Các trường THPT, các trung tâm GDTX phải tích cực liên kết với nhau, bổ sung cho nhau những điều kiện đặc trưng của đơn vị mình để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ dạy nghề phổ thông cho học
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường ĐHBK Hà Nội, cảm ơn Khoa SPKT, các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Cao Văn Sâm - Hiện đang công tác tại Tổng cục dạy nghề
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Bắc Ninh, các đồng chí cán bộ, chuyên viên Phòng Phổ thông phụ trách công tác HN-DN, cảm ơn các đồng chí trong Ban giám đốc Trung tâm GDTX Tiên
Du, các Ban giám hiệu của các trường THPT mà tác giả điều tra khảo sát đã giúp đỡ, cảm ơn các đồng nghiệp, các bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tuy bản thân đã hết sức cố gắng, song chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót, kính mong được sự tham gia góp ý của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn và có tác dụng thiết thực nâng cao hiệu quả quản lý DNPT góp phần đẩy mạnh hoạt động DNPT ở các trường THPT huyện Tiên Du trong thời gian tới
Bắc Ninh, ngày … tháng … năm 2015
Tác giả
Đinh Quang Toàn
Trang 2Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Giáo dục và Đào tạo Học sinh phổ thông Công nghiệp hoá hiện đại hoá Hướng nghiệp
Dạy nghề phổ thông Đại hội đại biểu Giáo dục - Lao động - Hướng nghiệp Nhà xuất bản
Trung học cơ sở Trung học phổ thông Giáo dục thường xuyên
Sở Giáo dục và Đào tạo
Ủy ban nhân dân
Kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp Kinh tế - Xã hội
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông 7
1.1.1 Ngoài nước: 7
1.1.2 Ở trong nước: 8
1.2 Những khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 16
1.2.3 Nghề phổ thông, dạy nghề phổ thông, quản lý dạy nghề phổ thông 19
1.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở các trường THPT của trung tâm GDTX Tiên Du 23
1.3.1 Quản lý giáo viên chuẩn bị bài trước khi lên lớp 23
1.3.2 Quản lý giáo viên thực hiện qui chế chuyên môn 24
1.3.3 Quản lý kiểm tra đánh giá dạy nghề phổ thông của giáo viên 25
1.3.4 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề phổ thông 26
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông 27
1.4.1 Các yếu tố chủ quan 27
1.4.2 Các yếu tố khách quan 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
Trang 4CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC
THƯỜNG XUYÊN - TIÊN DU 29
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu, tổ chức khảo sát 29
2.2 Thực trạng hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông của Trung tâm GDTX Tiên Du 30
2.2.1 Số lượng giáo viên DNPT 30
2.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ DNPT 31
2.2.3 Thực trạng tổ chức hoạt động DNPT 32
2.2.4 Kết quả dạy nghề phổ thông 33
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông của Trung tâm GDTX Tiên Du 34
2.3.1 Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên 34
2.3.2 Quản lý giáo viên chuẩn bị bài trước khi lên lớp 35
2.3.3 Thực trạng quản lý giáo viên thực hiện qui chế chuyên môn 37
2.3.4 Quản lý việc kiểm tra đánh giá DNPT của giáo viên 40
2.3.5 Quản lý cơ sở vât chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động DNPT 43
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông của trung tâm GDTX Tiên Du 45
2.4.1 Ưu điểm 45
2.4.2 Hạn chế 47
2.4.3 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 49
CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN - TIÊN DU 50
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông 50
3.1.1 Cơ sở lí luận của việc đề xuất những biện pháp 50
3.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc đề xuất biện pháp 52
Trang 53.2 Biện pháp quản lý dạy nghề cho học sinh trung học phổ thông của Trung
tâm GDTX Tiên Du 54
3.2.1 Biện pháp 1: Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Dạy nghề và Hướng nghiệp 54
3.2.2 Biện pháp 2: Đổi mới quan điểm chỉ đạo và tổ chức hoạt động DNPT cho học sinh THPT ở huyện Tiên Du 59
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới tổ chức hoạt động DNPT đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay 62
3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động DNPT cho học sinh các trường THPT 64
3.2.5 Biện pháp 5: Áp dụng một số chế độ, chính sách khuyến khích hoạt động cho học sinh THPT 67
3 3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số lượng học sinh của các trường THPT năm 2015 - 2016 30
Bảng 2.2:Tình hình giáo viên của trung tâm so với yêu cầu thực tế đến năm 2015 30
Bảng 2.3 Thực trạng biện pháp quản lý sử dụng đội ngũ giáo viên 34
Bảng 2.4: Điều tra công tác quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên 36
Bảng 2.5: Điều tra công tác quản lý giáo viên thực hiện qui chế chuyên môn 39
Bảng 2.6: Điều tra việc quản lý giáo viên trong kiểm tra, đánh giá DNPT 42
Bảng 2.7: Thực trạng các thiết bị, máy móc trung tâm GDTX Tiên Du 44
Bảng 2.8: Thống kê các phòng học DNPT ở Trung tâm GDTX Tiên Du 45
Bảng 3.1:Tình hình học nghề ở một số trường THPT tiêu biểu khảo sát liên tục 3 năm 61
Bảng 3.2: Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 72
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp điều tra tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 73
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý 14
Sơ đồ 3.1: Quá trình hướng nghiệp trong nhà trường 56
Trang 8ta phải làm thế nào để có nguồn nhân lực chất lượng cao đó Chúng ta không thể quên lời dạy của Bác Hồ
“ Vì sự nghiệp 10 năm thì phải trồng cây
Vì sự nghiệp trăm năm thì phải trồng người”
Câu nói của Bác đã chỉ rõ tầm chiến lược lâu dài của sự nghiệp giáo dục Để
có một con người có sức khỏe, có tri thức có nhưng kỹ năng nhất định về nghề nghiệp và có những ước mơ hoài bão lớn lao không phải ngày một ngày hai mà là
cả một quá trình hết sức lâu dài và gian khổ với sự kết hợp chặt chẽ trong giáo dục của Gia đình - Nhà trường - Xã hội
Giáo dục phát triển không ngừng cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội
và khoa học kỹ thuật Giáo dục là động lực phát triển kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật lại là động lực để thúc đẩy giáo dục phát triển
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giáo dục Việt Nam phải đặt cho mình những mục tiêu quan trọng: đào tạo nguồn nhân lực, chuẩn bị cho đất nước những lớp người lao động có đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn mới Đảng ta xác định giáo dục phải thực hiện phương châm: “ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Coi trọng công tác hướng nghiệp, dạy nghề và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” [ Trích văn kiện ĐH Đảng toàn quốc lần thứ IX ]
Trang 9Đường lối của Đảng xác định cho ngành Giáo dục và Đào tạo rất rõ ràng Ngành Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hoá đường lối đó thông qua Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - đào tạo số 33/2003/CT BGD-ĐT ngày 23/7/2003 về hoạt động dạy nghề phổ thông cần tích cực đẩy mạnh trong giai đoạn tới Đó là “Nâng cao chất lượng và mở rộng việc dạy nghề phổ thông để giúp cho học sinh tìm hiểu nghề, làm quen với một số kỹ năng nghề nghiệp Sở Giáo dục và Đào tạo giao chỉ tiêu, kế hoạch dạy nghề phổ thông cho các trường Đồng thời căn cứ vào điều kiện giáo viên và điều kiện cơ sở vật chất mà giao chỉ tiêu kế hoạch dạy nghề phổ thông cho các trung tâm GDTX và cơ sở khác có chức năng dạy nghề phổ thông Những trường THCS và THPT tổ chức dạy học 2 buổi / ngày phải dành thời gian theo qui định cho học sinh học nghề phổ thông tại trung tâm GDTX hoặc tại trường THCS, THPT” Chỉ thị trên đã đặt dạy nghề phổ thông ở vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục ở nhà trường, trong bối cảnh giáo dục và đào tạo hiện nay Trong đó yêu cầu các trường đã tổ chức được dạy nghề phổ thông thời gian qua thì phải tích cực mở rộng và nâng cao hơn trước, đồng thời những trường THPT nào chưa tổ chức dạy nghề phổ thông được ở đơn vị mình thì trong thời gian tới “Phải dành thời gian theo qui định cho học sinh học nghề phổ thông”
Kế hoạch dạy nghề phổ thông được xác định cho các cơ sở giáo dục là kế hoạch cứng trong năm học, là chỉ tiêu pháp lệnh bắt buộc các trường THPT phải thực hiện Hàng năm sở Giáo dục và Đào tạo giao chỉ tiêu dạy nghề phổ thông cùng với các chỉ tiêu năm học khác cho các trường THPT Công tác hướng nghiệp, dạy nghề là một hoạt động trọng tâm trong chiến lược giáo dục của quốc gia Thật vậy, cùng với chỉ thị trên, “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và chủ trương đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động sản xuất hoặc trực tiếp theo học lên bậc học cao hơn phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu xã hội”
Trang 10Qua phân tích trên, một lần nữa chúng ta hiểu rõ dạy nghề phổ thông ở các trường THPT rất quan trọng, rất cấp thiết Các trường THPT, các trung tâm GDTX phải tích cực liên kết với nhau, bổ sung cho nhau những điều kiện đặc trưng của đơn vị mình để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ dạy nghề phổ thông cho học sinh, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị mà ngành Giáo dục - Đào tạo giao phó
1.2 Căn cứ thực tiễn
Tiên Du là một huyện trực thuộc tỉnh Bắc Ninh được tái thành lập ngày 09/08/1999, tiếp giáp với thành phố Bắc Ninh, huyện Quế Võ, Yên Phong, Thuận Thành, Gia Lâm (Hà Nội) và thị xã Từ Sơn Huyện Tiên Du gồm có 13 xã và 1 thị trấn đó là Thị trấn Lim và các xã Cảnh Hưng, Đại Đồng, Hiên Vân, Lạc Vệ, Liên Bão, Minh Đạo, Nội Duệ, Phật Tích, Phú Lâm, Tân Chi, Tri Phương, Việt Đoàn, Hoàn Sơn.Tổng số dân điều tra tính đến ngày 1/4/2013 dân số huyện Tiên Du có 136.346 người với diện tích tự nhiên là 95,687 km2 Huyện chịu sự tác động rất lớn của sự phát triển kinh tế xã hội trong toàn tỉnh Nền kinh tế của huyện liên tục có chỉ số tăng trưởng cao, bình quân trong 15 năm (2009 - 2013) đạt 15,36% năm Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tuy nhiên thu nhập GDP vẫn còn ở vị trí trung bình trong cả nước
Tiên Du là huyện có truyền thống hiếu học và có nhiều thành tựu giáo dục Tỷ
lệ số lao động có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật khá cao.Cán bộ quản lý có trình
độ đạt chuẩn cao, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của huyện nói chung và dạy nghề phổ thông trong các trường THPT nói riêng
Trong quá trình chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế từ huyện thuần nông sang huyện có nền kinh tế công nghiệp (phấn đấu đến năm 2020) trở thành huyện của tỉnh Bắc Ninh có nền kinh tế công nghiệp nên nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của Tiên Du mà khởi đầu là dạy nghề, hướng nghiệp cho học sinh THPT là vô cùng cần thiết Trong những năm gần đây thực tế dạy nghề phổ thông của các trường THPT đã được đặt đúng vai trò, vị trí.Các trường THPT trong huyện đã tổ chức dạy nghề phổ thông ở đơn vị mình và phối hợp với trung tâm GDTX nên đạt được thành tích tốt
Để đạt được chất lượng tốt trong quá trình dạy nghề phổ thông cho học sinh các
Trang 11trường THPT trong huyện Tuy vậy công tác quản lý dạy nghề phổ thông ở các trường THPT huyện Tiên Du vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần phải nghiên cứu quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở các trường THPT và trung tâm GDTX
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Biện pháp về quản lý hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông của trung tâm Giáo dục thường xuyên - Tiên Du, Bắc Ninh” để
nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy nghề phổ thông trong thời gian tới, góp phần thực hiện tốt chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông trung học
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở các trường THPT của trung tâm GDTX - Tiên Du, Bắc Ninh từ đó đề xuất các biện pháp quản lý dạy nghề phổ thông ở trường THPT của trung tâm GDTX đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu:
Biện pháp quản lý dạy nghề phổ thông ở các trường THPT của trung tâm GDTX - Tiên Du
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động quản lý dạy nghề phổ thông ở các trường THPT
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Trên cơ sở thực trạng của công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở các trường THPT của trung tâm GDTX – Tiên Du cùng với thực tế công tác quản lý của bản thân, đề tài này đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề ở các trường THPT của trung tâm GDTX – Tiên Du Nếu các trường THPT trong huyện áp dụng được những biện pháp quản lý dạy nghề phổ thông do tác giả đề xuất trong đề tài thì sẽ góp phần ổn định công tác dạy nghề phổ thông, nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông ở các trường THPT trong huyện
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lý DNPT cho học sinh THPT
Trang 12- Điều tra khảo sát làm rõ thực trạng việc quản lý dạy nghề phổ thông ở các trường THPT trong huyện Tiên Du do trung tâm GDTX thực hiện
- Đề xuất một số biện pháp quản lý dạy nghề phổ thông cho học sinh các trường THPT của trung tâm GDTX -Tiên Du Bắc Ninh
6 GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Tập trung nghiên cứu về công tác quản lý dạy nghề phổ thông ở một số trường THPT trong huyện Tiên Du và trung tâm GDTX - Tiên Du
- Phạm vi nghiên cứu: Bộ phận phụ trách dạy nghề phổ thông ở Sở GD và
ĐT Bắc Ninh, Ban giám đốc các trung tâm GDTX và một số Ban giám hiệu các trường THPT khảo sát
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Tiếp cận hệ thống các tư liệu để tìm hiểu các khái niệm, cơ sở lí luận về dạy nghề, dạy nghề phổ thông, quản lý dạy nghề phổ thông
+ Phân tích, tổng hợp phân loại, hệ thống hoá lý thuyết
+ Phương pháp chuyên gia
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp phỏng vấn:
Phỏng vấn một số hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường THPT, giám đốc, phó giám đốc các trung tâm GDTX và các lãnh đạo, chuyên viên Sở GD và ĐT Bắc Ninh phụ trách về dạy nghề phổ thông
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Thực hiện một số phiếu điều tra trưng cầu ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề phổ thông ở Sở, ở Trung tâm GDTX và các trường THPT trong huyện Tiên Du
+ Phương pháp toán thống kê:
Nhằm xử lý các số liệu sau khi điều tra, trưng cầu ý kiến
Trang 138 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUNG TÂM GDTX VÀ TRƯỜNG THPT:
Ban giám đốc trung tâm GDTX phối kết hợp với ban giám hiệu các trường THPT để lên kế hoạch dạy nghề phổ thông cho học sinh
Ban giám đốc trung tâm lên kế hoạch dạy nghề phổ thông cho từng trường THPT và cử giáo viên tham gia giảng dạy tại các trường THPT
Ban giám hiệu các trường THPT kết hợp với ban giám đốc trung tâm GDTX
về quản lý hoạt động dạy nghề, quản lý giờ lên lớp của giáo viên
Các trường THPT tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị để hoạt động dạy nghề phổ thông đạt hiệu quả
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn gồm các phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương I: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy nghề cho học sinh trung học phổ thông
Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề cho học sinh trung học phổ thông của Trung tâm GDTX Tiên Du
Chương III: Biện pháp quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học phổ thông của Trung tâm GDTX Tiên Du
Phần kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 14CHƯƠNG I
CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông
1.1.1 Ngoài nước:
Ở mỗi nước trên thế giới việc tổ chức dạy nghề phổ thông thực hiện rất khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm, trình độ phát triển của mỗi quốc gia về khoa học kỹ thuật, về sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc thù nền giáo dục của mỗi đất nước Gắn liền với dạy nghề phổ thông là mô hình quản lý dạy nghề phổ thông tương ứng riêng
Trung Quốc giáo dục nghề nghiệp không những là trụ cột quan trọng của việc xã hội hóa sản xuất và hiện đại hóa phát triển, mà là khâu quan trọng thúc đẩy trình độ lực lượng sản xuất không ngừng nâng cao Trước sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và sự thay thế ngành nghề nhanh chóng, giáo dục nghề nghiệp phải không ngừng điều chỉnh phương pháp, nội dung, phương tiện giáo dục để thích ứng với yêu cầu của sự tiến bộ kỹ thuật và sự điều chỉnh ngành nghề Sự kết hợp giữa việc áp dụng thực tế kiến thức chuyên môn từ thế giới việc làm với việc tăng cường công tác sư phạm nhằm đào tạo chuyên sâu và linh hoạt, nhằm nâng cao chất lượng công việc, quản lý chất lượng, phát triển truyền thông và sử dụng nhân lực hiệu quả trong mô hình đào tạo nghề Đây thực sự là một mô hình hữu ích cho công tác dạy nghề ở cả cấp độ trong nước và quốc tế - hướng tới tương lai và đảm bảo tính bền vững Công tác dạy nghề thực chất là việc tăng cường kiến thức nghề nghiệp kết hợp với thực tiễn hành nghề được Trung Quốc áp dụng ngay từ khối THPT
Ở Cộng hoà dân chủ Đức trước đây các nhà khoa học sư phạm như: Heinz Frankieniez, Ubrich Viets đã đề xuất và áp dụng hình thức dạy nghề phổ thông cho học sinh phổ thông ở tại các trung tâm kỹ thuật tổng hợp và ở các nhà máy, xí nghiệp Việc hướng dẫn học nghề phổ thông là do các công nhân lành nghề và các giáo viên dạy nghề ở các nhà máy, xí nghiệp ở các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp
Trang 15thực hiện, còn các giáo viên phổ thông chỉ tổ chức theo dõi và đón nhận những nhận xét và kết quả học nghề của từng học sinh Ngoài ra các cơ quan Nhà nước tham gia vào việc hoạch định kế hoạch học nghề phổ thông, định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp vào các trường nghề chuyên nghiệp hoặc các trường cao đẳng, đại học tiếp theo phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của nhân dân
Với mô hình này, việc quản lý dạy nghề phổ thông hầu hết được thực hiện (chủ yếu) bởi trung tâm kỹ thuật tổng hợp hoặc ở các nhà máy, xí nghiệp liên kết với nhà trường làm nhiệm vụ dạy nghề phổ thông Nhà trường phổ thông chỉ tham gia một phần trong hệ thống quản lý dạy nghề phổ thông, đó là lập kế hoạch học nghề, tổ chức ban đầu khi biên chế học sinh, thực hành…
Với quan điểm trên, dạy nghề cho học sinh phổ thông được coi là giáo dục nghề nghiệp và giáo dục nghề nghiệp gắn liền với công tác hướng nghiệp của nhà nước Việc giáo dục nghề nghiệp có tính chọn lọc cao, có chương trình nội dung phong phú Nhiệm vụ quản lý dạy nghề phổ thông được thực hiện đồng thời với công tác quản lý khác do Nhà nước qui định cho trường THPT
Tại Philippin dạy nghề phổ thông cũng thực hiện theo mô hình trên, song yêu cầu cao hơn về tay nghề Học sinh phổ thông sau khi tốt nghiệp phải đạt trình độ bậc thợ 1/7 đến 2/7 Nghề được học, được chú trọng gắn liền với nhu cầu của nền kinh tế
xã hội, đó là: nghề điện tử, tin học, thông tin và thương mại Yêu cầu chất lượng chuyên môn, tổ chức học tập và việc đánh giá kết quả có cao hơn, đòi hỏi công tác quản lý dạy nghề phổ thông cũng cao hơn Trung tâm GDTX được đầu tư hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại, đủ tầm để kiểm tra, đánh giá cấp chứng chỉ nghề gắn với bậc thợ nghề tương ứng, được xã hội chấp nhận Trình độ quản lý dạy nghề phổ thông được đánh giá là ưu việt rất nhiều so với các quốc gia nghiên cứu
1.1.2 Ở trong nước:
Ở nước ta, từ thập kỷ 80 toàn ngành giáo dục đã thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về dạy nghề phổ thông cho học sinh và được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội Công tác dạy nghề từng bước xây dựng và phát triển, đáp ứng nhu cầu học nghề ngày càng cao của xã hội góp phần đào tạo nguồn lao
Trang 16động trực tiếp, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, phù hợp với cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững Đóng góp vào thành công chung đó, phải kể đến mô hình đào tạo nghề phổ thông và mạng lưới các trung tâm dạy nghề đáp ứng yêu cầu đa dạng, linh hoạt Trong xu thế hội nhập kinh
tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ trí thức Do vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải đầu tư cho con người mà cốt lõi là đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực lao động trực tiếp Cũng với ý nghĩa đó, nhiều nhà khoa học cho rằng, cần phải có một lực lượng lao động được đào tạo phù hợp với sự phát triển của các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế xã hội Tất nhiên phát triển nguồn nhân lực không chỉ là phát triển giáo dục, đào tạo mà còn là phát triển nền y tế, chăm sóc sức khoẻ và nâng cao mức sống dân cư, nhưng giáo dục, đào tạo nói chung, dạy nghề núi riêng vẫn là cốt lõi của chiến lược phát triển nguồn nhân lực
Xác định đang trong giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, như vậy về mặt thời gian, Việt Nam đi sau một số nước đang phát triển trong khu vực và trên thế giới Sau 20 năm thực hiện đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu nổi bật trên một số lĩnh vực, nhưng về cơ bản Việt Nam vẫn
là nước nông nghiệp với gần 70% dân số sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông, lâm, ngư nghiệp Và dù qua hàng chục năm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức lại sản xuất, nhưng đến nay khu vực nông thôn với 32 triệu lao động vẫn chiếm gần 70% lực lượng lao động cả nước, mỗi năm lại tăng thêm gần 1,6 triệu lao động chưa có việc làm Đó là chưa kể gần 30% thời gian lao động ở khu vực nông thôn chưa được
sử dụng khiến ở nhiều vùng sâu, vùng xa, đời sống của nhân dân cũng rất khó khăn
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện nguyên lý “Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội” Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận quan trọng trong nội dung giáo dục toàn diện đã được xác định trong Luật Giáo dục Dạy nghề phổ thông đã được triển khai trong những năm qua ở phạm vi toàn quốc và đã thu được những
Trang 17thành tích đáng kể Dạy nghề phổ thông ở Việt Nam thực hiện theo mô hình liên kết giữa trường THPT và trung tâm GDTX, giữa trường THPT với trung tâm KTTH -
HN Mỗi một trung tâm GDTX tổ chức dạy nghề phổ thông cho các trường THPT
và THCS trong cụm được Sở GD và ĐT quy định Trường THPT và THCS thực hiện xây dựng kế hoạch học nghề, biên chế lớp và thống nhất chương trình dạy nghề phổ thông với trung tâm GDTX Hai cơ quan thống nhất nội dung, kế hoạch, thời gian thực hiện dạy học và thời gian đánh giá, thi nghề cho học sinh Mô hình quản lý và dạy nghề phổ thông trên được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các Sở
GD và ĐT triển khai và rút kinh nghiệm thường xuyên Mặc dù dạy nghề phổ thông
đã được Bộ GD và ĐT chỉ đạo thống nhất bằng chương trình pháp lệnh toàn quốc
đã lâu Song thực tế còn nhiều nơi chưa thực hiện tốt Việc dạy nghề phổ thông ở nhiều nơi còn chưa đảm bảo chất lượng cho thấy một trong những nguyên nhân quyết định là công tác quản lý dạy nghề phổ thông còn nhiều hạn chế Việc quản lý
kế hoạch và thực hiện chương trình dạy nghề phổ thông bộc lộ điểm yếu nhất ngoài
ra chưa tìm được các biện pháp khác quản lý hữu hiệu Bởi vậy việc quản lý tốt hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông trong những năm tới là rất cấn thiết Chỉ thị 14/2001/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về
ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Những khái niệm về quản lý
Như chúng ta đều biết, quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì?
Trang 18Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, quốc gia và mọi thời đại Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người,để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và thiên nhiên Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với bản thân mình Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối người khác, họ điều khiển hoạt động của các nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy, quản lý xuất hiện rất sớm và tồn tại, phát triển cho đến ngày nay
Theo quan điểm điều khiển học: quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật…nó bảo toàn cấu các
hệ, duy trì chế độ hoạt động Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Theo quản điểm của lý thuyết hệ thống: quản lý là “ Phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu”
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau
Ở nước ngoài có một số khái niệm như sau:
Các Mác đã viết “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo
để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[33 tr 28-480]
Trang 19Theo Fredrick Winslow Taylor (1856 - 1915) thì khẳng định: “ Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[32 tr89]
Theo Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì “ Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [30 tr33]
Theo Thomas J.Robins và Wayned Morrison lại cho rằng: “ Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học”
Ở Việt Nam, quản lý được khái niệm như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt - viện Ngôn ngữ học định nghĩa:” Quản lý là trông coi, giữ gìn theo yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà con người quản lý mong muốn [23 tr30]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “ Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động ( khách thể quản ký) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [27 tr33]
Theo tác giả Hồ Văn Vĩnh thì: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thế quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [29 tr15]
Theo tác giả Nguyễn Bá Dương: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thế quản lý và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức,
là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lí và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [26 tr55]
Trang 20Theo tác giả Trần Quốc Thành quan niệm: “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hành động của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” [28 tr1]
Quản lý là hoạch định tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc
và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra
Từ những ý chung của các định nghĩa trên và xét quản lý với tư cách là một hành động có thể khái quát: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra
Thực chất của hoạt động quản lý là xử lý mỗi quan hệ giữa chủ thể quản lý
và khách thể quản lý Chủ thể quản lý luôn là con người và có cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào qui mô, độ phức tạp của chủ thể quản lý Khách thể quản lí là đối tượng chịu sự điều khiển, tác động của chủ thể quản lí Con người thực sự là yếu tố quan trọng nhất trong khách thể quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức Hoạt động quản lý có những yêu cầu khách quan, phổ biến đối với những người làm quản lý, đó là những chức năng chung và
cơ bản của hoạt động quản lý
1.2.1.2 Những chức năng của quản lý
Quản lý là những tác động hướng đích với các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, điều khiển, kiểm tra Bản chất của quản lý là sự phối hợp các nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý sau:
+ Lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, biện pháp, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý
+ Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành, nguồn lực cho các thành viên để họ có thể hoàn thành các mục tiêu xác định Tổ chức là công
cụ quan trọng của quản lý
+ Lãnh đạo là quá trình tác động điều khiển, hướng dẫn của chủ thể quản lý đến các con người trong tổ chức, để họ tự nguyện nhiệt tình, tin tưởng, phấn đấu đạt
Trang 21các mục tiêu quản lý Khi cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mục tiêu hướng vận hành của hệ nhằm giữ vững mục tiêu chiến lược
đề ra
+ Kiểm tra đánh giá là việc đo lường, đánh giá kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những ưu điểm và những hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo Qua đó hiểu được nguyên nhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ra được những bài học kinh nghiệm
Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra là giữ vai trò liên hệ nghịch, là trái tim mạch máu của hoạt động quản lý Có kiểm tra mà không đánh giá coi như là không
có kiểm tra và không có kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý
Các chức năng quản lý được mô tả theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý 1.2.1.3 Các nguyên tắc quản lý
Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục ) mà yếu tố chủ yếu là con người, các nhà quản lý thường vận dụng những nguyên tắc sau đây:
+ Nguyên tắc đảm bảo tính Đảng
Đảng cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn diện mọi tổ chức chính trị, xã hội, vì thế trong quản lý phải bám sát đường lối chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động của bộ máy Thông qua hiến pháp, pháp luật của Nhà nước mà các tổ chức phải điều chỉnh cho đúng, cho phù hợp
Kế hoạch
Chỉ đạo
Trang 22+ Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Đó là nguyên tắc quan trọng, tạo khả năng quản lý một cách khoa học, có sự kết hợp chặt chẽ của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng tạo của quảng đại quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lý
Tập trung trong quản lý được hiểu là toàn bộ các hoạt động của hệ thống được tập trung vào cơ quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương, phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản
để thực hiện Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng
Dân chủ trong quản lý được hiểu là: Phát huy quyền làm chủ của mọi thành viên trong tổ chức, huy động trí lực của họ Dân chủ được thể hiện trong việc mọi người tham gia bàn bạc các chỉ tiêu, kế hoạch của cơ quan, kiến nghị các biện pháp trước khi ra quyết định
Trong thực tiễn người quản lý phải biết kết hợp hài hoà giữa tập trung và dân chủ, tránh tập trung dẫn đến quan liêu, độc đoán, song cũng phải biết sử dụng quyền lực tập trung một cách đúng lúc, đúng chỗ, phải dám quyết đoán và dám chịu trách nhiệm
+ Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học và thực tiễn:
Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lý phải nắm được qui luật và phát triển của bộ máy, nắm vững được qui luật tâm lý của quá trình quản lý, hiểu rõ thực tế địa phương, thực tiễn của ngành mình, đảm bảo hài hoà lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, đảm bảo hiệu quả kinh tế, đảm bảo vai trò quần chúng tham gia quản lý, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
+ Nguyên tắc chuyên môn hóa
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động quản lý người quản lý cần phải chuyên môn hóa mọi hoạt động, lĩnh vực quản lý và tiến hành quản lý theo chất lượng chuyên môn của đối tượng quản lý Hiểu rõ chuyên môn và trách nhiệm công việc của từng người để cụ thể hóa việc quản lý Thực tiễn cho thấy càng phân định rõ ràng cụ thể, chức năng, yêu cầu và tính chất nhiệm vụ chuyên môn của đối tượng quản lý bao nhiêu thì chất lượng quản lý càng cao
Trang 231.2.2 Quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức,điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, chính sách hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… Nói cách khác, quản lý nhà nước là tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra của chủ thể quản lý
1.2.2.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người
Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là sản phẩm xã hội mà còn
có nhân tố tích cực, động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trong xã hội hiện đại khi các quốc gia đua tranh về khoa học và công nghệ thì giáo dục có vai trò quyết định giúp các quốc gia thắng lợi trong cuộc tranh đua
đó Phát triển giáo dục trở thành quốc sách hàng đầu thể hiện trong chiến lược và mọi chính sách của mỗi quốc gia
Theo P.V.Khu đôminxki (nhà lí luận Xô Viết): Quản lý giáo dục là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát triển toàn diện và hài hòa của họ
Ở Việt Nam, theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm
Trang 24cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam Mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất
Theo Phạm Minh Hạc: Việc quản lý nhà trường phổ thông có thể mở rộng
ra là việc quản lý giáo dục nói chung là quản lý hoạt động dạy - học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục
Quan niệm về quản lý giáo dục có khác nhau, song chúng ta vẫn thấy có những điểm chung:
- Quản lý giáo dục là một hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
- Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trưởng, để đạt mục đích đã định
1.2.2.3 Quản lý nhà trường
Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động giáo dục đều thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, THCN, CĐ, ĐH và sau ĐH) Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quản lý nhà trường; Các nội dung QLGD luôn gắn liền với quản lý nhà trường Quản lý nhà trường có thể được coi như là sự cụ thể hóa công tác QLGD
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực ( cơ sở vật chất, tài chính, thông tin…) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật kinh tế, quy luật xã hội…) nhằm đạt mục tiêu giáo dục
Trang 25Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ sự phát triển cộng đồng là tăng nguồn vốn con người, vốn tổ chức và cả vốn xã hội
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là: “ Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn sự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới.”
Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
Bản chất Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tới mực tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của quản lý giáo dục
Quản lý nhà trường được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
Quản lý nhà trường là toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách học sinh
Trang 26Thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Trường học là một thành
tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục “ Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa…mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.”
Như vậy quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường Do đó quản lý nhà trường là vận dụng tất
cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
1.2.3 Nghề phổ thông, dạy nghề phổ thông, quản lý dạy nghề phổ thông 1.2.3.1 Nghề phổ thông
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có được những tri thức những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Nghề phổ thông là những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương, nắm được nghề này học sinh có thể tự tạo việc làm, dễ sử dụng trong các thành phần kinh tế tại chỗ của cộng đồng dân cư
Là những nghề có kỹ thuật tương đối đơn giản, mọi người đều có thể học được phục và phục vụ ngay cho cuộc sống của họ, quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải
có trang thiết bị phức tạp
Thời gian đào tạo nghề ngắn, tối thiểu là 70 tiết tối đa là 105 tiết
Nguyên liệu dùng cho việc dạy nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương
1.2.3.2 Dạy nghề phổ thông
Nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng (đang cần phát triển ở địa phương) Những nghề ấy có kỹ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương, thời gian học nghề ngắn Nghề phổ thông được tiến
Trang 27hành dạy trong các trung tâm dạy nghề, trung tâm GDTX, trung tâm KTTH – HN, tại các trường trung học phổ thông và các lớp dạy nghề tư nhân, nhằm trang bị một
số kỹ năng nghề cơ bản để học sinh tiếp tục học lên hoặc vào đời lao động
Tác giả Phạm Tất Dong quan niệm: “ Ở THCS, học sinh cần được giới thiệu nghề và những công nghệ mới nhất đang được sử dụng trong nghề Mặt khác, các
em vẫn được học nghề bởi vì trong số các em này không ít sẽ đi vào trường dạy nghề sau khi tốt nghiệp bậc học này”
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “ Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư cách là dạy tri thức, kĩ năng lao động, hướng nghiệp là chính” [37,44]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê đã đề cập đến nhiệm vụ dạy nghề của giáo dục phổ thông là: “ Giúp học sinh có được năng lực tìm được việc làm, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường, đó là những con người có tri thức văn hóa, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” [27,105,106]
Vấn đề dạy nghề cho học sinh phổ thông, tác giả Phạm Huy Thụ và Đoàn Chi đã thể hiện quan điểm của mình: “ là một hoạt động dạy học, dạy nghề phổ thông trong nhà trường phổ thông thực hiện một cách có hiệu quả nguyên lý giáo dục”
Xuất phát từ những phân tích trên, tôi quan niệm rằng nghề phổ thông là một môn học nằm trong kế hoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh mục dạy nghề cho học sinh trung học phổ thông Thông qua tổ chức hoạt động dạy nghề phổ thông nhằm cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kỹ thuật mà còn giáo dục học sinh thái độ tác phong lao động nghề nghiệp thích ứng những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội, đồng thời để dịch chuyển lao động nghề nghiệp phù hợp với những thay đổi nhanh chóng về việc làm
1.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông
Quản lý mục tiêu, nội dung dạy nghề phổ thông là quản lý xây dựng và thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đến mục tiêu nhiệm vụ giáo dục, thái độ, phát triển trí tuệ cho học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục
Trang 28Quản lý giáo viên, học sinh và quản lý nề nếp dạy học và quản lý thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy - giáo dục của giáo viên và các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh, việc chấp hành các quy định về Giáo dục - Đào tạo như các điều lệ, nội quy…một cách nề nếp ổn định
Quản lý chất lượng dạy nghề phổ thông là phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo chất lượng theo yêu cầu
Quản lý tài chính và cơ sở vật chất: hiểu biết về luật ngân sách, thực hiện có hiệu quả ngân sách Nhà nước cấp Đảm bảo cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ hoạt động dạy nghề phổ thông
Quản lý các hoạt động kiểm tra, đánh giá, quản lý các hoạt động ngoài lớp, ngoài nhà trường Tất cả các nội dung quản lý nói trên đều phải thực hiện theo chu trình gồm 5 giai đoạn như sau:
+ Quản lý mục tiêu, nội dung dạy nghề phổ thông: mục tiêu dạy nghề phổ thông được hiểu là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình đào tạo Mục tiêu hay sản phẩm của quá trình dạy nghề phổ thông chính là những học sinh tốt nghiệp với nhân cách, hiểu biết về nghề, trình độ nghề đã được thay đổi trong quá trình đào tạo Dạy cho học sinh những tri thức chuyên môn nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo hình thành tay nghề và bồi dưỡng phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của nghề Quản lý mục tiêu nội dung nghề phổ phông gồm hai bộ phận
- Quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung: là quản lý việc lập kế hoạch và nội dung chương trình giảng dạy Quản lý việc thực hiện mục tiêu và tổ chức làm sao cho các kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, đúng nội dung và thời gian, quán triệt các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
- Quản lý thực hiện mục tiêu, nội dung: ở bước chuẩn bị cần quán triệt kế hoạch đào tạo, chương trình, tài liệu, giáo trình, giáo khoa, sách tham khảo, cơ sở vật chất, giáo viên… Lập kế hoạch cần xác định lịch trình, tiến độ, kế hoạch của việc quản lý như dự giờ, hoạt động ngoại khóa và các hoạt động có liên quan đến bồi dưỡng giáo viên, tài chính, vật tư, vật liệu
Trang 29+ Quản lý giáo viên và học sinh, quản lý nề nếp dạy và học: quản lý giáo viên thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của từng giáo viên bao gồm
- Quản lý năng lực của sư phạm của đội ngũ giáo viên giao nhiệm vụ giảng dạy rõ ràng ngay từ đầu năm học, kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính, tổ chức để quản lý theo dõi đôn đốc đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt - học tốt Tổ chức kiểm điểm, nhận xét, đánh giá, bình bầu thi đua cuối năm, thi giáo viê giỏi
- Quản lý khả năng tổ chức học sinh của mỗi giáo viên: học tập là một quá trình tự giác, tích cực của học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất và hình thành nhân cách của bản thân, biển đổi nội dung tri thức thành phẩm chất năng lực của cá nhân để kích thích tính tự giác của học sinh dựa trên cơ
sở giác ngộ sâu sắc về mục đích và nhiệm vụ học tập
- Quản lý nề nếp học tập: giờ giấc chuyên cần, ghi chép bài vở, công việc thực hành, sách và tài liệu học tổ chức cho học tập, nghiên cứu, rèn luyện để nắm được biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập phát huy yếu tố tích cực vươn lên đạt hiệu quả cao trong học tập
- Quản lý hồ sơ: có sự kết hợp giữa các trường THPT, THCS vì đối tượng học sinh tại các Trung tâm là các học sinh phổ thông
- Quản lý kết quả học tập của học sinh:tổng hợp, phân loại thông báo đến học sinh và các đơn vị trường kịp thời uốn nắn học sinh
- Quản lý nề nếp dạy và học: chấp hành quy chế, quy định (điều lệ, chế độ, nội quy…) của cơ quan quản lý cấp trên và Trung tâm Về hoạt động dạy và hoạt động học, đảm bảo cho các hoạt động đó tiến hành nề nếp ổn định, chất lượng và hiệu quả Cần xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, mối quan hệ học hỏi giúp
đỡ lẫn nhau giữa thầy và trò Tổ chức thi đua phòng trào dạy tốt - học tốt thực hiện
nề nếp dạy học thông qua xây dựng kế hoạch học tập
+ Quản lý chất lượng trong hoạt động dạy nghề phổ thông: trên cơ sở các văn bản quy định của nhà nước của ngành Giáo dục - Đào tạo tổ chức để cán bộ - giáo viên - học sinh hiểu và thực hiện Để thực hiện có hiệu quả việc quản lý chất lượng
Trang 30cần phải: kiểm tra, giám sát, nắm được kết quả, tồn tại những việc chưa làm được tìm ra nguyên nhân, tìm biện pháp khắc phục yếu kém
+ Quản lý tài chính và cơ sở vật chất
- Quản lý tài chính: cân đối thu chi, kiểm tra sổ sách kế toán, thực hiện có hiệu quả ngân sách Nhà nước cấp
- Quản lý cơ sở vật chất: luôn đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị phù hợp với nội dung, chương trình, phương pháp và đối tượng đào tạo
+ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy nghề phổ thông: đánh giá là một khâu cơ bản, là nhiệm vụ thường xuyên của nhà trường, là yếu tố thúc đẩy sự rèn luyện và học tập của học sinh và nhiều khi nó giữ vai trò quyết định đối với chất lượng Giáo dục - Đào tạo
1.3 Quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông ở các trường THPT của trung tâm GDTX Tiên Du
1.3.1 Quản lý giáo viên chuẩn bị bài trước khi lên lớp
Như ta đã biết kết quả của quá trình dạy học nói chung và dạy nghề phổ thông nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài chu đáo, cẩn thận và suy ngẫm đến mọi khả năng có thể xảy ra trong từng tiết học của giáo viên, để có cách thức, phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh và trang thiết bị hiện có Nhất
là việc chủ động phân chia nhóm, tổ tham gia thực hành các dụng cụ trực quan Lãnh đạo các trung tâm GDTX cần phải quản lý, chỉ đạo tốt hai công tác chủ yếu của giáo viên dạy nghề là soạn bài và chuẩn bị các thiết bị dạy học cần thiết Để làm tốt được điều đó lãnh đạo trung tâm cần tập trung vào một số công việc quản lý sau:
+ Yêu cầu các tổ, nhóm chuyên môn nghiên cứu nội dung, chương trình
Trang 31+ Thực hiện chế độ dự giờ, thăm lớp để đánh giá việc sử dụng giáo án đã soạn của giáo viên, tránh tình trạng lên lớp cắt xén nội dung chương trình, coi nhẹ phần thực hành
+ Sau khi kiểm tra phải tổ chức rút kinh nghiệm ngay trong tổ chuyên môn
để cải tiến việc soạn giáo án
1.3.2 Quản lý giáo viên thực hiện qui chế chuyên môn
Quản lý chuyên môn trong nhà trường là quản lý toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục của từng thầy, việc học tập, rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện, nhằm thực hiện mục tiêu và đường lối giáo dục của Đảng Trong đó quản lý việc giảng dạy, giáo dục của thầy là tối quan trọng Hoạt động dạy học của thầy được tuân thủ chặt chẽ theo qui định thống nhất của ngành Giáo dục - Đào tạo Nhà quản
lý kiểm soát hoạt động dạy của giáo viên thông qua qui chế chuyên môn
Công tác quản lý qui chế chuyên môn của giáo viên thường đi sâu vào các yêu cầu đối với giáo viên
- Yêu cầu thứ nhất: Xác định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu về các mặt hoạt động: giảng dạy lí thuyết, tổ chức thực hành thí nghiệm,
tổ chức tham quan thực tế, bồi dưỡng HSG, phụ đạo học sinh kém, giáo dục đạo đức, tinh thần học tập bộ môn, chỉ tiêu phấn đấu về tỉ lệ lên lớp thẳng, tốt nghiệp, học sinh giỏi bộ môn
- Yêu cầu thứ hai: Thực hiện chương trình dạy học khoa học đúng, đủ tuân thủ chặt chẽ qui định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học các môn, thời gian dạy học từng môn
- Yêu cầu thứ ba: Thực hiện soạn bài, chế độ chấm, trả bài cho học sinh: Kết quả học tập trong từng tiết học phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị chu đáo, cẩn thận và đề ra nhiều tình huống sư phạm xảy ra Người giáo viên phải biết
sử dụng linh hoạt tuỳ theo đặc điểm từng lớp, từng đối tượng học sinh Nhà quản lý chuyên môn thường yêu cầu giáo viên phải soạn xong giáo án giảng dạy trước buổi dạy khoảng 1 tuần, đưa qui định ký giáo án và phân cấp cho các tổ trưởng quản lí giáo viên qui định trên
Trang 32Chế độ kiểm tra học sinh được duy trì thường xuyên, kết quả được phản ánh thông qua sổ đầu bài, sổ ghi điểm trên lớp Nhà quản lý kiểm tra hoạt động trên thông qua một số đợt kiểm tra định kì, có báo cáo trước Nhờ kế hoạch định kì trên, giúp giáo viên chủ động thực hiện tiến độ kiểm tra học sinh, tự giác hoàn thành yêu cầu của nhà quản lý chuyên môn
- Yêu cầu thứ tư: Tăng cường kiểm tra thực hiện qui chế chuyên môn của giáo viên
Đó là hoạt động quan trọng, rất cần thiết của nhà quản lý Trong từng yêu cầu trên, nhà quản lý phải đề ra các biện pháp kiểm tra phù hợp Thông qua kiểm tra mới nắm được tinh thần, thái độ, ý thức của giáo viên thực hiện qui chế chuyên môn, đánh giá chất lượng giảng dạy và giáo dục của giáo viên Tăng cường công tác kiểm tra mới đưa hoạt động chuyên môn vào nề nếp, chất lượng kiểm tra nhằm đánh giá chất lượng đội ngũ để có kế hoạch sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lí
Quản lý giáo viên thực hiện tốt qui chế chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác dạy và học, đặc biệt trong hoạt động DNPT giáo viên thường dạy xa trường, xa trung tâm, nên công tác quản lí của trung tâm cần phải linh hoạt
và được điều chỉnh thường xuyên, phù hợp với kế hoạch hoạt động ở các trường THPT
1.3.3 Quản lý kiểm tra đánh giá dạy nghề phổ thông của giáo viên
Kiểm tra đánh giá là một trong bốn chức năng cơ bản có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý nói chung và quản lý dạy nghề phổ thông nói riêng
Kiểm tra hoạt động của giáo viên trước khi lên lớp, trong khi lên lớp, kiểm tra tiến độ cho điểm học sinh của giáo viên, kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy nghề của giáo viên
Đánh giá giáo viên là một việc quan trọng và cần thiết trong toàn bộ quá trình quản lý cảu lãnh đạo trung tâm GDTX Việc đánh giá giáo viên thông qua mỗi lần kiểm tra, rút kinh nghiệm giúp cho lãnh đạo trung tâm xác nhận được năng lực, phẩm chất của giáo viên, đồng thời giúp cho giáo viên hiểu biết đầy đủ hơn về khả
Trang 33năng chuyên môn, cũng như các năng lực khác về sư phạm của mình, từ đó có ý thức vươn lên hoàn thiện mình Trong dạy nghề phổ thông, nhà quản lý cần đề ra nhiều biện pháp kiểm tra, linh hoạt hơn so với các loại hình dạng văn hoá khác, bởi
vì nhà quản lý ít khi cùng giáo viên ở trường THPT Việc “thả nổi” cho giáo viên dạy nghề phổ thông ở trường THPT đang là phổ biến, ngoài sự kiểm soát của trung tâm, điều đó dẫn tới chất lượng dạy nghề phổ thông thấp
1.3.4 Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề phổ thông
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dạy nghề phổ thông là những phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh Đây là hệ thống bao gồm: nhà cửa, lớp học, thiết bị chung, máy móc phục vụ môn học, đồ dùng thực hành, tranh vẽ
Cơ cở vật chất kỹ thuật là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy nghề phổ thông, thiếu điều kiện này thì quá trình dạy nghề sẽ không diễn ra, hoặc có diễn ra nhưng chất lượng rất thấp, cơ sở vật chất thiết bị dạy học là nội dung, là phương tiện chuyển tải thông tin, giúp giáo viên tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, giúp học sinh có hứng thú học tập, rèn luyện tác phong và kỷ luật lao động, kỹ năng thực hành nghề và hình thành phương pháp học tập chủ động tích cực
Nhà quản lý quyết định đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và tăng cường kiểm tra giáo viên sử dụng cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề phổ thông mới tạo ra môi trường học nghề lành mạnh và thu hút ngày càng đông đảo học sinh tham gia Trong công tác xây dựng cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề phổ thông phải tránh chủ nghĩa hình thức, phải đảm bảo tính thiết thực, tiết kiệm, hiệu quả
Lãnh đạo trung tâm phải chỉ đạo cán bộ, phân công phụ trách cơ sở vật chất
rõ ràng, thường xuyên nắm chắc tình hình số lượng, chất lượng về cơ sở vật chất hiện có, thông báo nhu cầu bổ sung trong thời gian tới
Hàng năm tiến hành việc kiểm kê tài sản của trung tâm, xây dựng nội qui bảo quản, mất mát phải qui rõ trách nhiệm xử lý đúng mức nhằm nêu cao tinh thần bảo
vệ tài sản của trung tâm
Trang 34Phối hợp với các cơ quan chức năng, các lực lượng, xã hội tăng cường đầu tư
cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trung tâm bởi vì dạy nghề phổ thông thực hiện linh hoạt tùy theo điều kiện từng trường phổ thông, từng địa bàn dân cư
Để đáp ứng với phương pháp dạy học mới trong giai đoạn hiện nay, hệ thống thiết bị dạy học cũ phải thay đổi nhiều cả về loại hình, cấu trúc và phương pháp sử dụng
Việc quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy nghề phổ thông rất cần và quan trọng Việc dạy nghề phổ thông hiện nay được đẩy mạnh hay không một phần lớn phụ thuộc vào việc quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề ở trung tâm
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông
1.4.1 Các yếu tố chủ quan
Từ khi tái thành lập huyện Tiên Du được sự quan tâm của các cấp Ủy, Đảng, lãnh đạo các ban ngành hệ thống cơ sở vật chất các trường trung học phổ thông đã được cải tạo, xây mới đáp ứng được phần đông nhu cầu học tập của nhân dân Đặc biệt là kế hoạch số 86 thực hiện xóa phòng học tạm, phòng học xuống cấp và đồng thời nhận được sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện tập trung xây dựng theo hướng chuẩn Quốc gia do đó các trường trung học phổ thông trong huyện được đầu
tư xây dựng đã có cơ sở vật chất trường lớp đầy đủ, ổn định
Hiện nay về quy mô trường lớp đã phát triển theo hướng chuẩn quốc gia và cập nhật được với mặt bằng chung của các quận huyện bạn, song vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn về một số điều kiện liên quan đến phát triển quy mô trường lớp
Tỷ lệ học sinh bỏ học trong năm học 2013-2014 là 0,11%, giảm 0,05% so với năm học trước
Số học sinh trên lớp thấp hơn so với quy đinh trong điều lệ và so với bình quân toàn tỉnh, trung bình mỗi lớp học trong các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện là 40 học sinh /lớp
1.4.2 Các yếu tố khách quan
Do sự phát triển của nền kinh tế quá nhanh, nóng gây áp lực cho hệ thống cơ
sở đặc biệt là hệ thống giáo dục đào tạo
Do làn sóng dân cư cơ học tác động đến huyện Tiên Du nên kéo theo hệ thống Giáo dục phải đáp ứng đồng bộ
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Dựa vào những cơ sở lí luận của việc quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho học sinh trung học phổ thông học tại trung tâm giáo dục thường xuyên, có thể kết luận như sau:
Để thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông, trước hết người cán bộ quản lý trung tâm GDTX cần phải nắm bắt được các quy luật khách quan hiện đang chi phối hoạt động này, các Chủ trương, các Chỉ thị, các Nghị quyết, các văn bản hướng dẫn của cấp trên, sự quan tâm của xã hội và của phụ huynh học sinh, cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực cho trung tâm, đó là những vấn đề về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông, nghề phổ thông và dạy nghề phổ thông đã được trình bày ở trên Ngoài ra người cán bộ quản lý cần biết vận dụng khoa học lí luận giáo dục vào quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông, cũng như định hướng công tác tổ chức hoạt động dạy nghề phổ thông phục vụ sự nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trung tâm GDTX ra đời chưa lâu mà vấn đề thì phức tạp, nên chúng ta cần từng bước khắc phục khó khăn, từng bước rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông và hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp giúp các em trong việc chọn nghề tương lai có cơ sở, phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, phù hợp với năng lực và nhu cầu của xã hội Thực hiện tốt những công việc đó đồng nghĩa với việc cùng ngành Giáo dục và Đào tạo, toàn xã hội giải quyết bài toán phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông Như vậy, trước hết cần tìm hiểu và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông của huyện nói chung và của trung tâm GDTX – Tiên Du nói riêng, đây cũng chính là nội dung được đề cập trong chương hai
Trang 36CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA TRUNG TÂM GIÁO
DỤC THƯỜNG XUYÊN - TIÊN DU 2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu, tổ chức khảo sát
Từ khi tái thành lập huyện đến nay, Tiên Du có sự phát triển rõ rệt về kinh
tế và giáo dục Bậc THPT giữ vài trò quan trọng trong phát triển giáo dục nói chung và trong hoạt động DNPT nói riêng Cấp THPT huyện Tiên Du phát triển rất nhanh cả về qui mô và mạng lưới, đáp ứng được ở mức cao nhu cầu học tập của nhân dân Trong đó trung tâm GDTX đóng vai trò trong hoạt động DNPT phát triển
cả về số lượng và chất lượng của trung tâm
* Mạng lưới trường THPT
Đến nay toàn huyện Tiên Du có 4 trường THPT Trong đó có 2 trường công lập, 2 trường THPT dân lập, ngoài 4 trường THPT huyện còn có 1 trung tâm GDTX
Tính theo dân số, bình quân cứ 3,1 vạn dân có 1 trường THPT Diện tích huyện Tiên Du có 95,687 km2
, bình quân 24km2 ứng với một khu vực tuyển sinh cho 1 trường THPT
Tính theo loại hình: Trường công lập có 2 trường nằm ở xã Việt Đoàn và thị trấn Lim, trường dân lập có 2 nằm ở xã Việt Đoàn và Liên Bão và một trung tâm giáo dục thường xuyên
* Qui mô các trường THPT:
- Năm học 2015- 2016: 4 trường THPT có 30 lớp và một trung tâm GDTX
có 3 lớp , với 1420 học sinh
Trang 37Bảng 2.1: Số lượng học sinh của các trường THPT năm 2015 - 2016
Tên trường Số lớp Số học sinh TB số học sinh / lớp
2.2 Thực trạng hoạt động dạy nghề cho học sinh phổ thông của Trung tâm GDTX Tiên Du
Hoạt động dạy nghề phổ thông của trung tâm GDTX và các trường THPT huyện Tiên Du có sự chuyển biến rõ rệt,đặc biệt là các trường THPT công lập và dân lập tăng nhanh, đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của học sinh trên địa bàn Song điều bất cập về công tác DNPT cho khối THPT huyện Tiên Du xảy ra rất trầm trọng Việc bất cập này xảy ra không chỉ ở các cơ sở thực hiện, mà còn xảy ra ở phạm vi lớn đó là sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh và trung tâm GDTX Tiên Du chưa quán triệt hết mức độ quan trọng trong việc giáo dục toàn diện, chưa phát triển trung tâm tương xứng với sự phát triển của quy mô trường học, số lượng cán bộ giáo viên đảm trách của trung tâm cũng thiếu rất nhiều so với thực tế Những nguyên nhân trên chủ yếu làm giảm công tác DNPT ở trường THPT Ngoài ra thực trạng quản lý DNPT ở các cơ sở cũng có nhiều điều cần xem xét
2.2.1 Số lượng giáo viên DNPT
Bảng 2.2:Tình hình giáo viên của trung tâm so với yêu cầu thực tế đến năm 2015
Số giáo viên
cần có
Số giáo viên hiện có
Số giáo viên đạt chuẩn
Số giáo viên trên chuẩn
Số giáo viên còn thiếu Tỉ lệ đạt
Qua bảng điều tra tình hình giáo viên của trang tâm ta nhận thấy số giáo viên dạy nghề phổ thông chưa đáp ứng với hoạt động DNPT của huyện mới đạt 33.33%
Trang 38có nghĩa thiếu khoảng gần 2/3 so với yêu cầu thực tiễn Lực lượng giáo viên giảng dạy thiếu rất nhiều, buộc trung tâm GDTX phải tự cân đối bằng cách giảm yêu cầu đào tạo nghề, giảm tỉ lệ học sinh tham gia học nghề, giảm cả chương trình đào tạo, giảm thời lượng thực hành rèn kĩ năng Khi điều tra ở trung tâm GDTX Tiên Du thì việc huy động giáo viên tham gia dạy phải linh hoạt khá nhiều
- Với giáo viên của trung tâm: quay vòng tối đa các ngày trong đợt học nghề, phải “chạy” đảo qua đảo lại giữa các trường THPT trong cụm hết sức vất vả
- Với giáo viên cơ hữu: Trung tâm liên hệ với các trường THPT hợp đồng với một số giáo viên đang dạy các môn tin học ở các trường THPT để đảm nhiệm dạy môn tin học thêm cho trung tâm Thực trạng sử dụng giáo viên cơ hữu này chỉ mang tính tạm thời, giải quyết tình thế, lấp chỗ trống, nên việc kiểm tra qui chế chuyên môn, nâng cao hiệu quả rất khó khăn Việc quản lí chuyên môn đối với giáo viên cơ hữu của trung tâm gần như bỏ ngỏ, không giám sát được hoạt động của họ Tuy nhiên, không thể phủ nhận được những thuận lợi của họ, bởi vì họ là giáo viên
ở trường THPT sở tại, nên có nhiều uy tín, tình cảm thuyết phục học sinh, cách tổ chức lên lớp của họ sẽ rất yên tâm
Do giáo viên dạy nghề chính còn thiếu nên trung tâm lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch trong quản lý chuyên môn không thể chủ động được phải thay đổi theo thời điểm của từng trường Đây là yếu tố khó khăn trong công tác quản lý DNPT Khi chức năng lập kế hoạch không thuận lợi thì các chức năng khác tiếp theo của quản lý sẽ bị ảnh hưởng và gây nhiều trở ngại lớn
2.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ DNPT
Cơ sở vật chất là phương tiện lao động sư phạm của các nhà giáo dục và học sinh Đây là một hệ thống gồm các trường sở, thiết bị chung, thiết bị dạy học theo từng môn học, từng ngành học
Thực trạng cơ sở vật chất của trung tâm vẫn còn nhiều bất cập
+ Cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động thiếu, hạn hẹp
+ Tài liệu tham khảo còn ít
+ Tỉ lệ phòng học đạt chuẩn còn ở mức thấp
Trang 39+ Trung tâm chưa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại
* Cơ sở vật chất, thiết bi, máy móc phục vụ DNPT của trung tâm
+ 1 dãy nhà 3 tầng dùng để làm việc
+ 8 phòng học kiên cố
+ 2 phòng xưởng thực hành
+ 1 phòng máy có 24 máy tính
+ 1 phòng thiết bị để đồ dạy ngành điện và làm vườn
Qua thực trạng trên ta thấy cơ sở vật chất phục vụ DNPT ở trung tâm GDTX Tiên Du còn nghèo nàn, thiếu thốn, tỉ lệ đạt chuẩn quá thấp
Với thực trạng này có thể hiểu việc chỉ đạo của ngành giáo dục về DNPT chưa cương quyết, lãnh đạo ngành chưa sâu sát với thực tế, buông lỏng vai trò quản
lý với các cơ sở dạy nghề phổ thông (trung tâm và trường THPT) Nếu quán triệt chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT thì dù trường đủ điều kiện, hay không đủ điều kiện đều phải tổ chức được cho học sinh học nghề phổ thông, mặc dù số lượng học sinh có thể tham gia không nhiều Có thực hiện thì mới rút được kinh nghiệm, mới đáp ứng được nguyện vọng thực tế hàng năm của học sinh THPT, đồng thời mới xây dựng được phong trào học nghề kĩ thuật phát triển trong nhà trường
Muốn thực hiện tốt việc DNPT các trường THPT cần đáp ứng các yêu cầu:
- Các trường phải xây dựng kế hoạch, yêu cầu giáo viên và lãnh đạo phụ trách, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện từng nội dung hoạt động GD - LĐ - HN
- Tăng cường công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT
- Phối hợp với trung tâm GDTX để tổ chức và thực hiện tốt nhiệm vụ dạy
Trang 40nghề cho HSPT Những trường học 2 buổi/ngày cần dành thời gian thích hợp để tổ chức dạy nghề cho học sinh
Các trường THPT thí điểm phân ban phối hợp với các trung tâm GDTX để triển khai thực hiện tốt nội dung chương trình và SGK giáo dục nghề phổ thông lớp 11
Một lần nữa chúng ta lại hiểu sự lo lắng, sự quyết tâm trong công tác chỉ đạo và
có đề ra những biện pháp cụ thể, biện pháp hành chính bắt buộc mọi trường kể cả trường chuyên, từng phân ban, cả những trường học 2 buổi / ngày cũng phải tham gia
Song việc kiểm tra, phê bình các trường không thực hiện nhiệm vụ DNPT chưa thật quyết liệt Các trường không DNPT mà vẫn đạt thành tích xuất sắc thì làm sao hoạt động DNPT được quan tâm Đó chính là tồn tại lớn cản trở đến việc chấp hành chỉ thị của Giám đốc Sở GD và ĐT Bắc Ninh ban hành
2.2.4 Kết quả dạy nghề phổ thông
Số lượng và chất lượng học tập của học sinh học chương trình nghề phổ thông có vai trò hết sức quan trọng trong các trung GDTX, bởi nó tác động trực tiếp tới quy mô phát triển cũng như chất lượng các loại hình đào tạo ở Trung tâm
Số lượng học sinh học học nghề phổ thông tăng góp phần thuận lợi cho việc
mở rộng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng: Đào tạo chứng chỉ Tin học, ngoại ngữ, TCCN, các lớp dạy lái xe ô tô, mô tô,…
Chất lượng học nghề phổ thông của học sinh THPT là nền tảng cơ sở giúp cho học sinh có được nhận thức tốt hơn khi định hướng nghề nghiệp tương lai sau này cho bản thân, cập nhật kiến thức kỹ năng cho bản thân; góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội, tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống
Về mặt ý thức: học sinh đã có ý thức, nề nếp trong quá trình học; bên cạnh
đó vẫn còn một số học sinh cá biệt có những biểu hiện vi phạm pháp luật như đánh nhau, trộm cắp, gây rối trật tự…
Về mặt học lực: tỷ lệ học sinh xếp loại khá, giỏi đã được nâng lên so với những năm trước đây, số học sinh xếp loại yếu, kém còn chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ