Tình hình nghiên cứu đề tài Có khá nhiều bài viết, luận văn, đề tài nghiên cứu về thực trạng đội ngũ giảng viên Đại học – Cao đẳng ĐH-CĐ ở Việt Nam hiện nay hoặc vấn đề chất lượng và nâ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM THU HIỀN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT
THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2016-2020
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG ANH HUY
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin và số liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn đủ nguồn tài liệu, kết quả phân tích trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất trong luận văn là của cá nhân tôi chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Đàm Thu Hiền
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 6
1.1 Đội ngũ giảng viên - nguồn nhân lực cơ bản của các trường Đại học, Cao đẳng 6 1.2 Những yêu cầu và nội dung chủ yếu của việc phát triển đội ngũ giảng viên .9 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng 14
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI 20
2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại 20 2.2 Thực trạng hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại 27 2.3 Đánh giá tổng quát về thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác phát triển đội ngũ giảng viên đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo 48
Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI ĐẾN NĂM
2020 53
3.1 Định hướng phát triển trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại đến năm 2020 53 3.2 Các biện pháp chủ yếu nhằm phát triển đội ngũ giảng viên 56
KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU
1 Sơ đồ 1.1 Hệ thống đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên 13
2 Bảng 2.1 Bảng quy mô HSSV đào tạo chính quy từ 2012-2016 23
3 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy chuyên môn của trường
Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại 25
4 Bảng 2.2 Số lượng GV và HSSV trong 4 năm học 27
5 Bảng 2.3 Số lượng giảng viên giai đoạn 2012 - 2015 28
6 Bảng 2.4 Trình độ học vấn của đội ngũ giảng viên Nhà trường 28
7 Bảng 2.5 Trình độ tin học của ĐNGV trường CĐ KT-KTTM 29
8 Bảng 2.6 Trình độ ngoại ngữ của ĐNGV trường CĐ KTKTTM 29
9 Bảng 2.7
Thống kê mức độ thường xuyên sử dụng ngoại ngữ
và tin học của giảng viên cho công tác giảng dạy và nghiên cứu
30
10 Bảng 2.8 Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo độ tuổi 32
11 Bảng 2.9 Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo giới tính 33
12 Bảng 2.10 Kết quả đánh giá về công tác bố trí sử dụng đội ngũ
13 Bảng 2.11 Kết quả đánh giá về chính sách khuyến khích giảng
14 Bảng 2.12 Kết quả thăm dò về nguyên nhân giảng viên của
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục đại học nói riêng về nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng ngày càng cao trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế, đặt ra cho các trường phải đổi mới tư duy, đổi mới triết lý giáo dục, đổi mới phong cách chỉ đạo, quản lý và điều hành nhà trường, tiếp tục hoàn chỉnh và hoàn thiện sứ mạng nhằm tiến tới một nền giáo dục đại học có chất lượng và hiệu quả cao hơn, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân và nhu cầu nhân lực của xã hội Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho các thành phần kinh tế trong cả nước có trình độ Cao đẳng và các trình độ thấp hơn Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của giáo dục cả nước thì nhà trường luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh về qui mô đào tạo cũng như
sự đa dạng hoá các loại hình đào tạo và chuyên ngành đào tạo Định hướng phát triển của Trường là sẽ nâng cấp lên đại học, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương, khu vực và của toàn quốc Điều này đòi hỏi trong thời gian
từ nay đến năm 2020, Nhà trường phải có những biện pháp cần thiết để tăng quy mô
và chất lượng đào tạo, trong đó khâu xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên giữ một vị trí vô cùng quan trọng Tuy nhiên hiện nay, thực trạng đội ngũ giảng viên của trường còn nhiều bất cập như: chất lượng chưa cao, cơ cấu của đội ngũ có sự mất cân đối
Mặt khác, Nhà trường nằm gần trung tâm Hà Nội, do đó tính cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo có ngành nghề và bậc đào tạo tương đương là rất cao, chính vì vậy đòi hỏi Nhà trường phải có đội ngũ giảng viên năng động, đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và hợp lý về cơ cấu để đảm bảo mở rộng quy mô các ngành nghề đào tạo
và nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và tăng sức cạnh tranh của Nhà trường so với các cơ sở đào tạo khác
Trang 72
Từ những thực tế trên đã cho thấy việc nghiên cứu để đưa ra giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Nhà trường trong thời
gian tới Do đó tôi lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại giai đoạn 2016-2020” để
nghiên cứu viết luận văn Thạc sỹ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có khá nhiều bài viết, luận văn, đề tài nghiên cứu về thực trạng đội ngũ giảng viên Đại học – Cao đẳng (ĐH-CĐ) ở Việt Nam hiện nay hoặc vấn đề chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên như:
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Thành Đô” – Luận văn thạc sỹ khoa học, chuyên ngành quản trị kinh doanh – Đại học Bách Khoa Hà Nội; 2009
Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội – Luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành quản trị nguồn nhân lực; 2009
“Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Công nghiệp Việt – Hung giai đoạn 2006 – 2010”- Luận văn thạc sỹ khoa học, chuyên ngành quản lý giáo dục; 2006
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các báo phản ánh thực trạng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học như bài: “Thực trạng đáng buồn trong đội ngũ Giảng viên Đại học - Mải giảng dạy, quên nghiên cứu” (Báo Người Lao động);
Tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương Mại đã có một luận văn và một đề tài nghiên cứu khoa học viết về đề tài này, tuy nhiên lại được viết và nghiên
cứu cách đây khá lâu (giai đoạn 2008-2011) Do vậy, đề tài “Một số giải pháp phát
triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại giai đoạn 2016-2020” là hoàn toàn không bị trùng với những nghiên cứu trước đó
Trang 83
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển đội ngũ
giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho xã hội
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Hệ thống và phát triển một số lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên cho các trường cao đẳng;
Đánh giá thực trạng hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại thông qua các phương pháp nghiên cứu và phân tích các dữ liệu, chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân;
Đề xuất một số giải pháp khắc phục các bất cập, nhằm giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên của trường đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý cho thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên tại
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
- Thời gian: Thực hiện nghiên cứu, phân tích, đánh giá công tác phát triển đội
ngũ giảng viên của Trường trong giai đoạn 2012 – 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng với các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh Trong phân tích: Sử dụng các bảng để so sánh, minh hoạ, rút ra những kết luận cần thiết
Số liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là các số liệu thứ cấp trích dẫn từ các nguồn tài liệu công bố chính thức như số liệu Giảng viên, sinh viên, thống kê học
vị, trình độ ngoại ngữ, tin học…
Trang 94
Các nguồn dữ liệu này được trích dẫn trong luận văn và ghi chú đầy đủ, chi tiết trong phần tài liệu tham khảo
Nguồn dữ liệu được thu thập thông qua:
Các số liệu chính thức từ Phòng tổ chức - Cán bộ, Phòng đào tạo
Báo cáo tổng kết một số năm học gần đây
Chiến lược phát triển trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại giai đoạn 2015-2020
* Phương pháp xử lý phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh: Mục đích của phương pháp này là để so sánh số tuyệt đối, so sánh số tương đối, so sánh số bình quân về mặt số lượng giảng viên trong cơ cấu giảng viên của trường, cơ cấu giảng viên phải tương ứng với quy mô đào tạo của trường và tổng số lượng học sinh sinh viên, đảm bảo tỷ lệ giảng viên/số lượng sinh viên theo quy định nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục
- Phương pháp lập bảng biểu thống kê như: Lập bảng thống kê phân tích ý kiến của các giảng viên sau khi tiến hành phỏng vấn; trên cơ sở các kết quả thu được đánh giá số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên, mức độ quan tâm đến việc giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường, ưu điểm, nhược điểm trong công tác giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường, những nguyên nhân khiến giảng viên chuyển công tác…Từ đó có cơ sở đề ra các giải pháp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài luận văn góp phần cụ thể hóa lý thuyết về hoạt động phát triển lao động cho đối tượng cụ thể là giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ này
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh mục bảng, biểu, sơ
đồ, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Trang 105
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất
lượng đào tạo
Chương 2: Th c trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại đến năm 2020
Trang 116
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 1.1 Đội ngũ giảng viên - nguồn nhân lực cơ bản của các trường Đại học, Cao đẳng
1.1.1 Nguồn nhân lực
“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, khu vực,
thế giới”[1,tr154] Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn
lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự
phát triển nói chung của các tổ chức
Ở nước ta, khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới Một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học- công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX- 07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng
“nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất
và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [8,tr323] Với cách tiếp cận này, NNL được hiểu là sự tổng hòa số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Ngoài ra, theo Nguyễn Vân Điềm nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động, sản xuất
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất
trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp [7,tr98]
Như vậy, tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên là khi nói về NNL tức là nói về số lượng và chất lượng NNL Trong đó,
+ Số lượng nguồn nhân l c được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và
tốc độ phát triển NNL, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng ít thì quy mô tổ chức nhỏ Thể hiện tính đa dạng cơ cấu nhân
Trang 127
viên trong tổ chức qua trình độ, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của NNL trong tổ chức
+ Chất lượng nguồn nhân l c thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành
nên bản chất bên trong của NNL, được biểu hiện thông qua các tiêu thức: sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, lành nghề… Tuy nhiên có quan niệm khác chất lượng NNL là tổng hợp những phẩm chất, năng lực, sức mạnh của người lao động Nó bao gồm những yếu tố cơ bản: thể lực, trí tuệ, năng lực và thẩm mỹ của người lao động Trong đó trí tuệ, đạo đức, năng lực là những yếu tố quan trọng nhất
1.1.2 Đội ngũ giảng viên
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng
3 Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên [2, 56]
b Những yêu cầu đối với giảng viên
* Những yêu cầu đối với giảng viên với tư cách nhà sư phạm
Người GV phải có lòng yêu nghề, tận tuỵ với nghề dạy học Vì dạy học là một nghề đòi hỏi người GV phải có say mê mới có thể có sự sáng tạo
Người GV không chỉ dạy SV tri thức khoa học mà là người có trách nhiệm giáo dục SV, phải hiểu biết thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước, thực trạng giáo dục nói chung và giáo dục ĐH, CĐ nói riêng
Trang 138
Nhà sư phạm tài năng trước hết phải là nhà chuyên môn giỏi Sau đó là các năng lực dạy học và các năng lực giáo dục Người GV khác người giáo viên ở chỗ: người GV vừa là nhà sư phạm vừa là nhà khoa học vì người GV đào tạo ra các chuyên gia về một lĩnh vực chuyên môn Do đó, người GV phải có năng lực NCKH giáo dục, năng lực hướng dẫn SV thực hiện các hoạt động học tập và nghiên cứu
1.1.2.2 Đội ngũ giảng viên
a Khái niệm đội ngũ giảng viên
ĐNGV là tập hợp những người làm nghề giảng dạy, đào tạo, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra
ở các trường ĐH, CĐ Họ làm việc có kế hoạch và gắn bó với nhau thông qua lợi ích
về vật chất, tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp luật, thể chế xã hội
Nói cách khác hiểu theo nghĩa hẹp, ĐNGV là tập hợp tất cả giảng viên trong trường ĐH, CĐ [16, tr68]
b Đặc điểm đội ngũ giảng viên
Những thành viên trong đội ngũ đã được tuyển chọn tương ứng với một hệ thống các tiêu chí về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp
Các thành viên được liên kết với nhau trên cơ sở thực hiện mục tiêu, nhiệm
vụ, chức năng mà Nhà nước đã quy định đối với các trường ĐH, CĐ
Mỗi thành viên, mỗi bộ phận của ĐNGV thực hiện những chức trách và nhiệm vụ chuyên biệt tuỳ thuộc vào vị trí và đặc điểm của môi trường hoạt động, song đều chịu sự quản lý thống nhất về thể chế, về tổ chức, về chuyên môn của nhà trường theo quy định của nhà nước
c Yêu cầu đối với đội ngũ giảng viên
Nhìn từ góc độ tập thể đội ngũ thì:
Đội ngũ phải đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng
Đội ngũ phải hợp lý về cơ cấu Có sự liên tục, kế thừa giữa các thế hệ và chuẩn bị để có thể đổi mới các thế hệ theo một tỷ lệ nhất định
Đội ngũ phải được bồi dưỡng thường xuyên
Đạt hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, NCKH
Trang 149
Đoàn kết thống nhất để tạo nên sức mạnh của tập thể đội ngũ [17, tr26]
1.2 Những yêu cầu và nội dung chủ yếu của việc phát triển đội ngũ giảng viên
1.2.1 Khái niệm phát triển đội ngũ giảng viên
Việc phát triển đội ngũ giảng viên thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục, là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau (quốc gia, vùng miền, địa phương ) Thông qua quá trình phát triển nguồn nhân lực mà phát triển được tiềm năng con người, năng lực nghề nghiệp của con người
Trong giai đoạn hiện nay, phát triển đội ngũ giảng viên phải mang tính chất đón đầu chứ không phải phản ứng nhất thời Cụ thể, về số lượng phải đủ so với định biên; về cơ cấu phải hợp lý bao gồm giới tính, độ tuổi, ngành nghề sao cho phù hợp với sự phát triển, kế thừa và tránh được sự đứt đoạn hẫng hụt về sự vận động và phát triển đội ngũ theo thời gian Đặc bịêt, về chất lượng đội ngũ, phải chăm lo đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao không ngừng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (đạt chuẩn và trên chuẩn), cho từng cá nhân giảng viên để có năng lực giảng dạy vững vàng và có khả năng đáp ứng được yêu cầu đổi mới của thực tế khách quan trong công tác dạy học
1.2.2 Vai trò của đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng trong bối cảnh mới
Trước bối cảnh hội nhập của toàn cầu hoá có thể nói chưa bao giờ vai trò của người giảng viên trong các trường cao đẳng lại được đề cao như vậy Đội ngũ giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo, là người trực tiếp thực hiện và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu ở các trường cao đẳng
Bước vào kỷ nguyên thông tin với sự phát triển vượt bậc của các công nghệ truyền thông thì vị trí vai trò của người giảng viên đã có những thay đổi cơ bản Người giáo viên nói chung, đặc biệt là người giảng viên cao đẳng không còn là nguồn thông tin, kiến thức duy nhất nữa Mặc dù vậy, vai trò của họ vẫn không hề giảm Tất cả các luồng thông tin, kiến thức mà người học, nhất là sinh viên tiếp thu vẫn phải có sự gợi mở, cố vấn của giảng viên, giúp cho sinh viên lựa chọn thông tin
Trang 1510
Do đó, giảng viên để có thể trở thành một cố vấn giúp cho sinh viên tiếp thu được
các thông tin, biết cách tự học, tự nghiên cứu thì trước hết phải luôn không ngừng tìm tòi, cập nhật kiến thức; phải biết nghiên cứu khoa học và thấu hiểu được cách học của sinh viên
1.2.3 Nhiệm vụ của đội ngũ giảng viên trong các trường Cao đẳng
Để thực hiện được các vai trò trên đội ngũ giảng viên trong các trường cao đẳng cần thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể Theo Điều 26 - Điều lệ trường Cao đẳng ban hành kèm theo Quyết định số 56/2003/QĐ-BGD&ĐT ngày 10 tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ cụ thể của giảng viên cao đẳng như sau:
a/ Chấp hành chủ trương Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện các quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Điều lệ trường Cao đẳng
và quy chế tổ chức và hoạt động của trường;
b/ Giảng dạy theo đúng nội dung chương trình đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường quy định; viết giáo trình, phát triển tài liệu phục vụ giảng dạy học tập theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
c/ Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học;
d/ Tham gia hoặc chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học hoặc chuyển giao công nghệ theo sự phân công của trường, khoa, bộ môn;
e/ Không ngừng tự bồi dưỡng nghiệp vụ cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo;
g/ Hoàn thành tốt các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao
1.2.4 Nội dung công tác phát triển đội ngũ giảng viên
Đội ngũ giảng viên là nguồn lực quan trọng của nhà trường Hoạt động giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp phát triển của nhà trường Nội dung cơ bản của hoạt động giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm:
Trang 1611
1.2.4.1 Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên
Căn cứ vào kế hoạch phát triển tổng thể, để dự báo triển vọng theo kế hoạch 5 năm, 10 năm, trong đó bao gồm dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Dự báo được xu hướng diễn biến của nhân lực nhà trường về số lượng, chất lượng, cơ cấu ĐNGV, chỉ ra được nhu cầu, điều kiện khả năng phát triển ĐNGV của nhà trường Nhờ có kế hoạch đó mà hướng vận động và phát triển của hệ thống phát triển giáo dục được xác định rõ, tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu của hệ thống giáo dục
1.2.4.2 Bố trí sử dụng đội ngũ giảng viên
Bố trí sử dụng đội ngũ giảng viên là việc sắp xếp, đề bạt giảng viên vào các nhiệm vụ, chức danh cụ thể nhằm phát huy cao nhất khả năng hiện có của giảng viên để vừa hoàn thành được mục tiêu của nhà trường và tạo ra sự bất mãn ít nhất Việc bố trí sử dụng giảng viên hợp lý không chỉ phát huy năng lực của người giảng viên mà còn làm tăng sự hài lòng của họ đối với công việc được giao, họ thấy yêu thích công việc và yên tâm gắn bó với nhà trường Vì vậy bố trí sử dụng giảng viên cũng là một hoạt động để giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên
1.2.4.3 Bồi dưỡng đào tạo đội ngũ giảng viên
Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên là một hoạt động hết sức quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên Thông qua đào tạo bồi dưỡng, người giảng viên được nâng cao trình độ và năng lực làm việc, do đó tạo cho họ có nhiều cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp hơn Họ sẽ gắn bó và cống hiến hết mình để hy vọng vào tương lai tốt đẹp
- Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn nhất định để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
Vậy đào tạo đội ngũ giảng viên là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống kiến thức, năng lực sư phạm và thái độ nghề nghiệp theo những tiêu chuẩn của người giảng viên để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và giáo dục của trường và yêu cầu chung của ngành
Trang 1712
Đào tạo bồi dưỡng là vấn đề vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài, thường xuyên nó liên quan trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và tạo
cơ hội phát triển nghề nghiệp cho giảng viên
1.2.4.4 Phát triển kỹ năng nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên
Trong thực tế xã hội, tình trạng thừa thầy thiếu thợ càng phổ biến Tiến tới mục tiêu đào tạo ra những người thợ tinh thông, để khi đi làm mức lương của những người thợ này nhận được sẽ không hề thua kém bất cứ một ngành nghề nào khác là hướng mà nhà trường đang phát triển
Vì vậy đội ngũ giảng viên cũng cần trau dồi các kỹ năng dạy nghề và thực hành tại một số nghành đào tạo nghề đã có và sắp mở ra theo định hướng phát triển đào tạo của trường Mục tiêu đào tạo của nhà trường hiện nay là có được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển một hệ thống đào tạo nghề có khả năng cung cấp cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môi trường
Hội nhập quốc tế sâu, rộng tạo điều kiện thuận lợi cho dạy nghề tiếp cận với những kiến thức mới, công nghệ mới, mô hình dạy nghề hiện đại, mở rộng trao đổi kinh nghiệm, có cơ hội tiếp cận, thu hút các nguồn lực bên ngoài cho phát triển dạy nghề, song cũng đòi hỏi người giảng viên phải thích ứng được kịp thời
1.2.4.5 Đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên
Đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên Thông qua việc thực hiện các chính sách đãi ngộ sẽ tạo động lực thúc đẩy đội ngũ giảng viên làm việc tích cực và gắn bó lâu dài với nhà trường Hệ thống đãi ngộ bao gồm cả các yếu tố tài chính và các yếu tố phi tài chính:
Trang 1813
Sơ đồ 1.1: Hệ thống đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên
Đãi ngộ về mặt tài chính: bao gồm lương, phụ cấp lương, thâm niên, thưởng và các khoản phúc lợi Trong đó tiền lương là thu nhập chủ yếu giúp người giảng viên duy trì và nâng cao mức sống cho họ và gia đình họ Ở một mức độ nhất định, tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị, uy tín của người giảng viên đối với gia đình, nhà trường và xã hội Khi giảng viên cảm thấy việc trả lương không xứng đáng với công sức lao động của họ, họ sẽ không hăng hái tích cực làm việc thậm chí còn có ý định tìm cơ hội khác tốt hơn Bên cạnh đãi ngộ về tài chính, đãi ngộ phi tài chính cũng có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy họ làm việc và gắn bó với nhà trường Đãi ngộ phi tài chính chứa đựng các lợi ích mang lại cho giảng viên từ bản thân công việc và môi trường làm việc như sức hấp dẫn của công việc, sự vui vẻ, thoải mái, mức độ tích lũy kiến thức, tự học hỏi, sự ghi nhận của xã hội, cơ hội thăng tiến phát triển nghề nghiệp
- Trợ cấp giáo dục
- Các chương trình khuyến khích
Công việc
- Công việc lý thú và đa dạng
- Cơ hội học hỏi
và thăng tiến
- Cảm giác hoàn thành công tác
Môi trường
- Quan hệ thân mật với mọi người
- Cơ hội tham gia các quyết định
- Điều kiện làm việc thoải mái
- Giờ làm việc linh động
Trang 1914
1.2.4.6 Xây d ng tiêu chí đánh giá phát triển đội ngũ giảng viên
Đánh giá toàn diện và chính xác năng lực của giảng viên là một trong những yếu
tố quan trọng khuyến khích sự phấn đấu vươn lên của giảng viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, trong thực tế việc đánh giá giảng viên hàng năm tại Trường còn mang tính hình thức, thiếu khách quan và đôi khi không chính xác
Để có thêm công cụ đánh giá giảng viên, lãnh đạo nhà trường nên đưa ra các tiêu chí
để đánh giá giảng viên trong ba lĩnh vực: giảng dạy, nghiên cứu khoa học và phục
vụ xã hội trên cơ sở tham khảo các tiêu chí đánh giá giảng viên ở một số trường đại học trong nước
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường Cao đẳng
1.3.1 Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
1.3.1.1 S phát triển của nền kinh tế
Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, buộc các doanh nghiệp phải cố gắng vươn lên để cạnh tranh được với nhiều đối thủ mạnh Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vì con người là nhân tố quyết định sự sống còn của mỗi doanh nghiệp Chính vì thế, các trường cao đẳng cần phải
mở rông quy mô tuyển sinh, đào tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để cung cấp nguồn nhân lực dồi dào có chất lượng cao cho xã hội
Nhưng, muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải nâng cao chất lượng người thầy, các trường cao đẳng cần có chính sách giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cấp thiết hiện nay Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển, giá cả ổn định, thu nhập
và lương tăng, đời sống của giảng viên được cải thiện, họ có điều kiện tập trung công tác giảng day, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và gắn bó lâu dài với nghề; đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng giảng dạy tại nước ta hiện nay
Trang 2015
1.3.1.2 Công nghệ
Thời đại công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, công nghệ len lỏi trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi nền kinh tế Công nghệ thông tin, máy móc hiện đại giúp ích cho con người trong tìm kiếm dữ liệu, cập nhật thông tin, học hỏi các kinh nghiêm tri thức mới, tiên tiến nhằm ứng dụng vào thực tế công việc hoặc nghiên cứu và không bị tụt hậu Từ đó thúc đẩy người giảng viên phải liên tục học tập bồi dưỡng đặc biệt về công nghệ thông tin để trước hết trau dồi vốn hiểu biết cho mình, cập nhật tri thức mới, sau là ứng dụng nó vào công tác giảng dạy của mình, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao hiệu quả truyền tải kiến thức Nếu không có kiến thức công nghệ thông tin thì giảng viên sẽ bị tụt hậu và kiến thức sẽ
bị lỗi thời Điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực
1.3.1.3 Chính trị, pháp luật
Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến giáo dục - đào tạo; các xu hướng chính trị, ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực
và trên toàn thế giới Chính trị ổn định là nền tảng vững chắc để mọi ngành nghề, lĩnh vực trong xã hội phát triển Các chính sách thương mại, thuế quan, thủ tục xuất nhập cảnh…rõ ràng, hành lang pháp lý thuận lợi cũng là cơ hội tốt cho kinh doanh
và thu hút đầu tư nước ngoài vào, tạo ra một khối lượng lớn công ăn việc làm và nhu cầu về nhân lực tăng lên Do đó giảng viên các trường cần phải phát triển về số lượng để đảm bảo yêu cầu đào tạo gia tăng, đồng thời tăng cường học hỏi, nâng cao trình độ, chuyên môn để đào tạo ra những lao động chất lượng nhằm phục vụ cho nhu cầu xã hội
1.3.1.4 Văn hóa - Xã hội
Yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình công tác và làm việc của giảng viên, tỷ
lệ kết hôn và sinh đẻ, thời gian nghỉ nuôi con của phụ nữ sẽ làm gián đoạn quá trình đào tạo nếu nhà trường không có quy hoạch cán bộ theo từng giai đoạn, kế hoạch điều động thay thế nhân lực
Trang 211.3.2 Nhân tố thuộc môi trường ngành
1.3.2.1 Cơ chế, chính sách của Bộ giáo dục và đào tạo và các Bộ liên quan về giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên
Cơ chế, chính sách của Bộ giáo dục và đào tạo là tiền đề, là cơ sở để các trường cao đẳng đưa ra các quyết định giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên của đơn vị mình; định hướng các biện pháp, đường lối hoạt động cho các trường cao đẳng sao cho phù hợp, thống nhất với mục tiêu chung, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục; thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục
1.3.2.2 Các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài ngành
Không chỉ có các cơ sở đào tạo trong nước mà còn có cả các cơ sở đào tạo nước ngoài cũng tham gia vào hoạt động đào tạo Trong khi lực lượng làm giáo viên giảng dạy lại hạn chế về số lượng Thực trạng này sẽ làm cho các cơ sở đào tạo cạnh tranh khốc liệt để lôi kéo những giảng viên tốt về trường mình Các trường muốn giữ được giảng viên của mình thì buộc phải tạo ra một cơ chế, chính sách có lợi cho giáo viên hơn, tạo động lực cho họ ở lại, gắn bó với trường, với hoạt động giảng dạy Ngoài ra, chính sự khan hiếm về lực lượng lao động có trình độ cao của thị trường lao động nó sẽ tác động làm cho có dòng chuyển dịch lao động từ giảng viên sang các ngành nghề khác, hậu quả là gây thiếu hụt lực lượng giảng viên tại các trường Muốn khắc phục tình trạng này thì buộc các trường phải xây dựng cơ
Trang 2217
chế, chính sách quản lý hướng tới việc tạo động lực cho giảng viên gắn bó chặt chẽ với nhà trường
1.3.3 Nhân tố nội tại từng trường cao đẳng
1.3.3.1 Quy mô, loại hình đào tạo của các trường cao đẳng
Quy mô đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm, số lượng học sinh - sinh viên được đào tạo tại trường sẽ quyết định số lượng giảng viên được tuyển dụng cho nhà trường Các loại hình ngành nghề đào tạo của trường cũng là căn cứ để tìm các nguồn lựa chọn, tuyển mộ đội ngũ giảng viên sao cho phù hợp để giảng dạy các chuyên ngành Nhà trường sẽ căn cứ vào tình hình tuyển sinh để có kế hoạch tuyển dụng, bố trí sử dụng giảng viên theo từng giai đoạn Thông thường quy mô đào tạo của trường càng lớn, các loại hình ngành nghề đào tạo càng đa dạng thì càng cần một
số lượng lớn giảng viên để có thể đảm bảo chất lượng đào tạo, theo đúng quy định của
Bộ Giáo dục - đào tạo
1.3.3.2 Uy tín và thương hiệu của các trường cao đẳng
Uy tín và thương hiệu của các trường cao đẳng cũng ảnh hưởng tích cực đến việc phát triển đội ngũ giảng viên Uy tín, thương hiệu của nhà trường càng mạnh thì càng thu hút được giảng viên và ngược lại Bất cứ ai cũng muốn làm việc trong một tổ chức có uy tín, được nhiều người biết đến và bản thân họ lo sợ khi phải rời khỏi tổ chức Khi các trường có uy tín, có thương hiệu trên thị trường thì sẽ làm gắn
bó hơn giữa giảng viên với nhà trường Các nhà quản lý cũng dễ dàng hơn trong việc quản lý giảng viên Mặt khác, uy tín và thương hiệu của nhà trường mạnh, giúp ích rất lớn trong công tác tuyển sinh, góp phần tăng thêm việc làm, thu nhập cho giáo viên, đây cũng là động lực khiến giảng viên muốn gắn bó với nhà trường, tạo thuận lợi cho công tác giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên
1.3.3.3 Ngân sách và nguồn tài chính dành cho công tác giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường cao đẳng
Để đáp ứng chuẩn đào tạo thì đòi hỏi số lượng giảng viên phải đủ và trình độ chuyên môn của giảng viên phải được nâng cao Nguồn ngân sách cho những công
Trang 23Quỹ lương phải đủ lớn để trả lương cho giảng viên với mức lương hợp lý đảm bảo cho họ có mức sống tốt Có như vậy họ mới yên tâm gắn bó với nghề và phấn đấu phát triển nghề nghiệp Để công tác giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên có hiệu quả, có sự tác động rất lớn của nguồn ngân sách và tài chính thực hiện
1.3.3.4 Công tác quy hoạch đội ngũ giảng viên của các trường cao đẳng
Quy hoạch đội ngũ giảng viên là bản luận chứng khoa học về tiến trình phát triển đội ngũ giảng viên trong thời gian quy hoạch Trên cơ sở tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên và nghiên cứu dự báo xu thế biến động nhu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ giảng viên trong tương lai, nhà trường xác định được nguồn lực và quy mô cần đạt tới trong tương lai, từ đó có kế hoạch, biện pháp tác động phù hợp để giữ gìn và phát triển đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong tương lai Quy hoạch đội ngũ giảng viên là cơ sở cho việc tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng và phát triển đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và chất lượng, có cơ cấu hợp lý và sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ
1.3.3.5 Hoạch định, đãi ngộ, sử dụng đội ngũ giảng viên
Thứ nhất, đổi mới công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch và sửa đổi, bổ
sung hoàn thiện các quy định về tuyển dụng GV; nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút đội ngũ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, sinh viên các lớp cử nhân tài năng, kỹ sư chất lượng cao làm GV; xây dựng chính sách thu hút cán bộ khoa học có trình độ chuyên môn cao
Trang 2419
Thứ hai, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự đào tạo và đào tạo lại đối
với đội ngũ GV nhằm nâng cao chất lượng của giảng viên cả về năng lực chuyên môn lẫn kiến thức, nghiệp vụ sư phạm;
Thứ ba, đẩy mạnh công tác NCKH, gắn NCKH với đổi mới nội dung,
phương pháp giảng dạy; xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm tăng cường trao đổi học thuật, sáng kiến kinh nghiệm trong NCKH
Thứ tư, đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá, sàng lọc đội ngũ GV
theo hướng phân công, phân cấp về trách nhiệm, quyền hạn và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Thứ năm, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ GV
tương xứng với thành tích và năng lực cá nhân; điều chỉnh chính sách lương, phụ cấp ưu đãi, cơ chế đãi ngộ phù hợp để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo động lực và điều kiện cho đội ngũ GV nâng cao năng lực, trình độ
Trang 2520
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THƯƠNG MẠI
2.1 Tổng quan về trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại, tiền thân là Trường cán bộ Vật tư và Trường Trung học Thương nghiệp Sơn Tây, được thành lập ngày 20/12/1961 Ngày 24/11/1990, Bộ Thương Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) đó quyết định hợp nhất hai trường thành Trường Trung học Thương mại TWI, với nhiệm vụ đào tạo các chuyên ngành ở bậc trung học và dạy nghề phục vụ nhu cầu nhân lực cho sự phát triển của hoạt động thương mại ở nước ta Sau hơn 30 năm với khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Trường và trước những yêu cầu đặt ra của nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 22/5/1998 Thủ Tướng Chính phủ đó ra Quyết định số 97/1998/QĐ-TTg nâng cấp Trường Trung học Thương mại TWI thành Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại Trường trực thuộc Bộ Công Thương và chịu sự quản lý Nhà nước của
Bộ Giáo dục & Đào tạo Trải qua 5 lần di chuyển địa điểm, đến nay Trường chính thức đóng trụ sở tại Phường Phú Lãm - Quận Hà Đông - Thành phố Hà Nội
Từ khi thành lập đến nay, trường đã đào tạo được hơn 60.000 cán bộ, nhân viên nghiệp vụ phục vụ cho ngành và các nhu cầu của xã hội, đào tạo gần 200 lưu học sinh trình độ trung cấp cho các nước bạn Lào và Campuchia Đồng thời đã liên kết với các Trường đại học: Thương Mại, Kinh tế quốc dân, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Viện Đại học Mở Hà Nội đào tạo được hơn 3000 cử nhân Kinh tế, Kế toán, Quản trị kinh doanh và cao đẳng hóa dầu Trường đang thực hiện đào tạo bậc cao đẳng với gần 20 chuyên ngành, thuộc 9 ngành đào tạo, cùng với nhiều ngành nghề ở bậc trung cấp và đào tạo nghề Đội ngũ cán bộ, giảng viên cũng không ngừng phát triển cả về số lượng, cơ cấu chuyên môn và trình độ
Trang 2621
Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, những năm đầu được thành lập trong điều kiện đất nước có chiến tranh, nhà trường đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của một trường cao đẳng, hơn 15 năm qua Trường đã hết sức coi trọng việc củng cố, nâng cấp cơ sở vật chất; phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên; đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ vào việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế Từ một ngành với 3 chuyên ngành đào tạo bậc cao đẳng năm 1998, đến nay nhà trường
đã nghiên cứu, xây dựng và được Bộ Giáo dục & Đào tạo phê duyệt 9 ngành đào tạo bậc cao đẳng, đổi mới và hoàn thiện 4 ngành đào tạo ở bậc trung cấp và nhiều chương trình đào tạo nghề về lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật thương mại Đã hoàn thành
01 đề tài cấp nhà nước, 3 đề tài khoa học cấp Bộ, nhiều đề tài khoa học cấp Trường;
30 loại giáo trình và tài liệu học tập đã được nghiên cứu biên soạn phục vụ yêu cầu giảng dạy và học tập Cơ sở thí nghiêm, thực hành, thư viện của Trường đã được đầu tư xây dựng và không ngừng hoàn thiện góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
Trải qua hơn 50 năm làm nhiệm vụ đào tạo, nhà trường đã luôn hoàn thành xuất sắc các nhiêm vụ được giao, đã được Đảng, Nhà Nước tặng thưởng nhiều danh hiệu
và phần thưởng cao quý:
- 01 Huân chương độc lập hạng ba;
- 03 Huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba;
- 02 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;
- Cờ đơn vị thi đua xuất sắc nhiều năm liên tục của Bộ Công Thương;
- Đảng bộ Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại nhiều năm liên tục được công nhận là tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường nhiều năm liên tục được công nhận là cơ sở vững mạnh
Như vậy, có thể thấy hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thay đổi về tổ chức, tên gọi, địa điểm Trước sự phát triển
Trang 2722
của đất nước nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội ngày càng đòi hỏi nhiều hơn cả về
số lượng và chất lượng, theo đề nghị của nhà Trường, ngày 22 tháng 5 năm 1998 Thủ Tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 97/1998/QĐ-TTg nâng cấp trường trung học Thương mại TWI thành cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại, mở ra một giai đoạn phát triển mới cho nhà trường Hiện nay sau gần 20 năm đào tạo bậc cao đẳng, đã có những giai đoạn quy mô, ngành nghề đào tạo của trường phát triển rất mạnh mẽ, trở thành một địa chỉ đào tạo cán bộ tin cậy của ngành và xã hội, cơ sở vật chất – kỹ thuật của Trường được tăng cường, đội ngũ cán bộ - giảng viên được triển cả về số lượng và trình độ…
Nhưng cũng như nhiều trường Đại học cao đẳng ở nước ta hiện nay sau nhiều năm phát triển quá nóng về quy mô không tương xứng với các nguồn lực để thực hiện, dẫn đến chất lượng đào tạo giảm sút Nhiều học sinh, sinh viên tốt nghiệp không được tuyển dụng vì trình độ thấp hơn rất nhiều so với bằng cấp họ nhận được (ngày 6 tháng 6 năm 2015 tại hội thảo “Chung tay giải quyết việc làm cho tân cử nhân” do trung tâm công nghệ thông tin và truyền thông, sở thông tin và truyền thông Hà Nội - đơn vị tổ chức hội thảo đã đưa ra một con số thống kê rất đáng quan tâm; hiện nay, hơn 174.000 cử nhân không tìm được việc làm, 37% cử nhân được tuyển dụng không đáp ứng được nhu cầu công việc) Cho nên ngay tại Trường cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mạị những năm gần đây quy mô đào tạo ngày càng giảm đi Đây là một thách thức lớn đối với sự phát triển của nhà trường phải có những giải pháp khắc phục để vượt qua- Giải pháp đó có lẽ trước hết và chủ yếu là phải làm cho chất lượng đào tạo cao hơn
2.1.2 Nghành nghề và quy mô đào tạo
2.1.2.1 Ngành nghề và quy mô đào tạo của trường
Nhà trường có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo các chuyên ngành Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại ở các bậc cao đẳng, trung cấp, dạy nghề
(Xem Phụ lục 1)
(Nguồn: Phòng Đào tạo)
Trang 2823
2.1.2.2 Quy mô đào tạo:
Bảng 2.1: Quy mô HSSV đào tạo chính quy từ 2012-2016
Nhà trường đáp ứng đủ nhu cầu phòng học cho các lớp hiện tại với trang bị phương tiện dạy học hiện đại như máy chiếu đa năng, loa, đài cho toàn bộ các phòng học
Thư viện Nhà trường có tổng diện tích 1.240m2 với trên 2.233 đầu sách (trên 90.000 bản sách), có phòng Hội thảo với đầy đủ trang thiết bị, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và học sinh sinh viên (HSSV) trong trường cũng như tổ chức các cuộc hội thảo
Khu Ký túc xá hiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn ở của khoảng 600 HSSV; Ngoài ra, trường còn có trạm y tế phục vụ khám chữa bệnh cho CBVC, HSSV
Tiếp tục hoàn thiện dự án đầu tư xây dựng nhà công vụ - y tế, đã được Bộ phê duyệt
Hiện nay tổng hợp số học sinh - sinh viên của trường là gần 2000 so với những năm trước số lượng đã giảm đi nhiều, nhưng thực tế so với tổng diện tích thì vẫn còn hạn chế Do đó diện tích dành cho các hoạt động tập thể, văn hóa thể thao còn
Trang 29Nguồn tài chính có yếu tố quyết định tới việc bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, giảng viên, công nhân viên
và học sinh - sinh viên cũng như các hoạt động đoàn thể, phong trào phục vụ nhiệm
vụ đào tạo của nhà trường Hiện nay theo chế độ tài chính của đơn vị sự nghệp có thu, nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp ngày càng hạn chế và thường được khoán ổn định trong một số năm, do vậy nguồn lực tài chính chủ yếu phải do chính nhà trường tạo ra từ nguồn thu học phí; nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và các nguồn khác Trong thực tế quy mô đào tạo của Trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại đã tăng lên đáng kể sau một số năm được nâng cấp, vào những năm 2009 đến 2011 tổng số học sinh - sinh viên đã có thời điểm lên đến hơn 8.000 HS-SV
Những năm gần đây quy mô đào tạo của trường đang có xu hướng giảm đi nhiều, những nguồn thu do chính nhà Trường tạo ra cũng vì thế mà giảm đi đang là một khó khăn lớn cho việc phát triển của nhà Trường
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy
* Lãnh đạo Trường gồm có Hiệu Trưởng và các Phó Hiệu Trưởng
Hiệu Trưởng, các Phó Hiệu Trưởng do Bộ Công Thương bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng và kỷ luật theo quy định của pháp luật Hiệu Trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ Trưởng Bộ Công Thương và trước pháp luật về toàn bộ các hoạt động của nhà Trường, các Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Hiệu Trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực được phân công Theo đề nghị của Hiệu trưởng, Bộ Trưởng Bộ Công Thương xem xét, quyết định việc thành
Trang 3025
lập, sáp nhập hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc Trường Hiện nay các đơn vị trực thuộc Trường gồm có: Các phòng và trung tâm chức năng, các khoa
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy chuyên môn của trường CĐ KT-KTTM
* Ban giám hiệu:
Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường, thực hiện các chức năng và nhiệm vụ theo Điều lệ trường cao đẳng Hiệu trưởng trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ và công tác tài chính - kế toán
Giúp việc cho hiệu trưởng có hai phó hiệu trưởng:
- 01 Phó hiệu trưởng phụ trách công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế
Trang 31Khoa Tài chính - Ngân hàng
Khoa Tin học kinh tế
Khoa cơ bản
Khoa Kỹ thuật công nghệ
Khoa Ngoại ngữ
Khoa Lý luận chính trị - Giáo dục thể chất và Quốc phòng
Chức năng của các Khoa là giúp Hiệu trưởng tổ chức theo dõi, chỉ đạo, quản lý toàn bộ hoạt động đào tạo theo mục tiêu, chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo của từng ngành học, môn học được giao, tổ chức nghiên cứu thực nghiệm khoa học của ngành nghề được giao theo đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
* Các phòng và trung tâm chức năng: bao gồm có 08 phòng chức năng và
01 trung tâm
Phòng Tổ chức - Cán bộ
Phòng Đào tạo
Phòng Khoa học và Quan hệ quốc tế
Phòng Công tác học sinh - sinh viên
Phòng Tài chính - Kế toán
Phòng Hành chính - Quản trị
Phòng Quản lý ký túc xá
Phòng Thanh tra - Khảo thí
Trung tâm liên kết đào tạo và bồi dưỡng
Trang 322.2.1.1 Về số lượng giảng viên của trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
Hiện nay tổng số cán bộ, công nhân viên, giảng viên của Trường là 276 người, trong đó có 217 giảng viên cơ hữu Về trình độ có 05 tiến sỹ; 10 Nghiên cứu sinh; 220 thạc sỹ và cao học, 41 đại học
Để thấy rõ được việc đảm bảo số lượng giảng viên cho nhu cầu đào tạo của nhà trường, cần xem xét đến tỷ lệ học sinh sinh viên trên giảng viên qua các năm theo bảng dưới đây:
kí học trước đó khá cao Nhưng sau đó Bộ Giáo dục và đào tạo ra quyết định nhằm thắt chặt việc thi liên thông lên Đại học của sinh viên Cao đẳng thì số lượng sinh viên đăng kí vào trường giảm mạnh dẫn đến tình trạng số SV/ GV thấp Lượng sinh viên nhập học ít đi do vậy các lớp học được tổ chức cũng giảm hơn so với các năm trước đây làm cho GV thiếu lớp Đây cũng chính là lí do năm 2015 số Giảng viên giảm đi 27 người do thuyên chuyển công tác và tự xin nghỉ
Nguyên nhân của tình trạng này là quy mô tuyển sinh của Nhà trường trong những năm vừa qua liên tục sụt giảm vì ảnh hưởng của các quy chế mới và xu thế
ĐH được mở rộng nên nguồn tuyển sinh các trường CĐ bị bó hẹp Công tác tuyển
Trang 33Bảng 2.3: Số lượng giảng viên giai đoạn 2012 - 2015 Năm
Số lượng 2012 2013 2014 2015
Tổng số giảng viên của trường (người) 178 224 244 217
Tỉ lệ tăng (%) 3,5 25,8 8,9 (9.2)
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Cán bộ)
- Về trình độ học vấn của giảng viên
Bảng 2.4: Trình độ học vấn của đội ngũ giảng viên Nhà trường
Trang 3429
nước Tuy nhiên, tỷ lệ giảng viên có trình độ Tiến sĩ trở lên thì còn ở mức thấp Điều này đòi hỏi Nhà trường phải có nhiều biện pháp tạo động lực, khuyến khích giảng viên để họ học tập nâng cao trình độ
* Trình độ tin học và ngoại ngữ:
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và đồng thời yêu cầu về chức danh giảng viên, việc học tập nâng cao trình độ tin học, ngoại ngữ là vấn đề cần thiết của đội ngũ giảng viên
cả các phòng học được trang bị máy chiếu Và hiện nay nhà trường đã nối mạng Internet và phủ sóng Wifi ở tất cả các đơn vị trong toàn trường
- Trình độ ngoại ngữ (Tiếng Anh)
Bảng 2.6: Trình độ ngoại ngữ của ĐNGV trường CĐ KT - KT Thương mại
Trang 3530
Hầu hết giảng viên nhà trường đều có chứng chỉ tiếng Anh trình độ A, B, C và
có 6% giảng viên có bằng đại học ngoại ngữ Tuy nhiên khả năng sử dụng ngoại ngữ
để giao tiếp còn rất yếu, trình độ ngoại ngữ của các giảng viên hầu như thiên về kỹ năng ngữ pháp hơn là các kỹ năng về nghe, nói và giao tiếp Do vậy việc tự nghiên cứu tài liệu và tham gia các khóa học đào tạo của nước ngoài để nâng cao trình độ gặp rất nhiều khó khăn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển nghề nghiệp
Nguyên nhân của những bất cập này một phần từ hệ thống đào tạo ngoại ngữ
ở nước ta song phần chủ yếu là do khả năng tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ của chính các giảng viên chưa cao Nhà trường cần có chính sách khuyến khích tạo điều kiện để cho giảng viên nâng cao trình độ ngoại ngữ phục vụ công tác giảng dạy tốt hơn
Theo báo cáo tự đánh giá của trường năm 2015, nếu nhìn từ góc độ sử dụng ngoại ngữ và tin học, nhiều giảng viên có trình độ ngoại ngữ và tin học nhưng cũng không sử dụng được nhiều trong công tác giảng dạy tại trường
Bảng 2.7: Thống kê mức độ thường xuyên sử dụng ngoại ngữ và tin học của giảng
viên cho công tác giảng dạy và nghiên cứu
T.T Tần suất sử dụng
Tỷ lệ giảng viên
sử dụng Ngoại ngữ Tin học
1 Luôn sử dụng (trên 80% thời gian của công việc) 23,7 67,4
2 Thường sử dụng (trên 60 - 80% thời gian của công
5 Hiếm khi sử dụng hoặc không sử dụng
(0 - 20% thời gian của công việc) 33,6 2,3
(Nguồn: Báo cáo t đánh giá của trường CĐ KT-KT Thương mại năm 2015)
Trang 3631
* Trình độ nghiệp vụ sư phạm
Các giảng viên khi được tuyển dụng về trường đều ưu tiên những người đã học nghiệp vụ sư phạm, còn lại đều được tạo điều kiện học nghiệp vụ sư phạm và giáo dục học đại học bổ sung sau khi vào trường Năm 2012 nhà trường đã liên kết với trường Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên tổ chức lớp học bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm nghề cho một số giảng viên có tham gia giảng dạy ở bậc nghề và đã qua nghiệp vụ sư phạm bậc 1 Vì thế hầu hết các giảng viên của trường hiện nay đều có chứng chỉ về nghiệp vụ sư phạm Tuy nhiên, dù có chứng chỉ sư phạm nhưng để một giảng viên có thể truyền tải hiệu quả kiến thức nghề nghiệp tới HSSV đòi hỏi người giảng viên đó phải có các tổ chất như năng khiếu, kỹ năng của mỗi người,cái tâm của người thầy đối với học trò Nhiều giảng viên của trường có cách thức truyền đạt sinh động, hấp dẫn, phương pháp đa dạng khiến cho HSSV rất hào hứng, lôi cuốn sự tập trung vào bài giảng Ngược lại có một số giảng viên dù có trình độ chuyên môn cao nhưng phương pháp truyền đạt không hiệu quả khiến cho chất lượng giảng dạy không đạt như mong muốn
* Đánh giá chung về chất lượng ĐNGV trường CĐ KT-KT Thương mại
Nhìn chung ĐNGV của nhà trường hiện nay tương đối tốt đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Mặt mạnh: Khả năng chuyên môn của ĐNGV tốt và năng lực sư phạm đạt chất lượng cao, được đào tạo bài bản theo đúng quy định, thực hiện tốt kế hoạch và chương trình giảng dạy đã được duyệt và đạo đức nghề nghiệp tốt
Hạn chế: Về năng lực biên soạn tài liệu và cách sử dụng phương tiện dạy học hiện đại còn hạn chế, đây là vấn đề cấp bách mà BGH cần nhìn nhận rõ điều này
Biện pháp thực hiện là cử GV đi tập huấn các khoá huấn luyện việc sử dụng các phương tiện dạy học và thuê chuyên gia có kinh nghiệm trong việc biên soạn tài liệu về tập huấn và hướng dẫn GV
Về năng lực NCKH chỉ đạt mức trung bình nên nhà trường cần tạo điều kiện khuyến khích, nhưng cần có chế tài bắt buộc, BGH nhà trường cần thành lập ban chuyên môn có trách nhiệm phối hợp với các bộ phận có liên quan tổ chức NCKH
Trang 3732
GV tham gia các hoạt động chính trị xã hội và đóng góp cho các cấp quản
lý cũng mang tính đối phó, chưa được coi trọng Biện pháp khắc phục là thường xuyên tổ chức các chương trình hội thảo, tập huấn mang tính chuyên sâu và dân chủ tôn trọng các ý kiến, khuyến khích họ tham gia mọi hoạt động
2.2.1.3 Về cơ cấu đội ngũ giảng viên của trường CĐ KT-KT Thương mại
- Về cơ cấu giảng viên của trường
Nhóm tuổi 50 - 60: chiếm 12%, nhóm tuổi 40 - 50 chiếm 5% cho thấy sự thiếu
hụt đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, thiếu những giảng viên chủ chốt đầu đàn Sự thiếu hụt này sẽ gây khó khăn cho nhà trường khi tuyển giảng viên mới nhiều nhưng lại không có đủ đội ngũ để hướng dẫn, truyền thụ kinh nghiệm của những nhà giáo có thâm niên giảng dạy Để khắc phục điều này, một mặt nhà trường phải thường xuyên tổ chức các buổi dự giờ, tọa đàm rút kinh nghiệm giữa các thế hệ giảng viên; mặt khác, có chính sách mời tiếp tục tham gia giảng dạy đối với những giảng viên có uy tín nghề nghiệp nhưng đã đến tuổi nghỉ hưu
Nhóm tuổi 30 - 40: chiếm 42%, hiện nay đây là lực lượng giảng dạy nòng cốt
bậc cao đẳng của trường Nhóm này đã tích lũy được những kinh nghiệm giảng dạy, phần lớn đều đã đầu tư thời gian học tập nâng cao trình độ Hơn nữa, là những người trưởng thành khi đất nước đã chuyển sang cơ chế đổi mới nên khả năng hội nhập, thích nghi với thời đại mới tốt Tuy nhiên, đây cũng chính là nhóm đối tượng
mà các doanh nghiệp, trường đại học, các đơn vị khác hướng tới tuyển dụng Vì
Trang 3833
vậy, cần có chính sách thỏa đáng giữ chân họ như: tạo điều kiện học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo điều kiện tăng thu nhập, tạo cơ hội thăng tiến,
Nhóm tuổi dưới 30: chiếm 41% Tỷ lệ này thể hiện tính mất cân đối, thông
thường tỷ lệ giảng viên trẻ được tuyển dụng gần bằng với tỷ lệ giảng viên trong độ tuổi sắp về hưu, khi đó nhà trường mới có thể bồi dưỡng một cách chu đáo đội ngũ giảng viên trẻ Tuy nhiên, với tỷ lệ lớn như hiện nay, đội ngũ này đã phải đảm nhận khối lượng lớn công việc của nhà trường do sự thiếu hụt giảng viên Vì vậy, có một
số trường hợp không đảm bảo chất lượng giảng dạy của nhà trường Ưu điểm của nhóm này là: lực lượng lao động trẻ, mới ra trường, kiến thức được cập nhật, dễ nắm bắt xu hướng mới của xã hội Tuy nhiên, nhóm này chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm cuộc sống Mặt khác, đây là lực lượng còn nhiều biến động, còn có
sự so sánh và nhu cầu tìm kiếm công việc có thu nhập đáp ứng những nhu cầu của bản thân, phù hợp mặt bằng xã hội Vì vậy, trong quá trình phỏng vấn, tuyển dụng cũng cần lưu ý ưu tiên những trường hợp hiểu rõ những khó khăn của nghề giáo, có nguyện vọng, thực sự đam mê, tâm huyết với nghề, gắn bó lâu dài với nhà Trường
Cơ cấu giới tính trong đội ngũ giảng viên diễn biến theo chiều hướng nam ít
nữ nhiều Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ, lượng giảng viên nữ tại trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại tập trung nhiều ở lứa tuổi dưới 30 và 30 - 40, tức là đang trong độ tuổi sinh sản và nuôi con nhỏ Do vậy, có khó khăn cho nhà trường trong việc sử dụng lao động bởi giảng viên nữ sau thời gian thích nghi với công việc phải tính đến chuyện lập gia đình, sinh và nuôi con nhỏ Để hoàn thành nhiệm vụ gia đình, các giảng viên nữ thường mất từ 3-10 năm bận chăm sóc con nhỏ, không thể điều động đi công tác xa hay giao các việc khác như nam giới Cho nên, có những
Trang 3934
khoa tuyển mới rất nhiều nhưng luôn trong tình trạng căng thẳng vượt giờ vì có một
số người phải gánh vác khối lượng cho những giảng viên nghỉ chế độ thai sản, nuôi con nhỏ Thực tế, nhiều giảng viên nữ rất có năng lực khi được tuyển về trường, nhưng sau khi lập gia đình, mải lo chuyện con cái mà sao nhãng việc đầu tư vào chuyên môn Để có đủ số lượng giảng viên, đảm bảo chất lượng và cơ cấu hợp lý để phục vụ cho hoạt động giảng dạy của nhà trường, điều quan trọng là phải có cơ chế, chính sách phù hợp trong việc quy hoạch, tuyển dụng đội ngũ giảng viên và việc bồi dưỡng nâng cao trình độ giảng viên
2.2.2 Thực trạng hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại
2.2.2.1 Công tác lập kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên của Nhà trường
Sau khi nâng cấp từ trường Trung học Thương mại TW1 lên trường CĐ Kinh
tế - Kỹ thuật Thương mại vào năm 1998 thì từ đó đến nay nhà trường đã rất cố gắng trong việc phát triển ĐNGV Trong thời gian này trường đã cử nhiều GV đi học sau
ĐH, học bồi dưỡng nâng cao trình độ Bên cạnh đó nhà trường cũng thực hiện nhiều giải pháp khác nhằm phát triển ĐNGV cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Nhà trường cũng đã đề ra các phương án phát triển Trường định hướng đến năm 2020, về quy hoạch ĐNGV Nhà trường đã xác định:
Trong giai đoạn 2016 – 2020 phát triển ĐNGV được xác định là quy hoạch trung tâm, là tiền đề quan trọng để phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo Sự tồn tại và phát triển của Nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đánh giá và đào thải cán bộ
Xây dựng ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục ĐH đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ SV/GV của hệ thống giáo dục ĐH Đến năm 2020 có 100% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ trở lên, trong đó có 20% đạt trình độ tiến sĩ
Trang 4035
Phát triển ĐNGV đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, đạt chuẩn trình độ đào tạo về lý thuyết, thực hành, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề; có trình độ tin học, ngoại ngữ để áp dụng vào giảng dạy và NCKH
Thực hiện chế độ định kỳ bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ sư phạm cho ĐNGV và cán bộ quản lý
Để phát triển đội ngũ đến năm 2020, Nhà trường cũng đã đề ra các giải pháp thực hiện:
Thực hiện việc giao chỉ tiêu, kế hoạch tuyển giảng viên mới cho các khoa, bộ môn Trên cơ sở chỉ tiêu được giao, các khoa bộ môn lập kế hoạch chi tiết cụ thể để Trường duyệt và chỉ đạo việc tuyển chọn cán bộ đảm bảo số lượng và chất lượng Thực hiện việc tạo chính sách thu hút, ưu đãi cán bộ từ các nguồn khác; có chính sách quan tâm, bồi dưỡng, ưu đãi đội ngũ cán bộ hiện có và chủ động xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ kế cận
Chính sách kèm cặp giúp đỡ các giảng viên trẻ nhanh chóng trưởng thành Tạo điều kiện cho các giảng viên trẻ đi học tập, bồi dưỡng ở trong và ngoài nước Gắn nhiệm vụ nghiên cứu khoa học với yêu cầu bồi dưỡng cán bộ, giảng viên Tăng cường công tác quản lý, giáo dục cán bộ; thực hiện có nề nếp, hiệu quả yêu cầu đánh giá cán bộ, giảng viên; chủ động đào thải cán bộ, giảng viên không đủ tiêu chuẩn
Mặc dù đã xây dựng quy hoạch phát triển trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Thương mại, tuy nhiên vấn đề phát triển ĐNGV được đề cập trong bản quy hoạch còn rất sơ sài và chưa đưa ra được định hướng cũng như các bước thực hiện cụ thể Nhà trường chưa xây dựng được một kế hoạch phát triển ĐNGV cụ thể trên cơ sở phân tích cơ cấu, quy mô ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo ở các ngành nghề do
đó dẫn đến việc phát triển đội ngũ vẫn còn tồn tại một số bất cập và chưa đạt được hiệu quả cao nhất Các quyết định đưa ra vẫn dựa phần nhiều vào cảm tính mà chưa căn cứ vào một kế hoạch cụ thể