1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô

140 800 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giáo dục các cấp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán bộ; xây dựng kế hoạch đào tạo lại đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Tác giả chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy Cô trong trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tạo mọi điều kiện cho tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Khắc Bình, người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ, động viên để tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn đúng kế hoạch

Tác giả xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ và khích lệ nhiệt tình của Ban lãnh đạo, bạn bè, đồng nghiệp, đội ngũ giảng viên các khoa, các phòng, ban, trung tâm của trường Đại học Thành Đô về sự giúp đỡ quý báu dành cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Đại học Thành Đô” là lời tri ân của tác giả với bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Tác giả

Ngô Thị Hải Lý

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - hiện đại hoá ĐH-CĐ : Đại học - Cao đẳng

GD - ĐT : Giáo dục - Đào tạo

XHCN : Chủ nghĩa xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Vấn đề nghiên cứu 3

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

9 Phương pháp nghiên cứu 4

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

10 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 6

1.1 Sự ra đời của khoa học quản lý – xu hướng tất yếu của xã hội 6

1.2 Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục 7

1.3 Khái quát những nghiên cứu quản lý giáo dục ở Việt Nam 8

1.3.1 Quản lý giáo dục ở Việt Nam 8

1.3.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục 9

1.4 Một số khái niệm cơ bản 10

1.4.1 Quản lý 10

1.4.2 Quản lý giáo dục 11

1.4.3 Quản lý nhà trường 13

1.4.4 Giảng viên – Đội ngũ giảng viên 14

1.4.5 Quản lý đội ngũ giảng viên 16

1.5 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của giảng viên trong trường đại học 16

1.5.1 Chức năng của giảng viên trong trường đại học 16

1.5.2 Nhiệm vụ của giảng viên trong trường đại học 16

1.5.3 Vai trò của giảng viên trong trường đại học 17

1.6 Quản lý đội ngũ giảng viên trong trường đại học 19

Trang 6

1.6.1 Những vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên 19

1.6.2 Các chức năng quản lý trong quản lý đội ngũ giảng viên 20

1.6.3 Nội dung quản lý đội ngũ giảng viên 24

1.6.4 Phương pháp và công cụ quản lý đội ngũ giảng viên 27

1.6.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên 31

1.7 Quản lý đội ngũ giảng viên ở trường đại học ngoài công lập 32

Tiểu kết Chương 1 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ 35

2.1 Giới thiệu tổng quát về trường Đại học Thành Đô 35

2.1.1 Sự hình thành và phát triển 35

2.1.2 Mục tiêu, tầm nhìn chiến lược 37

2.1.3 Chức năng nhiệm vụ 37

2.1.4 Cơ cấu tổ chức: 38

2.2 Thực trạng về đội ngũ giảng viên của trường đại học Thành Đô 41

2.2.1 Về số lượng giảng viên 41

2.2.2 Về chất lượng giảng viên 44

2.2.3 Về cơ cấu giảng viên 46

2.2.4 Sự đáp ứng và nhu cầu về đội ngũ giảng viên giai đoạn tiếp theo 50

2.3 Thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô 52

2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đội ngũ giảng viên 52

2.3.2 Nhận thức về quản lý đội ngũ giảng viên 55

2.3.3 Về tuyển dụng đội ngũ giảng viên 56

2.3.4 Về sử dụng đội ngũ giảng viên 60

2.3.5 Về sự quan tâm, đãi ngộ đội ngũ giảng viên 61

2.3.6 Về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 63

2.3.7 Kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng giáo viên 67

2.3.8 Phối hợp quản lý đội ngũ giảng viên 69

2.3.9 Nhận xét thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô 71

Tiểu kết Chương 2 76

Trang 7

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ 77

3.1 Định hướng phát triển đội ngũ giảng viên Đại học Thành Đô 77

3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 80

3.2.1 Đảm bảo tính đồng bộ của biện pháp 80

3.2.2 Đảm bảo tính kế thừa của biện pháp 81

3.2.3 Đảm bảo tính cấp thiết của biện pháp 81

3.2.4 Đảm bảo tính khả thi của biện pháp 81

3.3 Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Đại học Thành Đô 81

3.3.1 Biện pháp về quy hoạch đội ngũ giảng viên 81

3.3.2 Biện pháp nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên về sứ mạng, mục tiêu của Nhà trường, chức năng cũng như nhiệm vụ của giảng viên 89

3.3.3 Biện pháp đổi mới về tuyển dụng đội ngũ giảng viên 91

3.3.4 Biện pháp về sử dụng đội ngũ giảng viên 96

3.3.5 Biện pháp về đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 103

3.3.6 Ban hành chính sách quan tâm, đãi ngộ đội ngũ giảng viên 109

3.3.7 Mối quan hệ giữa các giải pháp 114

3.4 Trưng cầu ý kiến về tính hợp lý và tính khả thi của các giải pháp 115

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117

1 Kết luận 117

2 Khuyến nghị 119

2.1 Với Bộ Giáo dục và Đào tạo 119

2.2 Với trường đại học Thành Đô 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC 124

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là hướng đầu tư chiến lược quan trọng có tính sống còn cho thành công trong tương lai của bất kỳ nền kinh tế nào Thông tin, truyền thông, cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ đang đẩy nhanh sự phát triển của toàn thế giới Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đã khiến cho các xã hội và các thể chế khác nhau phải đối mặt với những thách thức to lớn Giáo dục có bản chất xã hội rất cao càng cần phải có những sự thay đổi và phát triển nhanh hơn nữa để thích ứng được với

sự thay đổi nhanh chóng của xã hội

Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Phát huy tính tích cực và chủ động của các cơ sở giáo dục đại học trong công cuộc đổi mới mà nòng cốt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và sự hưởng ứng, tham gia tích cực của toàn xã hội”

Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, thông qua việc quản lý, phát triển sự nghiệp giáo dục đúng định hướng và có hiệu quả để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã nêu: “Giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh Giảng viên phải có đủ đức đủ tài” Kết luận của Hội nghị lần thứ

6 ban chấp hành trung ương khóa IX cũng đã yêu cầu: “Bố trí cán bộ quản lý

Trang 9

giáo dục các cấp phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và năng lực cán bộ; xây dựng

kế hoạch đào tạo lại đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp ứng yêu cầu thời kì đổi mới; hoàn thiện chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý.”

Trường Đại học Thành Đô được thành lập theo Quyết định số 679/QĐ – TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập trường Đại học Thành Đô trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghệ Thành

Đô Với chức năng, nhiệm vụ là đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ chất lượng cao ở trình độ Cao đẳng, Đại học và nghiên cứu, triển khai ứng dụng khoa học - công nghệ vào thực tiễn nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng

và phát triển đất nước Trường Đại học Thành Đô là Trường Tư thục được thành lập theo chủ trương xã hội hoá công tác giáo dục, có những cơ chế tài chính và quản lý theo tinh thần điều lệ của Trường Đại học Tư thục

Công tác quản lý đội ngũ giảng viên là một trong những vấn đề then chốt của hoạt động quản lý Trường Đại học Thành Đô, quyết định trực tiếp đến việc khẳng định chất lượng đào tạo và sự tồn tại, phát triển của Trường, góp phần hoàn thiện công tác quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học ngang tầm với sự phát triển xã hội, trong sự nghiệp đổi mới đất nước và hội nhập kinh tế thế giới

Đề án thành lập Trường Đại học Thành Đô đã đánh giá một cách toàn diện về thực trạng đội ngũ giáo viên của Trường Cao đẳng Công nghệ Thành

Đô (tiền thân của Trường Đại học Thành Đô), đưa ra định hướng phát triển đội ngũ giảng viên để dần đáp ứng theo yêu cầu quy định của các cơ quan quản lý cũng như nhu cầu thực tế tại trường Cho đến nay, trường đã thực hiện đúng và vượt các cam kết với Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo khi thành lập trường đại học về việc phát triển đội ngũ giảng viên, điều này được thể hiện trong kết luận kiểm tra của Ủy ban thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội và của Bộ Giáo dục và đào tạo trong hai đợt kiểm tra về tình hình thực hiện cam kết khi thành lập trường của các trường ngoài công lập

Trang 10

Mặc dù vậy, ngoài việc phát triển về số lượng, công tác quản lý đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Thành Đô vẫn còn tồn tại và hạn chế, chưa được quan tâm và xác định đúng hướng; công tác bố trí sắp xếp đội ngũ giảng viên đôi chỗ còn chưa phù hợp, chưa phát huy được năng lực, sở trường của mỗi cá nhân; bên cạnh đó chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích đội ngũ giảng viên và thu hút người tài Vì vậy, việc nghiên cứu

và đề xuất “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô”

là rất cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng của Trường nhằm xây dựng Trường Đại học Thành Đô ngày càng phát triển

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên, đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Đây là giai đoạn Trường đang phấn đấu trở thành Trường Đại học có uy tín trong và ngoài nước

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý đội ngũ giảng viên

- Phân tích thực trạng về quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Thành Đô

- Đề xuất các biện pháp nhằm quản lý đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu phát triển của Nhà trường trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Thành

Trang 11

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thực hiện tốt các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên, đặc biệt là khai thác, phát triển tiềm năng trí tuệ của đội ngũ này thì sẽ giúp cho Trường xây dựng được đội ngũ giảng viên chất lượng cao, đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo đồng thời từng bước đưa Trường Đại học Thành Đô thành trường đào tạo đa ngành, đạt trình độ tiên tiến trong nước và khu vực

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Thành Đô hiện nay và đề xuất các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trên các mặt: tuyển dụng, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Tổng kết thực tiễn về công tác quản lý đội ngũ giảng viên của Trường Đại học Thành Đô, chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác quản lý, cung cấp cơ sở khoa học để đưa ra các biện pháp quản

lý có hiệu quả và đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu, các đề xuất có thể được áp dụng tại Trường Đại học Thành Đô trong giai đoạn tới Nó cũng có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục

9 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

9.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích - tổng hợp, so sánh, khái quát hóa lý thuyết từ các công trình nghiên cứu, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo, các tài liệu, giáo trình tham khảo và thông tin trên mạng Internet có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

9.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu

Trang 12

* Đối tượng điều tra: Giảng viên, cán bộ quản lý Trường Đại học Thành Đô

* Nội dung điều tra: tìm hiểu thực trạng về đội ngũ giảng viên; thực trạng về công tác quản lý đội ngũ giảng viên; những giải pháp mà Trường Đại học Thành Đô đã áp dụng để phát triển đội ngũ giảng viên; tính khả thi của các giải pháp và những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô

- Các phương pháp bổ trợ

* Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ quản lý, cán bộ, giảng viên nhằm thu thập thông tin và làm rõ hơn những vấn đề từ phiếu điều tra

* Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động quản lý của cán bộ quản lý

để có thông tin đầy đủ hơn về thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên

* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: xin ý kiến các nhà lãnh đạo địa phương, các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo có học vị cao, có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về khoa học quản lý và giảng dạy, nhằm bổ sung cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho việc thực hiện đề tài

- Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phương pháp toán thống kê để phân tích và xử lý số liệu nhằm định lượng kết quả nghiên cứu

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về Quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học

Chương 2: Thực trạng Quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Thành Đô

Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Thành Đô

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 Sự ra đời của khoa học quản lý – xu hướng tất yếu của xã hội

Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét

từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn, đến quốc gia hoặc nhóm quốc gia Đây cũng là một hoạt động có ý nghĩa quyết định, mang tính sống còn của các chủ thể tham dự vào hoạt động xã hội và nhân loại Quản lý đúng, dẫn đến thành công, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững; còn quản lý sai sẽ dẫn đến thất bại, suy thoái, lệ thuộc và đổ vỡ

Nhà xã hội không tưởng người Anh là Robert OWen (1771 – 1858 ), là một trong những người tiên phong trong việc nhận ra tầm quan trọng của nguồn nhân lực Quan điểm quản lý của ông mặc dù còn đơn giản nhưng đã bước đầu chuẩn bị cho sự ra đời một bộ môn khoa học quản lý độc lập

Andrew Ure (1778-1857) là người đã sớm nhìn thấy vai trò của quản lý

và việc đào tạo kiến thức cho nhà quản lý Ông cho rằng quản lý là một nghề

Charler Babbage (1792-1871) là người đầu tiên đề xuất phương pháp tiếp cận có khoa học trong quản lý và ông cũng là người có đóng góp tích cực trong việc đưa quản lý thành một bộ môn khoa học độc lập

Thuyết quản lý khoa học (Sciencific Management) xuất hiện trong cuốn sách “Những nguyên tắc quản lý khoa học” (The Principes of Scientific Management) của Frederick Winlow Taylor (1856 - 1915) xuất bản năm

1911 F.W Taylor được coi là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học với các nguyên tắc cơ bản của quản lý khoa học

Trong thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, trước những biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội, một thuyết khác trong quản lý đã xuất hiện; đó là quan điểm

về hành vi (quan điểm hệ con người) Học thuyết này giúp người quản lý ứng

xử có hiệu quả hơn với những khía cạnh con người và khía cạnh nhân bản trong một tổ chức Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý,

Trang 14

thuyết này gắng hướng dẫn cách người quản lý thực hiện cái họ phải làm, tức

là họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp tốt với những người dưới quyền

Trong các giai đoạn từ thập niên 70 của thế kỷ XX đến nay, các nhà quản lý phương Tây, tiêu biểu là P.Drucker đại diện khởi đầu cho trường phái

hệ thống, xây dựng nhiều lý thuyết quản lý hiện đại và để tiếp tục sau đó, người ta đưa vào sử dụng các thành quả của toán kinh tế (quy hoạch toán, xác xuất thống kê, điều tra xã hội học…) và tin học trong quản lý, đưa ra các thành quả vượt bậc trong quản lý; đưa ra các dự báo chính xác hơn, các phương án tối ưu hơn và được tính toán chặt chẽ và nhanh chóng hơn

1.2 Lịch sử phát triển của lý luận quản lý giáo dục

Cho đến những năm cuối của thập kỷ 80, trong các sách báo khoa học

về tâm lý học sư phạm, về giáo dục học, "quản lý giáo dục" vẫn còn được xem như một bộ phận của "giáo dục học" Khi Viện sĩ Kôn- đa- cốp hoàn thành công trình nghiên cứu đồ sộ của mình về quản lý giáo dục ở Liên xô (cũ) vào năm 1982, ông cũng rất khiêm tốn đặt cho nó cái tên "Những cơ sở

lý luận của quản lý nhà trường" Các giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt khi biên soạn sách giáo khoa "Giáo dục học" năm 1987, cũng có cách tiếp cận tương tự đối với quản lý giáo dục Trong chuyên luận "Sáng tạo một nhà trường xuất sắc" xuất bản năm 1989, các học giả H Bear, B Caldwell và R Millikan vẫn khẳng định rằng quản lý giáo dục như là một sự "ánh xạ" các ý tưởng quản lý kinh tế, quản lý xã hội vào hoạt động giáo dục với sự hoà trộn các tri thức tâm lý học, xã hội học và giáo dục học

Kể từ cuối thế kỷ XIX, thực tiễn quản lý giáo dục đã được "pháp điển" hoá đến mức độ cao bằng sự ra đời của các bộ luật giáo dục từ Tây sang Đông, với Pháp và Nhật bản là những điển hình Trong hơn một thế kỷ qua, giáo dục trên toàn cầu đã tiến dài gấp nhiều lần toàn bộ lịch sử loài người cộng lại Giáo dục cơ bản đã phổ cập ở khắp nơi trên địa cầu, từ những quốc gia giầu có nhất cho đến những nơi còn phải sống dưới ngưỡng nghèo khó

Trang 15

Thời gian gần đây, các dịch giả và những nhà nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục ở Việt Nam đã dịch thành công và giới thiệu nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương tây về quản lý giáo dục, trong số đó có các công trình: “Hành vi tổ chức giáo dục” (Organnization Behavior in Education) của Robert J Owens (1995), “Quản lý giáo dục, lý thuyết, nghiên cứu và thực tiễn” (Educational Administration - Theory, Resarch and Practice) của Wayne.K Hoy, Cecil G Míkel (1996)

Hội nghị cấp cao toàn cầu về “Giáo dục cho mọi người” ở Jomtiem - Thái Lan (tháng 3/1990) đã khẳng định vai trò của giáo dục và đề ra “chương trình hành động” trên toàn thế giới về giáo dục cơ bản cho mọi người Như vậy, cả lý thuyết và thực tiễn đều đã song hành thúc đẩy để “Quản lý giáo dục” có quy mô toàn cầu và biểu thị một sự thật về sự tồn tại có tính toàn cầu của “Thực tiễn quản lý giáo dục”

1.3 Khái quát những nghiên cứu quản lý giáo dục ở Việt Nam

1.3.1 Quản lý giáo dục ở Việt Nam

Từ ngày đầu lập quốc đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm đến thực tiễn quản lý giáo dục với mức độ cao, và ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn Từ "Thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường" vào tháng 9 năm 1945 của Bác Hồ - như một "chỉ thị nhiệm vụ năm học mới" ở cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước, đến nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ 2 (khoá VIII), tháng 12 năm 1996, về giáo dục và đào tạo; Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành trên thực tiễn hoạt động

"quản lý giáo dục" liên tục trong hơn nửa thế kỷ

Trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước ta coi “giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu”, Có nhiều văn bản chỉ đạo quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo như:

- Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010;

Trang 16

- Chỉ thị 40 – CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo;

- Quyết định số 09/2005/QĐ – TTg ngày 11/01/2005 về việc phê duyệt

Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục giai đoạn 2005 – 2010;

1.3.2 Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục

Vào những năm 70 - 80 thế kỉ XX, ở nước ta đã có một số nhà giáo dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Lân, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc có những bài viết và những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này Riêng trong lĩnh vực nghiên cứu đã có các nhà khoa học như: PGS.TS Đặng Quốc Bảo, PGS.TS Nguyễn Quốc Chí, GS.TS Nguyễn Đức Chính, PGS.TS Trần Khánh Đức, GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, PGS.TS Đặng Bá Lãm… Trong những năm gần đây ở nước ta, việc nghiên cứu về phát triển và quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đã được quan tâm đặc biệt; trong đó

có những nghiên cứu của Đặng Ứng Vận về “Công tác quản lý chất lượng giáo dục” (2004); Nguyễn Thị Hồng Yến về “Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hoà nhập ở Việt Nam” (2005)

Khái quát trên về những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn cho thấy nhiều nghiên cứu

đã đi sâu giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực Bên cạnh đó, với chủ trương xã hội hóa giáo dục, hình thức trường đại học tư thục được ra đời, nhưng những nghiên cứu về biện pháp quản lý và phát triển cũng như các vấn đề liên quan đến ĐNGV của

hệ thống giáo dục ngoài công lập vẫn còn rất ít và chưa hệ thống Việc nghiên

cứu đề tài “Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường đại học Thành Đô” mong muốn có những đóng góp nhất định trong công tác quản lý giáo

dục ngoài công lập và là sự tổng kết thực tiễn giúp Nhà trường nâng cao hơn

Trang 17

1.4 Một số khái niệm cơ bản

1.4.1 Quản lý

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cần đến một sự chỉ đạo để tiến hành các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh

từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”[26]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[5]

Để hoạt động quản lý đạt được hiệu quả cao thì quá trình quản lý không thể thiếu các phương pháp tác động vào đối tượng quản lý Mỗi phương pháp

có sự tác động riêng tới từng mặt của người lao động Do đó, không có biện pháp nào là chìa khoá vàng để quản lý tốt tất cả các hoạt động của tổ chức Chủ thể quản lý không nên tuyệt đối hóa một phương pháp, mà phải biết kết hợp để phát huy hết những ưu điểm của từng phương pháp và khắc phục những mặt hạn chế

Các khái niệm quản lý trên có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh, giống như một cơ thể sống Nó được cấu tạo liên kết hữu cơ từ nhiều yếu tố, theo một quy luật nhất định; phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh khách quan

- Hệ thống quản lý gồm hai phân hệ Đó là sự liên kết hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

- Tác động quản lý thường mang tính chất tổng hợp, hệ thống tác động quản lý gồm nhiều giải pháp khác nhau, thường được thể hiện dưới dạng tổng hợp của một cơ chế quản lý

Trang 18

- Cơ sở của quản lý là các quy luật khách quan và điều kiện thực tiễn của môi trường Quản lý phải gắn liền và phải phù hợp với quy luật

Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý

1.4.2 Quản lý giáo dục

Cũng như quản lý xã hội, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình Nói đến quản lý giáo dục là nói đến quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội:

“Quản lý giáo dục là việc đảm bảo sự hoạt động của tổ chức trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống giáo dục và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.” [5]

“Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.” [16]

Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động tới toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó.”[5]

Khái niệm về quản lý giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng

cơ bản đều thống nhất với nhau về nội dung, bản chất, dù ở cấp vĩ mô hay vi

mô, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố cơ bản của quản lý giáo dục, đó là: chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý và khách thể quản lý (thông qua việc

Trang 19

thực hiện các chức năng quản lý bằng những công cụ và phương pháp) nhằm đạt được mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục

- Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục;

- Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học;

- Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ giữa báo giới - cộng đồng… Các mối quan hệ đó có ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược: Quy hoạch; kế hoạch; chính sách phát triển giáo dục; ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên; huy động quản lý sử dụng các nguồn lực…

Cũng như các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội, quản lý giáo dục có hai chức năng tổng quát sau:

- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội

Trang 20

- Chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu tiến bộ kinh

tế - xã hội

* Quản lý nhà nước về giáo dục

Nhà nước quản lý mọi hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Quản

lý về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý từ trung ương đến tỉnh – thành và quận - huyện để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả đào tạo Bộ máy quản lý giáo dục ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở đảm bảo thống nhất quản lý theo ngành và theo lãnh thổ;

Quản lý nhà nước về giáo dục là một loại hình hoạt động Tuy chuyên biệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội Mọi quyết định, thay đổi của giáo dục đều có ảnh hưởng đến đời sống xã hội

1.4.3 Quản lý Nhà trường

Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này

Tác giả Phạm Minh Hạc đã quan niệm như sau: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [ 12 ]

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”: [ 1 ]

Quản lý nhà trường là những công việc của nhà trường mà người cán

bộ quản lý nhà trường thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện nhiệm

Trang 21

vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường như: Quản lý giảng viên, quản lý sinh viên, quản lý quá trình dạy và học, quản lý cơ sở vật chất và thiết bị trường học nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học

Quản lý nhà trường còn là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên, đồng thời quản lý nhà trường cũng gồm những hướng dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục, nhằm định hướng, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhà trường phát triển Như vậy ta có thể hiểu công tác quản lý nhà trường bao gồm sự quản lý các quan hệ nội bộ của nhà trường và quan hệ giữa nhà trường với xã hội

Chất lượng của giáo dục nói chung là do chất lượng của các nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục thì cũng là nói tới quản lý nhà trường cùng với hệ thống giáo dục

1.4.4 Giảng viên – Đội ngũ giảng viên

Khái niệm “Giảng viên” được khẳng định trong Điều 70 Luật Giáo dục

2005 “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong trường đại học và sau đại học gọi là giảng viên”

Nền kinh tế tri thức trong xã hội thông tin ngày nay đặt ra cho giáo dục đại học những yêu cầu cao về năng lực, phẩm chất đạo đức đối với người giảng viên đại học Giảng viên là nhà giáo nghĩa là phải có trình độ chuyên môn cao về lĩnh vực mình giảng dạy, có trình độ sư phạm nhất định, nắm được nguyên tắc cơ bản của giáo dục học, tâm lý học, đặc điểm của đối tượng giáo dục, vận dụng một cách mềm dẻo và khoa học các phương thức, phương pháp trong quá trình tiến hành giáo dục…Bên cạnh đó người giảng viên cũng phải luôn luôn có ý thức trau dồi, rèn luyện không những về kiến thức chuyên môn mà còn phải rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong… để mình thực sự

là một người thầy, đúng nghĩa cho người học noi theo

Trang 22

Giảng viên là nhà khoa học nghĩa là họ phải là người có trình độ chuyên môn cao, có khả năng tư duy khoa học của nhà nghiên cứu và thường xuyên tham gia nghiên cứu khoa học, kịp thời nắm bắt các thông tin khoa học mới để truyền thụ cho sinh viên Yêu cầu đối với người giảng viên hiện nay là vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu khoa học, đây là nhiệm vụ chính yếu của họ

Giảng viên phải là người tâm huyết với nghề: đối với nghề “thầy giáo” thì yêu cầu “tâm huyết” phải đặt lên hàng đầu vì sản phẩm của giáo dục là hàm lượng trí thức, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống….của con người Nếu người thầy không có tâm huyết với nghề thì hậu quả thật khó lường, bởi

vì sự tâm huyết này thể hiện ở lòng say mê nghề nghiệp và là động lực rất lớn cho hoạt động sáng tạo và phấn đấu vươn lên trong mỗi người thầy, cũng như truyền lại sự tâm huyết ấy cho các thể hệ học trò

Giảng viên được phân chia thành 3 ngạch: giảng viên, giảng viên chính

và giảng viên cao cấp

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là khối đông người được tập hợp có cùng chức năng, nghề nghiệp, cùng một nhiệm vụ, tập hợp thành một lực lượng” [ 36 ]

Đội ngũ được tạo thành bởi các yếu tố cơ bản sau:

- Là một tập hợp người

- Hoạt động theo một nguyên tắc

- Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất, tinh thần

ĐNGV là một tập thể người có cùng chung một mục đích, đó là thực hiện giảng dạy đạt chất lượng và hiệu quả cao trên những cơ sở vật chất, trang thiết bị được giao để, phục vụ nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục của ĐNGV đó

Có thể định nghĩa: ĐNGV là tập thể những nhà giáo được tổ chức thành một lực lượng cùng chung nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục

đã đặt ra cho tập thể người đó Được tổ chức thành một lực lượng tập hợp các

GV của một trường đại học, cao đẳng và được gọi là ĐNGV của trường đó

Trang 23

ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo: Họ là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học ĐNGV là lực lượng chủ yếu, giá trị cơ bản cũng như vốn quý nhất của trường đại học, cao đẳng Với tri thức, tài nghệ và kinh nghiệm, sự hiểu biết sâu sắc, ĐNGV là nhân vật trung tâm trong nhà trường, quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo của nhà trường

Vì GV có vai trò quan trọng như vậy trong nhà trường, nên cần thiết phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cũng như quản lý ĐNGV để đảm bảo người giảng viên giỏi về chuyên môn, có lương tâm nghề nghiệp, có đạo đức lối sống trong sáng và xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội

1.4.5 Quản lý đội ngũ giảng viên

Quản lý đội ngũ giảng viên là tác động có định hướng, có chủ đích của nhà quản lý đến đội ngũ giảng viên nhằm đạt được mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên đạt 3 tiêu chí :

- Đảm bảo về số lượng ;

- Đảm bảo về chất lượng ;

- Có cơ cấu phù hợp

1.5 Chức năng, nhiệm vụ và vai trò của giảng viên trong trường đại học

1.5.1 Chức năng của giảng viên trong trường đại học

Chức năng cơ bản của giảng viên là dạy học và giáo dục sinh viên Trong giảng dạy, GV không những truyền đạt thông tin, kiến thức cho sinh viên, mà còn hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức của sinh viên, tạo điều kiện để họ có thể hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết cho việc lao động và sinh hoạt trong một xã hội không ngừng phát triển Ngoài ra, giảng viên còn NCKH và tham gia nhiều hoạt động xã hội khác

1.5.2 Nhiệm vụ của giảng viên trong trường đại học

Nhiệm vụ của GV quy định tại điều 72, Luật Giáo dục – 2005:

Trang 24

1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy

4 Không ngừng học tập và nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy

5 Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật

1.5.3 Vai trò của giảng viên trong trường đại học

1.5.3.1 Giảng viên trong vai trò là người thiết kế

Giảng viên giảng dạy trong các trường cao đẳng – đại học trước hết họ

là người thiết kế mà thể hiện rõ nhất trong việc soạn thảo nội dung giảng dạy, tạo tình huống để người học tự giác trong học tập Trong quá trình soạn thảo nội dung giảng dạy, GV phải gắn bài giảng phù hợp với mục tiêu của trường

và đối tượng của người học, khiến người học say mê học tập và do vậy làm tăng hiệu quả, chất lượng học tập của sinh viên

1.5.3.2 Giảng viên trong vai trò là người tổ chức

Giảng viên đồng thời là người tổ chức cho sinh viên học tập, làm việc, tìm hiểu, sáng tạo Vai trò tổ chức có ý nghĩa rất lớn tới việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Để lớp học trở thành một “Cộng đồng xã hội”, giảng viên phải cải tiến phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm, tạo mọi điều kiện để phát huy năng lực và trách nhiệm học tập sáng tạo của sinh viên, kết hợp hài hòa giữa học thầy với học bạn, chủ động trong học tập

1.5.3.3 Giảng viên trong vai trò là người cổ vũ

Giảng viên là người hướng dẫn, đồng thời là người động viên cổ vũ sinh viên học tập GV có thái độ cởi mở, trân trọng và đánh giá đúng mức

Trang 25

sáng tạo của sinh viên, giúp cho sinh viên nhận thức đúng dắn vai trò sáng tạo của mình trong học tập

1.5.3.4 Giảng viên trong vai trò là người đánh giá

Giảng viên là người đánh giá nên phải đảm bảo chính xác, công bằng

và là người trọng tài thực sự tin cậy của sinh viên Giảng viên phải có phương pháp đánh giá hợp lý để phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập

1.5.3.5 Đội ngũ giảng viên quyết định chất lượng đào tạo

ĐNGV được coi là nguồn lực quan trọng của việc thực hiện đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng Bởi lẽ GV là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực có trình độ khoa học kĩ thuật, tay nghề cao Vì vậy, chỉ khi nào chú trọng tới việc nâng cao chất lượng ĐNGV mới có thể nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu xã hội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói : “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” Ngành giáo dục - đào tạo cũng đã khẳng định : “Đội ngũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo và là lực lượng chủ động thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ của trường đại học, cao đẳng”

Điều 15, Luật Giáo dục năm (2005) đã chỉ rõ:

“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng.Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học.Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”

1.5.3.6 Giảng viên đồng thời là nhà khoa học

Giảng viên đại học đồng thời vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học Họ hội tụ đủ cả năng lực, phẩm chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học GV là những

Trang 26

người có kiến thức và vốn hiểu biết sâu rộng trong lĩnh vực chuyên môn Ngoài nhiệm vụ lên lớp giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho người học ĐNGV còn phải tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học của khoa, của trường hay của ngành Mỗi một công trình nghiên cứu khoa học được hoàn thành là

GV lại tích lũy thêm được rất nhiều kiến thức lý thuyết cũng như kỹ năng thực hành GV còn có trách nhiệm định hướng và hướng dẫn người học tham gia nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học phải đi kèm với công bố kết quả nghiên cứu Điều này có hai ý nghĩa Thứ nhất, công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành uy tín chính là thước đo chất lượng có ý nghĩa nhất đối với một công trình nghiên cứu Thứ hai, chỉ khi được công bố rộng rãi và đi vào ứng dụng nghiên cứu khoa học mới hoàn thành sứ mệnh xã hội của mình Như vậy, Giảng viên đại học không chỉ phải nắm vững kiến thức chuyên môn, phương pháp nghiên cứu mà còn phải có kỹ năng viết báo khoa học

1.5.3.7 Định hướng nghề nghiệp, nhân cách đạo đức cho sinh viên

ĐNGV là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sư phạm GV không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà nhân cách, tác phong và phẩm chất đạo đức của người GV cũng là tấm gương để người học noi theo

Công nghệ thông tin với việc toàn cầu hóa cũng kéo theo nhiều tệ nạn

xã hội và những quan niệm lệch lạc về lối sống của một bộ phận không nhỏ sinh viên nên vai trò định hướng nhân cách, đạo đức cho sinh viên đúng lúc, kịp thời của người GV là vô cùng quan trọng Với kinh nghiệm thực tế của bản thân và sự tận tụy, nhiệt tình ĐNGV luôn là người có tiếng nói quan trọng đối với sinh viên vì vậy sau gia đình thì ĐNGV là người trực tiếp định hướng cho lối sống của sinh viên trong những năm theo học tại trường

1.6 Quản lý đội ngũ giảng viên trong trường đại học

1.6.1 Những vấn đề lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên

Trang 27

Quản lý ĐNGV là một nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhà trường Quản lý ĐNGV đại học không đồng nghĩa với quản lý viên chức nói chung Thành công của sự quản lý là không làm hành chính hoá ĐNGV, phải

để cho họ khoảng trời tự do trong hoạt động và sáng tạo khoa học, điều kiện quan trọng để GV hoàn thành nhiệm vụ được giao

Đặc điểm của công tác quản lý GV là loại hình quản lý hàm chứa hai khía cạnh là quản lý hành chính và quản lý trí thức

* Về khía cạnh quản lý hành chính: là quản lý GV theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, theo quy định của pháp luật, được thể hiện trong Luật Giáo dục, Pháp lệnh cán bộ - công chức, các văn bản pháp lý của Nhà nước, của ngành, của nhà trường (như điều lệ, quy chế, ) Đây là nội dung quản lý

có tính chất bắt buộc, nhằm làm cho nhà trường, ĐNGV “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của ngành

* Về khía cạnh quản lý trí thức: Trước hết, người lãnh đạo cần phải hiểu rõ: đặc thù của đội ngũ trí thức là lao động trí óc theo thiên hướng cá nhân và đặc trưng của lao động sư phạm là giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học Sản phẩm của nhà giáo là nhân cách của người học, đó là giá trị gốc – “giá trị sinh ra mọi giá trị” Vì vậy, tác động quản lý lên ĐNGV, tức là phải khai thác tiềm năng của chính họ, phải biết khơi dậy và làm tăng thêm tính chủ động sáng tạo của từng người, của tập thể bằng một tổ chức và một cơ chế quản lý thích hợp có hiệu quả cao

1.6.2 Các chức năng quản lý trong quản lý đội ngũ giảng viên

Bốn chức năng chủ yếu là: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

1.6.2.1 Chức năng kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa là xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, xác định các kết quả cần đạt được trong tương lai Kế hoạch hóa trong quản lý ĐNGV là quá trình xác định, tiên liệu, dự đoán nhu cầu về ĐNGV

Trang 28

trong tương lai đáp ứng yêu cầu đào tạo đa ngành, đa cấp và tính toán điều kiện, những giải pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu đó

Chức năng kế hoạch hóa bao gồm các quá trình: dự báo, xác định mục tiêu và xây dựng kế hoạch thực hiện để đạt mục tiêu đó

a Dự báo

Dự báo là công việc bắt đầu và rất quan trọng của chức năng hoạch định quản lý ĐNGV Dự báo quản lý ĐNGV là một trong những cơ sở cần thiết, quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể của nhà trường, giúp nhà quản lý thoát khỏi tư duy kinh nghiệm, trực giác và

là một trong những căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục của nhà trường

b Xác định mục tiêu

Mục tiêu quản lý ĐNGV là “xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, GV của trường có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tiêu chuẩn hóa về trình độ, bảo đảm sự chuyển tiếp giữa các thế hệ GV của nhà trường.”[ 35 ] Cụ thể hóa yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu ĐNGV như sau:

- Đủ về số lượng: Mục tiêu về số lượng GV phải đảm bảo theo yêu cầu Ngoài ra, cũng phải căn cứ hướng dẫn cách xác định số sinh viên, học sinh quy đổi trên 1 GV, giáo viên quy đổi ban hành theo Công văn 1325/BGDĐT-KHTC ngày 09/02/2007 của Bộ GD&ĐT, để xây dựng biên chế ĐNGV

- Đạt chuẩn về chất lượng: Chuẩn về chất lượng ĐNGV cũng được quy

về ba khía cạnh chung, đó là: chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm; chuẩn

về nghiệp vụ sư phạm; chuẩn về đạo đức tư cách người thầy

- Đồng bộ về cơ cấu: Cơ cấu ĐNGV được xét trên khía cạnh giới tính, tuổi đời, tuổi nghề, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm

Mục tiêu có vai trò làm nền tảng cho hoạch định, nhằm xây dựng hệ thống quản lý và quyết định toàn bộ diễn biến của tiến trình quản lý Vì vậy, khi xác định mục tiêu quản lý ĐNGV, người hiệu trưởng cần đáp ứng các yêu

Trang 29

cầu: đảm bảo tính liên tục và kế thừa; phải rõ ràng bằng các chỉ tiêu định lượng là chủ yếu; nên có sự kỳ vọng và tiên tiến để thể hiện được sự phấn đấu của các thành viên; cần xác định mục tiêu trọng tâm để tập trung các nguồn lực; xác định rõ thời gian thực hiện và có các kết quả cụ thể

c Xây dựng kế hoạch

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung, các phương tiện quản lý, đặc biệt là các nguồn thông tin khác từ công tác điều tra và nghiên cứu; hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cụ thể cho công tác quản lý ĐNGV, trong đó thể hiện được các nội dung về quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, sự quan tâm đãi ngộ, sự sàng lọc, đào tạo bồi dưỡng, công tác phối hợp quản lý ĐNGV, và các điều kiện

về nguồn lực khác, để đảm bảo cho công tác quản lý ĐNGV đạt đến mục tiêu

về số lượng, chất lượng, cơ cấu Nội dung của kế hoạch quản lý ĐNGV phải xác định và đảm bảo chắc chắn về các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực), lựa chọn các phương án và biện pháp tối ưu để thực hiện tốt kế hoạch đề ra

Kế hoạch phải thể hiện cụ thể, rõ ràng, phản ánh được hoạt động chung của nhà trường ở từng thời điểm nhất định (từng năm, từng học kỳ, từng tháng, ), đồng thời cho thấy được trách nhiệm của từng thành viên trong nhà trường

1.6.2.2 Chức năng tổ chức

Tổ chức là quá trình sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc – con người – bộ máy sao cho phù hợp, ăn khớp nhau cả trong từng yếu tố để đạt đến sự thành công Nhà quản lý phải hiểu rõ: yếu tố trung tâm của tổ chức là con người Do đó đòi hỏi việc bố trí con người phải phù hợp với công việc (giỏi việc gì làm việc đấy theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ) Nội dung của chức năng tổ chức quản lý ĐNGV bao gồm việc xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý của nhà trường (đảm bảo các nguyên tắc tầm quản lý được, tính đẳng cấu, rành mạch, tiết kiệm và chuyên môn hóa); xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng và đồng bộ về cơ cấu; xây dựng các mối quan hệ trong tổ chức; phân công và tổ chức lao động cho ĐNGV một cách khoa học

Trang 30

1.6.2.3 Chức năng chỉ đạo, lãnh đạo

Đối với quản lý con người thì chức năng lãnh đạo là vô cùng quan trọng Trong nhà trường, chức năng lãnh đạo là quá trình sử dụng quyền lực quản lý của hiệu trưởng để tác động lên đối tượng quản lý (cán bộ, viên chức, nhân viên) một cách có chủ đích, nhằm phát huy tiềm năng của họ, biến những yêu cầu chung của tổ chức, của nhà trường thành nhu cầu của mọi người, hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống

Trong quản lý đội ngũ giảng viên, chức năng lãnh đạo có thể coi là quá trình quyết định, là kỹ năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lý của hiệu trưởng Điều quan trọng là người hiệu trưởng phải thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm thiết thực và cụ thể với khả năng và trình độ của từng thành viên trong tổ chức, phải biết cách tập hợp các thành viên trong nhà trường, trong đó chú trọng đến đội ngũ giảng viên, làm sao cho mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong nhà trường liên kết chặt chẽ, thống nhất về ý chí hành động; đồng thời phải biết động viên lực lượng này nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu chung và mục tiêu về quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.2.4 Chức năng kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra là một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành vi của

cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định

Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quan trọng của quản lý Có thể nói: không có kiểm tra là không có quản lý, kiểm tra là để quản lý và muốn quản lý tốt thì phải kiểm tra Kiểm tra nhằm thực hiện ba chức năng: phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích Quá trình kiểm tra gồm ba bước: Xây dựng các tiêu chuẩn; đo đạc việc thực hiện và điều chỉnh các sai lệch

Trang 31

Trong quản lý ĐNGV, để thực hiện các yêu cầu về kiểm tra, đánh giá nêu trên, người hiệu trưởng cần phải chú trọng việc rà soát số lượng GV đã đủ theo yêu cầu của quy mô đào tạo chưa để có giải pháp khắc phục Phải tăng cường công tác kiểm tra nội bộ trường học để tác động vào ý thức tự bồi dưỡng của GV; phát hiện những cá nhân có năng lực, phẩm chất, tạo điều kiện để họ phấn đấu và cống hiến tài năng và trí lực của mình cho sự phát triển của nhà trường; đồng thời nhắc nhở, uốn nắn những cá nhân chưa hoàn thành nhiệm vụ để họ khắc phục những hạn chế, vươn lên trong công tác Mặt khác, cần đánh giá được sự mất cân đối trong cơ cấu GV của trường, để đề xuất các giải pháp tháo gỡ kịp thời

1.6.3 Nội dung quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.3.1 Công tác tuyển dụng

Tuyển dụng GV là một quy trình gồm một tập hợp các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu ĐNGV để thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường

a Nguyên tắc tuyển chọn giảng viên

- Xuất phát từ yêu cầu thật sự của nhà trường;

- Phải căn cứ vào các tiêu chuẩn đã được cấp trên quy định, cụ thể hóa cho từng chức danh công việc trong trường;

- Thu hút nhiều ứng viên tham gia tuyển chọn;

- Xây dựng và tuân thủ quy trình tuyển dụng, để chọn được người tốt nhất theo yêu cầu công việc

b Quy trình tuyển dụng giảng viên

Theo mục 2, Chương II, Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ công chức, công tác tuyển dụng GV nói chung phải thực hiện theo quy trình sau:

- Xây dựng kế hoạch tuyển dụng và quyết định hình thức tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), báo cáo cơ quan trực tiếp quản lý phê duyệt;

Trang 32

- Thông báo tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng;

- Thành lập Hội đồng tuyển dụng để:

+ Thực hiện nhiệm vụ tuyển dụng viên chức theo quy chế;

+ Báo cáo kết quả tuyển dụng lên cơ quan có thẩm quyền quản lý viên chức để xem xét và ra quyết định tuyển dụng ;

- Ký kết hợp đồng thử việc; làm việc và thực hiện việc bổ nhiệm ngạch viên chức

1.6.3.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo và bồi dưỡng là hai quá trình tác động đến con người nhằm trang bị mới hoặc trang bị thêm kiến thức, kỹ năng cho mỗi người với mục đích hoàn thiện, nâng cao khả năng hoạt động nghề nghiệp và các các hoạt động sống trong mỗi lĩnh vực nhất định

Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV không chỉ định hướng, chú trọng công việc hiện tại của GV, giúp họ có tri thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc mà còn phải trang bị cho họ có đủ năng lực để đảm bảo tốt công việc trong tương lai, phù hợp với đối tượng học tập mang tính “cộng đồng” và đảm bảo sứ mạng của nhà trường Việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Phải xem đây là yêu cầu có tính chiến lược; phải xây dựng được phong trào tự học, tự bồi dưỡng trong tập thể sư phạm;

- Cần thống nhất giữa bồi dưỡng về chính trị, tư tưởng, chuyên môn, nghiệp vụ và các nhiệm vụ đặt ra trong thực tiễn;

- Nội dung đào tạo, bồi dưỡng, có tính đến thành tựu mới nhất của khoa học và kinh nghiệm thực tiễn;

- Phải có kế hoạch đảm bảo tính liên tục, có hệ thống và trách nhiệm nâng cao trình độ nghiệp vụ trong suốt thời kỳ hoạt động sư phạm;

- Chú ý đến trình độ đào tạo, nhu cầu bồi dưỡng của từng cá nhân, từ

đó xác định nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp

Trang 33

bán tập trung, cán bộ đương chức với cán bộ dự nguồn, dần tiến tới chính quy

và hiện đại; thực hiện đào tạo, bồi dưỡng với sàng lọc và bổ nhiệm cán bộ

1.6.3.3 Quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Giảng dạy và nghiên cứu khoa học là 2 hoạt động cơ bản của giảng viên đại học Các hoạt động này có những đặc điểm riêng, nên quản lý đội ngũ giảng viên cũng có những đặc thù, đó là:

+ Vừa kiểm soát được theo kiểu hành chính, nhưng vừa không thể kiểm soát theo kiểu quản lý hành chính được Ví dụ: phân công giảng dạy, thực địa, thực tập và thực tế,… theo ngày, giờ, số lượng có thể kiểm soát được; nhưng việc soạn bài, chuẩn bị bài giảng, đầu tư nghiên cứu để thực hiện một đề tài khoa học,…thì khó có thể kiểm soát được;

+ Hiệu quả của các hoạt động này được đánh giá qua chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khoa học Đây là những nội dung khó đánh giá chính xác theo định lượng;

- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV, có thể hiểu là quản lý về hệ thống việc làm của người dạy trong quá trình dạy học, bao gồm từ xác định mục đích dạy học; soạn thảo chương trình dạy học vĩ mô và vi mô; xây dựng chương trình học tập cho học viên; soạn thảo tài liệu học tập; tổ chức hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của học viên

- Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của GV được xét ở năng lực nghiên cứu khoa học, thể hiện ở số lượng các công trình khoa học và hiệu quả của nó Đối với nhà trường, thì hoạt động nghiên cứu khoa học đòi hỏi rất cao

ở việc có nhiều đề tài khoa học gắn với yêu cầu phát triển sản xuất kinh tế và

xã hội ở địa phương, đưa các đề tài khoa học đến với cộng đồng

Thực tế hiện nay, cách đánh giá GV thường chú trọng đến công tác giảng dạy, chưa quan tâm nhiều đến năng lực nghiên cứu khoa học của GV Đây là vấn đề cần được nhà quản lý quan tâm để đánh giá một cách đầy đủ về việc thực hiện nhiệm vụ của GV

Trang 34

1.6.3.4 Quản lý các hoạt động khác

- Ngoài quản lý hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đối với công tác quản lý đội ngũ giảng viên còn phải quan tâm các hoạt động khác của họ, đó là:

+ Việc rèn luyện tư tưởng chính trị và phẩm chất đạo đức;

+ Việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; + Tham gia các hoạt động đoàn thể trong nhà trường, hoạt động xã hội mang tính “cộng đồng”; tham gia các công tác đột xuất khác khi được lãnh đạo, tổ chức phân công

- Về phía lãnh đạo nhà trường, đó là các vấn đề về việc tạo điều kiện cho giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ, cũng như việc hoàn thiện công tác quản lý của mình:

+ Tạo môi trường sư phạm cho hoạt động của giảng viên;

+ Xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp;

+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra trong quản lý đội ngũ giảng viên;

+ Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và trách phạt

1.6.4 Phương pháp và công cụ quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.4.1 Phương pháp quản lý đội ngũ giảng viên

Phương pháp quản lý giáo dục nói chung và quản lý đội ngũ giảng viên trường đại học nói riêng, phải phù hợp với nguyên tắc quản lý và việc sử dụng phương pháp quản lý vừa mang tính khoa học, lại vừa đạt tính nghệ thuật Các nghiên cứu về khoa học quản lý giáo dục đã quy về ba loại phương pháp quản lý chung là: phương pháp hành chính – pháp luật; phương pháp giáo dục – tâm lý và phương pháp kích thích

Trang 35

Đặc trưng của phương pháp hành chính – pháp luật trong quản lý đội ngũ giảng viên là sự cưỡng bức đơn phương của hiệu trưởng, là quan hệ giữa quyền uy và phục tùng, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức Phương pháp này nhằm hai mục đích tổ chức và điều chỉnh Hiệu trưởng ban hành các văn bản pháp quy như quy chế tổ chức và hoạt động của trường, quy định chuẩn hóa trình độ giảng viên, các quy định cụ thể về chuyên môn, về chế độ chính sách của giảng viên, và thông qua các quyết định quản lý, mệnh lệnh hành chính bắt buộc các bộ phận và giảng viên phải thực hiện nhiệm vụ, nhằm đảm bảo đúng hướng về phát triển đội ngũ giảng viên

Tuy nhiên, ở phương pháp này cũng cần tránh bệnh hành chính, quan liêu, nặng về giấy tờ, thiếu thông tin cần thiết, dễ xa dời quần chúng

b Phương pháp giáo dục – tâm lý

“Phương pháp giáo dục – tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm và tâm lý con người.” [ 16 ]

Mục đích của phương pháp này là thông qua các mối quan hệ liên nhân cách, hiệu trưởng tác động lên đội ngũ giảng viên nhằm cung cấp, trang bị thêm hiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, nâng cao khả năng cũng như trình độ thực hiện nhiệm vụ của người giảng viên (giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học, ); đồng thời chuẩn bị thêm tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác tự chủ, lòng kiên trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí đoàn kết – lành mạnh, trong đội ngũ giảng viên và tập thể nhà trường

Cơ sở khách quan của phương pháp này là các quy luật nhận thức – tư duy, các quan hệ và quy luật tâm lý – xã hội – giáo dục, rất phù hợp với đối tượng quản lý là đội ngũ giảng viên Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, mặt khác là do môi trường giáo dục, môi trường đụng chạm đến nhiều học thuật, đối tượng quản lý là đội ngũ trí thức; vì vậy phương pháp này được sử dụng nhiều và đem lại hiệu quả cao

c Phương pháp kích thích

Trang 36

“Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của

tổ chức.” [ 16 ]

Kích thích vật chất có thể là quan tâm đến chế độ lương, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ để tăng thu nhập ngoài lương cho đội ngũ giảng viên, chế độ thưởng khuyến khích cho

GV có thành tích xuất sắc, Kích thích về tinh thần cho GV là việc xét phong tặng các danh hiệu thi đua, các danh hiệu cao quý của nhà giáo, xét kết nạp Đảng, chọn cử GV cho đi học ở bậc cao hơn,

Trong quản lý ĐNGV, cần kết hợp cả hai loại kích thích trên Nếu quá coi trọng kích thích vật chất sẽ tầm thường hóa đội ngũ giảng viên Nếu quá coi trọng kích thích tinh thần sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí

1.6.4.2 Công cụ quản lý đội ngũ giảng viên

Công cụ quản lý được coi là những gì chủ thể quản lý sử dụng trong hoạt động quản lý để đạt mục tiêu quản lý

Công cụ quản bao gồm: chế định giáo dục và đào tạo; bộ máy tổ chức

và nhân sự; nguồn tài lực,vật lực; hệ thống thông tin và môi trường; cụ thể là:

a Chế định giáo dục và đào tạo

Chế định giáo dục và đào tạo là công cụ có tính pháp lý như: các chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước, của địa phương; các quyết định của Bộ Giáo dục & Đào tạo Các văn bản này chỉ phát huy hiệu lực khi nó đi vào thực tiễn, với việc áp dụng, vận dụng, cụ thể hóa trong nhà trường Nó được gắn với việc xây dựng các quy định quản lý nội

bộ Chế định giáo dục và đào tạo giúp cho công tác quản lý đội ngũ giảng viên được thông suốt, nên nó là chìa khóa, là phương tiện tiền đề cho việc thực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên

b Bộ máy tổ chức và nhân sự

Trang 37

Cơ cấu về bộ máy quản lý nhà trường bao gồm tất cả các bộ phận theo phân cấp quản lý, từ lãnh đạo (ban giám hiệu), đến các phòng, khoa, các bộ phận trực thuộc trường, các hội đồng tư vấn, các tổ chuyên môn, tổ bộ môn, cán bộ, GV, nhân viên và sinh viên Bộ máy tổ chức và nhân sự trong nhà trường được xem là nhân tố quyết định để đạt được mục tiêu trong công tác quản lý phát triển ĐNGV Chính vì vậy, trong việc xây dựng, sắp xếp bộ máy

tổ chức và nhân sự phải được hiệu trưởng quan tâm hàng đầu, làm thế nào để

có bộ máy tổ chức tinh gọn, phân cấp, phân quyền rành mạch, bố trí nhân sự phù hợp (đúng người, đúng việc); thông qua đó để mọi người phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình

c Nguồn tài lực, vật lực

Nguồn tài lực, vật lực để quản lý ĐNGV chính là nguồn tài chính, cơ

sở vật chất – kỹ thuật được huy động và sử dụng cho quá trình quản lý Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy – học đầy đủ và hiện đại, cùng với việc đáp ứng nguồn tài chính được huy động từ nhiều nguồn thu hợp pháp sẽ là phương tiện quan trọng, tất yếu cho công tác quản lý phát triển ĐNGV cả về

số lượng, chất lượng và cơ cấu, Trường nên chú trọng trang bị đủ các phương tiện máy móc thiết bị (máy vi tính, projector, phòng học trực tuyến qua mạng internet, ) phục vụ cho việc sử dụng giáo án điện tử, cho dạy học hiện đại và khai thác thông tin trên mạng Internet, cho nghiên cứu khoa học

d Hệ thống thông tin và môi trường

Thông tin quản lý được hiểu là tất cả những gì có thể cung cấp cho người quản lý những hiểu biết về đối tượng quản lý, nhằm giúp cho người quản lý trên cơ sở đó có thể đưa ra được quyết định đúng đắn, kịp thời

Hệ thống thông tin và môi trường phục vụ cho công tác quản lý phát triển ĐNGV là sự nắm bắt, hiểu biết và việc khai thác, xử lý tối ưu thông tin

về khoa học quản lý ĐNGV; về việc phát huy những tác động tích cực của môi trường đối với công tác quản lý

Trang 38

Trong xã hội hiện đại, người nào chiếm lĩnh được nhiều thông tin sẽ có quyền lực mạnh hơn Hệ thống thông tin và môi trường vừa là điều kiện, vừa

là phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu quản lý ĐNGV

1.6.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến đội ngũ giảng viên và quản lý đội ngũ giảng viên

1.6.5.1 Yếu tố chủ quan

Trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý

“Quản lý ngày nay là một nghề.” Cán bộ quản lý giáo dục ngày nay phải là những con người toàn năng, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa thành thạo kỹ năng nghiệp vụ quản lý nhà trường, nghiệp vụ tổ chức sư phạm, vừa biết xử lý các tình huống gay cấn của cấp quản lý Trong đó, kỹ năng công tác

kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, xử lý thông tin cần theo kịp với sự phát triển của nhà trường trước bối cảnh hội nhập quốc tế

Một người hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng tìm cách giỏi hơn mọi GV, mà là người biết dùng GV giỏi; do đó, quản lý ĐNGV là cả một nghệ thuật; người hiệu trưởng phải làm sao để xây dựng ĐNGV thành một tổ chức biết học hỏi Vậy việc đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán

bộ quản lý giáo dục là một yêu cầu bắt buộc Bên cạnh đó, bản thân đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các trường cũng phải luôn luôn “biết học hỏi”

Sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của giảng viên

Đất nước đang rất cần nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng sản phẩm của các cơ sở đào tạo Từ đó, đòi hỏi ĐNGV phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm chất tốt

cao-Quản lý ĐNGV là làm cho đội ngũ này luôn luôn vận động tự làm mới mình bằng con đường biết “Học - Hỏi - Hiểu - Hành” Đây là phương châm hành xử của con người hiện đại, cũng là phương châm hành xử của một tập thể Người quản lý nhà trường phải tạo ra được phương châm hành xử này cho từng người và cho cả tập thể - chủ yếu là ĐNGV

Trang 39

1.6.5.2 Yếu tố khách quan

Quan điểm, chủ trương về quản lý giảng viên

Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo, coi đây là “quốc sách hàng đầu”, từ đó có định hướng, có những nghị quyết, chỉ thị, quyết định, về phát triển nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Đây là căn

cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện Đây cũng là cơ sở để hiệu trưởng các trường hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển ĐNGV cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong thời đại mới

Các điều kiện hỗ trợ

Để công tác quản lý ĐNGV mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền với các điều kiện đảm bảo cho hoạt động này về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục

vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiện các giải pháp quản lý ĐNGV, Trong quản lý ĐNGV có thể coi các yếu tố chủ quan như là nội lực, các yếu tố khách quan là ngoại lực Như vậy, nội lực

là nhân tố quyết định, còn ngoại lực là điều kiện hỗ trợ; song chúng không hề tách rời, mà luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau

1.7 Quản lý đội ngũ giảng viên ở trường đại học ngoài công lập

Công tác quản lý ĐNGV ở trường đại học tư thục là một nhiệm vụ quan trọng vì không những nâng cao chất lượng cho ĐNGV mà nó còn khẳng định vị thế của trường đại học đó trong toàn ngành giáo dục trên cả nước

Công tác quản lý ĐNGV ở trường đại học tư thục có đặc điểm sau:

Ở trường đại học tư thục các thủ tục hành chính thường nhanh, gọn vì vậy công tác quản lý thường nhanh chóng, chính xác

Trường đại học ngoài công lập khi mới thành lập đa phần là GV trẻ, họ đầy hăng say nhiệt tình trong công việc nhưng lại thiếu kinh nghiệm và trình

độ học vấn chưa cao Do vậy nhà quản lý có những chế độ, chính sách thích

Trang 40

hợp để động viên khích lệ ĐNGV trẻ học tập nâng cao trình độ đồng thời hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trường đại học ngoài công lập khi mới thành lập còn thiếu nhiều GV

do vậy phải mời GV ở các trường đến giảng dạy thỉnh giảng tại trường đây cũng là một khó khăn, thách thức trong công tác quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo vì họ có thể mang bài giảng, nội quy, quy chế và thói quen ở trường họ áp đặt vào nhà trường

Một nguyên nhân khác khiến công tác quản lý GV ở các trường tư thục gặp khó khan theo Báo cáo của Ngân hang thế giới (World bank, 2008) là tâm

lý của các giảng viên Việt Nam thích ở trường công hơn so với trường tư Họ quan niệm GV trường đại học công lập mới là danh giá Chính vì vậy họ thường muốn giảng dạy biên chế ở trường công và tham gia thỉnh giảng ở trường tư để tăng thêm thu nhập ĐNGV chưa yên tâm với công việc còn

"đứng núi này trông núi khác", nhiều khi nhà trường trở thành nơi đào tạo ĐNGV trẻ để có cơ hội là xin chuyển công tác

Ngày đăng: 16/03/2015, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2005). Kinh tế học giáo dục. Bài giảng cho lớp cao học quản lý giáo dục, khoa Sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2005
2. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996). Lý luận đại cương về quản lý giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận đại cương về quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 1996
3. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005). Lý luận quản lý nhà trường. Tài liệu giảng dạy lớp cao học quản lý giáo dục, khoa sƣ phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2005
4. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005). Những quan điểm giáo dục hiện đại. Bài giảng cho lớp cao học quản lý giáo dục, khoa sƣ phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm giáo dục hiện đại
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2005
5. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Cơ sở khoa học quản lý. Bài giảng cho lớp cao học quản lý giáo dục, khoa sƣ phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học quản lý
6. Nguyễn Đức Chính. Chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục. Bài giảng cho lớp cao học quản lý giáo dục, khoa sƣ phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng và quản lý chất lượng trong giáo dục
7. Nguyễn Đức Chính. Đánh giá trong giáo dục. Bài giảng cho lớp cao học quản lý giáo dục, khoa sƣ phạm, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
8. Vũ Cao Đàm (2002). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
Năm: 2002
9. Nguyễn Văn Đạm (1999). Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt. NXB văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: NXB văn hoá thông tin Hà Nội
Năm: 1999
10. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2001). Giáo trình khoa học quản lý tập I. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học quản lý tập I
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
11. Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2001). Giáo trình khoa học quản lý tập II. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình khoa học quản lý tập
Tác giả: Đoàn Thị Thu Hà - Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2001
12. Phạm Minh Hạc (1999). Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
13. Đặng Xuân Hải (2005). Chất lượng dạy học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng dạy học
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2005
14. Đặng Xuân Hải (2005). Hệ thống giáo dục quốc dân và bộ máy quản lý giáo dục đào tạo. Bài học cho lớp Cao học QLGD, khoa Sƣ phạm ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giáo dục quốc dân và bộ máy quản lý giáo dục đào tạo
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Năm: 2005
15. Mai Hữu Khuê (2003). Lý luận quản lý nhà nước. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý nhà nước
Tác giả: Mai Hữu Khuê
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
16. Trần Kiểm (2004). Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lí giáo dục – một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
17. Đặng Bá Lãm – Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức (2007). Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển - Hiện đại hoá. NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam đổi mới và phát triển - Hiện đại hoá
Tác giả: Đặng Bá Lãm – Vũ Ngọc Hải - Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2007
18. Đặng Bá Lãm (2003). Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI, chiến lược phát triển. NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI, chiến lược phát triển
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2003
19. Đặng Bá Lãm (chủ biên) (2005). Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn. NXB chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Bá Lãm (chủ biên)
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
Năm: 2005
20. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Văn Hòa (1997). Quản trị nhân sự. NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Văn Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Sơ đồ 1.1 Quá trình quản lý (Trang 18)
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ khái niệm quản lý giáo dục (Trang 19)
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc tổ chức của trường Đại học Thành Đô - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc tổ chức của trường Đại học Thành Đô (Trang 47)
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu cán bộ, giảng viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Hình 2.2 Biểu đồ cơ cấu cán bộ, giảng viên (Trang 48)
Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng cán bộ, nhân viên và giảng viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.1 Thống kê số lƣợng cán bộ, nhân viên và giảng viên (Trang 49)
Bảng 2.2: Tổng hợp khảo sát thực trạng số lƣợng giảng viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.2 Tổng hợp khảo sát thực trạng số lƣợng giảng viên (Trang 51)
Bảng 2.3: Thống kê học hàm, học vị của cán bộ, nhân viên và GV - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.3 Thống kê học hàm, học vị của cán bộ, nhân viên và GV (Trang 52)
Hình 2.4: Biểu đồ thống kê trình độ chuyên môn  của cán bộ, giảng viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Hình 2.4 Biểu đồ thống kê trình độ chuyên môn của cán bộ, giảng viên (Trang 52)
Bảng 2.4: Tổng hợp khảo sát thực trạng chất lƣợng giảng viên - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.4 Tổng hợp khảo sát thực trạng chất lƣợng giảng viên (Trang 53)
Bảng 2.5: Đội ngũ giảng viên cơ hữu của các khoa - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.5 Đội ngũ giảng viên cơ hữu của các khoa (Trang 53)
Bảng 2.6: Cơ cấu GV theo độ tuổi - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.6 Cơ cấu GV theo độ tuổi (Trang 54)
Bảng 2.7: Cơ cấu giảng viên theo khoa – theo học hàm, học vị - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.7 Cơ cấu giảng viên theo khoa – theo học hàm, học vị (Trang 57)
Bảng 2.8: Số lƣợng GV tuyển hàng năm - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.8 Số lƣợng GV tuyển hàng năm (Trang 66)
Bảng 2.9: Tổng hợp khảo sát thực trạng tuyển dụng GV - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.9 Tổng hợp khảo sát thực trạng tuyển dụng GV (Trang 67)
Bảng 2.10: Tổng hợp khảo sát thực trạng sự quan tâm đãi ngộ - Biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Đại học Thành Đô
Bảng 2.10 Tổng hợp khảo sát thực trạng sự quan tâm đãi ngộ (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm