Các mặt biểu hiện chính trên đây của điều kiện lao động có thể xuất hiện đồng thời hoặc riêng lẻ, trong những khoảng thời gian và không gian khác nhau, tạo nên một điều kiện lao động cụ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG 5
1.1 Một số khái niệm về bảo hộ lao động 5
1.2 Nội dung, mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động 10
Chương 2: VỆ SINH LAO ĐỘNG TÀU CÁ 13
2.1 Những vấn đề chung về vệ sinh lao động 13
2.2 Vi khí hậu trong sản xuất 155
2.3 Tiếng ồn và rung động trong sản xuất 19
2.4 Bụi trong sản xuất 23
2.5 Các chất độc trong sản xuất 25
2.6 Thông gió trong sản xuất 27
2.7 Chiếu sáng trong sản xuất 30
2.8 Công tác vệ sinh trên tàu cá 31
2.9 Công tác an toàn khi làm vệ sinh trên tàu cá 36
Chương 3: AN TOÀN KHI LÀM VIỆC TRÊN BOONG TÀU 40
3.1 An toàn khi làm việc với các dụng cụ và vật rời 40
3.2 An toàn khi làm việc trong các khoang kín 42
3.3 An toàn khi làm việc với các thiết bị điện 43
3.4 An toàn khi sử dụng máy điện hàng hải 45
3.5 Cấp cứu người bị điện giật 47
3.6 An toàn khi tiến hành công việc sửa chữa nhỏ 49
3.7 An toàn khi di chuyển các vật nặng trên tàu 50
3.8 An toàn trong công tác xếp dỡ hàng hóa thủy sản 50
3.9 An toàn khi đặt cầu thang lên xuống 51
3.10 An toàn khi làm việc trên cao và ngoài mạn tàu 52
3.11 An toàn khi sử dụng pháo, súng tín hiệu cấp cứu 56
3.12 An toàn khi cập tàu vào tàu khác trên biển 57
Chương 4: AN TOÀN KHI TÀU HOẠT ĐỘNG TRONG CẢNG 58
4.1 Những quy định cơ bản áp dụng cho toàn bộ ca trực 58
4.2 Bàn giao ca boong 58
4.3 Bàn giao trực ca máy 59
4.4 Thực hiện trực ca boong 60
4.5 Thực hiện ca trực máy 61
Trang 24.6 Sự hợp tác với các nhà chức trách ở trên bờ 62
4.7 Việc tạm thời ngừng di chuyển 62
4.8 An toàn trong công tác cập cảng và neo tàu 62
Chương 5: AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG CHÁY .65
5.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác phòng chống cháy 65
5.2 Những kiến thức cơ bản về cháy 65
5.3 Các biện pháp, nguyên lý và phương pháp phòng chống cháy 70
5.4 Các chất chữa cháy 73
5.5 Các hệ thống chữa cháy 75
5.6 Một số biện pháp phòng cháy và công việc cần thiết khi phát hiện cháy 94
5.7 Các phương pháp chữa cháy 95
Chương 6: AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC CỨU SINH, CỨU THỦNG, .99
6.1 An toàn trong công tác cứu sinh trên biển 99
6.2 Các phương tiện cứu sinh 99
6.3 Các phương tiện cứu sinh cá nhân 103
6.4 An toàn trong công tác cứu thủng 105
6.5 An toàn trong công tác cứu tàu bị mắc cạn 107
Chương 7: AN TOÀN TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN 109
7.1 Vấn đề chung về công tác an toàn trong hoạt động khai thác thủy sản 109
7.2 An toàn trong đánh bắt của nghề lưới kéo 111
7.3 An toàn trong đánh bắt của nghề lưới vây 117
7.4 An toàn trong đánh bắt của nghề lưới rê 120
7.5 An toàn trong đánh bắt của nghề câu 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong lĩnh vực an toàn nói chung, người ta tiến hành nghiên cứu theo hai hướng:
- Tạo ra những điều kiện lao động an toàn cho người lao động, nghĩa là trừ khử tất
cả những tác hại và những trường hợp tai nạn có thể xảy ra
- Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa nhằm hạn chế những rủi ro trong sản xuất
Trên thế giới cũng như ở nước ta, trong quá trình lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội, khi con người tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động, môi trường…luôn phát sinh ra mối nguy hiểm, rủi ro dẫn đến bệnh nghề nghiệp cũng như tai nạn
Theo thống kê trong 10 năm (1990-1999) bình quân hàng năm cả nước xảy ra khoảng 2200 vụ tai nạn, chỉ tính riêng năm 2000 đã xảy ra 3405 vụ tai nạn lao động làm
3530 người bị tai nạn trong đó có 403 người thiệt mạng So với năm 1999 tai nạn lao động tăng 53,9% Một tai nạn nghiêm trọng xảy ra ở Ấn Độ vào năm 1984 do để rò rỉ khí Metylizoxianat tại nhà máy hoá chất đã làm chết 2500 người và hơn 200.000 người
bị thương
Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2001 - 2012, bình quân hàng năm xảy ra 6.000 vụ tai nạn lao động, làm hơn 6.000 người bị nạn, trong đó có khoảng 500 vụ tai nạn chết người, làm gần 600 người chết
Năm 1995 xảy ra 840 trường hợp tai nạn lao động, năm 2000 tăng lên 3.405 trường hợp và tới năm 2007 tăng lên 6.337 trường hợp Số người bị chết trong tai nạn lao động tăng từ 264 trường hợp năm 1995 lên 406 trường hợp năm 2000 và lên tới 621 trường hợp năm 2007 Giai đoạn 2004 - 2007, số vụ tai nạn tăng trung bình hàng năm khoảng 7,5% Giai đoạn 2008 - 2011, số vụ tai nạn lao động ở mức ổn định Năm 2011 đã xảy ra 5.896
vụ tai nạn lao động làm 6.154 người bị nạn, trong đó có 574 người chết
Nguyên nhân của tại nạn là do nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động, nhiều nơi thực hiện mang tính hình thức, đối phó Công tác huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động và người lao động còn thấp so với tổng số lao động trên địa bàn, công tác quản lý lao động còn lỏng lẻo…
Các tai nạn lao động gây thiệt hại rất lớn đến người và tài sản Các nghiên cứu gần đây ở nước ta cho thấy nguyên nhân để xảy ra tại nạn lao động trước hết là do chỉ đạo sai quy trình, quy phạm; môi trường lao động không được bảo đảm; máy móc thiết bị không
an toàn; người lao động không được huấn luyện về kỹ thuật an toàn và các nguyên nhân khác nữa
Trang 4Một vấn đề đặt ra cho nước ta cũng như mọi quốc gia trên thế giới là làm thế nào để hạn chế tai nạn lao động Một trong những biện pháp đó là giáo dục ý thức bảo hộ lao động cho mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ
Trong sự nghiệp đào tạo nhân lực cho xã hội, ngoài đào tạo trình độ chuyên môn sâu, cần phải có những kiến thức nhất định về bảo hộ lao động để tránh những rủi ro, tai nạn, trước hết là tự bảo vệ cho chính mình và sau đó là bảo vệ cộng đồng để cùng tồn tại
và phát triển
Bảo hộ lao động là nhằm bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, làm tăng năng suất lao động, mang lại hạnh phúc cho người lao động và cho nhân loại Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề ở các nước tiên tiến trên thế giới đều có môn học về An toàn lao động - Bảo vệ môi trường
Ở nước ta trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đưa giáo dục bảo hộ lao động thành môn học chính trong chương trình đào tạo
Hơn nữa, khoa học bảo hộ lao động là một khoa học rất tổng hợp và liên ngành, được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp và sử dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học khác từ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật chuyên ngành đến khoa học kinh tế,
xã hội, tâm lý…Khoa học bảo hộ lao động gồm: Khoa học tổ chức bảo hộ lao động, Khoa học kinh tế bảo hộ lao động, Khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động…
Trang 5Chương 1 NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm về bảo hộ lao động
* Bảo hộ lao động (BHLĐ):
Bảo hộ lao động là các hoạt động đồng bộ trên các mặt luật pháp, tổ chức, hành chính, kinh tế xã hội, khoa kỹ thuật nhằm cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động
Hoạt động bảo hộ lao động gắn liền với hoạt động lao động sản xuất và công tác của con người Nó phát triển phụ thuộc vào trình độ nền kinh tế, khoa học, công nghệ và yêu cầu phát triển xã hội của mỗi nước Bảo hộ lao động là một yêu cầu khách quan để bảo vệ người lao động, yếu tố chủ yếu năng động nhất của lực lượng sản xuất xã hội
* Điều kiện lao động:
Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động (năng lượng, nguyên vật liệu ) quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động
Các mặt biểu hiện chính trên đây của điều kiện lao động có thể xuất hiện đồng thời hoặc riêng lẻ, trong những khoảng thời gian và không gian khác nhau, tạo nên một điều kiện lao động cụ thể, có thể rất tốt, tiện nghi thuận lợi, song cũng có thể rất xấu, và là nguyên nhân của các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Do đó, để đánh giá điều kiện lao động của bất kỳ một cơ sở, một ngành nào là phải xem xét một cách toàn diện tất cả các biểu hiện nêu trên, thì mới có được một kết luận tin cậy, trên cơ sở này mới đề xuất và thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động một cách hữu hiệu
* Tai nạn lao động:
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do tác động một cách đột ngột của các yếu tố nguy hiểm, gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động
Được coi là tai nạn lao động trong các trường hợp sau:
- Tai nạn xảy ra trong hoặc ngoài địa phận của cơ quan xí nghiệp khi người bị tai nạn đang thực hiện công việc theo chức năng nhiệm vụ
- Tai nạn xảy ra trong thời gian: làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn trước và sau khi
Trang 6làm việc, thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết như nghỉ giải lao, ăn cơm giữa ca, ăn bồi dưỡng, cho con bú, vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, đi vệ sinh, đi từ nhà đến nơi làm việc
và ngược lại Tất cả những sự việc trên phải thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý
Ở nước ta tai nạn lao động được chia làm 3 loại:
- Tai nạn lao động chết người: người bị tai nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn, chết trên đường đi cấp cứu, chết trong thời gian cấp cứu, chết trong thời gian điều trị, chết
do tái phát của chính vết thương do tai nạn lao động gây ra
- Tai nạn lao động nặng: người bị tai nạn bị ít nhất một trong những chấn thương được qui định tại phụ lục số 1 B (Một số chế độ, quy định mới về bảo hộ lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
- Tai nạn lao động nhẹ: là những tai nạn lao động không thuộc hai loại tai nạn nói trên
* Bệnh nghề nghiệp:
Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động Bệnh có thể xảy ra từ từ hay cấp tính Một số bệnh nghề nghiệp không thể chữa khỏi được và để lại di chứng Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được
* Các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam:
Ở nước ta có 25 bệnh nghề nghiệp được Nhà nước công nhận và được hưởng bảo hiểm ở Việt Nam đó là:
1 Bệnh bụi phổi silic;
2 Bệnh bụi phổi atbet hay bụi phổi amiăng;
3 Bệnh bụi phổi bông (byssinosis);
4 Bệnh điếc nghề nghiệp;
5 Bệnh rung chuyển nghề nghiệp;
6 Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp (bức xạ ion hóa);
7 Bệnh loét da, loét vành ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc (bệnh da nghề nghiệp
12 Bệnh nhiễm độc thủy ngân;
13.a Bệnh nhiễm độc chì vô cơ;
Trang 713.b Bệnh nhiễm độc chì hữu cơ;
14 Bệnh lao nghề nghiệp;
15 Bệnh do leptospira nghề nghiệp (Leptospirosis);
16 Bệnh viêm gan virus nghề nghiệp;
17 Bệnh nhiễm độc asen và các hợp chất asen vô cơ;
18 Bệnh nhiễm độc nicôtin;
19 Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu;
20 Bệnh giảm áp;
21 Bệnh viêm phế quản mãn tính;
22 Bệnh hen phế quản nghề nghiệp;
23 Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp;
24 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp;
25 Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp
Năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư 42/2011/TT-BYT bổ sung thêm 3 bệnh vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm và hướng dẫn tiêu chuẩn chẩn đoán, giám định
Ba bệnh nghề nghiệp được bổ sung gồm:
- Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp;
- Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân;
- Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp
Do đó, để dự phòng các bệnh nghề nghiệp, người lao động phải được làm việc trong môi trường không độc hại, có đầy đủ trang thiết bị phòng hộ lao động, được khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và có hướng điều trị kịp thời
* Yếu tố nguy hiểm:
Các yếu tố nguy hiểm là các yếu tố có thể tác động một cách đột ngột lên cơ thể người lao động gây chấn thương, tai nạn lao động Các yếu tố nguy hiểm bao gồm:
a.Yếu tố nguy hiểm gây chấn thương cơ học:
- Các bộ phận cơ cấu truyền động (đai truyền, bánh răng, trục khuỷu );
- Các bộ phận chuyển động quay với vận tốc lớn (bánh đá mài, cưa đĩa, máy ly tâm, trục máy khoan, máy tiện );
- Các bộ phận chuyển động tịnh tiến (búa máy, đầu bào );
- Các mảnh dụng cụ, vật liệu văng bắn ra (vỡ đá mài, phôi bụi, vật cứng bị đập vỡ );
- Vật rơi từ trên cao;
- Làm việc cheo leo trên cao;
Trang 8- Trơn trượt, sa ngã
b Yếu tố nguy hiểm về điên, tĩnh điện gây điện giật, bỏng, cháy nổ
c Yếu tố nguy hiểm về nhiệt gây bỏng, cháy (ngọn lửa, tia lửa, vật nung nóng, nấu chảy, hơi khí nóng, sét đánh )
d Yếu tố nguy hiểm về hóa (các chất độc, thể rắn, lỏng, khí) gây nhiễm độc cấp tính, bỏng
e Yếu tố nguy hiểm nổ:
- Nổ hóa học phát sinh một hỗn hợp (bụi, khí, chất lỏng ở một nồng độ nhất định trong không khí) tiếp xúc với nguồn lửa như nổ cháy xăng dầu, khí đốt, thuốc nổ
- Nổ lý học phát sinh khí áp lực hơi khí, chất lỏng bị nén tăng vượt quá độ bền cơ học của vỏ dung tích chứa như nổ nồi hơi, bình khí nén
- Áp suất cao hoặc thấp;
- Thiếu ánh sáng hoặc bố trí hệ thống không hợp lý
* Các yếu tố hóa học
- Bụi trong sản xuất;
- Các chất độc, hơi khí độc;
* Các yếu tố sinh học:
- Các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn gây bệnh;
- Các loại ký sinh trùng, nấm mốc gây bệnh
* Các yếu tố liên quan đến tổ chức lao động
- Thời gian làm việc và nghỉ ngơi bố trí không hợp lý;
- Cường độ lao động quá nặng nhọc không phù hợp với tình trạng sức khỏe;
- Tư thế làm việc gò bó không thoải mái như: khom lưng, vặn mình, đứng ngồi quá lâu ;
- Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và giác quan (thần kinh, thị giác, thính giác ) trong thời gian làm việc;
Trang 9- Công cụ sản xuất không phù hợp với cơ thể về hình dạng, trọng lượng kích thước;
- Bố trí nơi làm việc chật chội, lộn xộn
* Vùng nguy hiểm:
Vùng nguy hiểm là khoảng không gian xác định trong đó có các yếu tố nguy hiểm tác động một cách thường xuyên, chu kỳ hoặc bất ngờ dễ gây tai nạn cho người lao động nếu không có biện pháp phòng ngừa
- Vùng nguy hiểm có thể gây chấn thương do xuyên cắt, cuốn kẹp như ở cơ cấu truyền động (vùng nằm giữa dây cáp, xích cuốn vào trong tời hay puli, giữa hai bánh răng, giữa dây đai curoa và bánh đà, giữa hai trục cuốn của máy cán ép ), các bộ phận quay tròn với vận tốc cao (bánh mài, đĩa cưa, mâm cắp máy tiện, trục chính máy khoan các bộ phận chuyển động tịnh tiến theo phương đứng (búa máy, chầy đột dập ), chuyển động tịnh tiến theo phương ngang (đầu bào, lưỡi phay )
- Vùng nguy hiểm do các mảnh dụng cụ hoặc vật liệu gia công văng bắn ra: Vỡ đá mài, gãy răng cưa đĩa, mãnh vụn, phôi bụi văng ra khi đập, kim loại nung nóng, nấu chảy bắn ra trong công nghệ rèn đúc…
- Vùng nguy hiểm có thể gây cháy nổ: xung quanh khu vực hàn, xung quanh kho chứa các chất dễ cháy, nổ (xăng, dầu, thuốc nổ, bình chứa khí cháy )
- Vùng nguy hiểm xung quanh khu vực sử dụng, bảo quản các chất và tia phóng xạ (x, ), các hoá chất độc
- Vùng nguy hiểm trên công trường: xung quanh công trình đang thi công, vùng hoạt động của cần trục (vật rơi từ trên cao) xung quanh hố, hào sâu, xung quanh khu vực
nổ mìn hoặc phá dỡ công trình v.v
* Phương tiện bảo vệ cá nhân:
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động sử dụng trong khi làm việc, hoặc thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện có các yếu tố nguy hiểm, độc hại khi các thiết bị kỹ thuật an toàn - vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết các yếu tố nguy hiểm độc hại
Phương tiện bảo vệ cá nhân bao gồm các loại sau:
- Phương tiện bảo vệ đầu: Mũ, lưới bảo vệ
- Phương tiện bảo vệ mắt và mặt: Kính mắt, mặt nạ
- Phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp: Khẩu trang, mặt nạ phòng độc
- Phương tiện bảo vệ cơ quan thính giác: Nút bịt tai
- Phương tiện bảo vệ thân thể: Quần áo, yếm choàng chống nóng, chống rét, chống tia bức xạ
Trang 10- Phương tiện bảo vệ bảo vệ tay: Găng tay
- Phương tiện bảo vệ bảo vệ chân: Giày, ủng, bít tất
- Phương tiện bảo vệ khác: Dây an toàn chống ngã từ trên cao, phao tròn cứu sinh, phao áo cá nhân, găng tay cách điện chống điện giật v.v
1.2 Nội dung, mục đích, ý nghĩa, tính chất của công tác bảo hộ lao động
1.2.1 Nội dung bảo hộ lao động
Bảo hộ lao động bao gồm những nội dung sau:
Pháp luật bảo hộ lao động; Vệ sinh lao động, Kỹ thuật an toàn, Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy
1.2.1.1 Pháp luật bảo hộ lao động
Nghiên cứu, xây dựng, thực hiện các chế độ, chính sách bảo vệ con người trong lao động sản xuất phù hợp với điều kiện lao động, với sự phát triển kinh tế xã hội như: thời gian làm việc và nghỉ ngơi, bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ cho người lao động, chế độ lao động nữ, tiêu chuẩn, qui phạm về kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động.v.v
1.2.1.2 Vệ sinh lao động
Nghiên cứu những biến đổi về tâm sinh lý trong những điều kiện lao động khác nhau, ảnh hưởng của những yếu tố độc hại tác động lên con người trong quá trình lao động, đề xuất và thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động để bảo vệ sức khoẻ phòng chống các bệnh nghề nghiệp cho người lao động
1.2.1.3 Kỹ thuật an toàn
Nghiên cứu, phân tích nguyên nhân tai nạn lao động, đề xuất và thực hiện các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn, phòng chống các yếu tố nguy hiểm gây ra tai nạn lao động
1.2.1.4 Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy
Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân gây cháy nổ trong lao động sản xuất, đề xuất và thực hiện các biện pháp tổ chức kỹ thuật phòng cháy và chữa cháy một cách hiệu quả nhất
1.2.2 Mục đích bảo hộ lao động
Mục đích bảo hộ lao động là loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động sản xuất, cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ người lao động góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động
1.2.3 Ý nghĩa của bảo hộ lao động
1.2.3.1 Ý nghĩa chính trị
Bảo hộ lao động phản ánh bản chất của một chế độ xã hội Ở nước ta bảo hộ lao
Trang 11động là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Trên quan điểm:" Con người là vốn quí nhất của xã hội", Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, Nhà nước đã ra nhiều văn bản pháp quy về bảo hộ lao động, nhờ đó mà điều kiện lao động ngày càng từng bước được cải thiện, điều này đã thể hiện rõ bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang phấn đấu xây dựng
1.2.3.2 Ý nghĩa xã hội
Bảo hộ lao động tốt là góp phần tích cực vào việc củng cố và hoàn thiện quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa Mặt khác, nhờ chăm lo bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động, mang lại hạnh phúc cho bản thân gia đình người lao động nên bảo hộ lao động còn có tính nhân đạo sâu sắc
1.2.3.3 Ý nghĩa kinh tế
Trong sản xuất người lao động được bảo vệ tốt, không xảy ra tai nạn, ốm đau bệnh tật,
họ sẽ an tâm phấn khởi sản xuất nâng cao năng suất lao động, hoàn thành kế hoạch, nhờ đó mà thu nhập cá nhân và phúc lợi tập thể tăng lên, điều kiện sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện
Ngược lại tai nạn lao động, ốm đau bệnh tật xảy ra nhiều sẽ ảnh hưởng đến lực lượng sản xuất Đồng thời chi phí để khắc phục hậu quả do tai nạn, ốm đau cũng rất lớn Cho nên quan tâm thực hiện tốt bảo hộ lao động là thể hiện quan điểm sản xuất đầy đủ, là điều kiện bảo đảm sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao
1.2.4.2 Tính chất khoa học kỹ thuật
Mọi hoạt động trong bảo hộ lao động từ điều tra, khảo sát điều kiện lao động, phân tích đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại và ảnh hưởng của chúng đến an toàn và vệ sinh lao động cho đến việc đề xuất và thực hiện các giải pháp phòng ngừa, xử lý khắc phục đều phải vận dụng các kiến thức về lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật chuyên ngành hoặc tổng hợp nhiều chuyên ngành thì mới đạt hiệu quả cao
Trang 121.2.4.3 Tính chất quần chúng
Được thể hiện trên 2 mặt:
Một là: Mọi người lao động đều là đối tượng cần được bảo vệ, đồng thời họ cũng là những người do thông qua các hoạt động lao động sản xuất có thể phát hiện được những thiếu sót trong bảo hộ lao động, đóng góp ý kiến xây dựng các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, các tiêu chuẩn qui phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động.v.v Mặt khác, muốn cho bảo hộ lao động đạt hiệu quả cao thì mọi cấp quản lý, mọi người sử dụng lao động và người lao động đều phải thấy rõ lợi ích thiết thực và tự giác chấp hành để tự bảo
vệ mình và bảo vệ người khác
Trang 13Tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khoẻ ở nhiều mức độ khác nhau như mệt mỏi, suy nhược, giảm khả năng lao động, làm tăng các bệnh thông thường (cảm cúm, viêm họng, đau dạ dày ), thậm chí còn có thể gây ra các bệnh nghề nghiệp
Các tác hại nghề nghiệp có thể phân thành các loại sau đây:
2.1.1 Tác hại liên quan đến quá trình sản xuất
Áp suất cao (thợ lặn) hoặc áp suất thấp (lái máy bay, leo núi );
Bụi và các chất độc hại trong sản xuất
Yếu tố vi sinh vật
Vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng và các nấm mốc gây bệnh
2.1.2 Tác hại liên quan đến tổ chức lao động
- Thời gian làm việc liên tục và quá lâu, làm việc liên tục không nghỉ, làm thông ca ;
- Cường độ lao động quá cao không phù hợp với tình trạng sức khỏe công nhân;
- Chế độ làm việc nghỉ ngơi bố trí không hợp lý;
- Làm việc với tư thế gò bó, không thoải mái như: cúi khom, vặn mình, ngồi, đứng quá lâu;
- Sự hoạt động khẩn trương, căng thẳng quá độ của các hệ thống và giác quan như
hệ thần kinh, thị giác thính giác v.v ;
- Công cụ lao động không phù hợp với cơ thể về trọng lượng hình dáng, kích thước
2.1.3 Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh an toàn
- Thiếu hoặc thừa ánh sáng hoặc sắp xếp bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp lý
Trang 14- Phân xưởng chật chội và việc sắp xếp nơi làm việc lộn xộn, mất trật tự ngăn nắp
- Thiếu thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng, chống tiếng ồn, chống hơi khí độc
- Thiếu trang bị phòng hộ lao động hoặc có nhưng bảo quản không tốt
- Việc thực hiện qui tắc vệ sinh an toàn lao động chưa triệt để và nghiêm minh Ngoài ra dựa theo tính chất nghiêm trọng của tác hại nghề nghiệp và phạm vi tồn tại của nó rộng hay hẹp người ta còn phân ra các yếu tố tác hại nghề nghiệp làm 4 loại sau:
- Loại có tác hại tương đối rộng bao gồm: các chất độc trong sản xuất gây nên nhiễm độc nghề nghiệp thường gặp như chì, benzen, thủy ngân, mangan, CO, SO2,
Cl2 thuốc trừ sâu, lân hữu cơ, bụi ô xít silic gây bệnh bụi phổi, nhiệt độ cao bức xạ mạnh gây ra say nóng…
- Loại có tính tương đối nghiêm trọng, nhưng hiện nay phạm vi ảnh hưởng còn chưa phổ biến như: các hợp chất hữu cơ của kim loại và á kim như: thủy ngân hữu cơ, asen hữu cơ, các hợp chất hóa học cao phân tử và các nguyên tố hiếm, các chất phóng xạ và tia phóng xạ
- Loại có ảnh hưởng rộng nhưng tính chất tác hại không rõ lắm như: ánh sáng mạnh, tia tử ngoại gây bệnh viêm mắt, chiếu sáng không tốt có thể gây rối loạn thị giác và ảnh hưởng đến năng suất lao động, tiếng ồn, rung động gây tổn thương cơ quan thính giác
và các hệ thống khác, tổ chức lao động không tốt ảnh hưởng đến khả năng làm việc, thiếu sót trong xây dựng, thiết kế phân xưởng sản xuất
Các vấn đề trên tuy ảnh hưởng đối với tình trạng sức khỏe không lớn lắm, nhưng phạm vi ảnh rộng và có quan hệ mật thiết đến năng suất lao động, trong công tác bảo hộ cần có sự chú ý nhất định
Những vấn đề có tính chất đặc biệt và mới: làm việc trong điều kiện áp suất cao hoặc thấp, làm việc với các loại máy phát sóng cao tần và siêu cao tần (ra đa, vô tuyến) làm việc trong điều kiện có gia tốc, những vấn đề có liên quan đến khai thác dầu mỏ, hơi đốt và chế biến các sản phẩm của dầu mỏ.v.v đều dẫn tới phát sinh bệnh (bệnh nghề nghiệp)
2.1.4 Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp
Tùy tình hình cụ thể ta có thể áp dụng các biện pháp đề phòng sau:
2.1.4.1 Biện pháp kỹ thuật công nghệ
Cần cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ như: cơ giới hóa, tự động hóa, dùng những chất không độc hại hoặc ít độc hại thay dần cho những hợp chất có tính độc cao
2.1.4.2 Biện pháp kỹ thuật vệ sinh
Các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh như cải tiến hệ thống thông gió, hệ thống chiếu sáng vv nơi sản xuất cũng là những biện pháp cải thiện điều kiện làm việc
Trang 152.1.4.3 Biện pháp phòng hộ cá nhân
Đây là một biện pháp bổ trợ, nhưng trong nhiều trường hợp, khi biện pháp cải tiến quá trình công nghệ, biện pháp kỹ thuật vệ sinh chưa được thì nó đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo an toàn cho công nhân trong sản xuất và phòng bệnh nghề nghiệp Dựa theo tính chất độc hại trong sản xuất, mỗi người công nhân sẽ được trang bị dụng cụ thích hợp
2.1.4.4 Biện pháp tổ chức lao động khoa học
Thực hiện việc phân công lao động hợp lý theo đặc điểm sinh lý của công nhân, tìm
ra những biện pháp cải tiến làm cho lao động bớt nặng nhọc, tiêu hao năng lượng ít hơn, hoặc làm cho lao động thích nghi được với con người và con người thích nghi được với công cụ sản xuất mới, vừa có năng suất lao động cao hơn và an toàn hơn
2.1.4.5 Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe
Bao gồm việc kiểm tra sức khỏe công nhân, khám tuyển để không chọn người mắc một số bệnh nào đó vào làm với việc ở những nơi có những yếu tố bất lợi cho sức khỏe, vì
sẽ làm cho bệnh nặng thêm hoặc dễ đưa đến mắc bệnh nghề nghiệp Khám định kỳ cho công nhân tiếp xúc với các yếu tố độc hại nhằm phát hiện sớm bệnh nghề nghiệp và những bệnh mãn tính khác để kịp thời có biện pháp giải quyết Theo dõi sức khỏe công nhân một cách liên tục như vậy mới quản lý, bảo vệ được sức lao động, kéo dài tuổi đời, đặc biệt là tuổi nghề cho công nhân Ngoài ra còn phải tiến hành giám định khả năng lao động và hướng dẫn tập luyện hồi phục lại khả năng lao động cho một số công nhân mắc tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các bệnh mãn tính khác đã được điều trị Thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn lao động và cung cấp đầy đủ thức ăn, nước uống đảm bảo chất lượng cho công nhân làm việc với các chất độc hại
2.2 Vi khí hậu trong sản xuất
2.2.1 Khái niệm
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và vận tốc chuyển động không khí Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương
Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của công nhân Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây ra rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mỏi xuất hiện sớm,
nó còn tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, gây các bệnh ngoài da Tùy theo tính chất tỏa nhiệt của quá trình sản xuất người ta chia ra làm ba loại vi khí hậu sau:
- Vi khí hậu tương đối ổn định, nhiệt tỏa ra khoảng 20Kcal/m3 không khí/giờ, ở
Trang 16trong xưởng cơ khí, dệt
- Vi khí hậu nóng tỏa nhiệt nhiều hơn 20Kcal/m3 không khí/giờ ở xưởng đúc, rèn, dát cán thép, luyện gang thép
- Vi khí hậu lạnh, nhiệt tỏa ra dưới 20Kcal/m3 không khí/giờ, ở trong các xưởng lên men rượu bia, nhà ướp lạnh, chế biến thực phẩm
2.2.2 Các yếu tố vi khí hậu
2.2.2.1 Nhiệt độ
Là yếu tố quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào các quá trình sản xuất: Lò phát nhiệt, ngọn lửa, bề mặt máy bị nóng, năng lượng điện, cơ biến thành nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do công nhân tỏa ra vv Chính các nguồn nhiệt này đã làm cho nhiệt độ không khí lên cao, có khi đến 500C 600C Điều lệ vệ sinh qui định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của công nhân về mùa hè là 300C và không được vượt quá nhiệt độ cho phép từ 3 50C
2.2.2.2 Bức xạ nhiệt
Là những sóng điện từ bao gồm: Tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại Bức xạ nhiệt do các vật thể đen được nung nóng phát ra Khi nung đến 5000C chỉ phát ra tia hồng ngoại, nung nóng đến 18000C 20000C còn phát ra tia sáng thường và tia tử ngoại, nung nóng tiếp đến 30000C lượng tia tử ngoại phát ra càng nhiều
Về mặt vệ sinh, cường độ bức xạ nhiệt được biểu thị bằng cal/m2 phút và được đo bằng nhiệt kế cầu hoặc Actinometre, ở các phân xưởng rèn, đúc, cán thép có cường độ bức
xạ nhiệt tới 5 10Kcal/m2 phút (tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 1Kcal/m2 phút)
2.2.2.3 Độ ẩm
Là lượng hơi nước có trong không khí biểu thị bằng gam trong một mét khối không khí hoặc bằng sức trương hơi nước tính bằng mm cột thủy ngân
Về mặt vệ sinh thường lấy độ ẩm tương đối là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm tuyệt đối
ở một thời điểm nào đó so với độ ẩm tối đa để biểu thị mức ẩm cao hay thấp Điều lệ vệ sinh qui định độ ẩm tương đối nơi sản xuất trong khoảng 75 85%
2.2.2.4 Vận tốc chuyển động không khí
Được biểu thị bằng m/s Theo Sacbazan giới hạn trên của vận tốc chuyển động không khí không được vượt quá 3m/s, trên 5m/s gây kích thích bất lợi cho cơ thể
2.2.3 Ảnh hưởng của vi khí hậu đối với cơ thể con người
Nhiệt độ không khí và sự lưu chuyển không khí quyết định sự trao đổi nhiệt bằng đối lưu, bề mặt các vật rắn như tường, trần sàn, máy móc quyết định sự trao đổi nhiệt bằng bức
xạ, độ ẩm không khí và nhiệt độ quyết định sự trao đổi nhiệt bằng bay hơi mồ hôi Biết được
Trang 17các điều kiện vi khí hậu để tìm biện pháp thay đổi, tạo điều kiện cho cơ thể duy trì được sự cân bằng nhiệt thuận lợi
2.2.3.1 Ảnh hưởng của vi khí hậu nóng
Biến đổi về sinh lý
Nhiệt độ da đặc biệt là da trán rất nhạy cảm đối với nhiệt độ bên ngoài Biến đổi về cảm giác nhiệt của da trán như sau:
Chuyển hóa nước
Cơ thể người hàng ngày có sự cân bằng giữa lượng nước ăn uống vào và thải ra Ăn uống vào từ 2,5 3lít và thải ra khoảng 1,5 lít qua thận, 0,2 lít qua phân, lượng còn lại theo
mồ hôi và hơi thở để ra ngoài
Trong điều kiện vi khí hậu nóng, các bệnh thường tăng lên gấp đôi so với lúc bình thường Rối loạn bệnh lý do vi khí hậu nóng thường gặp là chứng say nóng và chứng co giật, làm cho con người bị chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lưng Thân nhiệt có thể lên cao tới 390C 400C, mạch nhanh, nhịp thở nhanh Trường hợp nặng, cơ thể bị choáng, mạch nhỏ, thở nông
2.2.3.2 Ảnh hưởng của vi khí hậu lạnh
Lạnh làm cho cơ thể mất nhiệt nhiều, nhịp tim, nhịp thở giảm và tiêu thụ oxy tăng Lạnh làm cho các cơ co lại gây hiện tượng nổi da gà, các mạch máu co thắt sinh ra cảm giác tê cóng chân tay, vận động khó khăn Trong điều kiện vi khí hậu xấu, xuất hiện một số bệnh viêm dây thần kinh, viêm khớp, viêm phế quản, hen và một số bệnh mãn tính khác do máu lưu thông kém và sức đề kháng của cơ thể giảm
2.2.4 Các biện pháp phòng chống vi khí hậu xấu
2.2.4.1 Vi khí hậu nóng
a) Tổ chức chức sản xuất lao động hợp lý
Những tiêu chuẩn vệ sinh đối với các điều kiện khí tượng nơi sản xuất, được thiết
Trang 18ẩm tương đối, vận tốc gió ở chỗ làm việc cố định và nhiệt độ không khí ngoài trời nơi làm việc được tiêu chuẩn hóa phụ thuộc vào thời gian trong năm (mùa nóng, mùa lạnh, mùa khô, mùa ẩm )
Lao động trong những điều kiện nhiệt độ cao cần được nghỉ ngơi thỏa đáng, để cơ thể người lao động lấy lại được cân bằng
b) Qui hoạch nhà xưởng và các thiết bị
Sắp xếp các nhà phân xưởng nóng trên mặt bằng xí nghiệp phải sao cho sự thông gió tốt nhất, nên sắp xếp xen kẽ các phân xưởng nóng với phân xưởng mát
Cần chú ý hướng gió trong năm khi bố trí các phân xưởng nóng, tránh nắng mặt trời chiếu vào phân xưởng qua các cửa Xung quanh các phân xưởng nóng phải thoáng gió Có lúc cần bố trí các thiết bị nhiệt vào một khu xa nơi làm việc của công nhân
bố trí trước cửa lò Màn nước dày 2mm có thể hấp thụ 80 đến 90% năng lượng bức xạ Nước để phun phải dùng nước sạch (nước dùng để ăn), độ mịn các hạt bụi nước khoảng 50
m 60m và đảm bảo sao cho độ ẩm nằm trong khoảng 13 14g/m3 Có nhiều thiết bị tỏa nhiệt cần phải dùng vòi tắm khí để giảm nhiệt, vận tốc gió phụ thuộc vào môi trường
e) Thiết bị và quá trình công nghệ
Trong các phân xưởng nhà máy tỏa ra khí nóng và độc cần được tự động hóa và cơ khí hóa, điều khiển và quan sát từ xa, để làm giảm nhẹ lao động và nguy hiểm cho công nhân Đưa những ứng dụng các thiết bị truyền hình vào điều khiển và quan sát từ xa
Có thể giảm nhiệt trong các nhà máy có thiết bị tỏa nhiệt lớn bằng cách giảm sự thất thoát nhiệt vào môi trường Để đạt mục đích đó cần dùng các biện pháp tăng cường cách nhiệt cho các thiết bị tỏa nhiệt như:
Dùng những vật liệu có tính cách nhiệt cao như samốt, samốt nhẹ, diatomit
Làm lớp cách nhiệt dày thêm nhưng không thể quá mức vì làm tăng thêm trọng lượng thiết bị
Dùng các màn chắn nhiệt mà thực chất là gương phản xạ nhiệt bên trong thiết bị nhiệt, nhờ đó phía ngoài thiết bị nhiệt độ không cao lắm
Trang 19Các cửa sổ thiết bị là nơi nhiệt thất thoát ra ngoài, cho nên diện tích cửa sổ phải là tối thiểu, những lúc không cần thiết nên đóng kín
f) Phòng hộ cá nhân
Là loại quần áo đặc biệt chịu nhiệt chống bị bỏng khi có tia lửa bắn vào như than nóng đỏ, xỉ lỏng, nước kim loại nóng chảy v.v nhưng lại phải thoáng khí để cơ thể trao đổi với môi trường bên ngoài, áo phải rộng thoải mái bỏ ngoài quần, quần lại phải ngoài giày Vì thế, quần áo bảo hộ trường hợp này phải chế tạo từ những loại vải đặc biệt có thể
là vải bạt, sợi bông hoặc da nỉ thậm chí có khi bằng amiăng thủy tinh v.v
Để bảo vệ đầu cũng cần những loại vải đặc biệt để chống nóng và tránh bị bỏng, bảo
vệ chân tay bằng giày chịu nhiệt, găng tay đặc biệt, bảo vệ mắt bằng kính màu đặc biệt để giảm tối đa bức xạ nhiệt cho mắt, không dùng găng tay nhựa dễ bị biến dạng, mắt kính có khi được phủ một lớp kim loại mỏng phản xạ tốt bức xạ
g) Chế độ ăn uống
Trong quá trình lao động, trong điều kịên nóng bức mồ hôi ra nhiều, theo mồ hôi là các muối khoáng, vitamin Để giữ cân bằng nước trong cơ thể, cần cho công nhân uống nước có pha thêm muối: Kali, natri, canxi, phốt pho và bổ sung thêm các vitamin B, C, đường, axit hữu cơ và nên uống ít một Theo kinh nghiệm người Việt Nam, chúng ta có nhiều thức uống từ thảo mộc như: Nước chè xanh, rau má, nước chè pha muối, nước rau sam pha thêm muối ăn có tác dụng giải khát tốt, trong đó nước rau muống trội hơn cả Ngoài việc duy trì cân bằng nước trong cơ thể còn bồi bổ cho cơ thể, một lít nước rau má thường chứa 1g ion kali và 30g sinh tố C
Trang 20Tiếng ồn được đặc trưng bằng cường độ và độ to:
- Cường độ: Đặc trưng cho tính chất khách quan hay tính chất vật lý của âm thanh, chúng liên quan đến nguồn phát sinh và tỏa ra
- Độ to: Phản ảnh tính chất chủ quan và sinh lý của âm thanh, phụ thuộc vào khả năng tiếp thụ âm thanh của cơ quan thính giác từng người
Dao động âm mà tai nghe được có tần số từ 16 20.000Hz Giới hạn này ở mỗi người không giống nhau, tùy theo lứa tuổi và trạng thái cơ quan thính giác
Dao động âm có tần số dưới 16 Hz tai người không thể nghe được gọi là hạ âm, còn dao động âm có tần số trên 20.000Hz tai cũng không nghe được gọi là siêu âm
Người ta phân ra nhiều loại tiếng ồn:
Tiếng ồn thống kê: do tổ hợp hỗn loạn các âm khác nhau về cường độ và tần số trong
phạm vi từ 16 - 20000Hz
Tiếng ồn có âm sắc: Tiếng ồn có âm đặc trưng
Theo môi trường âm có tiếng ồn kết cấu là khi vật thể dao động tiếp xúc trực tiếp với các kết cấu như máy, đường ống, nền nhà v.v Còn tiếng ồn lan truyền hay tiếng ồn không khí là nguồn âm không có liên hệ với một kết cấu nào cả
Theo đặc tính:
- Tiếng ồn va chạm: rèn, dập;
- Tiếng ồn không khí: Khi chuyển động với tốc độ cao như động cơ phản lực
- Tiếng nổ hoặc xung: Động cơ diêzen hoạt động
Theo dãi tần số:
- Tiếng ồn tần số cao khi tần số f >1000Hz
- Tiếng ồn tần số trung bình khi f > 300 - 1000Hz
2.3.3 Ảnh hưởng của tiếng ồn và rung động đối với sinh lý con người
2.3.3.1 Ảnh hưởng của tiếng ồn
Tiếng ồn tác động trước hết đến hệ thần kinh trung ương, sau đó đến hệ thống tim mạch và nhiều cơ quan khác, cuối cùng đến cơ quan thính giác Tác hại riêng tiếng ồn chủ yếu phụ thuộc vào mức ồn Tuy nhiên tần số lập lại của tiếng ồn, đặc điểm của nó cũng ảnh hưởng lớn Tiếng ồn có phổ liên tục, ít khó chịu hơn tiếng ồn gián đoạn Tiếng ồn có các
Trang 21thành phần tần số cao khó chịu hơn tiếng ồn có tần số thấp Khó chịu nhất là tiếng ồn thay đổi cả tần số và cường độ
Ảnh hưởng của tiếng ồn đối với cơ thể còn phụ thuộc vào hướng của năng lượng âm truyền tới, thời gian tác dụng của nó trong một ngày làm việc, vào quá trình lâu dài người công nhân làm việc trong phân xưởng ồn, vào độ nhạy cảm riêng của từng người cũng như vào lứa tuổi, nam hay nữ và trạng thái cơ thể người công nhân
Khi chịu tác dụng của tiếng ồn, độ nhạy cảm thính giác giảm xuống, ngưỡng nghe tăng lên Làm việc lâu trong môi trường ồn ào như: công nhân dệt, công nhân luyện kim ở các xưởng luyện, xưởng tuyển khoáng v.v Sau giờ làm việc phải mất một thời gian nhất định thì thính giác mới trở lại bình thường, khoảng thời gian này gọi là thời gian phục hồi thính giác, tiếp xúc với tiếng ồn càng to thì thời gian phục hồi thính giác càng lâu
Tiếng ồn còn ảnh hưởng đến các cơ quan khác Dưới tác dụng của tiếng ồn, trong cơ thể con người diễn ra một loạt thay đổi, biểu hiện qua sự rối loạn trạng thái bình thường của hệ thống thần kinh
Tiếng ồn, ngay cả khi không đáng kể (ở mức 50 70 dB) cũng tạo ra một tải trọng đáng kể lên hệ thống thần kinh, đặc biệt là đối với những người lao động trí óc
Tiếng ồn cũng gây ra những thay đổi trong hệ thống tim mạch, kèm theo sự rối lọan trương lực bình thường của mạch máu và rối loạn nhịp tim Những người làm việc lâu trong môi trường ồn thường bị bệnh đau dạ dày và cao huyết áp
Nói chung, ảnh hưởng của tiếng ồn làm chói tai, mệt cơ quan thính giác, giảm sự chú ý của công nhân Cơ thể ở nơi có tiếng ồn cần tiêu tốn một năng lượng phụ dẫn đến hạ thấp năng suất lao động
Bị tác dụng lâu dài của tiếng ồn có thể dẫn tới đau tai thường xuyên, chức năng của
cơ quan thính giác bị phá hủy, bị điếc rất khó chữa Mặt khác, tiếng ồn trong sản xuất còn làm chậm phản xạ của công nhân đối với các tín hiệu phòng ngừa bằng âm thanh và có thể
là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến chấn thương
2.3.3.2 Ảnh hưởng của rung động
Tần số rung động ta cảm nhận được nằm trong khoảng 12 8000Hz, rung động cũng giống như tiếng ồn, ảnh hưởng trước hết đến thần kinh trung ương và sau đó là các bộ phận khác
Rung động chung gây ra dao động của cả cơ thể, còn rung động cục bộ chỉ làm cho từng bộ phận của cơ thể dao động Tuy nhiên ảnh hưởng của rung động cục bộ không chỉ giới hạn trong phạm vi chịu tác động của nó, mà ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương và có thể làm thay đổi chức năng của các cơ quan và bộ phận khác, gây ra các bệnh
Trang 22lý tương ứng Đặc biệt, ảnh hưởng đến cơ thể là khi tần số rung động xấp xỉ tần số dao động riêng của cơ thể và các cơ quan bên trong
2.3.4 Các biện pháp phòng chống tiếng ồn và rung động
Công tác chống tiếng ồn và rung động phải được nghiên cứu tỉ mỉ từ khi lập qui hoạch mặt bằng nhà máy tới khi xây dựng các xưởng sản xuất, từ khi thiết kế quá trình công nghệ của nhà máy đến chế tạo từng máy móc cụ thể Việc chống ồn phải thực hiện ngay cả trong quá trình sản xuất
2.3.4.1 Biện pháp chung
Từ lúc lập tổng thể mặt bằng nhà máy đã cần nghiên cứu các biện pháp qui hoạch xây dựng chống tiếng ồn và rung động, cần hạn chế sự lan truyền của tiếng ồn ngay trong phạm vi của xí nghiệp và ngăn chặn tiếng ồn lan truyền ra các vùng xung quanh, giữa các khu nhà ở và khu sản xuất có tiếng ồn, phải trồng các dãy cây xanh bảo vệ để chống ồn và làm sạch môi trường Giữa xí nghiệp và khu nhà ở phải có khoảng cách tối thiểu để tiếng
ồn không vượt mức cho phép
2.3.4.2 Giảm tiếng ồn và rung động tại nơi xuất hiện
Đây là biện pháp chống ồn chủ yếu bao gồm việc lắp ráp các máy móc, động cơ có chất lượng cao, bảo quản, sửa chữa kịp thời các máy móc thiết bị không nên sử dụng các thiết bị đã cũ, lạc hậu
Giảm tiếng ồn tại nơi xuất hiện có thể thực hiện theo các biện pháp sau:
Hiện đại hóa thiết bị, hoàn thiện quá trình công nghệ:
- Thay đổi tính đàn hồi và khối lượng các bộ phận máy móc để thay đổi tần số dao động riêng của chúng, tránh hiện tượng cộng hưởng
- Thay thép bằng chất dẻo, tecxtolit, fibrolit, v.v mạ crôm hoặc quét mặt các chi tiết bằng sơn hoặc dùng các hợp kim ít bị vang hơn khi bị va chạm
- Bọc các mặt thiết bị chịu rung động bằng các vật liệu hút hoặc giảm rung động có nội ma sát lớn như bitum, cao su, tôn, amiăng, chất dẻo, matít đặc biệt
Biện pháp chống tiếng ồn sản xuất có hiệu quả nhất là tự động hóa toàn bộ quá trình công nghệ và áp dụng hệ thống điều khiển từ xa
- Qui hoạch thời gian làm việc của các xưởng ồn
Bố trí các xưởng ồn làm việc vào những buổi ít người làm việc
Lập đồ thị làm việc cho công nhân để họ có khả năng nghỉ ngơi hợp lý, làm giảm thời gian có mặt của công nhân ở những xưởng có mức ồn cao
2.3.4.3 Biện pháp phòng chống ồn cá nhân
Nút bịt tai: Làm bằng chất dẻo, có hình dáng cố định dùng để cho vào lỗ tai, có tác
Trang 23dụng hạ mức âm ở tần số 125 - 500Hz, mức hạ âm là 10dB, ở tần số 2000Hz là 24dB và ở tần số 4000Hz là 29dB Với âm ở tần số cao hơn nữa tác dụng hạ âm sẽ giảm
Cái che tai: Có tác dụng hơn nút bịt tai, thường dùng cho công nhân tán, gò, mài và
công nhân hàng không
Bao ốp tai: Dùng trong trường hợp tiếng ồn lớn 120dB Bao có thể che kín cả tai và
phần xương sọ quanh tai Ngoài ra để chống rung động, người ta cần trang bị giày (ủng) có
đế chống rung, bao tay có đệm đàn hồi
2.4 Bụi trong sản xuất
2.4.1 Định nghĩa
Bụi là tập hợp những phần tử nhỏ, rắn nằm lơ lững trong không khí trong một khoảng thời gian nhất định nào đó
2.4.2 Phân loại bụi
- Theo vật chất tạo ra bụi:
+ Bụi hữu cơ: Vải, tơ lụa, len, gịa, lông tóc
+ Bụi nhân tạo: Nhựa hóa học, cao su…
+ Bụi vô cơ: Amiăng, bụi vôi…
+ Bụi khoáng: Than đá, thạch anh
+ Bụi kim loại: Cu, Pb, Mn, Zn
- Theo kích thước hạt bụi:
+ Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10m gọi là bụi bay, những hạt có kích thước lớn hơn 10m gọi là bụi lắng, những hạt có kích thước từ 0,1 đến 10m rơi với vận tốc không đổi gọi là mù, những hạt có kích thước từ 0,0010,1m gọi là khói, chúng chuyển động Brao trong không khí
+ Bụi thô có kích thước lớn hơn 50m chỉ bám ở lỗ mũi không gây hại cho phổi, bụi từ 10m đến 50m vào sâu hơn nhưng vào phổi không đáng kể, những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10m vào sâu trong khí quản và có tác hại nhiều nhất
Thực nghiệm cho thấy các hạt bụi vào tận phổi qua đường hô hấp có 70% là những hạt 1m, gần 30% là những hạt 1 - 5m Những hạt từ 5 - 10m chiếm tỷ lệ không đáng kể
- Theo tính độc của bụi:
+ Bụi gây nhiễm độc: Pb, Hg, Benzen ; bụi gây dị ứng: viêm mũi, hen, viêm họng như bụi bông, len, gai, phân hóa học, một số bụi gỗ, bụi gây ung như nhựa đường, phóng
xạ, các hợp chất brôm; bụi gây nhiễm trùng như bụi lông, bụi xương, một số bụi kim loại ; bụi gây xơ phổi như bụi silic, amiăng
- Theo tính chất nổ của bụi:
Trang 24+ Bụi gây nổ: Hợp kim Mg, S…
2.4.3 Tác hại của bụi
Bụi gây nhiều tác hại cho con người mà trước hết là bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da, bệnh trên đường tiêu hóa
Khi chúng ta thở, nhờ có lông mũi và niêm dịch của đường hô hấp mà những hạt bụi có kích thước lớn hơn 5m bị giữ lại ở hốc mũi tới 90% Các hạt bụi nhỏ hơn theo không khí vào tận phế nang, ở đây bụi được các lớp thực bào bao vây và tiêu diệt khoảng 90% nữa, số còn lại đọng ở phổi và gây ra một số bệnh bụi phổi và các bệnh khác
Bệnh phổi nhiễm bụi
Thường gặp ở những công nhân khai thác vận chuyển chế biến quặng đá, kim loại, than
Bệnh silicose
Là bệnh do phổi bị nhiễm bụi silic ở những thợ khoan đá, thợ mỏ, thợ mài gốm sứ, vật liệu chịu lửa v.v Bệnh này chiếm 40 - 70% trong tổng số các bệnh về phổi Ngoài ra còn có bệnh asbestose (bệnh nhiễm bụi amiăng), aluminose (bụi đất sét, bụi boxit), athracose (nhiễm bụi than), siderose (bụi sắt)
Bệnh ở đường tiêu hóa
Bụi đường, bột đọng lại ở răng gây sâu răng, kim loại sắc nhọn vào dạ dày gây tổn thương niêm mạc, rối lọan tiêu hóa
2.4.4 Các biện pháp phòng chống bụi
2.4.4.1 Biện pháp chung
- Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất, đó là khâu quan trọng nhất để công nhân không phải tiếp xúc trực tiếp với bụi và bụi ít lan tỏa ra ngoài, ví dụ như khâu đóng gói bao xi măng
- Áp dụng những biện pháp vận chuyển bằng hơi, máy hút, băng tải trong ngành dệt, ngành than, bao kín các thiết bị và có thể cả dây chuyền sản xuất khi cần thiết
Trang 252.4.4.2 Thay đổi phương pháp công nghệ
- Trong xưởng đúc làm sạch bằng nước thay cho làm sạch bằng cát, dùng phương pháp ướt thay cho phương pháp khô trong công nghiệp sản xuất xi măng, trong ngành luyện kim bột, thay phương pháp trộn khô bằng phương pháp trộn ướt không những làm cho quá trình trộn nghiền tốt hơn mà còn làm mất hẳn quá trình sinh bụi
- Thay vật liệu có nhiều bụi độc bằng vật liệu ít độc, ví dụ dùng đá mài cacbuarun thay cho đá mài tự nhiên có thành phần chủ yếu là SiO2
2.4.4.3 Đề phòng bụi cháy nổ
Theo dõi nồng độ bụi ở giới hạn nổ, đặc biệt chú ý tới các ống dẫn và máy lọc bụi, chú ý cách ly mồi lửa Ví dụ tia lửa điện, diêm, tàn lửa và va đập mạnh ở những nơi có nhiều bụi gây nổ
2.4.4.4 Vệ sinh cá nhân
- Sử dụng quần áo, mặt nạ khẩu trang theo yêu cầu vệ sinh cẩn thận hơn khi có bụi độc, bụi phóng xạ
- Vệ sinh cá nhân trong việc ăn uống, hút thuốc, tránh nói chuyện nơi làm việc
- Tổ chức khám tuyển định kỳ cho cán bộ công nhân viên làm việc trong môi trường nhiều bụi, phát hiện sớm các bệnh do bụi gây ra
Trang 26Cơ thể con người, phổi có diện tích rất rộng và có nhiều mao mạch nen có tính hấp thụ rất mạnh Vì vậy, chất độc hít vào phổi dễ thấm vào máu và gây ngộ độc rất nhanh (vì chất độc đưa thẳng vào hệ tuần hoàn không qua gan)
- Nhiễm độc bằng đường tiêu hóa:
Nhiễm độc bằng đường tiêu hóa ít nguy hiểm hơn, xảy ra trong sản xuất do ăn uống hoặc nuốt phải chất độc dưới dạng bụi và nước
Tác hại của nhiễm độc bằng đường tiêu hóa xảy ra chậm hơn đường hô hấp vì chất độc qua gan và được khử một phần ở đó
- Nhiễm độc qua da:
Nhiễm độc loại này rất nhanh và nặng vì các chất độc qua da vào máu là những chất
có thể ta trong lớp mỡ lỏng bao bọc dưới mặt da và có thể hòa tan trong nước để thấm vào máu Ví dụ Benzen, rượu Êtylic
Mức độ nhiễm độc phụ thuộc vào diện tích da bị dính chất độc Diện tích này càng rộng thì nhiễm độc càng nặng
- Làm mê, gây kích thích hoặc cưỡng bức hệ thần kinh trung ương;
- Làm sưng các màng niêm dịch và phá vỡ các nguyên sinh chất
Do tác dụng của chất độc lên cơ thể mà dần dần làm cho người công nhân bị bệnh hoặc chết
Tùy theo liều lượng, thời gian xâm nhập và sức đề kháng của cơ thể mà có thể là nhiễm độc cấp tính, mãn tính hoặc bán cấp tính
* Nhiễm độc cấp tính:
Xảy ra khi khi liều lượng chất độc xâm nhập bất thình lình vào cơ thể Nhiễm độc loại này thường do thiếu sót về kỹ thuật, máy móc bị hư hỏng, hoặc sử dụng chất mới mà chưa biết tính độc hại hoặc bị lẫn các chất độc Nhiễm độc cấp tính có thể xảy ra cho một người hoặc hàng loạt người
* Nhiễm độc mãn tính:
Là do chất độc xâm nhập vào cơ thể mỗi ngày một ít và tăng lên theo thời gian Đây là trường hợp nhiễm độc chủ yếu thường gặp trong sản xuất và là nguyên nhân của bệnh nghề nghiệp
Trang 27Cơ giới hóa, tự động hóa các quá trình công việc phải tiếp xúc với chất độc;
Các máy móc thiết bị phải được bao bọc kín, thường xuyên kiểm tra chất lượng bao bì;
Tổ chức hợp lý các quá trình sản xuất, bố trí cách ly các bộ phận tỏa ra độc;
Tổ chức hút hơi và khí độc tại chỗ;
Bố trí các tín hiệu tự động báo hiệu sự có mặt của chất độc;
Trang bị cho công nhân những dụng cụ bảo vệ chống độc
2.6 Thông gió trong sản xuất
Để tẩy sạch không khí bẩn ở những nơi sản xuất và cho vào không khí trong sạch, người ta ứng dụng hệ thống thông gió
Trên tàu thủy các buồng ở thường chật hẹp, nếu không có thiết bị thông gió sẽ không bảo đảm lượng ôxy cần thiết ảnh hưởng tới sức khỏe, không an toàn cho người lao động và cho hàng hóa vận chuyển
Tùy theo tính chất và phương pháp di chuyển không khí, trong công nghiệp người ta chia hệ thống thông gió thành hai dạng: thông gió tự nhiên và thông gió nhân tạo
Tùy theo hướng của dòng không khí mà có phương pháp thông gió hút ra hay thông gió quạt vào
Dựa vào vị trí tác dụng, người ta chia ra thành thông gió chung và thông gió bộ phận
2.6.1 Thông gió tự nhiên
2.6.1.1 Phương pháp thông gió tự nhiên
Là trường hợp thông gió mà sự lưu thông không khí từ bên ngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra thực hiện được nhờ vào những yếu tố tự nhiên như nhiệt thừa và gió Dưới tác dụng của nhiệt tỏa ra, không khí phía trên nguồn nhiệt bị đốt nóng và trở nên nhẹ hơn không khí nguội xung quanh Không khí nóng và nhẹ đó tạo thành luồng bốc lên cao và theo cửa bên trên thoát ra ngoài Đồng thời không khí nguội xung quanh trong
Trang 28phân xưởng và không khí mát ngoài trời theo các cửa bên dưới đi vào nhà thay thế cho phần không khí nóng đã bốc lên cao Một phần không khí bốc lên cao hạ dần nhiệt độ và chìm dần xuống phiá dưới để rồi hòa lẫn với không khí mát từ bên ngoài vào tạo thành chuyển động tuần hoàn ở các góc phía trên của không gian nhà Bởi vậy nhờ có nguồn nhiệt mà hình thành được sự trao đổi không khí giữa bên trong và bên ngoài nhà, do đó mà nhiệt thừa sản sinh ra trong nhà thoát ra ngoài nhà
+ Thông gió tự nhiên vô tổ chức: Là trường hợp khi không khí xuyên qua các cửa
để ngỏ hoặc các khe nứt, kẽ hở trên tường, trần, cửa nhà với lưu lượng và chiều hướng không thể khống chế được
+ Thông gió do áp lực nhiệt độ: Khi nhiệt độ trong phòng tăng lên, tỷ trọng của không khí giảm đi, không khí nóng bốc lên phía trên, không khí lạnh ở ngoài sẽ lùa vào tạo nên sự tuần hoàn không khí dưới tác dụng của áp lực nhiệt
Áp lực nhiệt được tính theo công thức:
P = h(n - tr) (kG/m2) Trong đó: P- áp lực nhiệt (kG/m2)
h - chiều cao từ mép trên của cửa đến miệng thông gió (m) n - tỷ trọng không khí ở bên ngoài phòng (kG/m3)
tr - tỷ trọng không khí ở bên trong phòng (kG/m3) + Thông gió do áp lực gió: Gió thổi vào phòng về phía có gió tạo ra một áp suất cao, về cuối hướng gió hình thành một khu vực áp suất thấp, kết quả là tạo nên sự chuyển động của không khí bên trong phòng
2.6.1.2 Ưu điểm của thông gió tự nhiên
- Thông gió tốt trong các phân xưởng có khoảng không cao trong đó có nguồn tỏa nhiệt lớn
- Cấu tạo đơn giản, rẻ tiền, dễ sử dụng, không cần công nhân chuyên nghiệp
- Không tốn điện năng để di chuyển không khí
Do đó, thông gió tự nhiên được sử dụng rộng rãi, có hiệu quả kinh tế lớn và tạo được không khí trong lành nơi làm việc
2.6.1.3 Các hình thức thông gió tự nhiên ở trên tàu
Trang 29Hình dạng cửa bên ở trên tàu có dạng tròn
- Cửa trời:
Những buồng và gian ở giữa tàu thường được mở cử trời nếu phía trên không có thượng tầng kiến trúc Không khí nóng thoát ra phía trên hay xung quanh, không khí lạnh hút vào ở giữa Do đó, không khí được trao đổi trong và ngoài phòng
Ngoài ra, trên tàu người ta còn làm một số cửa chớp và cửa cầu thang nhằm tăng khả năng trao đổi không khí
- Loa thông gió:
Loa thông gió trên tàu có nhiều dạng:
+ Loa dạng tẫu: Kích thước của loa phụ thuộc kích thước của buồng và số lần không khí trao đổi cần thiết của phòng trong một giờ
+ Loa dạng phễu: có tác dụng hút không khí lên phía trên hình chóp cụt, hướng của phễu bao giờ cũng được hướng về phía gió
- Cửa tròn thông gió:
Là loại loa thông gió nhỏ khi phía trên của buồng đó không mở được cửa trời Loại cửa này có thể đóng mở được để tránh nước tràn vào tàu
2.6.2 Thông gió nhân tạo
Thông gió nhân tạo là đưa không khí vào hoặc hút không khí ra khỏi các buồng, phòng, gian sản xuất… theo đường ống thông gió và sử dụng các thiết bị tăng áp hoặc máy móc đặc biệt
Người ta chia thông gió nhân tạo ra làm ba loại:
2.6.2.1 Thông gió bằng bơm vào
Trong hệ thống thông gió này, quạt gió lùa không khí vào phòng tạo nên một áp lực cao hơn áp lực khí quyển (thường 2 KG/m2) gọi là áp lực thông gió, không khí bẩn sẽ được thoát ra ngoài bằng cửa sổ và khe hở
Ở dạng thông gió này, không khí đưa vào được xử lý theo tiêu chuẩn vệ sinh quy định tạo ra một áp lực dương, áp lực này không cho độc tố tiết ra ở các phòng bên cạnh lọt vào nơi làm việc và có thể hút không khí sạch ở một vị trí thuận lợi nhất
Trang 302.6.2.3 Thông gió vừa bơm vào vừa hút ra
Cách thông gió này được tiến hàng bằng quạt Dùng hẹ thống này ta có thể khống chế được nhiệt độ, độ ẩm và áp suất không khí trong phòng, nhưng cách thông gió bằng quạt rất đắt tiền
2.7 Chiếu sáng trong sản xuất
Trong đời sống cũng như trong sản xuất, chỉ có hai dạng chiếu sáng là chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo
2.7.1 Chiếu sáng tự nhiên
Mặt trời là nguồn bức xạ vô tận đối với trái đất chúng ta Tia sáng mặt trời xuyên qua
khí quyển một phần bị khí quyển tản xạ và hấp thụ, một phần truyền thẳng tới mặt đất
Trên tàu thủy, người ta chia chiếu sáng tự nhiên ra làm 3 kiểu:
- Chiếu sáng bên cạnh bằng cửa sổ;
- Chiếu sáng ở trên bằng cửa trời;
- Chiếu sáng hỗn hợp
2.7.2 Chiếu sáng nhân tạo (Chiếu sáng đèn điện)
Cho đến nay nguồn sáng điện chủ yếu vẫn dùng đèn sợi đốt (đèn nung sáng) và đèn huỳnh quang
Đèn nung sáng rẻ tiền, dễ chế tạo, dễ bảo quan và sử dụng
Phát sáng ổn định, không phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường
Ánh sáng đèn nung sáng phù hợp với tâm sinh lý của con người hơn, nên làm việc dưới ánh sáng đèn nung sáng, năng suất lao động theo những nghiên cứu của các nhà khoa học là cao hơn so với đèn huỳnh quang khoảng 10%
Đèn nung sáng có khả năng phát sáng tập trung và cường độ lớn phù hợp cho chiếu sáng cục bộ Một ưu điểm lớn nữa của đèn nung sáng là có thể phát sáng với điện áp thấp hơn nhiều so với điện áp định mức của đèn, cho nên được sử dụng trong chiếu sáng an toàn, chiếu sáng sự cố
- Đèn huỳnh quang:
Đèn huỳnh quang chiếu sáng dựa trên hiệu ứng quang điện Đèn huỳnh quang có nhiều loại như đèn thủy ngân áp suất thấp, áp suất cao và đèn thủy ngân cao áp, đèn huỳnh quang áp suất thấp, đèn huỳnh quang áp suất cao, đèn huỳnh quang cải tiến và các đèn phóng điện khác Trong đó thường dùng và quan trọng nhất là đèn thủy ngân siêu cao áp,
nó có ánh sáng gần giống với ánh sáng ban ngày, dùng để làm đèn chiếu sáng nơi công cộng và đèn huỳnh quang áp suất thấp dùng trong sản xuất và trong đời sống hàng ngày của chúng ta
Trang 31Đèn huỳnh quang nói chung có những ưu điểm sau:
Hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài vì thế hiệu quả kinh tế cao hưon đènh nung sáng từ 2 đến 2,5 lần Đèn huỳnh quang cho quang phổ phát xạ gần giống ánh sáng ban ngày, tuy nhiên nó cũng có những nhược điểm sau: chỉ phát quang ổn định khi nhiệt độ không khí trong khoảng 15 đến 350C, điện áp thay đổi khoảng 10% đã làm đèn không làm việc được Giá thành cao, sử dụng phức tạp hơn Hầu hết các đèn huỳnh quang
và đèn phóng điện trong chất khí là thêm thành phần bước sóng dài (đỏ, da cam, vàng) khác với ánh sáng đèn nung nóng và ánh sáng mặt trời nên không thuận với tâm sinh lí của con người Ngoài ra đèn huỳnh quang còn có hiện tượng quang thông dao động theo tần số của điện áp xoay chiều làm khó chịu khi nhìn, có hại cho mắt
2.8 Công tác vệ sinh trên tàu cá
2.8.1 Tổ chức thực hiện nhiệm vụ vệ sinh trên tàu
Trên tàu phải làm công tác vệ sinh hàng ngày Các tổ chức thực hiện và nội dung công tác này trên mỗi tàu có khác nhau đôi chút tùy theo điều kiện đi biển, nhiệm vụ vận tải và số lượng thuyền viên trên tàu
Hàng ngày phải quét dọn hành lang, buồng ở, buồng công cộng, buồng lái và buồng
để hải đồ, các boong thượng tầng kiến trúc khi cần thiết phải rửa boong
Quét dọn buồng lái buổi sáng thường do thủy thủ đi ca 4 - 8 đảm nhiệm gồm những công việc lau sàn, lau cửa kính, lau chùi và đánh bóng các dụng cụ bằng đồng, lau chùi lan can, cầu thang và bên ngoài các máy móc
Hàng ngày các cấp dưỡng có nhiệm vụ quét dọn nhà bếp và nhà ăn công cộng Phục
vụ viên có nhiệm vụ quét dọn nhà vệ sinh, hành lang, câu lạc bộ, buồng ở của sĩ quan và buồng tắm giặt
Sau khi kết thúc công tác bốc xếp hàng hóa, chuẩn bị đi biển thì bơm nước rửa boong chính cho sạch sẽ
Công tác quét dọn trên tàu khách phức tạp hơn trên tàu hàng Trước khi tiếp nhận khách lên tàu phải tiến hành tổng vệ sinh, thay tất cả các vải lót giường, chăn, gối, lau sàn , bàn ghế và các dụng cụ cá nhân, phơi chăn gối và thông gió buồng ở Lau chùi hành lang
và các buồng công cộng, buồng tắm giặt, nhà vệ sinh Hàng ngày trước lúc ăn sáng của khách, nhân viên phục vụ phải quét dọn buồng ở của khách, lau chùi hành lang, quét dọn các buồng công cộng, boong thượng, cầu thang, lan can …
Khi tàu đậu trong cảng không được đổ rác ra ngoài mạn làm bẩn cảng, phải tập trung rác vào thùng rác (thường để ở sau lái) Nếu cần yêu cầu cảng cho ô tô chở rác đến lấy rác đi
Trang 322.8.2 Một số công việc cụ thể vệ sinh trên tàu
2.8.2.1 Vệ sinh boong thượng tầng
Trên các mặt boong sắt thuộc khu vực thượng tầng kiến trúc thường lát một lớp gỗ ván sàn
Hàng ngày thủy thủ trưởng phân công thủy thủ quét dọn các boong chính thượng tầng Dùng chổi mềm quét từ trên gió xuống dưới gió cho hết rác bẩn, tập trung rác vào thùng rác, tập trung rác vào thùng rác (để chở ô tô hốt rác cảng tới lấy)
Hàng ngày phải rửa các boong thượng tầng ít nhất một lần, rửa theo thứ tự từ boong cao nhất trở xuống Trước khi rửa cần quét dọn boong cho hết rác bẩn, lấy nước ngọt làm ướt mặt gỗ một lần, rồi rắc cát mịn lên mặt gỗ, sau đó dùng bàn chải cứng hoặc xơ vỏ dừa
cọ dọc theo chiều thớ gỗ Khi cọ không làm xước mặt gỗ, đổ nước xà phòng hoặc bồ tạt vào chỗ bẩn để khoảng 5 – 7 phút, rồi rắc cát mềm, sau đó dùng bàn chải cứng hoặc xơ dừa
để cọ, không nên dùng xút ăn da để cọ, làm cho mặt gỗ bị hỏng nhanh chóng
Sau khi cọ xong dùng vòi rồng phun nước cho hết cát và rửa sạch boong Khi kết thúc, quét hết những vũng nước còn lại trên mặt boong
Sau khi mặt boong gỗ đã được cọ rửa sạch, để kéo dài tuổi thọ mặt gỗ, khi gỗ đã khô cần sơn hai hoặc ba lớp sơn dầu mỏng đã được hâm nóng lên mặt gỗ Sau khi sơn xong mặt gỗ sẽ ngả sang màu hạt dẻ sẫm và có tính chống ẩm tốt
Boong gỗ phải giữ được tính kín nước tốt, do đó phải xảm chặt những rãnh hở ở giữa các thành gỗ ván sàn Công tác xảm boong gỗ thường do xưởng sửa chữa tàu đảm nhiệm, nhưng trong thực tế nhiều khi thuyền viên cũng phải làm công tác này, tuy chỉ xảm từng bộ phận nhỏ
Nếu những chỗ xảm cũ đã bật lên, mục nát, hoặc lớp hắc ín đã biến chất không còn tác dụng thì phải xảm lại chỗ đó Tiến hành xảm khi thời tiết khô ráo, sáng sủa và rãnh không bị ẩm ướt
Trước khi dùng dao cạo gỗ, xới bật những lớp xảm cũ, dùng bàn chải chải sạch rãnh Lấy dây gai hoặc lanh tẩm dầu chặt ra từng đoạn, rồi giũ tung ra thành từng sợi Bện qua những sợi này lại thành tao có độ dày và chiều dài của rãnh Sau đó nhét tao xuống rãnh tới độ sâu nhất định
Nếu rãnh rộng và sâu, thì không lên bện một tao lớn, mà bện thành 2 hoặc 3 tao rồi nhét xuống rãnh, trải đều tao liên tục trong rãnh, không bị gián đoạn Những rãnh ở đầu mút của thanh gỗ cần xảm chặt và tỷ mỉ, vì ở đây gỗ rất nhạy cảm với khí ẩm Sau đó dùng phễu gỗ đổ nước hắc ín nóng vào rãnh Để sau này hắc ín không bị rạn nứt, cần pha thêm một ít dầu thực vật (1 phần dầu, 2 phần hắc ín) Hắc ín phải đun ở trên bờ, tuyệt đối không
Trang 33đun trong khoang bếp Nếu tàu đang chạy trên biển, có thể dùng bếp điện để đun, nhưng phải đặc biệt phòng cháy Sau khi đổ lần thứ nhất, hắc ín nguội lạnh co lại, làm cho mặt rãnh bị lõm xuống (sau này nước sẽ đọng lại ở đó), do đó phải đổ hắc ín tiếp lần thứ hai để làm bằng mặt rãnh với mặt boong
Trong quá trình làm việc phải đeo kính bảo vệ mắt và găng tay, để tránh bụi hắc ín
ăn mòn Mặt boong gỗ sau khi xảm sẽ giữ được tính kín nước tốt và không bị mục
2.8.2.2 Vệ sinh thượng tầng kiến trúc
Trước khi rửa các vách ngoài của thượng tầng kiến trúc, phải đóng tất cả các cửa sổ kín nước (cửa húp lô) của các buồng, các phòng, cửa đi ra boong, cửa nóc buồng máy, bịt miệng các ống gió…Lấy ống rồng phun nước rửa qua một lượt mặt vách, theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ trên gió xuống dưới gió Sau đó lấy một vài xô đựng nước xà phòng (hoặc bồ tạt), dùng bàn chải nhúng nước xà phòng cọ lên mặt vách cho sạch vết bẩn Để cọ những vách trên cao, có thể dùng bàn đứng Nếu không có bàn chải thì có thể dùng giẻ nhúng nước xà phòng để cọ Sau khi cọ xong dùng ống rồng phun nước lại một lần nữa lên mặt vách cho hết xà phòng Cuối cùng quét sạch hết những vũng nước còn đọng lại trên boong do khi phun nước bị vung vãi ra
Những vách trên boong của thượng tầng kiến trúc như vách hành lang, vách các buồng, các phòng nếu bẩn cũng rửa cho sạch, dùng giẻ nhúng nước trong xô để rửa qua mặt vách một lượt Nhân lúc mặt vách còn đang ướt, dùng bàn chải hoặc giẻ nhúng nước
xà phòng pha thêm một chút bột (tinh thể) natri các bô nat để cọ mặt vách Không dùng xút
ăn da để rửa, làm cho lớp sơn mặt vách bị hỏng nhanh chóng Những chỗ nhỏ hẹp hoặc gấp khúc thì dùng giẻ để rửa (những chỗ không dùng được bàn chải) Những chỗ có vết hoen ố của gỉ sắt, thì rắc vào đấy một ít bột ximăng hoặc cát mền, rồi dùng miếng vải bạt cũ cọ cho sạch Cuối cùng dùng giẻ nhúng nước sạch trong xô rửa lại một lần nữa cho hết xà phòng hoặc cát, xi măng Khi kết thúc rửa vách phải quét và lau sạch những vũng nước đọng lại ở mặt sàn chân vách
Kính trên cửa sổ, cửa ra vào và gương soi trên vách đều phải lau sạch, lau kính cả mặt trong lẫn mặt ngoài Trước hết lấy giẻ nhúng nước ấm lau mặt kính cho hết vết bẩn sau
đó dùng khăn khô lau lại cho mặt kính khô và thật sạch Nếu mặt cửa sổ làm bằng nhựa trong (thay kính) thì không lên dùng giẻ để cọ (để tránh cho mặt nhựa bị xước làm giảm tính trong suốt) mà phải dùng bông nhúng cồn để lau
Tay vịn cầu thang hoặc lan can, quả đấm ổ khóa cửa, đế đèn và những vật dụng bằng đồng khác đều phải đánh bóng Trước hết lấy giẻ thấm thuốc đánh đồng (thuốc nước)
cọ mạnh mặt đồng cho bật gỉ và các vết bẩn, lấy giẻ khô lau hết chất bẩn đã bật ra Sau đó
Trang 34dùng khăn sạch đánh cho mặt đồng sáng bóng Có khi thuốc đánh đồng được điều chế ở dạng bột nhão, bôi loại thuốc này vào giẻ hoặc nỉ, rồi cọ mạnh vào mặt đồng cho bật gỉ xanh và chất bẩn Sau đó lau sạch và đánh bóng
Những sàn bằng vải dầu và chất dẻo, thì rửa bằng nước xà phòng hoặc bồ tạt cho sạch hết vết bẩn Dùng nước sạch rửa lại cho hết xà phòng hoặc bồ tạt Lấy giẻ lau khô, cuối cùng dùng tay (hoặc máy đánh bóng sàn) đánh xi (loại xi chuyên dùng đánh bóng sàn) cho mặt sàn sáng bóng
Mặt sàn bằng gạch tráng men, chậu rửa mặt, chậu tắm bằng sứ tráng men, sàn lát xi măng thì cọ bằng nước xà phòng hay bồ tạt, rồi dùng nước sạch dội cho hết xà phòng, tráng lại bằng nước thuốc sát trùng Sau đó dùng giẻ nhúng nước sạch rửa lại, cuối cùng lau khô
Làm vệ sinh toa lét phải dùng bột tẩy trắng (vôi clorua) để cọ rửa Mùa hè phải cọ rửa nhà toa lét mỗi ngày ít nhất 2 lần
2.8.2.3 Làm vệ sinh mạn tàu và các cột trên boong
Rửa mạn và cột là những công tác tiến hành trên cao, nếu không cẩn thận rất dễ xảy tai nạn Do đó trước khi rửa, thủy thủ trưởng phải kiểm tra lại tất cả các dụng cụ, dây an toàn, dây buộc ca bản, mẫu buộc dây trên be mạn, phao cứu sinh…có còn tốt không? Chọn những thủy thủ có kinh nghiệm để làm công tác này
Khi mạn quá bẩn, hoặc trước khi sơn mạn phải tiến hành rửa mạn Có thể rửa mạn khi tàu neo hoặc khi cập cảng Rửa mạn khi tàu cập cầu có thể dùng bàn chải có cán dài và đứng trên cầu cảng để rửa mạn phía cầu, còn mạn kia thì dùng ca bản, thanh dây, phao cứu sinh, dây
an toàn, xô đựng nước xà phòng (hay bồ tạt), giẻ lau và bàn chải có cán dài Phân công một thủy thủ trực tiếp rửa, một thủy thủ làm nhiệm vụ cảnh giới và hỗ trợ Sau khi kiểm tra thấy dây thực vật (hoặc nilon) còn tốt và đảm bảo, thì buộc dây vào ca bản (dùng nốt buộc ca bản)
và đưa ca bản ra ngoài mạn, rồi buộc dây vào những mấu trên be mạn thật chắc chắn, buộc thang dây bên cạnh ca bản Trên mặt boong, gần nơi làm việc để sẵn một phao cứu sinh ở chỗ
dễ lấy nhất, hoặc thả sẵn 1 phao cứu sinh có buộc dây xuống mặt nước
Thủy thủ thứ nhất buộc thắt lưng vào dây an toàn, xuống thang dây để tới ca bản, thủy thủ thứ hai tay nắm đầu dây an toàn từ từ thả ra theo tốc độ xuống thang của thủy thủ thứ nhất Khi thủy thủ thứ nhất đã đứng vào ca bản, dây an toàn vừa căng tới (không bị chùng) thì thủy thủ thứ hai buộc đầu dây an toàn vào sừng bò hoặc mấu trên be miệng, nhưng không nên để dây an toàn quá căng làm ảnh hưởng tới công tác của thủy thủ thứ nhất Thủy thủ thứ hai dùng dây thả xô nước sạch và bàn chải có cán dài xuống gần ca bản (ở độ cao thích hợp) để thủy thủ thứ nhất rửa qua mặt sơn một lượt
Trang 35Sau đó thủy thủ thứ hai thả xô nước xà phòng (hay bồ tạt) xuống cho thủy thủ thứ nhất để cọ những chỗ quá bẩn Cọ xong, thủy thủ thứ nhất dùng nước rửa sạch lại mạn một lần nữa cho thật sạch hết xà phòng Như vậy là đã rửa xong một diện tích nhất định, cần phải di chuyển ca bản tới vị trí khác Muốn như vậy thủy thủ thứ nhất leo thang dây lên boong, cả hai thủy thủ thả ca bản xuống thấp hơn hoặc di chuyển ca bản tới địa điểm lân cận (trong trường hợp này di chuyển cả thang dây và phao cứu sinh) để rửa tiếp Với phương pháp như vậy tiến hành cho tới khi rửa xong toàn bộ mạn tàu Trong quá trình làm việc như vậy cần chú ý mấy điểm như sau:
- Khi thủy thủ thứ nhất làm việc, thủy thủ thứ hai phải luôn có mặt tại hiện trường Nếu thủy thủ thứ nhất gặp tai nạn, thì thủy thủ thứ hai phải kịp thời ứng cứu
- Khi trên ca bản còn có người không được di chuyển ca bản
- Nếu hai ca bản cùng làm việc một lúc, không được bố trí cái nọ trên cái kia
- Ở phần cong đuôi tàu, dùng ca bản để làm việc rất khó khăn, do đó thường dùng
ca nô hoặc thuyền để thay cho ca bản
Rửa cột cũng tương tự như rửa ca bản, tiến hành rửa từ trên xuống dưới Trước tiên buộc một ròng rọc thật chắc trên cột dùng để kéo thủy thủ lên cao Thủy thủ thứ nhất đeo thắt lưng và dây an toàn ngồi trên ca bản nhỏ hoặc nút ghế (nút ghế đơn hoặc kép) Thủy thủ thứ hai làm nhiệm vụ cảnh giới và hỗ trợ, kéo dây để nâng thủy thủ thứ nhất lên đến vị trí cần rửa trên cột, rồi buộc dây vào sừng bò chân cột Khi đó thủy thủ thứ nhất buộc dây bảo hiểm vào mấu (hoặc vật gì tương tự) trên cột Cách rửa cũng giống như rửa mạn Rửa xong một diện tích nhất định, thủy thủ thứ hai xông dây để thủy thủ thứ nhất hạ thấp dần
Cứ như vậy cho tới khi rửa xong cột Trong quá trình rửa cột cần chú ý mấy điểm như sau:
- Ca bản, dây, ròng rọc…trước khi sử dụng phải kiểm tra thật kỹ
- Phải dùng xô (hoặc túi bạt) để đưa dụng cụ lên cao, không chuyền, ném dụng cụ hoặc đeo dụng cụ theo người
- Thủy thủ thứ hai ở mặt boong (chân cột) phải đội mũ an toàn, đề phòng những vật trên cao có thể rơi xuống
Trang 36Nếu sơn thì sơn 3 - 4 lần; nếu quét xi măng thì quét 2 lần Lần thứ nhất trộn 1 phần
xi măng với 1 phần cát mềm, trộn chung với nước để quét Lần thứ 2 trộn 2 phần ximăng,
1 phần cát mềm rồi hòa chung với nước Mỗi lần quét 1 lớp ximăng mỏng, không nên quá dày, nếu không thì lúc tàu rung lớp xi măng sẽ bong ra nhanh chóng
Để tăng thêm chất lượng lớp xi măng, có thể trộn thêm chất keo (sản phẩm phụ của cao su nhân tạo) để tăng thêm tính đàn hồi và tính bền chắc
Nói chung, tất cả các ba lát két nước phải quét xi măng hoặc sơn mỗi năm một lần Làm vệ sinh các ba lát như sau:
- Bơm hết nước trong ba lát ra biển
- Mở lỗ chui người (tu đom) chuẩn bị đèn pin hoặc đèn điện cầm tay với nguồn điện
12 V hoặc 24 V, đèn và dây điện phải cách điện tốt
- Phân công một số thủy thủ mang xô xách nước, chổi, xẻng cán ngắn, chui xuống
ba lát, tay cầm đèn chiếu sáng
- Quét sạch ba lát, tập trung bùn thành đống rồi hốt (lấy xẻng xúc) vào xô, xách ra ngoài ba lát
- Cạo gỉ và lau khô ba lát
- Sơn lại hoặc quét xi măng lại toàn bộ mặt trong của ba lát
- Khi mặt sơn hoặc xi măng đã khô thì đóng các lỗ chui người như cũ Chú ý các đệm cao su kín nước miệng lỗ và phải siết các bu lông cho thật chặt để sau này nước không
rò rỉ ra ngoài
Cách làm vệ sinh các két nước:
- Két nước ăn, sau khi sơn hoặc quét xi măng như trên, thì đổ nước ngọt vào, rồi bơm ra ngoài Sau đó bơm đầy nước ngọt vào để lâu chừng 24 giờ, bơm bỏ nước này, rồi đựng thức ăn Nhưng nếu vẫn còn mùi sơn hoặc xi măng thì tiếp tục bơm nước vào rồi lại bơm ra để súc rửa vài lần cho tới khi không còn mùi vị khó chịu Sau khi sơn hoặc tráng men không nên để két bỏ không (không có nước) quá 30 ngày đêm, vì để quá kỳ hạn trên, sơn hoặc men dễ bị tróc ra và mất tác dụng chống gỉ
- Két nước rửa, nước lò, sau khi sơn hoặc quét xi măng đã khô, bơm nước ngọt vào
để ngâm khoảng 12 giờ
Những ba lát hoặc két đựng nước biển lâu ngày, có thể có vi sinh vật biển ở trong
đó Bởi vậy trước khi cho người chui vào phải mở lỗ chui người và thông gió một thời gian nhất định
2.9 Công tác an toàn khi làm vệ sinh trên tàu cá
Công việc vệ sinh hầm hàng và vệ sinh tàu nói chung gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm, đòi hỏi thủy thủ phải chú ý làm việc theo đúng thao tác công việc nâng cao an toàn
Trang 37và vệ sinh trong công việc
- Khi rửa bằng vòi nước cao áp sẽ không có gì là nguy hiểm nếu thận trọng để không trượt chân trên sàn tàu ướt và dùng giày cao cổ đế cao su có rãnh dọc và ngang để tăng độ bám
- Khi rửa vách ngăn trong phòng tàu và tầng trên có khả năng xảy ra thương tích ở tay do những khiếm khuyết trên mặt vách (dầm, đinh hay cạnh sắt) làm rách da và có khả năng viêm da vì sử dụng chất tẩy hay chất hòa tan mà phần lớn do dị ứng Cũng có nguy
cơ bị ngã khi làm việc ở những độ cao
- Có thể xảy ra những mối nguy cho thủy thủ là bệnh viêm da (ngứa da), bệnh công nghiệp và cần được phân biệt thành 2 loại nguyên nhân của viêm da như sau:
+ Viêm da do tác nhân vật lý;
+ Viêm da do tác nhân hóa học
Nguyên nhân chủ yếu của loại thứ nhất là do da bị bức xạ của Mặt trời và tia cực tím Vì lý do này, người làm việc ngoài trời nên mặc áo quần để được che chở và nếu có thể làm việc dưới mái che, đội mũ rộng vành, áo dài tay và quần dài
- Trong khi sơn, thường phải sơn bằng tay, dùng cọ và con lăn Bất ngờ lớn nhất khi sơn tàu là có thể là bị ngã xuống biển hay từ một độ cao nào đó, ngã xuống biển khi làm việc ở trên mạn tàu khi sơn tầng trên tàu, cột buồm, ống khói…
Để tránh hậu quả do bị ngã từ độ cao đang làm việc thủy thủ nên dùng trang bị an toàn hay dây đeo được cột chặt vào tàu để tránh ngã xuống
- Khi tàu cập bến, rời bến thủy thủ có thể gặp nguy hiểm do bị vướng hay bị thương bởi neo tàu khi sử dụng nó Điều đó có thể xảy ra khi dây xích trượt khỏi tàu
và thủy thủ cố điều khiển bằng tay Có thể dây xích trượt ra hỏng phanh Dù thế nào, chuyển động của dây xích chỉ khởi động được do trống quay cáp vì nó lần lượt móc vào những khâu mắc xích
Có những mối nguy tương tự khác khi làm việc với dây cáp và dây thừng, như là bước vào thòng lọng hay bị kẹt tay khi quấn dây cáp hoặc dây thừng
- Để tránh ngã tại nơi làm việc, ngoài việc thắp sáng khu vực, điều hành đúng quy cách quay tàu với dây cáp và dây thừng vì có thể bị kẹt chân
- Bỏng do nước phun hay hơi nước có thể là do hậu quả của ống hay bộ phận ống bị
vỡ Thời điểm một nguy cơ như vậy xảy ra nhiều nhất là khi hơi nước được mở cho một khu nhất định và thường làm không đúng quy cách Để tránh mối nguy này, van hơi nước nên mở từ từ để tránh sự nổ lọc xọc do sự tạo thành của nước có hơi và tránh ống giãn nhanh Cần lưu ý là trước khi mở van hơi nước, vòi thoát nước phải được mở để tháo hết
Trang 38nước có thể còn trong hệ thống
- Về bệnh viêm da gây ra bởi tác nhân hóa học, thủy thủ làm việc tại phòng máy thường mắc nhiều nhất Điều này do thủy thủ tiếp xúc và sử dụng nhiên liệu, dầu mỡ kết hợp với sức nóng trong phòng máy và nồi hơi làm phát sinh ra triệu chứng rát da, được biết như bệnh viêm da nghề nghiệp
Nhiên liệu và dầu mỡ trên tàu làm tan dầu tự nhiên trên da, giảm sức đề kháng của
da đối với chất kích thích
- Trong những biện pháp đề phòng có thể áp dụng để làm giảm đến mức tối thiểu thời gian phải ở đó (đây là phương pháp hiệu quả nhất), sử dụng phòng cách âm, nút bịt tai, hay đặt buồng điều khiển xa nơi thiết bị phát ra tiếng ồn
- Biện pháp đề phòng hay dùng nhất để bảo vệ thủy thủ phải làm việc tại những nơi
có nhiệt độ cao như sau:
+ Sử dụng quần áo có cách ly;
+ Khám sức khỏe thủy thủ;
+ Giảm thời gian chịu đựng;
+ Cung cấp thức ăn đầy đủ
- Trước khi vào nơi kín như khoang hàng hóa, thùng công tác dưới nước, hay những chỗ tương tự, điều quan trọng là những nơi này phải được thông gió thật kỹ, để đảm bảo không có hơi độc và có đủ dưỡng khí
Ngoài ra, một người vào những nơi này phải có người khác đi theo, trong trường hợp có thể cần phải có sự giúp đỡ
- Một người có thể gặp nạn khi vào một vách ngăn đã đóng kín trong một thời gian dài và có chứa chất hòa tan, sơn hay sản phẩm hóa học khác Để tránh trường hợp này, trước khi vào những nơi đó trước hết phải thông gió hoặc bằng mở thông với bên ngoài hay quạt thông gió
Sử dụng Robot tự động làm sạch vỏ tàu:
Robot HISMAR chạy với tốc độ 0,48m/s, làm sạch vỏ tàu cả ở trong lẫn ngoài nước theo một kế hoạch lập trình tuyến đường chạy dọc theo thân tàu
Trang 39Robot HISMAR vệ sinh vỏ tàu
Trang 40• Bàn chải sắt: Thân bàn chải làm bằng gỗ, sợi bàn chải làm bằng dây thép nhỏ Dùng bàn chải sắt để chải những lớp gỉ mỏng
Khi gõ rỉ ngoài mạn tàu hoặc trên cao thì búa gõ rỉ nên được buộc vào cổ tay để tránh rơi mất dụng cụ và văng vào những người xung quanh hoặc ở phía dưới nếu lỡ bị trượt dụng cụ khỏi tay
• Máy gõ rỉ: Phương pháp gõ rỉ bằng cơ giới được sử dụng ngày càng nhiều trên các
tàu biển So với cách gõ rỉ bằng tay, phương pháp này có hiệu suất cao, không những gõ nhanh mà còn gõ sạch Hiện nay có 2 loại máy gõ rỉ được sử dụng phổ biến là:
• Máy gõ rỉ bằng động cơ điện: cấu tạo chủ yếu của máy gồm động cơ điện, trục truyền động và đầu gõ Động cơ điện làm quay trục truyền động, trục này mềm làm cho đầu gõ có thể di chuyển tới được những vị trí cần thiết Trục truyền động làm cho đầu gõ quay, khi có những răng nhỏ dập vào lớp rỉ và đánh bật lớp rỉ ra khỏi mặt kim loại Có thể thay đầu gõ bằng bàn chải sắt (hình tròn) để chải những lớp gỉ mỏng
• Máy gõ rỉ bằng khí nén: cấu tạo chính của máy gồm có máy nén, ống hơi và búa Không khí sau khi bị nén, qua ống hơi tới búa làm cho búa có thể gõ vào lớp rỉ với tần số
6000 lần/phút Mặt búa (nơi tiếp xúc với lớp rỉ) làm nhám và bằng thép tốt
Máy gõ rỉ làm bằng khí nén có năng suất cao và gõ sạch hơn máy gõ rỉ bằng điện, do
đó người ta thường dùng loại máy này để gõ rỉ dày và những chỗ có nhiều rỉ Một máy nén có