã hội Việc đi học của mỗi người là: “Học
thường xuyên, học suốt đời” Do vậy giáo dục không chỉ giới hạn cho thế hệ
trẻ mà giáo dục cho mọi người Vì vậy, QLGD là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
b) Quản lí nhà trường
Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động
trung tâm này Do vậy, quản lí nhà trường là: “Quản lí hoạt động dạy- học,
tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”
trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy - Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”.[7]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, quản lí nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo Nhà trường là cơ sở tiến hành quá trình giáo dục- đào tạo, là thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Nhà trường tổ chức cho việc kiến tạo xã hội nói trên đạt các mục tiêu xã hội và đặt ra nhóm dân cư được huy động vào
sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm xã hội
Trường học là tổ chức giáo dục mang tính nhà nước- xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào cơ sở, là đơn vị chủ chốt của bất
cứ hệ thống giáo dục nào Vì nhà trường vừa là khách thể cơ bản của tất cả
Trang 30các cấp quản lí, vừa là hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó, quản lí trường học nhất thiết phải vừa có tính chất nhà nước, vừa có tính chất xã hội sâu sắc
Lịch sử phát triển của giáo dục cho thấy: Dạy- học tồn tại như một hoạt động xã hội, nó gắn liền với hoạt động của con người, hoạt động dạy của người Thầy và hoạt động học của Trò đều nhằm mục đích vào nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Thực tiễn đã chứng minh rằng, dạy- học là con đường cơ bản nhất, thuận lợi nhất giúp người học trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể chiếm lĩnh được một khối lượng tri thức, kỹ năng và các hoạt động trí tuệ của loài người
Xã hội càng phát triển, yêu cầu hoạt động quản lí nhà trường ngày càng cao Quản lí nhà trường quyết định đến sự thắng lợi các mục tiêu giáo dục- đào tạo của nhà trường Chỉ có quản lí tốt mới phát huy cao độ nguồn lực trong nhà trường, nguồn vật chất phục vụ cho quá trình dạy và học Thông qua quản lí, mọi hoạt động của nhà trường được điều chỉnh đúng hướng và được ưu tiên thuận lợi nhất Quản lí nhà trường gắn liền với vai trò của chủ thể quản lí, nhờ có vai trò lãnh đạo mà công tác quản lí được thể hiện nghiêm túc, hiệu lực quản lí được thể hiện cao nhất
Quản lí nhà trường là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của Thầy và Trò, đồng thời quản lí những điều kiện cơ sở vật chất và công viêc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục tiêu của GD- ĐT Bản chất của quản lí nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển vận động của các thành tố, mối quan hệ giữa các thành tố Mối quan hệ đó là quá trình sư phạm trong nhà trường qui định
“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng”- Thành tích của nhà trường chính là kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh đạt được mục tiêu giáo dục của nhà trường.[7]
Quản lí nhà trường thực hiện hoạt động quản lí trong tổ chức nhà
Trang 31trường Hoạt động quản lí nhà trường do chủ thể quản lí nhà trường thực hiện, bao gồm các hoạt động quản lí bên trong nhà trường như:
- Quản lí, phát triển đội ngũ cán bộ, đội ngũ giảng viên;
- Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị sư phạm trong nhà trường;
- Quản lí quá trình dạy học, giáo dục;
- Quản lí học sinh, sinh viên;
- Quản lí tài chính trường học;
- Quản lí quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng xã hội
c) Quản lí nguồn nhân lực
Nhân lực hiểu theo nghĩa chung nhất là nguồn lực con người Trong nền sản xuất và xã hội hiện đại, cùng với các nguồn lực khác (vật chất, tài chính, công nghệ), nguồn lực con người hay nguồn vốn con người có vai trò quan trọng là nhân tố quyết định các hoạt động của đời sống, xã hội
năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó
chức năng quản lí giúp cho người quản lí tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên của tổ chức”
- Sử dụng nguồn nhân lực: Là quá trình tuyển dụng, lựa chọn, sàng lọc,
bố trí, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ và kế hoạch hóa sức lao động;
- Phát triển nguồn nhân lực: Bao gồm các nhu cầu, dinh dưỡng và sức khỏe; giáo dục và đào tạo; dân số và kế hoạch hóa gia đình, văn hóa và truyền thống dân tộc; việc làm và phân phối thu nhập;
- Môi trường làm việc của nguồn nhân lực: Mở rộng chủng loại việc làm; mở rộng quy mô việc làm; phát triển tổ chức
Đối với ngành giáo dục thì quản lí nguồn nhân lực chính là QLĐNGV,
Trang 32cán bộ công nhân viên của ngành; trong đó cốt lõi là lực lượng giảng viên, giáo viên Việc xây dựng một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng; đồng thời đào tạo, bồi dưỡng năng lực- chuyên môn nghiệp vụ cũng như phẩm chất của đội ngũ đó để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nâng cao chất lượng giáo dục là khâu trọng tâm trong quá trình quản lí nguồn lực giáo dục
d) Quản lí đội ngũ giảng viên
nhằm đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lí về cơ cấu, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong các hoạt động dạy học và giáo dục sinh viên Trên cơ sở đó, ĐNGV đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình đào tạo của giáo dục Cao đẳng, Đại học
1 3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1 3 1 Đặc điểm của đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
Giảng viên Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, đảm trách nhiều môn chuyên sâu về kiến thức Kinh tế, Kỹ thuật Nhưng họ có các đặc điểm chung sau:
- Giảng viên Kinh tế, Kỹ thuật được đào tạo theo chuyên môn trong lĩnh vực Kinh tế, Kỹ thuật, không được đào tạo chuyên sâu về công tác sư phạm;
- Giảng viên Kinh tế, Kỹ thuật có kiến thức chuyên môn vững vàng, năng lực sư phạm của ĐNGV có những hạn chế nhất định;
- Giảng viên các trường Kinh tế, Kỹ thuật chủ yếu dậy các môn Kinh
tế, Kỹ thuật, mà đặc trưng các môn này là rất nguyên tắc, khô khan, cứng nhắc;
- Giảng dạy kiến thức kinh tế gắn liền với thực tế các doanh nghiệp Chính vì vậy mà giảng viên các trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật ngoài kiến
Trang 33thức lý thuyết vững vàng thì cần phải có một lượng kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn phong phú;
- Nhiều giảng viên tham gia điều hành các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở trong và ngoài Tỉnh
1 3 2 Nội dung quản l í giảng viên các trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo; họ là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu trong các trường Cao đẳng, Đại học
trong nhà trường là quá trình thực hiện các nội dung về lập kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng và đào tạo môi trường sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của người GV thực hiện đáp ứng mục tiêu,
kế hoạch đào tạo của nhà trường
1.3.2.1 Kế hoạch hóa việc phát triển đội ngũ
Theo tác giả Phạm Văn Trang trong đề cương bài giảng Quản lí nhân lực đưa ra định nghĩa:
“ Lập kế hoạch nhân lực là một tiến trình đề ra và thực hiện các công việc về nhân lực để đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân lực đáp ứng nhu cầu của đơn vị hay của tổ chức và đảm bảo việc bố trí sử dụng nhân lực có hiệu quả”
Căn cứ vào kế hoạch phát triển tổng thể, để dự báo triển vọng theo kế hoạch 5 năm, 10 năm trong đó gồm có dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Dự báo được xu hướng diễn biến của nhân lực Nhà trường về mặt số lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNGV Kinh tế, Kỹ thuật, chỉ ra yêu cầu, điều kiện, khả năng thực hiện quản lí ĐNGV của nhà trường
Căn cứ vào ĐNGV hiện có, nhiệm vụ đào tạo của nhà trường hiện tại
và theo hướng phát triển tương lai Để phác họa dự báo kế hoạch nhân lực phù hợp với yêu cầu công việc: Kế hoạch tuyển chọn mới, giải quyết ĐNGV
Trang 34hiện có đi đào tạo bồi dưỡng, giải quyết số GV dư thừa, không đáp ứng được giảng dạy điều chuyển công tác khác Kế hoạch dự kiến thời gian 5 năm, nhà trường sẽ được ĐNGV đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu đào tạo
1.3.2.2 Tuyển chọn giảng viên
Đây là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những người được tuyển mộ, ai là người đủ tiêu chuẩn làm việc trong tổ chức đơn vị, phù hợp với cá nhân, với môi trường nhà trường và môi trường bên ngoài
Như vậy, tuyển chọn là quá trình nhà trường sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem những người được tuyển mộ ai là người đủ tiêu chuẩn làm việc, công việc này đòi hỏi phải xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng cho từng đối tượng, từng bộ môn được tuyển chọn, vừa có những tiêu chuẩn chung, vừa có cái cụ thể cá biệt phù hợp với yêu cầu để có được ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu đáp ứng được mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trường
1.3.2.3 Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
- Đào tạo: Đào tạo ở đây được xác định là đào tạo mới; là quá trình hình thành kiến thức, thái độ kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp được huấn luyện có hệ thống theo chương trình quy định với những chuẩn mực nhất định
để người học sau thời gian khóa học đào tạo theo cấp học, có được trình độ chuyên môn, năng lực và kiến thức đáp ứng được yêu cầu công việc được giao
Như vậy, đào tạo theo nghĩa trên cần phải lượng thời gian theo quy định và kinh phí đầu tư thích hợp; do đó đòi hỏi phải xây dựng kế hoạch, tiêu chuẩn đặt ra mang tính lâu dài, nhất là chính sách đào tạo mới của Đảng và Nhà nước trong thời điểm hiện nay
- Đào tạo lại: Sau khi đã được đào tạo có một trình độ nhất định, nay vì một lí do nào đó lại tham gia quá trình đào tạo mới để đạt trình độ khác, nghề
Trang 35khác Hoặc đào tạo lại trên cơ sở trình độ đã có được nâng cao, hoàn chỉnh đáp ứng tiêu chuẩn quy định trong từng giai đoạn phát triển ngành nghề, Nhà trường yêu cầu
- Bồi dưỡng: Theo tác giả Phạm Minh Trang, bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm
1.3.2.4 Kiểm tra đánh giá đội ngũ giảng viên
Để việc quản lí ĐNGV trong nhà trường đạt được mục tiêu kế hoạch
đề ra, bước đầu phải tổ chức giúp GV nhận thức hiểu vấn đề quản lí ĐNGV là yêu cầu bức thiết, đảm bảo chuẩn qui định của người GV, giúp họ tự đánh giá được khả năng của mình, từ đó đề ra những chuẩn để đạt được mục tiêu
* Các hình thức đánh giá ĐNGV
- Tự đánh giá
Người GV tự xây dựng kế hoạch đánh giá các hoạt động của mình trong quá trình giảng dạy Đây là vấn đề quan trọng và là nguồn thông tin bổ ích cho hoạt động giảng dạy của GV;
- Đánh giá GV thông qua SV
Thông qua kế hoạch học tập của SV, nhu cầu mong muốn của SV đối với việc giảng dạy của GV Kết quả học tập cuối cùng của SV, quá trình học tập của SV được đánh giá khả năng và trình độ của GV
- Đánh giá GV thông qua đồng nghiệp;
Nhận xét đánh giá của GV trong cùng Tổ, Bộ môn, Khoa là nguồn thông tin quan trọng, qua đó biết được những điểm yếu, mạnh về chuyên môn, trình độ, khả năng giảng dạy và NCKH của từng giảng viên;
- Đánh giá GV từ lãnh đạo nhà trường
Đánh giá của lãnh đạo nhà trường đối với GV phải được tổng hợp từ nhiều góc độ, mọi khía cạnh Trên cơ sở đó, thấy được ưu, nhược điểm của từng GV, từ đó đưa ra kết luận cuối cùng mang tính khách quan
Trang 361 3 3 Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng khối
Kinh tế Kỹ thuật
Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể để đi tới một mục tiêu nhất định
Biện pháp quản lí ĐNGV các trường Cao đẳng khối Kinh tế Kỹ thuật
là cách thức tiến hành, giải quyết để làm cho đội ngũ giảng viên của nhà trường tăng lên về mặt chất lượng, số lượng cũng như năng lực chuyên môn, tiêu chuẩn người giảng viên phải đạt được
QL ĐNGV là vấn đề quan trọng, cấp bách nhưng khó khăn, đòi hỏi phải được tiến hành bởi một hệ thống đồng bộ các biện pháp
Như vậy, để quản lí ĐNGV, trước hết trường Cao đẳng KTKT cần phải căn cứ vào lưu lượng HSSV hàng năm và dự báo để bổ sung cho đủ số lượng giảng viên Đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường Tuy nhiên, cơ cấu ĐNGV cũng cần phải được chú trọng để luôn luôn đảm bảo sự kế thừa, tránh hiện tượng thiếu hụt các giảng viên đầu ngành và sự mất cân đối giữa các độ tuổi cũng như tỉ lệ giới tính giữa nam và nữ phải phù hợp với một trường Cao đẳng KTKT Khi ĐNGV đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu thì lãnh đạo nhà trường cần phải xây dựng nhà trường thành một tập thể đoàn kết, đồng thuận và hành động
1 4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1 4 1 Yếu tố khách quan
1.4.1.1 Qui mô đào tạo
Thông thường, khi định mức tính giờ chuẩn không thay đổi, qui mô đào tạo tăng lên đòi hỏi số lượng ĐNGV tăng lên theo và ngược lại; khi qui
mô đào tạo giảm xuống thì tất yếu qui mô giảng viên cũng giảm theo
Trong những năm gần đây qui mô đào tạo (cả về số lượng và chất
Trang 37lượng) của các trường Cao đẳng trong cả nước đều tăng lên Do vậy yêu cầu đặt ra cần phải có ĐNGV tăng lên tương ứng với nhu cầu đào tạo mới đáp ứng được nhiệm vụ chiến lược phát triển của các trường
1.4.1.2 Tiêu chuẩn giảng viên
trình phát triển của nền kinh tế xã hội, với yêu cầu phát triển của ngành giáo dục, tiêu chuẩn của ĐNGV đòi hỏi ngày càng cao Yêu cầu chuẩn hóa về trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm phải được nâng cao rõ rệt Đây là yếu tố khách quan trong quá trình phát triển của Nhà trường, đặc biệt là quản lí ĐNGV của Nhà trường trong lộ trình nâng cấp trường thành trường Đại học
1.4.1.3 Cơ chế chính sách chung của Nhà nước đối với đội ngũ những người làm công tác giảng dạy
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn có những chính sách quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo nói chung và quan tâm đến đời sống, vật chất, tinh thần của ĐNGV nói riêng Chính vì vậy ĐNGV của Nhà trường luôn xác định rõ nhiệm vụ để yên tâm công tác đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Nhà trường
Trong điều kiện kinh tế thị trường thì thù lao được hưởng cao hay thấp tương ứng với giá trị sức lao động là một trong những yếu tố quan trọng thu hút nguồn lao động có chất lượng cao hay thấp vào ngành, lĩnh vực đó
thuận lợi để quan tâm cả về vật chất và tinh thần tới ĐNGV, từng bước nâng cao thu nhập, động viên, khích lệ tinh thần của họ để ĐNGV yên tâm công tác, yêu nghề, gắn bó với trường hơn
1 4 2 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới quản lí đội ngũ giảng viên của các trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật
1.4.2.1 Sự hấp dẫn của cơ sở đào tạo
Điều kiện, môi trường làm việc, sự hấp dẫn của những ngành học
Trang 38truyền thống, uy tín của cơ sở đào tạo có chất lượng cao sẽ được sự quan tâm của những giáo viên chất lượng cao; đây là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐNGV
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình là một trường có uy tín
và đào tạo chất lượng Vì vậy đòi hỏi ngành nghề đào tạo phải có chất lượng đáp ứng của nhu cầu xã hội ngày nay
1.4.2.2 Sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo Nhà trường về công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên
Nếu lãnh đạo thực sự quan tâm, tạo điều kiện; đưa ra được những chính sách khuyến khích thỏa đáng, cơ chế phù hợp chắc chắn sẽ tạo cơ hội cho các GV tích cực học tập, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, nâng cao chất lượng ĐNGV
Trong thời kỳ KHCN phát triển, lãnh đạo Nhà trường luôn quan tâm
và tạo điều kiện cho ĐNCB, GV học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trình
độ chính trị, khả năng ngoại ngữ, tin học Chính điều này làm cho trình độ và khả năng chuyên môn của ĐNGV đang công tác tại Nhà trường trong những năm qua nâng lên rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng mục tiêu và yêu cầu đào tạo của các trường Cao đẳng Kinh tế
Kỹ thuật
1.4.2.3 Công tác tuyển dụng, tuyển chọn
Trong quá trình công tác căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu đào tạo, nhiệm
vụ của Nhà trường trong từng giai đoạn, theo qui luật của sự vận động và phát triển, một số GV trong ĐNGV sẽ bị đào thải, hoặc đến tuổi nghỉ chế độ, hoặc một số giảng viên thuyên chuyển vị trí, hay nhận công tác khác
Vì vậy, việc tuyển dụng, bổ sung ĐNCB thay thế đảm bảo đủ số lượng, đảm bảo tính liên tục, tính kế thừa là một trong những nội dung rất quan trọng ảnh hưởng đến việc quản lí đội ngũ giảng viên Nếu làm tốt công tác này chắc
Trang 39chắn số lượng giảng viên của Nhà trường luôn đảm bảo
1.4.2.4 Công tác bố trí, điều động cán bộ
Đội ngũ cán bộ, GV có phát triển, phát huy được những sở trường và chuyên môn của mình hay không phụ thuộc rất lớn vào việc bố trí và điều động cán bộ Nếu bố trí cán bộ hợp lí, đúng khả năng chuyên môn, đúng tầm thì mới phát huy được khả năng, năng lực của người đó Nếu bố trí không đúng chuyên môn và khả năng của cán bộ, giảng viên đó thì khó có thể phát huy được năng lực của bản thân họ
1.4.2.5 Điều kiện môi trường làm việc
Một tổ chức có môi trường làm việc tốt, có văn hóa, tinh thần hợp tác
và cộng đồng cao sẽ phát huy sức mạnh tập thể Sống trong môi trường lành mạnh đó mọi người sẽ thấy phấn khởi, yên tâm và có trách nhiệm hơn với công việc và ngược lại
1.4.2.6 Công tác quản lí, thanh tra, đánh giá
Công tác quản lí, giám sát và đánh giá kịp thời để động viên và nhắc nhở ĐNGV là một trong những nội dung quan trọng góp phần quản lí ĐNGV của Nhà trường ngày một phát triển
- Kinh nghiệm rút ra từ những nghiên cứu của các tác giả trong nước
và ngoài nước qua cách tiếp cận quản lí nguồn nhân lực, từ góc độ tâm lí, giáo dục học đã cho thấy rằng, nội dung QL ĐNGV là sự thống nhất hữu cơ trên 3
Trang 40mặt: Phát triển đội ngũ, sử dụng đội ngũ và xây dựng môi trường công tác
Thứ hai: Kết quả nghiên cứu về “QL ĐNGV” cùng với việc nhờ các thành tựu khoa học khác đã xác lập cơ sở cho việc phân tích, đánh giá hiện trạng của công tác QL ĐNGV Đó là nội dung sẽ được giải quyết tiếp tục ở chương 2 và chương
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT THÁI BÌNH
2.1 Những thông tin cơ bản về trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình
2.1.1 Quá trình thành lập
Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình có tiền thân là trường Trung học Kinh tế Thái Bình thành lập năm 1960 Năm 1989 các trường Trung học Kinh tế Thái Bình, Trường Kinh tế Kỹ thuật Tại chức Thái Bình và Trường dạy nghề Thái Bình sát nhập lại thành trường Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình Năm 2000 Trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình theo QĐ 4844/QĐ- BGD&ĐT- TCCB ngày 14 tháng 11 năm
2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và thực hiện chức năng nhiệm
vụ theo Quyết định 712/2001/QĐ-UB của UBND Tỉnh Thái Bình
Tháng 5/2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị Chính phủ đưa vào quy hoạch mạng lưới phát triển thành Trường Đại học Thái Bình vào giai đoạn 2008-2010 Tháng 7 năm 2007, Trường đã được Chính phủ đưa vào quy hoạch mạng lưới nâng cấp trường thành Trường Đại học giai đoạn 2008-2010 Ban thường vụ Tỉnh ủy Thái Bình đã có Thông báo kết luận số 235-TB/TU ngày 02/11/2007, nêu rõ: “ Thống nhất chủ trương thành lập Trường Đại học Thái Bình trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình” Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Thái Bình trực thuộc UBND Tỉnh