1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang

94 610 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 754,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII cũng chỉ ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo là: “Cần gắn chặt thực tiễn vùng địa phương đến sự tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo kỹ thuậ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang rất cần một nguồn nhân lực chất lượng cao đủ đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá của đất nước Nguồn nhân lực ấy ở đâu

ra và ta phải làm thế nào để có nguồn nhân lực chất lượng cao đó

Để có một con người có sức khoẻ có tri thức có những kỹ năng nhất định về nghề nghiệp và có những ước mơ hoài bão lớn lao không phải là ngày một ngày hai

mà là cả một quá trình lâu dài gian khổ với sự kết hợp của Gia đình  Nhà trườngXã hội

Khi sinh ra mỗi người đều có một năng khiếu riêng biệt mà tự nhiên đã ban tặng Ta phải làm gì để mỗi người đó bộc lộ được năng khiếu và rèn luyện để phát huy được tối đa năng khiếu đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội

Các cụ ta luôn truyền dạy : “ Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” hay “Một nghề thì sống, Đống nghề thì chết” những câu nói đó đã thể hiện rất rõ việc chọn nghề, rèn

luyện kỹ năng nghề, nghệ thuật hoá nghề, tinh thông nghề, tất cả những cái đó có được khi ta chọn đúng nghề, đúng sở thích và là mảnh đất mầu mỡ để ta vùng vẫy, sáng tạo thật sự bất công và đau đớn biết bao khi một người rất thích vẽ, thích làm thơ mà lại không được làm mà phải đi làm thợ cơ khí, lỗi đó tại ai? Ta không thể đổ lỗi cho nhà trường được mà chỉ trách cho việc hướng nghiệp cho các em làm chưa tốt Các em không được định hướng và tư vấn về nghề nghiệp về mọi vấn đề mà các

em quan tâm Để tránh việc đó xảy ra ngay từ khi học tiểu học ta phải quan tâm đến việc hướng nghiệp cho các em Nhà trường không chỉ dạy chữ, dạy cách làm người

mà phải dạy nghề Thông qua hướng nghiệp phải hình thành cho các em những kỹ năng tối thiểu về nghề Nhà trường không chỉ là trung tâm văn hoá giáo dục mà phải

là trung tâm thông tin, trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cao Sản phẩm của giáo dục, của nhà trường phải là những con người có đức, có tài có sức khoẻ và có những kỹ năng nhất định về nghề sẵn sàng tham gia vào mọi hoạt động của xã hội và hội nhập quốc tế

Trang 3

Để làm tốt vấn đề hướng nghiệp cho học sinh trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã luôn quan tâm đến yêu cầu và mục đích của việc giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp là bộ phận của nội dung giáo dục phổ thông toàn diện

đã được xác định trong Luật giáo dục Nghị quyết TW2 khoá VIII chỉ rõ: Trong giáo

dục phổ thông “Cần gắn với thực tiễn vùng, địa phương, đến sự tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo kỹ thuật lao động dạy nghề phổ thông và kỹ năng cần thiết khác cho công việc trong nền kinh tế thị trường cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” Chiến lược phát triển giáo dục và chủ trương đổi mới chương

trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội

“Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thắng lợi phải phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Đồng thời Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII cũng chỉ ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo là: “Cần gắn chặt thực tiễn vùng địa phương đến sự tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo kỹ thuật lao động, dạy nghề phổ thông và kĩ năng cần thiết khác cho công việc trong nền kinh tế thị trường, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ”

Trong văn kiện Đại hội khoá IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện

học vấn và tay nghề Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất; Nhà trường gắn liền với đời sống xã hội” Coi trọng công tác

giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh THPT chuẩn bị đi vào lao động nghề nghiệp

Những khó khăn trong việc chọn nghề của HS đặc biệt việc chọn nghề của HSDTTS

HN của nhà trường, gia đình, xã hội chưa đáp ứng với yêu cầu

Trang 4

Chọn nghề chưa phù hợp có HS khi tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp không tìm được việc làm

Các vùng xa sôi hẻo lánh HS không được tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, khó khăn trong chọn nghề

Qua những lý do đã phân tích ở trên, qua thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục

hướng nghiệp ở các trường THPT Lục Ngạn nói chung trường THPT Lục Ngạn số 4 nói riêng huyện tỉnh Bắc giang tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu " Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường THPT huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc giang " với hy vọng đóng góp một phần nhỏ vào việc nâng cao nhận thức nghề

nghiệp cho học sinh THPT

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý HĐ hướng nghiệp cho

học sinh tôi đề xuất biện pháp quản lý HĐ hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu

số trong dự định chọn nghề của học sinh THPT Lục Ngạn số 4 huyện Lục Ngạn để đáp với yêu cầu của thị trường lao động

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường trung học phổ thông huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang

4 Giả thuyết khoa học

Trong giáo dục hướng nghiệp nhà trường trung học phổ thông của huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang đã có ít nhiều cố gắng, song vẫn còn nhiều hạn chế Nếu đề xuất được quản lý hoạt động hướng nghiệp phù hợp thì sẽ giúp cho việc lựa chọn nghề của học sinh đúng đắn hơn

5 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

5.1 Chủ thể quản lý là Hiệu trưởng trườngTHPT

5.2 Nội dung nghiên cứu GDHN

GDHN được thông qua các con đường

Trang 5

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học môn công nghệ

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học giáo dục hướng nghiệp

- Hướng nghiệp qua hoạt động tham gia ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội

Đề tài chỉ nghiên cứu Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường trung học phổ thông huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang

5.3 Địa bàn nghiên cứu các trường trung học phổ thông huyện Lục Ngạn

tỉnh Bắc Giang

5.4 Thời gian Lấy số liệu thực tế ba năm học gần đây

5.5 Khách thể khảo sát (Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Giáo viên, học sinh,

Phụ huynh)

(08 Cán bộ quản lý, 77 giáo viên và 20 phụ huynh, 50 học sinh)

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luân quản lý HĐ hướng nghiệp ở trường THPT

- Tìm hiểu thực trạng quản lý HĐ hướng nghiệp trường THPT Lục Ngạn số 4

- Đề xuất các biện pháp quản lý HĐHN, ở trường THPT Lục Ngan số 4 giúp học sinh lựa chọn nghề một cách phù hợp, với năng lực và nguyện vọng của bản thân

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung cơ bản của luận văn thể hiện 3 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý HĐHN của Hiệu trưởng trường THPT Lục Ngạn số 4

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt HĐHN cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học phổ thông huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang

Trang 6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu về hướng nghiệp

1.1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trong cuộc sống của mỗi người, nhất là ở tuổi thanh niên, ai cũng phải chọn cho mình một nghề nghiệp ổn định phù hợp với mình nhất Song nghành nghề thì nhiều, làm sao biết nghề nào phù hợp nhất với mình và nghề đó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, đây là vấn đề không đơn giản với mỗi người Để lựa chọn nghề thành công, mỗi cá nhân phải xem xét, so sánh, đánh giá khả năng của mình với yêu cầu của nghề xem có phù hợp không? Nhưng như vậy vẫn chưa đủ cho một quyết định đúng đắn, vì cần có quá trình trải nghiệm thì mới có đáp án đúng cho

sự lựa chọn Tiếc rằng, không phải lúc nào ở đâu mỗi người đều có thể tiến hành được các trải nghiệm của mình Vì thế, việc điều chỉnh, hướng dẫn cho mỗi cá nhân lựa chọn đúng nghề của mình là trách nhiệm của công tác hướng nghiệp

Trên thế giớ đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về hướng

nghiệp Năm 1949 cuốn sách “ Hướng nghiệp chọn nghề” với nội dung đề cập tới

vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp Khi ấy người

ta nhận thấy rằng, hệ thống nghề nghiệp đã phức tạp, sự chuyên môn hóa vượt lên hản so với giai đoạn phát triển công nghiệp và thủ công nghiệp Trên cơ sở đó, quấn sách khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên, học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ

Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm ở Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục Cộng hòa Dân chủ Đức (APW – DDR ) như Himrpran Kiewer, Wlrich Viêt, D Marchwidr đã đề cập đến các vấn đề cơ sở khoa học của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho học sinh Các tác giả đã đưa ra các phương

thức: “ Phối hợp chặt giữa Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch tực tập cho học sinh phổ thông” Vấn đề dạy học lao

động nghề nghiệp đã được nhiều nhà giáo dục nổi tiếng thuộc tổ chức nghiên cứu về lao động, kỹ thuật và kinh tế trong hoạt động dạy học của cộng hòa Liên bang Đức (

Trang 7

GATWU - BRU) nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp Hoạt động dạy học lao động – Kỹ thuật- Kinh tế không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với các môn học khác, mà còn là bộ phận cấu thành của giáo dục trung học phổ thông.Bởi vì, nó tạo điều kiện cho học sinh phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động xã hội

Magumi Nishno ở Viện Nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản của những nghành nghề cần thiết cho

học sinh phổ thông Theo tác giả, học sinh trung học phổ thông phải được “Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những nghành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và có khả năng chọn nghành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” Giáo dục Nhật Bản từ lâu đã chú ý vấn đề hoàn thiện nội

dung, hình thức dạy học kỹ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông Chính vì vậy ở Nhật Bản trong những năm qua, nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được cải cánh nhằm mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh

tế của đất nước

Jarques Đelors, Chủ tịch ủy ban quốc tế độc lập về Giáo dục cho thế kỷ XXI

của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại đó là bốn trụ cột mà Ủy ban đã trình bầy và minh họa như những nề tảng của giáo dục” Theo tác giả vấn đề hướng

nghiệp, học nghề của học sinh phổ thông là trụ cột thứ hai Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học van hóa

Trong bài viết: “Cơ sở lý luận của hướng nghiệp và cấu trúc hướng nghiệp trong trường phổ thông” đọc tại hội thảo: “Giáo dục phổ thông hướng nghiệp nền tảng để phát triển nguần lực đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước “ PGS-

TS Đặng Danh Ánh đã trích một đoạn trong tác phẩm của Các Mác: “… Khả năng lựa chọn nghề nghiệp là mặt ưu việt của con người trước những tồn tại khác của thế giới, nhưng đồng thời việc lựa chọn ấy lại là hành động có thể tiêu diệt cuộc sống

Trang 8

của họ, làm tiêu tan mọi dự định của họ và làm cho họ bất hạnh Do vậy việc lựa chọn này cần phải đắn đo, suy nghĩ, đó là trách nhiệm đầu tiên của thanh niên khi bước vào đời…”

Có nhiều định nghĩa về hướng nghiệp, song có thể lấy khái niệm về hướng nghiệp đưa ra tại hội nghị những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tháng 10 năm 1980 tại thủ đô La Habana của Cu Ba:

“Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, Sinh lý học,

Y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường

và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng lao đông dự trữ có sẵn của đất nước”

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về hoạt động hướng nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc xác định rõ mục tiêu nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất kỹ thuận nhằm nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp cho học sinh và thanh thiếu niên Tuy nhiên, các công trình khoa học nghiên cứu về hướng nghiệp trước đây trên thế giới chưa đi sâu tìm kiếm các giải pháp, xây dựng mô hình có hiệu quả, đặc biệt

là mô hình quản lý công tác hướng nghiệp trong các trường trung học phổ thông

1.1.2 Sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước

Vào những năm 1980 của thế kỷ XX, trong Viện Khoa học giáo dục và Viện khoa học dậy nghề trước kia (nay là Viện khoa học giáo dục Việt Nam) đã có hai nhóm ( Nhóm thứ nhất do giáo sư Phạm Tất Dong đứng đầu, nhóm thứ hai do phó giáo sư Đặng Danh Ánh đứng đầu) chuyên nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp Những sản phẩm nghiên cứu của họ là cơ sở để ngày 19/3/1981, thủ tướng chính phủ

đã ký quyết định số 126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và

sử dụng hợp lí học sinh tốt nghiệp ra trường” Đây là cơ sở pháp lí đầu tiên của Nhà

nước ta về công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, từ khi có nghị quyết 126/CP, giáo dục hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các trường cấp 2, cấp 3: nhiều trường đã có phòng hướng nghiệp, nhiều lớp đã có góc hướng nghiệp, nhiều

cá nhân đã có công trình nghiên cứu về hướng nghiệp Đến năm 1990, trung tâm lao động hướng nghiệp đã được thành lập trực thuộc Bộ giáo dục và Đào tạo nhằm giúp

Trang 9

Bộ xây dựng, quản lí và chỉ đạo việc thực hiện chương trình giáo dục và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

Sau thời gian dó nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác hướng nghiệp bị lu

mờ dần nhường chỗ cho việc dạy thêm, học thêm, tạo thành cuộc chạy đua vào các trường Cao đảng, Đại học, kéo theo nhiều tiêu cực và không ít hành động vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật

Trước tình hình đó, từ Đại hội VIII [19]-1996, Đại hội IX [20]-2001 đến Đại hội XI [21]-2006 Trung ương Đảng luôn nhấn mạnh đến tăng cường công tác hướng nghiệp Để tăng cường chủ trương của Đảng về công tác hướng nghiệp, ngay từ năm

2002, Bộ giáo dục và đào tạo đã xây dựng lại chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12 Bộ cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn cho giáo viên các trường thí điểm trong toàn quốc để làm công tác hướng nghiệp đã được triển khai đại trà ở lớp 9 và lớp 10 trong cả nước

Năm 2001, Trung tâm lao động – Hướng nghiệp trực thuộc Bộ giáo dục và đào

tạo đã phát hành cuốn: “Nội dung sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”; Năm 2003 phát hành hai cuốn: “Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” và “Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” Năm 2004 phát hành tiếp cuốn “Hướng dẫn của phòng tư vấn hướng nghiệp”, “Hướng dẫn sử dụng một số công cụ trong tư vấn hướng nghiệp”, “Họa đồ nghề” và cuốn “Giáo dục hướng nghiệp và giáo dục nghề phổ thông”

1.2 Một số vấn đề lý luận về GDHN

1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp

Lý luận về giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu tương đối cơ bản và hệ thống, Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp, Hướng nghiệp trong trường Phổ thông, Quyết định ban hành quy chế tổ chức hoạt động trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, Giáo trình công tác hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông , Bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực và công tác hướng nghiệp

Trong trường phổ thông, hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy của giáo viên, vừa là hoạt động học của học sinh Nói như vậy có nghĩa là trong công tác hướng

Trang 10

nghiệp, giáo viên là người tỏ chức, hướng dẫn còn học sinh là người chủ động tham gia vào hoạt động để tiếp cận với nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự quyết định của học sinh trong lựa chọn nghề nghiệp tương lai

“ Hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thày và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt dạy của thày, hướng nghiệp, hướng nghiệp được coi là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu năng lực của các nghành sản xuất trong xã hội” [3, tr 43]

Như vậy, hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội

Hướng nghiệp là quá trình tác động của của gia đình, nhà trường và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sãn sàng đi vào lao động ở các nghành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân

Hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác để giúp học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm lý

cá nhân để học có thể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân Trên bình diện vĩ

mô xã hội, hướng nghiệp nhằm phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực, vốn quý của đất nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước

Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm chung về hoạt động giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đinh, xã hội nhằm chuẩn bị cho thế thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng …để học sãn sàng

đi vào nghành nghề, và lao động sản xuất cuộc sống Hoạt động giáo dục hướng góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người đồng thời cũng góp phần điều

Trang 11

chỉnh nguyện vọng cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội Có thể nói ngắn gọn hoạt động hướng nghiệp là hướng dẫn cho học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề lao động mà sau này họ sẽ chọn

Nhiệm vụ , mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở trung học phổ thông

Nhiệm vụ hướng nghiệp ở các trường Phổ thông đã được ghi rõ trong Quyết định 126/CP ngày 19 tháng 3 năm 1982 của Hội đồng Chính Phủ về “ Công tác hướng nghiệp trong các trường Phổ thông và việc sử dụng học sinh trong các cấp Phổ thông

cơ sở và Phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” bao gồm:

1 Giáo dục thái độ đúng đắn với lao động và nghề nghiệp

2 Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề :

3 Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp

4 Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi cần lao động trẻ có văn hóa

Về mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp trong trường Phổ thông, Bộ giáo dục

và Đào tạo đã xây dựng và ban hành nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học Phổ thông với mục tiêu:

1 Giúp học sinh có những tri thức và phát triển kinh tế của đất nước và địa phương, về thế giới nghề nghiệp thị trường lao động và hệ thống đào tạo ở Việt nam

2 Phát triển ở các em khả năng đánh giá bản thân khi chọn nghề, phân tích và lựa chọn đúng hướng đi sau khi tốt nghiệp trung học Phổ thông

3 Góp phần thuận lợi vào việc phân luồng học tập và lao động sản xuất sau khi tốt nghiệp trung học Phổ thông

Những nhiệm vụ mục tiêu nêu trên được triển khai trong thực tiễn hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường Phổ thông bằng những nội dung cụ thể Quan

điểm về nội dung giáo dục hướng nghiệp hiện nay bao gồm: “ làm cho học sinh có được hiểu biết về nội dung của một nghề và những yêu cầu của nghề đòi hỏi con người phải có nghiên cứu những đặc điểm tâm lý – sinh lý của học sinh; giúp học sinh chọn nghề giúp học sinh nắm vững nghề và hình thành khả năng thích ứng

Trang 12

nghề” [13] Về lâu dài, trên bình diện xã hội muốn làm tốt nhiệm vụ hướng nghiệp

cần thực hiện cả ba nội dung có quan hệ chặt chẽ là (1) định hướng nghề (2) tư vấn nghề; (3) tuyển chọn nghề Trong nhiều tài liệu, giáo trình giáo dục học [17] đã phản ánh sơ đồ về mối quan hệ giữa các nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp

Sơ đồ1.1 : Tam giác hướng nghiệp

Các nội dung: Định hướng nghề; tư vấn nghề và tuyển chọn nghề quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp

Trong trường Phỏ thông, theo mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp

mà nội dung của giáo dục hướng nghiệp được tập trung chủ yếu ở hai nội dung chính

là định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp Bằng việc thực hiện hai nội dung này, giáo dục hướng nghiệp ở trường Phổ thông bước đầu góp một phần nào đó cho việc tham gia tuyển chọn nghề nghiệp sau này của học sinh

Đặc điểm về phẩm chất, nhân cách, tâm sinh lý cửa từng học

Tuyên truyền định hướng nghề nghiệp

chon nghề

Trang 13

Công việc chủ yếu của định hướng nghề nghiệp là thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề đang có nhu cầu nhân lực một cách cấp thiết về những yêu cầu tâm lý và sinh lý của các nghề đang dặt ra, về tình hình phân công lao động xã hội, về hệ thống trường dạy nghề Đối tượng tác động chủ yếu

là học sinh, nhưng đôi khi người ta cũng phải cung cấp những thông tin nói trên cho cha mẹ học sinh nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho trẻ em một cách thống nhất Các phòng hướng nghiệp của nhiều trường Phổ thông hiện nay đang làm nhiệm

vụ thông tin nghề nghiệp là chủ yếu

Sau khi cung cấp cho học sinh thông tin nghề nghiệp, người ta thường tiến hành nhiều biệp pháp làm cho các em có những điều kiện làm quen với một số nghề, tham gia lao động một số buổi với các nghề đó Đây là cách thử sức cần thiết đẻ qua

đó, mỗi học sinh tự kiểm nghiệm hứng thú, năng lực của bản thân mình, từ đó có thể hình thành sơ bộ những kết luận về sự phù hợp nghề của mình

Quá trình thông tin nghề nghiệp cần phải tuân thủ, đáp ứng các yêu cầu sau đây:

+ Giúp cho trẻ em định hướng vào những nghề cần phát triển, đặc biệt là những nghề ở địa phương

+ Gây hứng thú nghề nghiệp ở học sinh, từng bước xóa bỏ những kiến thức, những quan điểm lệch lạc về một số nghề trong xã hội

Tạo điều kiện để học sinh phát triển năng lực kỹ thuật tưng ứng với hứng thú nghề nghiệp đang hình thành

+ Làm cho mỗi học sinh có thái độ đúng đối với lao động nghề nghiệp biết tôn trọng người lao động và có ý thức bảo vệ của công, bảo vệ thành quả lao động của người khác

- Tư vấn nghề nghiệp

Đây là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyên của nhà chuyên môn đối với việc lựa nghề Thông thương, người ta thành lập những ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấn nghề nghiệp ngoài nhà trường Tại đó,người ta nghiên cứu theo dõi sự phát triển và những đặc điểm tâm –sinh lý của học sinh đối chiếu những đặc điểm đó với yêu cầu của các nghề rồi giới

Trang 14

thiệu một số nghề nên chọn Người làm công tác tư vấn lập sổ hướng nghiệp cho từng học sinh, trong đó có đủ các mục cần thiết liên quan đến việc chọn nghề Sau mỗi lần tiếp xúc với học sinh người làm tư vấn ghi lại những gì cần thiết để cuối cùng, trên cơ sở đó mà cho học sinh những lời khuyên chọn nghề bổ ích, thiết thực

Trong nhiều trường hợp, người làm công tác tư vấn đặt mối quan hệ mật thiết với gia đình để cuối cùng phối hợp tới học sinh, làm cho những lời khuyên chọn nghề

có “ trọng lượng” hơn Hiện nay tư vấn hướng nghiệp cần định hướng cho học sinh tìm hiểu, nhận thức và rèn luyện phẩm chất, năng lực chung, thiết yếu nhất của nghề nghiệp và cuộc sống xã hội

- Tuyển chọn nghề nghiệp

Tuyển chọn nghề nghiệp có liên quan mật thiết với công việc định hướng cũng như tư vấn nghề nghiệp Thực chất của tuyển chọn nghề nghiệp là căn cứ vào nhu cầu nhân lực của một nghề cụ thể mà đi từ những người có đặc điểm nhân cách phù hợp Trong trường Phổ thông, mọi việc thuộc lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp lại phải tạo ra những cứ liệu cần để tạo những điều kiện thuận lợi cho việc tuyển chọn nghề nghiệp sau này

Các con đường giáo dục hướng nghiệp ở trung học Phổ thông

Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông nhằm: “bồi dưỡng hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân” như mục đích nêu trên Vì vậy, trong nhà trường Phổ thông, công tác hướng nghiệp được thực hiện qua bốn con đường chủ yếu sau:

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học môn công nghệ

- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học giáo dục hướng nghiệp

- Hướng nghiệp qua hoạt động tham gia ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội

Mỗi con đường nêu trên có những tác dụng nhất định đối với việc thực hiện mục đích hướng nghiệp trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo các chủ đề hướng nghiệp là con đường cơ bản

Trang 15

Quá trình lĩnh hội kiến thức nằm trong các bộ môn khoa học cơ sở là một trong những con đường hình thành, phát triển khuynh hướng sở trường của học sinh, hình thành ở các em những cơ sở khoa học của nghề nghiệp tương lai Vì thế nội dung tài liệu học tập các môn học có thể và cần được sử dụng vào công tác hướng nghiệp Tài liệu học tập góp phần cung cấp cho học sinh những cơ sở khoa học của các nghề nghiệp xã hội khác nhau, giới thiệu các ngành nghề khác nhau trong nề kinh tế quốc dân, định hướng các giá trị nghề nghiệp các tri thức và kỹ năng nghề nghiệp Người giáo viên trong khi truyền thụ cho học sinh hệ thống các kiến thức Phổ thông, còn có nhiệm vụ chỉ rõ ý nghĩa của kiến thức đối với việc nắm vững nghề nghiệp phổ biến và quan trọng của nề kinh tế quốc dân

Trong các giờ Sinh học, Vật lý, Toán học học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng về môn học mà còn có thể tiếp xúc với những lĩnh vực hoạt động có liên quan, ứng dụng những tri thức khoa học này vào các lĩnh vực trong nề kinh tế của đất nước Các môn học về giáo dục công dân còn tạo điều kiện cho học sinh các

em quen biết gặp gỡ với con người lao động Tất nhiên mỗi môn học giải quyết một góc độ của vấn đề thông qua đặc trưng vốn có của nội, chương trình về cấu trúc môn học và về mối quan hệ có tính hệ thống, logic giữa các môn Người giáo viên bộ môn phải biết tận dụng thế mạnh của bộ môn mình mà lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp cho phù hợp

Hướng nghiệp trong quá trình dạy các môn học ở trường Phổ thông là một việc rất khó khăn vì thiếu chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành, biện pháp thực hiên Đặc biệt ở nước ta, khi công tác hướng nghiệp còn đang là việc mới mẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, lại chưa có đội ngũ giáo viên được đào tạo giáo dục hướng nghiệp Tuy nhiên, với quan điểm cho rằng dạy học là phương tiện cơ bản của công tác giáo dục và giáo dưỡng trong nhà trường Phổ thông các cấp, chúng ta có thể nhận thấy một số quan điểm cần lưu ý khi triển khai cách hướng nghiệp thông qua các môn học như sau:

+ Bản thân những kiến thức trong môn học mà học sinh lĩnh hội sẽ tạo thành nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp, bởi vì đó là hệ thống tri thức cơ bản,

Trang 16

chung nhất được tất cả các nghành nghề lấy đó là điểm tựa để bồi đắp dần tri thức chuyên ngành, tay nghề cho học sinh ở giai đoạn tiếp theo

+ Nội dung kiến thức Phổ thông bên cạnh những kiến thức có liên quan đến bộ môn còn bao gồm trong đó một lượng thông tin khá phong phú có liên quan đến nghề nghiệp Trong quá trình dạy học các môn học, nếu giáo viên biết khai thác những tri thức về nghề nghiệp có liên quan đến môn học của mình sẽ có tác dụng hướng nghiệp

to lớn Đó là những tri thức có liên quan đến nghề nghiệp cơ bản trong xã hội, tri thức đối với lao động, về cách thức tiến hành một hoạt động lao động cụ thể Chẳng hạn, những tri thức về công cụ và phương tiện lao động cụ thể được trình bầy trong môn Vật lý (giới thiệu các loại máy móc có liên quan đến môn học); tri thức về công cụ phương tiện tư duy trong quá trình lao động được giới thiệu trong môn Toán; về biến đổi nguyên vật liệu môn Hóa học; lao động biến đổi vật chất hữu cơ môn Sinh học; quan hệ giữa con người với tự nhiên trong lao động Văn học điều kiện tự nhiên xã hội, quá trình lao động môn Địa lý Lịch sử Vì thế khi thực hiện các môn học trong nhà trường Phổ thông, người giáo viên cần dựa vào những đặc trưng của bộ môn để hình thành cho học sinh những tri thức về tiềm năng của đất nước, thành tựu của nhân dân lao động, sự phát triển các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp then chốt Giáo dục ý thức chọn ngành chon nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành nghề đang cần phát triển để xây dựng và bảo vệ tổ quốc

+ Đặc biệt qua các phân môn kỹ thuật Phổ thông giới thiệu cho học sinh các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp đến môn học và tổ chức cho học sinh thực hành kỹ thuật sản xuất trong những ngành nghề đó Các phân môn kỹ thuật phục vụ giới thiệu cho học sinh ngành dệt, ngành may, chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ …

Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng để thực hiện giáo dục hướng nghiệp Qua lao động sản xuất có tác dụng giáo dục quan điểm thái độ, ý thức lao động cho học sinh, trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối với một dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp với yêu cầu

Trang 17

phát triển kinh tế và phù hợp với năng lực của bản thân Giáo dục lao động trong nhà trường góp phần hình thành tri thức, kỹ năng và thái độ đúng đắn với nghề nghiệp cho học sinh

Hoạt động ngoại khoá cũng là một trong những con đường giáo dục hướng nghiệp, ảnh hưởng ngoại khóa đối với học sinh một cách tự nhiên, hình thành hứng thú phát huy được tính tích cực độc lập trong tham gia của học sinh vào các hoạt động hướng nghiệp

Tuy nhiên hướng nghiệp qua môn học và lao động sản xuất, hoạt động ngoại khóa không thể tiến hành một hệ thống mà chỉ tiến hành trong các chương, bài có liên quan trực tiếp đến ngành, nghề Hướng nghiệp qua hoạt động hướng nghiệp sẽ khác phục được những hạn chế đó, vì qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho phép giới hạn ngành nghề một cách hệ thống và đầy đủ hơn nhằm làm cho học sinh có những hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, vị trí, nhiệm vụ của ngành nghề chủ yếu và cơ bản của đất nước, của địa phương cùng với những yêu cầu cơ bản của nghề đối với lao động về phẩm chất, tính cách, năng lực, thể chất

Giáo dục hướng nghiệp trong trường Phổ thông được thực hiện bởi nhiều hình thức đa dang, linh hoạt Các hình thức đó là:

- Giới thiệu cho học sinh những ngành nghề đang cần nhân lực, nhất là những nghề nằm trong kế hoạch phát triển của đất nước cũng như ở địa phương; đồng thời, giới thiệu cho học sinh những yêu cầu tâm lý và sinh lý, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của những nghề đó

- Tổ chức cho học sinh tham quan sản xuất ở nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường… nhằm giúp cho học sinh có những hiểu thêm về nghề đang cần tìm hiểu

- Cho học sinh tiếp xúc với những đại biểu ưu tú của các ngành sản xuất, qua

đó, cho học sinh tìm hiểu thêm về người lao động trong ngành nghề

- Tổ chức những buổi tọa đàm về nghề nghiệp tương lai, những diễn đàn về việc chọn nghề, những buổi dạ hội có tính chất chuyên đề tìm hiểu nghề

Như vậy hoạt động giáo dục hướng nghiệp là con đường quan trọng, có ưu thế hơn so với các con đường khác trong giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông

Trang 18

Thông qua quá trình tổ chức hướng dẫn giáo viên, học sinh tích cực tham gia các hoạt động học tập nghiên cứu nhằm lĩnh hội một cách hệ thống các thông tin về phát triển các lĩnh vực ngành nghề trong xã hội, những ngành nghề chủ yếu của nề kinh tế quốc dân cũng như những ngành nghề đang có nhu cầu phát triển của địa phương hiện nay; nắm được hướng phát triển của kinh tế-xã hội và yêu cầu cơ bản của nghề đối với lao động trên cơ sở nhận thức, học sinh hình thành hứng thú đối với lĩnh vực nghề nghiệp xác định, có cơ sở khoa học để lựa chọn nghề tương lai đảm bảo phù hợp giữa nhu cầu, sở thích, năng lực cá nhân với nhu cầu của xã hội, địa phương Hoạt động giáo dục giúp học sinh, đặc biệt các em lớp cuối cấp trung học Phổ thông giải được bài toán hết sức khó khăn trong cuộc đời con người “Mình sẽ làm nghề gì trong tương lai?” làm sao có sự phù hợp giữa các yếu tố; nghề các em thích, khả năng em

có thể làm và nghề xã hội đang cần phát triển

Chính vì vậy các trường trung học Phổ thông cần tổ chức tốt hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm phát huy mạnh mẽ tác dụng của nó trong việc bồi dưỡng, hướng nghiệp học sinh chọn nghề đảm bảo cho sự phù hợp Đồng thời cần thực hiện phối hợp hàng loạt các biện pháp như trắc nghiệm, cân, đo, cho lời khuyên, thử sức, tham quan nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, trao đổi, tổ chức gặp mặt các nhà sản xuất giỏi, các công nhân lành nghề …

1.2.2 Hoạt động hướng nghiệp

Những yêu cầu cơ bản với đối với công tác hướng nghiệp

-Giúp học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nề kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào sản xuất

- Trên cơ sở sự phát triển nghề nghiệp và nề kinh tế quốc dân, của địa phương, những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh, biết đối chiếu với sự phát triển, năng lực,

sở trường, tình trạng tâm sinh lý sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề

- Tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ xã hội và

ý thức cầu tiến bộ của học sinh để các em tích cực tham gia các hình thức lao động kỹ

Trang 19

thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức thái độ lao động, có dịp thử sức mình trong thực tiễn , từ đó kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân

- Phải làm cho học sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khả năng quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình

Như vậy, yêu cầu của công tác hướng nghiệp chính là kích thích phát triển hứng thú lao động nghề nghiệp của học sinh, uốn nắn sự phát triển hứng thú đó cho phù hợp với sự phát triển sản xuất của địa phương và đất nước Công tác hướng nghiệp còn cần thiết phải hình thành những năng lực lao động - kỹ thuật-nghề nghiệp cho học sinh, tạo cho các em điều kiện cơ bản để quyết định chọn nghề, hơn thế nữa hướng nghiệp được coi như một hoạt động điều chỉnh động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ, sao cho mỗi thanh niên học sinh có tâm lý sẵn sàng lao động, thỏa mãn với sự lựa chọn nghề nghiệp, hăng hái bước vào cuộc sống lao động hiện nay Theo [23, tr 103]

- Nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp

+ Nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho học sinh phù hợp với trình

độ phát triển tâm lý và lứa tuổi các cấp học

+ Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội nhằm bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề cho học sinh

+ Thực hiện xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp nhờ việc phối hơp, liên kết với các tổ chức, các cơ sở sản xuất nằm trong các thành phần kinh tế xã hội [23, tr 119-

122]

- Các nguyên tắc hướng nghiệp trong trường Phổ thông

+ Đảm bảo đặc trưng giáo dục trong hoạt động hướng nghiệp

+ Đảm bảo phương hướng kỹ thuật tổng hợp hoạt động hướng nghiệp

+ Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong hoạt động hướng nghiệp

+ Đảm bảo sự phân hóa và cá biệt hóa trong hoạt động hướng nghiệp

+ Đảm bảo tính thực tiễn trong hoạt động hướng nghiệp nhằm phát triển hứng thú, năng lực, sở trường nghề nghiệp của học sinh

+ Đảm bảo hoạt động hướng nghiệp theo khu vực lãnh thổ [23, tr 122-128]

1.3 Vị trí nhiệm vụ của trường trung học Phổ thông và đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số trung học Phổ thông

Trang 20

1.3.1 Vị trí nhiệm vụ của trường trung học Phổ thông

- Nhiệm vụ của Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chung về kế hoạch và điều

hành toàn bộ quá trình thực hiện hoạt động hướng nghiệp trên các mặt cơ bản:

+ Phương hướng triển khai hoạt động hướng nghiệp của nhà trường trên cơ sở đường lối, chủ trương hướng nghiệp của Nhà trường và tình hình thực tế của địa phương

+ Sắp xếp và ổn định kế hoạch hướng nghiệp cho cân đối, hợp lý với kế hoạch toàn diện của năm học do Bộ quy định

+ Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của ban hướng nghiệp trên một số mặt quan trọng như nội dung, thời gian, phương tiện nhân lực và hiệu quả kinh tế, giáo dục của của hoạt động hướn nghiệp

+ Xét duyệt và phê chuẩn kế hoạch hướng nghiệp, các hợp đồng kinh tế và các văn bản kết nghĩa, hợp tác trong quá trình thực hiện hoạt động hướng nghiệp với các

+ Tuyên truyền, vận động các tổ chức xã hội có liên quan cùng tham gia vào công tác hướng nghiệp

+ Kiểm tra đôn đốc đánh giá từng phần việc, từng giai đoạn của các bộ phận hợp thành trên cơ sở kế hoạch hợp đồng được giao, tương ứng với đặc điểm hoạt động của bộ phận mình

Để thực hiện 3 nhiệm vụ trên, Ban hướng nghiệp càn phải tiến hành những công việc cụ thể sau:

Trang 21

Dựa vào kế hoạch của chính quyền địa phương về phân bổ lao động và phát triển kinh tế xã hội cung cấp cho giáo viên những hiểu biết về nhu cầu sử dung nguồn nhân lực ở địa phương và khả năng tiếp nhận học sinh ra trường trong mỗi năm học

Đưa nội dung hoạt động hướng nghiệp vào kế hoạch hoạt động chung của nhà trường ở từng giai đoạn (tháng, học kỳ, năm học ) và từng mảng công việc (học tập văn hóa, lao động sản xuất, hoạt động ngoại khóa…)

Tổ chức trao đổi kế hoạch thực hiện nội dung hướng nghiệp giữa các bộ phận chức năng trong trường để hoạt động hướng nghiệp trong trường được triển khai một cách đồng bộ

Trao đổi với giáo viên và các tổ chức đoàn thể xã hội trong và ngoài nhà trường để thiết lập kế hoạch sử dụng các hình thức hướng nghiệp nhằm phát triển hứng thú, sở trường, năng lực của học sinh

Thiết lập kế hoạch và sự cộng tác giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất và các cơ quan đào tạo nghề xung quang nơi trường đóng nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp và hiệu quả của hoạt động hướng nghiệp (Thực hiện các bài giảng theo chương trình của Bộ, gặp gỡ, trao đổi giữa học sinh và cơ sở sản xuất, giúp nhà trường về cơ

sở kỹ thuật, cán bộ công nhân có tay nghề… )

Phác thảo kế hoạch tham mưu (mục đích, thời gian, địa điểm, lực lượng tham gia…)

Trên cơ sở hiện có của của trường phổ thông, dự tính việc thành lập các nhóm,

tổ khoa học kỹ thuật, các đội nghề phù hợp với nguyên vọng, năng lực và yêu cầu thực tế sản xuất

Kết hợp với đoàn thanh niên và Hội cha mẹ học sinh tổ chức các cuộc thi, hội thảo, câu lạc bộ… nhằm mục đích giúp đỡ trao đổi với học sinh cuối cấp về hướng đi trong tương lai của họ

Xác lập kế hoạch hướng nghiệp trong các giờ thực hành sản xuất ( thông qua các loại hình hoạt động), trong hoạt động ngoại khóa và các công tác xã hội của học sinh, tổ chức các cuộc thi tuyển chọn tay nghề, triển lãm thành quả lao động…

Thành lập ban tư vấn nghề trong trường để góp ý với học sinh và cha mẹ các

em về sự lựa chọn nghề

Trang 22

Thiết lập kế hoạch về xây dựng nội dung, hình thức tổ chức và lực lượng than gia học hướng nghiệp, phòng hướng nghiệp của nhà trường

Xác định kế hoạch điều tra cơ bản về hứng thú, năng lực, sở trường của học

sinh đầu cấp và cuối cấp [23, tr 131-135]

- Nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp

+ Lập phiếu điều tra theo mẫu định sẵn của nhà trường để tìm hiểu hứng thú,

sở thích, năng lực và tình trạng tiêu biểu về tâm sinh lý, kiến thức, kỹ năng, phẩm chất của mỗi học sinh trong lớp

+ Giúp học sinh hiểu biết ý nghĩa của việc lựa chọn nghề cũng như một số hiểu biết về hứng thú hiểu biết nằm trong một vài lĩnh vực lao động nghề nghiệp phổ biến hơn cả của địa phương và đất nước

+ Phân bố và tạo ra những điều kiện cần thiết để học sinh lớp mình có thể tham gia các hoạt động ngoại khóa trên cơ sở hiểu biết về hứng thú, sở thích năng lực, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh

+ Là người chịu trách nhiệm đứng ra vận động, lôi cuốn các tổ chức trong nhà trường và ngoài nhà trường có liên quan tới học sinh của mình tham gia vào hoạt động hướng nghiệp

+ Kết hợp cùng với giáo viên bộ môn giảng dạy lớp do mình phụ trách, tiến hành phê chuẩn một cách chính xác, đày đủ kết quả tu dưỡng phấn đấu, năng lực cụ thể của từng học sinh nhằm giúp cơ quan tuyển sinh làm tốt công tác tuyển chon sau này [23, tr 137-140]

- Nhiệm vụ của giáo viên bộ môn trong hoạt động hứng nghiệp

+ Cung cấp cho học sinh một số hiểu biết về nghề nghiệp (ý nghĩa của các kiến thức đã học đối với việc nắm vững một nghề nào đó, giáo dục lòng yêu lao động

và con người lao động…)

+ Phát hiện kịp thời có biện pháp thích hợp bồi dưỡng hứng thú, năng lực của học sinh đối với bộ môn

+ Hướng dẫn tổ chức ngoại khóa về nội dung và phương thức tiến hành để đáp ứng sở thích, năng lực hiểu biết, sáng tạo kỹ thuật của học sinh

Trang 23

+ Quan hệ mật thiết với các cơ sở sản xuất và tổ chức xã hội để triển khai chu đáo, có hiệu quả các buổi tham quan, trao đổi, mạn đàm, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ môn học … có trong lịch trình giảng dạy

+ Trong điều kiện cho phếp về cơ sở vật chất, thiết bị của nhà trường, cố gắng xây dựng các phòng học bộ môn, tạo điều kiện cho giảng dạy chuyên môn và giới thiệu nghề

+ Trên góc độ môn mình phụ trách, cung cấp những tư liệu có liên quan tới các nghề trong xã hội để góp phần xây dựng phòng hướng nghiệp cho nhà trường [23, tr 140-141]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của tổ chức đoàn thanh niên trong trường học

Trong trường học, tổ chức đoàn thanh niên là bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống hướng nghiệp góp phần to lớn trong trong việc biến những chủ trương, kế hoạch của ban hướng nghiệp của nhà trường thành những việc làm cụ thể, có nội dung, có phong trào, sôi nổi và lợi ích thiết thực Vì thế Đoàn thanh niên có một số nhiệm vụ trong hoạt động hướng nghiệp như sau:

+ Thiết lập mối quan hệ mật thiết thường xuyên giữa cơ sở đoàn với tổ chức

cơ sở đoàn của các cơ quan bạn nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ sở này về mặt lực lượng trẻ, gần gũi với lứa tuổi của học sinh trong trường, để có thể đồng cảm về mặt nhận thức nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm và rèn luyện phấn đấu

+ Giữ mối quan hệ thường xuyên với những đoàn viên học sinh của trường đã tốt nghiệp, hiện nay đang công tác trong những ngành nghề khác nhau để lôi cuốn họ vào việc tuyên truyền nghề nghiệp

+ Động viên đoàn viên thanh niên giáo viên và học sinh tích cực tham gia xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động hướng nghiệp

+ Xây dựng các phong trào học tập có nếp sống của con người lao động mới Hình thành những nét tốt đẹp về tình cảm, hành vi của con người lao động có văn hóa, có kỹ thuật, có lòng say mê và sáng tạo [23, tr 141-142]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của Hội cha mẹ học sinh

Hội cha mẹ học sinh là bộ phận hỗ trợ đắc lực cho hoạt động hướng nghiệp Với lực lượng đông đảo, giầu kinh nghiệm sống, hoạt động trong các lĩnh vực đa

Trang 24

dạng của xã hội, lại có điều kiện trực tiếp hàng ngày, tiếp xúc với con em mình Đây

là thành phần có sức mạnh lớn trong hệ thống cấu trúc của công tác hướng nghiệp Hội cha mẹ học sinh có những nhiệm vụ chính sau:

+ Phổ biến nhiệm vụ chủ trương, vị trí và yêu cầu của công tác hướng nghiệp cho các bậc cha mẹ thông hiểu, giúp họ thấy rõ trọng trách của họ với tương lai của thế hệ trẻ nói chung và của con em họ nói riêng

+ Cùng phối hợp với nhà trường, giúp đỡ về nhân lực, tư liệu để giải quyết những khó khăn về mặt kiến thức thực tế nghề nghiệp, tay nghề, tạo ra niềm tin cho học sinh và sức thuyết phục đối với các em

+ Tạo điều kiện thuận lợi để con em mình tham gia vào các hoạt động hướng nghiệp do nhà trường và các tổ chức xã hội đảm nhận Mặt khác cần động viên các gia đình khuyên nhủ con em mình theo đúng những nhu cầu cần thiết của xã hội phù hợp với năng lực, sở trường các em [23, tr 142-143]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, dậy nghề

có quan hệ với trường học

Trong hoạt động hướng nghiệp các cơ quan đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề xung quanh trường, có vị trí đặc biệt tác động tới sự hình thành xu hướng nghề nghiệp của học sinh bởi những lý do sau:

+ Hoạt động của học sinh trong trường nghề mặc dù mang nặng tính chất nghề nghiệp, song hoạt động học tập vẫn nổi bật hơn cả, vì thế nó gần gũi với hoạt động học tập của trường phổ thông Sự gần gũi này là sợi dây liên kết, cộng tác giữa các bộ phận và giữa tuổi trẻ của các trường

+ Ngoài tính chất học tập nói chung, trường nghề mang đậm sắc thái nghề nghiệp, lại do điều kiện địa lý gần gũi, do quan hệ giao tiếp hàng ngày giữa học sinh phổ thông với học sinh chuyên nghiệp, vì thế học sinh phổ thông có thể thấy trước được đặc điểm mỗi trường và tính chất học tập của trường nghề mà các em tiếp xúc Đây chính là điều kiện tốt để giúp cho lượng thông tin nghề nghiệp đến với các em nhiều hơn, đúng đắn và cặn kẽ hơn

+ Các trường nghề có thể giúp trường phổ thông về mặt đội ngũ cán bộ về công tác tuyên truyền, thông tin và giới thiệu nghề, tạo điều kiện để có sự gặp gỡ trao

Trang 25

đổi giữa học sinh phổ thông và học sinh nghề về lựa chọn nghề, quá trình phấn đấu hình thành lý tưởng nghề nghiệp

+ Trong điều kiện chỉ tiêu Nhà nức và kế hoạch địa phương cho phép, các trường nghề cần dành một tỷ lệ thích đáng cho học sinh địa phương được học tập theo những ngành nghề của mình đào tạo Trường nghề có thể giúp đỡ nhà trường phổ thông về cơ sở vật chât, thiết bị đào tạo khi cần thiết [23, tr 143-144]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của các cơ sở sản xuất và các tổ chức xã có quan

hệ với trường phổ thông

Nhiệm vụ hướng nghiệp không chỉ là quá trình trang bị về mặt nhận thức nghề nghiệp cho học sinh mà còn là chuẩn bị bước đầu cho các em về mặt tay nghề trong một lĩnh vực sản xuất của địa phương, vì vậy không thể bỏ qua vị trí trọng yếu này của các cơ sở sản xuất công, nông nghiệp và lao động dịch vụ Những cơ sở này là địa bàn thử sức của học sinh trước khi các em xác định cho mình hướng đi có ý nghĩa nhất định Sự tham gia của học sinh vào thực tế tại các cơ sở là thước đo tương đối toàn diện năng lực hiện có của các em về trí lực, đạo đức nghề nghiệp, về thái độ lao động và các phẩm chất khác của người lao động mới Mặt khác, những cơ sở sản xuất của địa phương thường đại diện cho những lĩnh vực nghề nghiệp cần thiết có quan hệ với sự sống còn của kinh tế trong khu vưc, vì thế sự có mặt của học sinh tại những cơ

sở sản xuất này có sự giúp đỡ, cộng tác của các cơ sở sản xuất đối với nhà trường trong công tác hướng nghiệp chính là quá trình chuẩn bị một lực lượng lao động dự trữ đáp ứng đòi hỏi về phát triển kinh tế-xã hội, về sự phân công lao động ở địa phương

Ngoài các cơ sở sản xuất, nhà trường phổ thông khi tiến hành hoạt động hướng nghiệp không thể thiếu được sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội khác: Các cơ quan dân chính Đảng, các đoàn thể (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các Liên hiệp hội…) sẽ tạo ra những điều kiện hữu hiệu về lực lượng hỗ trợ, giải quyết về mặt pháp

lý, hành chính mà trong rất nhiều trường hợp hoạt động hướng nghiệp không thể bỏ qua được Với tất cả tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của các tổ chức này trong hoạt động hướng nghiệp, nhiệm vụ chính của các tổ chức đó như sau:

Trang 26

+ Tạo điều kiện cho trường phổ thông về cơ sở thực hành, đội ngũ cán bộ hướng dẫn sản xuất, thông tin nghề nghiệp, trang thiết bị kỹ thuật và hoạch toán kinh

tế

+ Giúp trường phổ thông xây dựng thiết bị vườn trường, xưởng trường, phòng hướng nghiệp, chỉ đạo về mặt kỹ thuật và công nghệ sản xuất, cung cấp nguyên liêu, bán thành phẩm, tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch hợp đồng ký kết

+ Là cơ sở dạy nghề cho học sinh, đồng thời cũng là nơi sẽ thu nhận học sinh sau khi tốt nghiệp theo chỉ tiêu và kế hoạch cho phép

+ Các tổ chức chính quyền có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện cần thiết, giúp

đỡ về mặt chủ trương, phương tiện hoạt động hướng nghiệp cho nhà trường: cấp đất, vật tư, giải quyết các thủ tục hành chính, hỗ trợ về mặt nhân lực và cổ động phong trào

+ Các tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ vận động quần chúng hợp lực tham gia công tác hướng nghiệp tùy thuộc vào chức năng tổ chức mình hoặc tào điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất và nhân lực giúp cho hoạt động hướng nghiệp tiến hành được

thuận lợi [23, tr 144-145]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của thư viện trong trường phổ thông

Trong các trường phổ thông hiện nay, theo quy chế nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đều có bộ phận thư viện làm nhiệm vụ bảo quản, phân phát tài liệu giáo khoa, sách báo phục vụ công tác giảng dạy và giáo dục cho giáo viên, học sinh Ngoài những việc nêu trên, để tạo sức mạnh cho hoạt động hướng nghiệp của nhà trương, bộ phận thư viên cần thực hiên tốt những nhiệm vụ sau:

+ Lựa chọn và giới thiệu danh muc sách báo, tạp chí có liên quan tới lựa chọn nghề của học sinh (theo năm học)

+ Sau mỗi học kỳ hay năm học, triển lãm các sách báo nói về nghề nghiệp và

sự lựa chọn nghề Tổ chức các hội nghị độc giả nhằm quấn hút sự chú ý của học sinh vào việc tìm đọc các sách báo nói về hướng nghiệp

+ Thông qua danh sách mượn đọc của học sinh, kết hợp với Ban hướng nghiệp

để lập kế hoạch tìm hiểu hứng thú đọc sách của học sinh để trên cơ sở đó giúp Ban hướng nghiệp có tư liệu trong công tác điều tra cơ bản đồng thời trên cơ sở này có

Trang 27

phương hướng giới thiệu cho học sinh đặt mua tạp chí, sách báo có liên quan tới sự lựa chọn nghề của các em [23, tr 145-146]

- Nhiệm vụ hướng nghiệp của bộ phận y tế

Hiện nay, cơ sở y tế trong các trường phổ thông còn rất mỏng manh, mặc dù

có một số trường phổ thông lớn hoặc các trường nội trú có điều kiện bắt đầu hình thành bộ phận y tế đảm bảo sức khỏe cho thày và trò Tuy nhiên, nếu nói tới hoạt động hướng nghiệp thiếu sự tham gia của y tế là điều phi lý bởi bản thân sự lựa chọn nghề của học sinh không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhân họ hay yêu cầu của xã hội mà còn tùy thuộc khá lớn vào sự phát triển thể lực của học sinh

Để nắm được sự phát triển sinh học, tọa ra những cơ sở khoa học cho lựa chọn nghề của mỗi cá nhân, sự tiếp nhận của các cơ quan chức năng tuyển chon, cần thiết phải

có sự tham gia của các cơ sở y tế trong và ngoài trường học Màng lưới y tế hiện nay

có ở khắp mọi nơi, đó là điều kiện thuận lợi cho nhà trương phổ thông Tiến hành giám định y học cho học sinh trong hoạt động hướng nghiệp nếu chỉ trông chờ vào cơ

sở y tế mỏng manh của trường học hoặc trông chờ vào sự giúp đỡ của cấp trên thì chúng ta khó có thể thực hiện được hoạt động này Vì thế, vấn đề này là phải tận dụng triệt để sức mạnh của các cơ sở y tế sở tại, kết hợp với lực lượng y tế của nhà trường để thực hiện công tác hướng nghiệp Y tế có những nhiệm vụ chính sau:

+ Tiến hành trao đổi với tập thể về những vấn đề y học có liên quan tới sự lựa chọn nghề nói chung và một số nghề phổ biến nói riêng

+ Kiểm tra tình trạng sức khỏe của từng học sinh để đưa ra những quyết định y học có quan hệ tới lựa chọn nghề của mình

+ Giúp Ban tư vấn nghề trao đổi với mỗi cá nhân hoặc gia đình học sinh những cơ sở khoa học về sự phù hợp hay không phù hợp hay không phù hợp giữa các tiêu chuẩn của nghề mà họ đã chọn với thực trạng sức khỏe của bản thân chủ thể lựa

chọn [23, tr 146-147]

1.3.2 Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh là người dân tộc thiểu số

Thực tế chứng minh rằng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, số người dân tộc thiểu số trong độ tuổi đến trường ở các cấp học ngày càng nhiều, người dân tộc thiểu số nói chung, học sinh dân tộc thiểu số nói riêng đã nhận thức được ý nghĩa

Trang 28

quan trọng của việc học tập Chính vì vậy đã có không ít học sinh người dân tộc thiểu

số rất cố gắng trong học tập, đồng thời với chế độ ưu tiên, khuyến khích của Nhà nước ta, nhiều người đã thi cử đỗ đạt vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề…Từ đó mà hoà nhập và thành đạt, có vị trí cao trong cuộc sống xã hội

Tuy vậy, nhìn chung hoạt động học tập của học sinh dân tộc thiểu số vẫn có rất nhiều hạn chế, nhược điểm mà việc khắc phục là cực kỳ khó khăn

Khác với học sinh người Kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt hoặc nếu có thì rất hạn chế Thực tế cũng có

số ít các em được trải qua sự chăm sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm non đã trang bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào lớp 1 Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân, cũng như các em chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước

ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em

Ngôn ngữ là công cụ hết sức quan trọng giúp con người tiếp thu liên tục những kiến thức mới để từ đó mà phát triển tư duy, phát triển trí tuệ, nâng cao trình độ văn hoá của mình Với vốn ngôn ngữ tiếng Việt rất hạn chế như đã nói ở trên, làm cho các

em HS DTTS càng gặp khó khăn lớn trong việc học tập các môn văn hoá trong nhà trường

Phải nói rằng đa phần các hộ gia đình người DTTS cho đến nay vẫn còn nghèo Việc lo cái ăn, cái mặc vất vả làm cho số lượng HS DTTS không đến lớp tăng lên rất nhiều, hoặc nhiều em có đến trường thì cũng ngày đi, ngày không

Đối với người DTTS ở địa bàn nghiên cứu, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và không gian sống cá nhân Có thể nhận biết không gian sống đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một không gian chung cho tất cả những người trong gia đình Chính vì vậy, việc tạo một

Trang 29

không gian học tập(góc học tập) cho HS là điều không dễ thực hiện Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học tập cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút

Đối với các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do hoàn cảnh sống khó khăn mà gia đình đã không chú trọng tới việc học của con, em mình Việc học tập của các em phải nhờ đến sự tận tâm của

GV, nhờ vào kế hoạch giáo dục của nhà trường Cho nên ý thức học tập là đặc tính rất cần được chúng ta xây dựng cho các em

Những khác biệt về ngôn ngữ trong giao tiếp, lối sống, sinh hoạt, văn hoá…đã tạo ra những khoảng cách nhất định giữa HS người Kinh và người DTTS, giữa HS DTTS với thầy cô giáo mà đa số là người Kinh Điều này cũng góp phần làm hạn chế quá trình tiếp thu kiến thức văn hoá và gây ra mặc cảm, tự ti của HS người DTTS

Tất cả những đặc điểm và nguyên nhân nói trên, đặc biệt là những hạn chế về Tiếng Việt, sự bất đồng trong ngôn ngữ và những khó khăn kéo dài trong điều kiện sống…đã làm cho chất lượng học tập của HS DTTS luôn đạt thấp Cụ thể là tỉ lệ lưu ban ở trường THCS có đông HS DTTS thuộc địa bàn nghiên cứu qua các năm luôn cao, trong đó chủ yếu là HS DTTS Tỉ lệ tốt nghiệp THCS, điểm trung bình thi vào lớp 10 ở các trường này cũng luôn luôn thấp một cách đáng lo ngại, mà nguyên nhân ai cũng thấy rõ, đó là do tỉ lệ HS DTTS luôn luôn cao

1.3.3 Đặc điểm hoạt động dạy học ở lớp/trường có đông HS là người DTTS

Từ những đặc điểm nói ở mục 1.3.2 trên đây làm cho hoạt động dạy học ở các trường có nhiều HS là người DTTS ngoài những đặc điểm bình thường như ở các trường khác thì còn có những nét đặc thù mà nhà quản lý phải chú ý coi trọng để đưa

ra các biện pháp thích hợp nhằm đem lại hiệu quả mong muốn

Trước hết dựa vào chủ trương chính sách về người DTTS, cũng như HS DTTS

và hoàn cảnh địa phương mà có cách chỉ đạo hoạt động dạy học sao cho phù hợp thì

Trang 30

mới đạt hiệu quả dạy học cũng như hiệu quả giáo dục ở mức độ có thể chấp nhận được so với mặt bằng chung của giáo dục cả tỉnh và cả nước

Nét đặc thù của các trường THCS, THPT có nhiều HS DTTS ở huyện Lục Ngạn là:

- Tỉ lệ HS DTTS thường chiếm trên 50% của tổng số HS toàn trường Tỉ lệ này cao nhất là ở các lớp đầu cấp (lớp 6), có trường lên tới trên 90%

- Về mặt chủ trương, chính sách các năm qua đã có nhiều ưu tiên cho HS DTTS như sau: Việc tuyển sinh vào lớp 6 được gia hạn thêm 3 tuổi Khi xét tốt nghiệp THCS thì HS DTTS được hưởng chính sách ưu tiên HS DTTS được miễn đóng tiền xây dựng(vào những năm HS đang còn phải đóng tiền xây dựng), miễn đóng học phí, được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, và các điều kiện khác để hỗ trợ học tập

- Đa số HS thuộc gia đình gặp nhiều khó khăn do hoàn cảnh kinh tế, rất vất vả trong cuộc sống nên con em đến trường là điều không dễ

Từ những nguyên nhân trên, nhìn chung các gia đình HS phải lao động kiếm sống hàng ngày với kiến thức rất thấp Vì vậy, sự quan tâm đến việc học tập của con

em là rất ít, kể cả ở trường cũng như ở nhà Điều này đã làm cho tỉ lệ HS DTTS đến trường rất không ổn định, khi đến trường thì thường học muộn so với độ tuổi, mất cân bằng giữa vóc dáng, độ tuổi so với kiến thức Vì vóc dáng lớn thường sinh ra tâm lý mặc cảm, rụt rè, e ngại dẫn đến chán học, cúp tiết, bỏ học

- Để phụ giúp gia đình, trông coi nhà hay tham gia lao động các em nghỉ học rất nhiều lần trong năm

- Về phía GV thì đa số GV là người Kinh ở nơi khác đến giảng dạy đều không biết ngôn ngữ DTTS, nếu biết thì cũng chỉ dừng ở mức độ rất ít nên họ không thể so sánh, đối chiếu, liên hệ khi gặp những tình huống cần thiết trong dạy học cho đối tượng HS đặc biệt này Mặt khác, về phong tục tập quán, họ lại càng không có điều kiện tìm hiểu, cho nên họ khó tiếp cận với phụ huynh, gia đình các em, khó có thể tiếp xúc gần gũi, rút ngắn khoảng cách, xóa ranh giới không cần thiết giữa thầy và trò, để dạy học hiệu quả Dạy học cho người DTTS phải do chính GV người địa phương đảm nhiệm mới mang lại hiệu quả cao được Tuy nhiên, số lượng người

Trang 31

DTTS thi đỗ vào các trường sư phạm, kể cả khi họ được cộng điểm ưu tiên rất nhiều hay dạng cử tuyển để trở về phục vụ lại địa phương là rất ít Bản thân họ cũng chưa nắm vững những kiến thức về tiếng Việt nên họ truyền tải những kiến thức phổ thông đến cho HS gặp nhiều khó khăn Như vậy, hiệu quả dạy học của GV người dân tộc cũng khó mà đạt như mong muốn

Một thực tế nữa không thể không nói đến, đó là nhiều GV về công tác ở trường ít năm, khi tay nghề khá vững vàng thì lại tìm cách chuyển công tác đến các trường thuận lợi hơn Điều này đã làm cho nhà trường luôn luôn nằm trong tình trạng thiếu hụt GV cốt cán, mặt khác làm cho đội ngũ không có tính ổn định cần thiết

- Lứa tuổi học sinh phổ thông là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt trong

cuộc đời của mỗi con người Giáo dục phổ thông là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu cho việc đào tạo trẻ em trở thành những con người có nhân cách phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội và của đất nước

- Chất lượng giáo dục phổ thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực hiểu học sinh (một thành tố của năng lực sư phạm của nhà giáo dục) có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, trên cơ sở hiểu được đặc điểm tâm lý của học sinh, nhà giáo dục

sẽ lựa chọn được những biện pháp giáo dục và dạy học phù hợp, có hiệu quả

- Các kết quả nghiên cứu về vấn đề phát triển giáo dục nhà trường, trong đó có vùng dân tộc thiểu số ở trong nước và ngoài nước; vấn đề chất lượng giáo dục phổ thông với những yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập đã thôi thúc việc mở rộng phạm vi nghiên cứu về tâm lý dân tộc nói chung, về đặc trưng tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số nói riêng trên toàn quốc như một nhiệm vụ có tính chất lý luận và thực tiễn

- Do những đặc điểm về điều kiện sống, môi trường văn hóa - giao tiếp…, học sinh dân tộc thiểu số có những nét riêng về tâm lý (về nhận thức, về tình cảm, về tính cách…) Những điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và thiết lập các mối quan hệ của các em ở nhà trường Thực tế cho thấy, “vì không xác định được mục tiêu học tập, nhận thức chưa đúng mức về tầm quan trọng của học tập, mạng lưới trường lớp yếu và thiếu cùng các tập tục cổ hủ là những nguyên nhân khiến học sinh vùng dân tộc bỏ học rất nhiều”

Trang 32

+ Trình độ dân trí của người dân trên địa bàn rất thấp Đại đa số, phụ huynh học

sinh có trình độ văn hóa cấp 1, cấp 2, cá biệt có phụ huynh học sinh mù chữ, do đó việc tiếp thu văn hoá, thu nhận thông tin giáo dục còn rất hạn chế, gần như phó mặc việc dạy, dỗ cho nhà trường

+ Học sinh của trường chủ yếu là con em dân tộc thiểu số (chiếm trên 60%) của

7 xã vùng cao của Lục Ngạn, tỷ lệ hộ đói nghèo cao (trên 50%) Thu nhập của người dân rất thấp (bình quân 166.000đ/người/tháng) chủ yếu là từ nông nghiệp, phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và thiên nhiên

+ Điều kiện kinh tế-xã hội trên địa bàn còn kém phát triển nên các em ít được tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, ti vi, mạng internet ), do vậy cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của các em

+ Nhiều học sinh nhà xa trường (25-30 km) nên phải ở trọ để tiện cho việc đi học Ở trọ các em đi học thuận lợi hơn, nhưng các em phải sống trong những phòng trọ chật trội, đông đúc, điện tối, ăn uống thiếu thốn, thiếu điều kiện học tập

+ Về tâm lý các em sinh ra và lớn lên trên những vùng như nêu trên, tỷ lệ dân cư thưa, sinh sống trong những bản làng có những vùng chưa có điện, vì vậy có tác động mạnh tới việc hình thành và phát triển nhân cách của các em, đa số học sinh là người dân tộc thiểu số thường rụt rè, ngại giao tiếp, nhận thức chậm, một bộ phận học sinh

tự ty dân tộc

+ Về học lực và hạnh kiểm học sinh: các em học sinh là người dân tộc thiểu số thường ngoan ngoãn, về học lực tỷ lệ khá giỏi chưa cao cụ thể tổng kết học kỳ I năm học 2012-2013 có kết quả hạnh kiểm và học lực của HS THPT Lục Ngạn số 4 như Bảng 1-1

+ Về sức khỏe các em học sinh là người dân tộc thiểu số nhìn chung các em có sức khỏe tốt, toàn trường không có học sinh khuyết tật, không có học sinh miễn học môn thể dục và môn giáo dục quốc phòng

Trang 33

BẢNG 1-1 KẾT QUẢ HẠNH KIỂM VÀ HỌC LỰC HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KỲ I 2012-2013

11 270 120 44,40 80 29,60 64 23,70 6 2,20 0 0,00 11 4,10 218 80,70 40 14,80 1 0,40 Khối

12 255 131 51,40 101 39,60 18 7,10 5 2,00 0 0,00 31 12,20 183 71,80 41 16,10 0 0,00

Cộng 796 332 41,70 323 40,60 125 15,70 14 1,80 0 0,00 71 8,90 575 72,10 150 18,80 1 0,10

Trang 34

- Hiện nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về đặc trưng tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp giáo dục phù hợp, có hiệu quả

1.4 Nội dung quản lý hoạt động hướng nghiệp của Hiệu trưởng trung học phổ thông

1.4.1 Giới thiệu nghề và yêu cầu nghề

- Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội Hoặc có thể tìm hiểu nghề là công việc làm theo sự phân công lao động của xã hội ví như nghề dạy học nghề nông Con người thông qua việc hành nghề để kiếm tiền sinh sống duy trì phát triển bản thân và góp phần xây dựng đất nước Nghề nằm trong một ngành hoặc lĩnh vực nghề nghiệp nào đó ví như: nghề tiện thuộc ngành công nghiệp nặng, nghề trồng rừng thuộc ngành lâm nghiệp và nghề phục vụ bàn thuộc ngành thương mại và dịch vụ và du lịch Nghề có lịch sử phát triển của nó, nghề được sinh ra và phát triển và triển vọng trong quá trình tiến của xã hội, của khoa học kỹ thuật Có những nghề ra đời và phát triển lâu dài thành nghề truyền thống của một vùng hoặc cả nước, như nghề sơn mài, nghề đúc đồng, khảm trai … lại có nghề dần bị thay thế bởi tiến bộ khoa học như nghề đánh máy chữ được thay bằng máy tính điện tử Đồng thời có những nghề mới ra đời do tiến bộ khoa học kỹ thuật mang lại như nghề sửa chữa video, nghề lắp ráp máy thu hình [4, tr 7,8]

- Đặc điểm nghề

Khi tìm hiểu mô tả một nghề nào đó người ta thường đề cập các yếu tố sau:

+ Đối tượng lao động của nghề

+ Công cụ và phương lao động của nghề

+ Quá trình công nghệ

+ Tổ chức quá trình lao động của nghề

Những yêu cầu về đặc trưng về tâm sinh lý của người hành nghề cũng như yêu cầu về đào tạo nghề

Lấy sự mô tả tóm tắt nghề cắt may công nghiệp làm ví dụ cho các yếu tố trên: + Đối tượng lao động của nghề là: vải, dạ, da…

+ Công cụ và phương tiện lao động: kéo, thước, phấn, máy may, bàn là

Trang 35

+ Quy trình và công nghệ: Đo-cắt-may-lắp ráp chi tiết – là và đóng gói

+ Tổ chức quá trình: người công nhân làm nghề cắt may công nghiệp tiến hành nghề tại xưởng cắt may, cửa hàng và theo trình tự nối tiếp nhau(từng chi tiết) hoặc chọn vẹn sản phẩm đơn chiếc [4, tr 8,9]

- Phân loại nghề

Trong xã hội có hàng ngàn nghề khác nhau từ đơn giản đến kỹ thuật phức tạp Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà có cách phân loại nghề khác nhau Hiện nay đang tồn tại các kiểu phân loại nghề sau:

+ Phân theo dấu hiệu mức độ phức tạp về kỹ thuật

* Nghề không đào tạo Như nghề bơm xe đạp, nghề quét rác… thông thường không phải đào tạo

* Nghề đào tạo Nghề tiện, nghề lái xe phải được đào tạo mới hành nghề được

Như vạy nghề đơn giản và nghề đào tạo hợp thành nghề xã hội Số lượng nghề đào tạo ít hơn nhiều so với nghề không đào tạo [4, tr 9,10]

+ Phân theo diện chuyên môn nghề và diện hoạt động của nghề

+ Nghề diên hẹp: là nghề chuyên sau về chuyên môn và hẹp về khả năng hoạt động của người hành nghề, ví như nghề hàn điện, nghề trồng cà phê, nghề phục vụ buồng

+ Nghề diện rộng: là nghề kết hợp hay hay nhiều nghề khác nhau có trung hoặc không chung cơ sở kỹ thuật Phạm vi hoạt động nghề rộng ví như nghề cắt gọt kim loại là sự kết hợp các nghề tiện, phay, bào, xọc, rèn, nghề vận hành thiết bị hóa chất là sự kết hợp các các nghề vận hành, bơm quạt, máy nến, thùng thép, máy đập nghiền sàng, nghề phục vụ khách sạn là sự kết hợp các nghề phục vụ bàn, buồng, chiêu đãi viên, đón tiếp

Như vậy tương ứng với hai loại nghề trên sẽ có công nhân diện hẹp và công nhân diện rộng là phù với tiến bộ xã hội và sự đa năng trong hoạt động nghề tương lai của người lao động Theo [4, tr 9,10]

+ Phân theo dấu hiệu quan hệ, người ta thấy năm loại nghề nghiệp phản ánh quan hệ

Trang 36

+ Người-Người Nghề dạy học

+ Người – kỹ thuật Nghề máy tính

+ Người-Thiên nhiên Nghề bảo vệ rừng

+ Người – dấu hiệu (tín hiệu) Nghề kỹ thuật điện báo

+ Người - hình ảnh nghệ thuật Nghề điêu khắc

+ Phân loại kết quả cuối cùng của quá trình hành nghề người ta phân ra các loại nghề sau:

+ Nghề thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất như nghề sản xuất pin, nghề trồng lúa, nghề ươm tơ…

+ Nghề thuộc lĩnh vực phi sản xuất vật chất như nghề thư ký, nghề lái xe, nghề bán hàng

+ Nghề thuộc lĩnh vực dịch vụ kinh tế ra đình: nghề thêu ren, nghề nuôi tằm, nghề cắt tóc [4, tr 10]

- Việc làm

Thông thường khái niệm việc làm được hiểu là hành đông cụ thể, là công việc được giao cho làm và được trả công để sinh sống

Trước đây việc làm phải gắn với một nghề nào đó hoàn chỉnh với quan niệm

“Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” (nghĩa là giỏi một nghề đủ làm cho vinh hiển) thì nay khái niệm việc làm đang có những thay đổi đáng kể theo hướng linh hoạt và rộng rãi hơn.Việc làm nhiều khi chỉ gắn với một nguyên công, một phần hoặc một số kỹ năng lao động nào đó thuộc một hay vài nghề-miễn là qua hoạt động cụ thể người lao động

có thể hoàn thành được nhiệm vụ và kiếm được tiền sinh sống Rõ ràng xu thế đa nghề hoặc giỏi một nghề biết nhiều nghề đang được người lao đọng phát huy và trên tực tế giúp cho việc tìm kiếm công ăn việc làm thuận lợi hơn Ví dụ thư ký tổng hợp (biết soạn văn bản, lái xe, phiên dịch và sử dụng máy vi tính Thợ sắt biết hàn, rèn, tiện, khoan, phay…) [4, tr 10]

- Thị trường lao động

Thị trường lao động là phạm trù kinh tế của nề kinh tế hàng hóa vận động theo

cơ chế thị trường Nó hình thành phát triển và hoạt động trong mối quan hệ hữu cơ với các thị trường khác (thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ) trong một thị trường

Trang 37

xã hội thống nhất Thị trường lao động biểu hiện quan hệ lao động diễn ra một bên là người lao động và một bên sử dụng lao dựa trên nguyên tác thỏa thuận, thông qua các hợp đồng lao động

Người lao động được đào tạo hoặc không được đào tạo đều tham gia vào thị trường lao động và bị tri phối bởi quy luật cạnh tranh, thuê mướn, lợi nhuận và hiệu quả Do vậy người lao động phải quan tâm đày đủ tới chất lượng (tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo)-giá thành thời điểm (đáp ứng) khi họ tham gia vào thị trường lao động Đó là yêu cầu hết sức khắt khe đòi hỏi sự tích lũy kinh nghiệm và học nghề xuất đời của người lao động nếu như họ muốn luôn có việc làm và thu nhập cao

1.4.2 Tổ chức tham quan triển lãm

Tham quan triển lãm là một hoạt động quan trọng trong hoạt động hướng nghiệp với học sinh, vì qua tham quan thực tế các trường Đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp và những làng nghề, các nhà máy xí nghiệp: hình thành trực tiếp ở học sinh về những cảm nhận về nghề nghiệp trong tương lai mình sẽ lựa chọn, mà không

có trường lớp nào cung cấp được cho các em, nên việc tham quan triển lãm là việc làm rất bổ ích và cần thiết

1.4.3 Theo dõi học sinh về học lực, hạnh kiểm

Thông qua giáo viên chủ nhiệm sau mỗi học kỳ lập sổ theo dõi học sinh về học lực và hạnh kiểm, đặc biệt học lực và hạnh kiểm lớp cuối cấp trên cơ sở kết quả học lực của học học sinh ban hướng nghiệp cho học sinh những lời khuyên nên chọn nghề

có điều kiện tiếp cận một cách cặn kẽ và hoàn chỉnh

Có nhiều hoạt động tư vấn: tư vấn nghề, tư vấn hôn nhân gia đình, tư vấn việc làm …Đồng thời tồn tại những trung tâm tư vấn

Trang 38

Như vậy, tư vấn nghề cũng có thể được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp học sinh năng cao nhận thức, hiểu biết về nghề và hoạt động nghề, lĩnh vực nghề riêng biệt

Tư vấn nghề là một hoạt động đối tượng, trong đó chủ thể là một cá nhân hay hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào

đó Chủ thể tư vấn là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyển tải thông tin nghề và có khả năng ứng xử với đối tượng tư vấn Do tính phức tạp về nhu cầu của đối tượng tư vấn, chủ thể tư vấn cũng theo đó mà có thành phần xuất xứ rất đa dạng: có thể là những chuyên gia xã hội học, tâm lý học, y học, những chuyên gia về thương mại, khoa học

kỹ thuật, văn hóa, mỹ thuật…

Đối tượng tư vấn có thể là học sinh, nhóm học sinh, cha mẹ học sinh nếu họ có nhu cầu tư vấn

Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ Đối tượng tư vấn ở vị trí của những người được cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt

Kết quả cuối cùng của tư vấn có thể là sự chuyển biến về nhận thức và cũng có thể là sự thay đổi những quyết đinh lớn của cuộc đời Song nếu thông tin thiếu toàn diện, ứng xử của chủ thể chưa thấu tình đạt lý, có thể dẫn đến đối tượng tư vấn tới những nhận thức hoặc việc làm vô bổ-sử cải biến diễn ra theo chiều hướng xấu, kém hiệu quả

Nội dung tư vấn là những thông tin theo yêu cầu của đối tượng tư vấn Những thông tin này nhằm đặt trước đối tượng sự lựa chọn quyết sách cho mình, có được sự định hướng để “ cần phai” hay “ không cần” thực hiện theo dự kiến trước đây hoặc những lời khuyên của chủ thể tư vấn Thông tin tư vấn nghề bao gồm cả những mặt được và chưa được của đối tượng thỏa mãn nhu cầu, kèm theo những lời khuyên

„nên” hoặc “ không nên” của chủ thể Nội dung tư vấn nghề có thể là thuận chiều nếu thông tin tư vấn mang lại giúp cho đối tượng củng cố thêm những ý định của mình, làm sáng tỏ thêm những gì còn vướng mắc trong tiến trình đặt tới ước muốn cũng như kết quả sẽ đạt tới của họ

Trang 39

Những thông tin loại này trong nội dung tư vấn được hiểu như là nguồn thông tin thuận chiều so với ước nguyện của đối tượng Trong rất nhiều trường hợp, nội dung tư vấn nghề lại bao hàm những thông tin phản bác lại suy nghĩ của đối tượng, vạch rõ những yếu tố sai trái không thể chấp nhận được trong thực tiễn hoặc những cản trở khiến học sinh không có khả năng thực hiện được ước muốn những thông tin loại này được gọi là thông tin phản bác của chủ thể tư vấn đưa ra giúp đối tượng xem xét và quyết định

Trong hoạt động tư vấn, ngoài sự tham gia chính yếu của chủ thể và đối tượng, còn có sự tham gia của những phương tiện hỗ trợ như phim ảnh, vidio, [23, tr 53-66]

Kết luận chương 1

Giáo dục hướng nghiệp là một trong những hoạt động chính của nhà trường phổ thông nhằm bồi dưỡng và hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp, nó có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân và cả xã hội về giáo dục, chính trị kinh tế và xã hội Trong giai đoạn hiện nay, theo xu hướng phát triển của thế giới, đất nước ta đang cần một lực lượng lớn lao động có trình độ, kỹ thuật tay nghề cao thì giáo dục hướng nghiệp lại càng trở nên có ý nghĩa thiết thực Giáo dục hướng nghiệp cần điếu chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn với việc học tập làm chủ công nghệ mới, chuẩn bị các phẩm chất của con người năng động thích ứng với thị trường

Kinh nghiệm giáo dục hướng nghiệp trên thế giới (Malaixia, Anh, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản ) rất phong phú và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông Việt Nam nói chung và các trường trung học phổ thông huyện Lục Ngạn nói riêng

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều lực lượng và được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, trong đó hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường là hoạt động cơ bản giúp cho học sinh có cơ sở khoa học trong lựa chọn nghề nghiệp Lục Ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang cũng là vùng có nhiều tiềm năng song đến nay cơ bản vẫn là vùng phát triển chậm

Việc nghiên cứu và đưa ra các biên pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp có hiệu quả tại các trường trung học phổ thông là một tất yếu khách quan và phù hợp với sự phát triển của xã hội Chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực của

Trang 40

nguồn nhân lực tương lai, mà quản lý, điều hành và tác động vào chất lượng và trình

độ chuyên môn giáo dục hướng nghiệp chính là vai trò của người hiệu trưởng là nhân

tố quyết định

Chính vì vậy việc tìm ra các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường trung học phổ thông là cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giáo dục hướng nghiệp, tích cực góp phần phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học phổ thông và tạo nguồn nhân lực hướng tới nền kinh tế tri thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Để đưa ra những biện pháp quản lý mang tính khả thi cao Như vậy, trước hết cần tìm hiểu và đánh giá thực trạng của hoạt động dục hướng nghiệp của huyện Lục Ngạn và của tỉnh nói chung và trường trung học phổ thông Lục Ngạn số 4 nói riêng, đây cũng chính là nội dung mà chúng ta đề cập tới chương thứ hai

Ngày đăng: 21/11/2014, 07:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh Ánh. (2002)"Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp", Tạp chí giáo dục, số 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp
2. Đặng Danh Ánh. (2002)" Hướng nghiệp trong trường Phổ thông", Tạp chí giáo dục, số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiệp trong trường Phổ thông
18. Phạm Tất Dong. (2000), "Bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực và công tác hướng nghiệp", Tài liệu tập huấn, Trung tâm lao động-Hướng nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn lực và công tác hướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2000
3.Bộ giáo và đào tạo. (2008) Quyết định ban hành quy chế tổ chức hoạt động trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (số 44/2008/QĐ-BGĐ&ĐT), Hà Nội Khác
4. Bộ giáo và đào tạo Trung tâm lao động hướng nghiệp. Sinh hoạt hướng nghiệp trung học Phổ thông Khác
5. Bộ giáo và đào tạo. Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề. Nxb giáo dục (2009) Khác
6. Bộ giáo và đào tạo - Điều 3 của Chỉ thị số 33-2003/CT – BGD & ĐT ngày 23/7/2003 cũng đã chỉ rõ “Nghiêm túc triển khai thực hiện sinh hoạt hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT và trung tâm KTTH Khác
7. Bộ giáo và đào tạo. Thông tư 31/TT ngày 17 tháng 8 năm 1981 của Bộ giáo dục: “Để giúp học sinh hiểu biết các ngành nghề Khác
8. Bộ giáo và đào tạo. Quyết định 329/QĐ ngày 31 tháng 3 năm 1990 của Bộ trưởng bộ giáo dục về mục tiêu và kế hoạch đào tạo của trường trung học phổ thông Khác
9. Bộ giáo và đào tạo. Quyết định 2397/QĐ của Bộ trưởng bộ giáo dục ngày 17 tháng 9 năm 1991 ban hành danh mục nghề và chương trình dạy nghề cho học sinh trung học phổ thông Khác
10. Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông, trong đó quy định về chương trình công tác tư vấn hướng nghiệp Khác
11. Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh Khác
12. Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV, ngày 23/8/2006 hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở cơ sở giáo dục phổ thông Khác
13. Quyết Định 126/CP ngày 19/3/1981 của hội đồng chính phủ về công tác hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh Phổ thông các cấp THCS,THPT tốt nghiệp ra trường Khác
14. Chỉ thị 14/2001/CT – TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Khác
15. Nghị định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ trong đó có quy định các cơ sở giáo dục ở mỗi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trung tâm KTTH-HN; Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm KTTH-HN Khác
16. Chỉ thị 14/2001/CT – TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Khác
17. Phạm Tất Dong. (Chủ biên) 1987. Giáo trình công tác hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung Ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác
20. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001),Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1-1 KẾT QUẢ HẠNH KIỂM VÀ HỌC LỰC HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KỲ I 2012-2013 - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
BẢNG 1 1 KẾT QUẢ HẠNH KIỂM VÀ HỌC LỰC HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ KỲ I 2012-2013 (Trang 33)
Bảng 2.2: Thống kê số lớp học và HS của các bậc học trong giai đoạn 2010- - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.2 Thống kê số lớp học và HS của các bậc học trong giai đoạn 2010- (Trang 45)
Bảng 2.6. Tìm hiểu kết quả nguyện vọng học sinh sau khi được tư vấn hướng - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.6. Tìm hiểu kết quả nguyện vọng học sinh sau khi được tư vấn hướng (Trang 52)
Bảng  2.7.  Các  nhân  tố  ảnh  hưởng  đến  việc  chọn  nghề  của  học  sinh  DTTS  sinh ở huyện Lục Ngạn - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
ng 2.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh DTTS sinh ở huyện Lục Ngạn (Trang 53)
Bảng 2.8. Học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT của huyện Luc Ngạn   giai đoạn 2009 – 2012 - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.8. Học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT của huyện Luc Ngạn giai đoạn 2009 – 2012 (Trang 56)
Bảng 2.9. Phân luồng học sinh của huyện Luc Ngạn tốt nghiệp THPT vào  học các trường ĐH, CĐ từ năm  2009 đến  2012 - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.9. Phân luồng học sinh của huyện Luc Ngạn tốt nghiệp THPT vào học các trường ĐH, CĐ từ năm 2009 đến 2012 (Trang 57)
Bảng 2.10. Tham quan một số trường ĐH, CĐ và các công ty - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.10. Tham quan một số trường ĐH, CĐ và các công ty (Trang 59)
Bảng 3.1. Số lượng các đối tượng tham gia khảo nghiệm - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 3.1. Số lượng các đối tượng tham gia khảo nghiệm (Trang 84)
Bảng 3.3. Bảng xếp thứ bậc giá trị trung bình của từng biện pháp về tính  cần thiết và tính khả thi - quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số trường thpt huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 3.3. Bảng xếp thứ bậc giá trị trung bình của từng biện pháp về tính cần thiết và tính khả thi (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w