1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang

106 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài chúng tôi nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất 2 loài cỏ, trên nguyên tắc cây cỏ trong đồng cỏ là những cây trung sinh sống lâu năm và theo Andreef môi t

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TỈNH BẮC GIANG

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Hoàng Chung

Thái Nguyên - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào

Thái Nguyên, ngày 13 tháng 04 năm 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Chung - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập, tiến hành đề tài và hoàn thiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Lê Ngọc Công cùng toàn thể các thầy cô giáo, cán bộ, nhân viên khoa Sinh - KTNN, khoa Sau đại học - Đại học Thái Nguyên, Viện Khoa học sự sống - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong học tập nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cán bộ Trạm khí tượng thủy văn, phòng thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lục Ngạn, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã Đồng Cốc

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn

bè đã luôn tạo điều kiện, động viên cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về thời gian, kinh phí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 13 tháng 04 năm 2013

Tác giả

Vi Thị Dung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục bảng biểu vii

Danh mục biểu đồ ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam 11

1.2 Đặc tính sinh thái và sinh vật của cỏ hòa thảo 17

1.2.1 Đặc tính sinh thái của cỏ hòa thảo 18

1.2.2 Đặc tính sinh vật học 18

1.2.3 Đặc tính sinh lý 19

1.2.4 Đặc tính sinh trưởng 22

1.2.5 Tuổi thọ của cỏ hòa thảo 23

1.2.6 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo 23

1.3 Đặc điểm một số giống cỏ làm thí nghiệm 24

1.3.1 Cỏ voi (Pennisetum purpureum) 24

1.3.2 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica) 27

1.4 Cơ sở đánh giá chất lượng các giống cỏ 28

1.5 Những nghiên cứu về năng suất chất xanh 29

Trang 5

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN

CỨU 33

2.1 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.1 Vị trí địa lý 33

2.1.2 Địa hình, địa mạo 35

2.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng 35

2.1.4 Khí hậu thủy văn 36

2.1.5 Hiện trạng sử dụng đất đai 38

2.2 Tình hình kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 40

2.2.1 Dân sinh 40

2.2.2 Kinh tế 41

2.2.3 Sản xuất nông, lâm nghiệp 41

2.2.4 Giao thông, thủy lợi 42

2.2.5 Văn hóa giáo dục 43

2.2.6 Quốc phòng, an ninh 43

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 45

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 45

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 45

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 45

3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 45

3.2.1 Nội dung nghiên cứu 45

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

4.1 Tính chất lý, hóa học của đất trồng cỏ 53

4.2 Năng suất và cấu trúc phần trên mặt đất 56

4.2.1 Thí nghiệm trồng cỏ và tưới nước 56

Trang 6

4.2.2 Năng suất và biến động mùa của cỏ voi 57

4.2.3 Năng suất và biến động mùa của cỏ lông Para 62

4.2.4 Cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ lông Para 67

4.2.5 Năng suất phần dưới mặt đất của cỏ voi và lông Para 74

4.3 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất cả 2 phần trên và dưới mặt đất của 2 loài cỏ voi và lông Para 79

4.3.1 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất phần trên mặt đất của 2 loài cỏ thí nghiệm 79

4.3.2 Ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất phần dưới mặt đất của 2 loài cỏ thí nghiệm 80

4.4 Đề xuất biện pháp tác động 81

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang Bảng 1.1 Sản lượng VCK và chất lượng những loài cỏ trên vùng thấp vào 45

ngày cắt 10

Bảng 1.2 Sản lượng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày 11

Bảng 1.3 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha) và tỷ lệ chất khô (%) của cỏ voi 26

Bảng 1.4 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch 26

Bảng 1.5 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa (Gespo, 1974) 26

Bảng 1.6 Năng suất cỏ lông Para thay đổi theo tuổi thu hoạch 28

Bảng 2.1 Đặc điểm khí hậu huyên Lục Ngạn năm 2012 37

Bảng 2.2 Thống kê diện tích đất đai huyện Lục Ngạn năm 2011 39

Bảng 4.1 Kết quả phân tích mẫu đất trồng cỏ 53

Bảng 4.2 Lượng nước trong 100g đất tát ngập nước (độ ẩm 100%) và đất ô TN 54

Bảng 4.3 Lượng nước tưới ô TN qua các lứa của cỏ voi và lông Para 57

Bảng 4.4 Năng suất tươi và khô của cỏ voi qua các lứa cắt (kg/m 2 /lứa) 58

Bảng 4.5 Năng suất tươi và khô của cỏ lông Para qua các lứa cắt (kg/m 2 /lứa) 63

Bảng 4.6 Tỷ lệ % trọng lượng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt 68

Bảng 4.7 Tỷ lệ % trọng lượng thân, lá, hoa cỏ lông Para qua các lứa cắt 70

Bảng 4.8 Diện tích bề mặt lá của cỏ thí nghiệm (m 2 /m 2 đất/ lứa) 71

Bảng 4.9 Quan hệ giữa bề mặt lá (m 2 /m 2 đất/lứa) với khối lượng cỏ (kg/m 2 /lứa) 73

Bảng 4.10 Năng suất phần dưới đất của cỏ voi và lông para ở lứa cắt 2 74

Trang 9

Bảng 4.11 Năng suất phần trên và dưới mặt đất của cỏ voi là lông Para tại lứa

cắt thứ 2 78

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Hình 3.1 Hình vẽ mô tả phương pháp lấy khối đất rửa lấy rễ 50

Hình 4.1 Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC60 Hình 4.2 Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC60 Hình 4.3 Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ lông Para 65

Hình 4.4 Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ lông Para 65

Hình 4.5 Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ lông Para tại ô TN 67

Hình 4.6 Biểu đồ năng suất tươi phần dưới mặt đất của cỏ voi 76

Hình 4.7 Biểu đồ năng suất tươi phần dưới đất của cỏ lông Para 77

Hình 4.8 Biểu đồ năng suất tươi phần dưới đất của 2 loài cỏ tại ô TN 77

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là một trong những ngành góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, giải quyết công ăn việc làm, cải thiện điều kiện sống… cho người nông dân

Trong chăn nuôi, đối với gia súc nhai lại thì khẩu phần ăn hàng ngày, thức ăn xanh chiếm tới 70 - 80% Tuy nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lại không có nhiều các đồng cỏ rộng, năng suất và chất lượng cao Nguồn thức ăn xanh chủ yếu là các đồng cỏ tự nhiên ngày càng cạn kiệt do bị các cây trồng khác lấn, tập quán chăn thả bừa bãi, không quy hoạch và kỹ thuật đã làm cho các bãi cỏ chăn thả ngày càng thoái hóa và giảm năng suất dẫn tới tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc nhất là vào mùa đông

Nhu cầu về thịt, sữa của con người ngày càng tăng đã thúc đẩy chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia súc nhai lại nói riêng phát triển cả về số lượng và chất lượng, từ hình thức chăn nuôi quảng canh sang hình thức thâm canh và bán thâm canh, do đó vấn đề đảm bảo đủ thức ăn về số lượng và chất lượng cho gia súc nhai lại đã ngày càng được quan tâm, đầu tư và nghiên cứu

Để có các đồng cỏ có năng suất và chất lượng tốt phục vụ cho chăn nuôi, từ lâu người ta đã tập trung nghiên cứu tác động vào môi trường sống

và vào thành phần loài, cấu trúc thảm cỏ do vậy đã hình thành nên các đồng

cỏ chăn thả hay cắt có chất lượng Theo hướng tác động vào môi trường sống đó là cải tạo môi trường đất theo nhu cầu trong từng vùng khí hậu Hướng tác động vào thảm cỏ là bao gồm tìm kiếm thành phần loài, cấu trúc thảm cỏ, cấu trúc năng suất cỏ và các biện pháp thu hái, bảo quản thích hợp cho từng loài cỏ

Trang 12

Trong hướng tác động vào môi trường thì giải quyết nhu cầu nước là rất quan trọng, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở các vùng khác nhau, cho từng loài khác nhau

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”

Đề tài chúng tôi nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất 2 loài cỏ, trên nguyên tắc cây cỏ trong đồng cỏ là những cây trung sinh sống lâu năm và theo Andreef môi trường đất tối ưu là độ ẩm đạt

70 – 80% độ ẩm toàn phần

Chúng tôi đã tiến hành thí nghiệm tạo độ ẩm đất 70 - 80% trong suốt thời gian thí nghiệm và theo dõi năng suất, cấu trúc năng suất của 2 loài cỏ trồng

là cỏ voi và cỏ lông Para tại xã Đồng cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Để làm sáng tỏ ảnh hưởng của độ ẩm đất đến năng suất và cấu trúc năng suất của cả 2 phần trên và dưới đất

2 Mục tiêu nghiên cứu

Làm sáng tỏ vai trò độ ẩm đất trong giới hạn xác định tác động đến năng suất và cấu trúc năng suất của cả hai phần trên và dưới đất 2 loài cỏ trồng tại xã Đồng Cốc, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Từ đó đề xuất biện pháp tác động nâng cao năng suất phần trên mặt đất của cỏ

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn gia súc trên thế giới và Việt Nam

Khái niệm về cây thức ăn xanh bao hàm cả các cây thức ăn tự nhiên và các cây thức ăn trồng với mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc Theo Lê Văn An và Tôn Nữ Tiên Sa [1], cây thức ăn xanh bao gồm sản phẩm cây mùa vụ còn lại, cây cỏ hoà thảo, cây đậu, cây thân thảo hay thân gỗ có thể được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, những cây này cũng có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như bảo vệ đất, chống xói mòn, làm tăng độ màu mỡ của đất và hạn chế cỏ dại

Đây là loại thức ăn rất quan trọng, có thể chiếm từ 20 - 40% khẩu phần cho lợn, 70 - 100% khẩu phần của gia súc nhai lại và ngựa, 5 - 10% khẩu phần của gia cầm Chính vì vậy, thức ăn xanh là loại thức ăn vô cùng quan trọng trong chăn nuôi

Để phát triển chăn nuôi động vật nói chung và động vật nhai lại nói riêng, thì một trong những vấn đề hàng đầu cần giải quyết là nguồn thức ăn Thực tế có hai phương thức để cung cấp dinh dưỡng cho gia súc nhai lại đó

là nguồn thức ăn tinh và nguồn thức ăn thô xanh (trên 60% nhu cầu sinh dưỡng của gia súc nhai lại là thức ăn thô xanh) Chính vì vậy mà nguồn thức

ăn thô xanh được đặc biệt chú ý ngay cả những nước kém phát triển và những nước phát triển Việc phát triển đồng cỏ không chỉ cung cấp thức ăn tươi xanh mà còn dùng để dự trữ cho gia súc nuôi nhốt

Cỏ là loại thức ăn chủ yếu của trâu bò, vì trong cỏ có đầy đủ chất dinh dưỡng, như bột, đường, đạm, khoáng, vitamin mà các loại gia súc nhai lại có khả năng sử dụng và hấp thụ tốt Mặt khác, các chất dinh dưỡng trong cỏ

Trang 14

không những rất cần thiết mà lại có tỉ lệ thích hợp đối với nhu cầu sinh lý của trâu bò Ví dụ: nếu tỉ lệ đường - đạm thích hợp nhất cho khẩu phần thức ăn của bò sữa là 1:1 thì tỉ lệ đó trong cỏ non thay đổi từ 1:1 đến 1,4 :1 (Đoàn Ẩn

và Võ Văn Trị, 1976) [2] Cỏ còn là loại cây thức ăn dễ sản xuất, có năng suất cao, tương đối ổn định và là nguồn thức ăn rẻ tiền góp phần làm giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi, chưa kể ưu thế của các giống cỏ lâu năm là thường chỉ cần gieo trồng một lần mà sử dụng được nhiều năm Ví dụ: Giá thành cho 1kg cỏ Mộc Châu và cỏ lông Para trong 3 năm sử dụng là: 0.037

và 0.035 đồng (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]

1.1.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới

1.1.1.1 Tình hình phát triển đồng cỏ trên thế giới

Đồng cỏ là kho dự trữ nguồn năng lượng tiềm tàng, gia súc sẽ chuyển hoá năng lượng chứa trong đồng cỏ thành thức ăn của con người Con người

từ lâu đã biết khai thác đồng cỏ

Song có rất nhiều quan niệm khác nhau về đồng cỏ Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những đặc điểm cần có của loại hình đồng cỏ hoặc nhóm đặc điểm và cũng đã đưa ra hàng loạt định nghĩa về đồng cỏ Theo A.O.Felipe (1965) [34] những vùng đất rộng lớn, kể cả đồng bằng cũng như miền đồi núi, bao phủ bởi cỏ địa phương được sử dụng cho chăn thả quảng canh được gọi là bãi cỏ tự nhiên Còn đồng cỏ nhân tạo được xây dựng lên để thay thế bãi cỏ tự nhiên bằng cách trồng những loài cỏ có năng xuất và giá trị dinh dưỡng cao hơn (CIAT, 1978) [39] Theo các nhà khoa học Liên Xô (cũ): thuật ngữ đồng cỏ là để chỉ những vùng đất đai rộng lớn, có ít cây gỗ và cũng không thích hợp với việc trồng trọt, thực vật sinh trưởng ở đây là cỏ để chăn nuôi Theo các khoa học Anh, Mĩ: Đồng cỏ là chỉ những vùng đất đai rộng lớn không có cây gỗ, không trồng các loại cây nông nghiệp, phần lớn là cỏ,

Trang 15

thích hợp để kinh doanh ngành chăn nuôi Theo Rabốtnốp TA 1984 [48] đồng cỏ là chỉ những vùng khô khan, không có những loại cây gỗ mọc, những vùng chưa trồng trọt, trong đó hoàn cảnh đất đai khác nhau, phần lớn

là những bình nguyên khô khan, không có giới hạn nào cả, bao gồm những cánh đồng cỏ, những cánh đồng quán mộc… Đa số các tác giả cho rằng đồng

cỏ (Grassland) là vùng đất được che phủ bởi thảm cỏ liên tục, nơi có lượng mưa dao động từ 250 - 750 mm ở vùng ôn đới và tới 1200 mm ở vùng nhiệt đới, cỏ sinh trưởng liên tục trong mùa sinh dưỡng, ngừng sinh trưởng trong mùa khô… Ở Việt Nam, theo Trịnh Văn Thịnh (1974) [24] cũng có những đề nghị khác nhau: danh từ “đồng cỏ” để chỉ những diện tích đồng cỏ (vĩnh viễn hay tạm thời) còn những đất đai sử dụng để chăn thả súc vật (có người đề nghị là chăn dắt) chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên thì gọi là bãi chăn Theo Hoàng Chung (2006) [8]: Đồng cỏ là các sinh địa quần lạc, thảm thực vật của

nó được đặc trưng bởi các quần xã cỏ với độ khép tán lớn hay nhỏ và chủ yếu

là cỏ trung sinh nhiều năm, đôi khi là cỏ ẩm sinh, có sự ngừng sinh trưởng vào mùa đông, thường mùa hè không biểu thị sự giảm sút rõ rệt, đất đa dạng

về độ ẩm, độ phì và hàm lượng muối

Trong chăn nuôi, với 2 hệ thống nuôi dưỡng: thứ nhất là dựa vào thức ăn tinh (trên 40% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức ăn tinh), thứ 2 là dựa vào thức ăn thô (trên 60% nhu cầu dinh dưỡng được thỏa mãn bằng thức ăn thô) thì hệ thống thứ 2 được đặc biệt chú ý nhất là ở các nước có khả năng phát triển đồng cỏ, ở những nước này việc sử dụng đồng cỏ không chỉ để chăn thả

mà còn cung cấp thức ăn xanh và dự trữ cho đàn gia súc nuôi nhốt Tại Úc, sản phẩm chăn thả tới 50% sản phẩm xuất khẩu, tỉ lệ này còn cao hơn: 90% ở Tân Tây Lan (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10] Theo Davies (1960) [31] đồng cỏ tự nhiên cung cấp gần một phần hai gia súc chăn thả, tạo ra một phần

ba lượng thịt và một phần sáu sản lượng sữa trên thế giới

Trang 16

Cuộc cách mạng đồng cỏ vùng nhiệt đới và á nhiệt đới triển khai ở Châu Đại Dương bắt đầu từ thế kỷ XIX

Ở các nước nhiệt đới khả năng phát triển đồng cỏ rất lớn nếu được sử dụng một cách hợp lý có thể cung cấp prôtêin động vật không những cho vùng nhiệt đới mà cho cả vùng lân cận

Sau cuộc “Cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây âu mà đặc biệt là ở Anh

đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú

ý và sử dụng đúng với vai trò của nó Nếu như trước kia ở Pháp (1842) chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì hiện nay tỷ số ấy đã thay đổi: 12 triệu

ha trồng cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc (Điền Văn Hưng,1974) [11

Ở Anh các diên tích ngũ cốc giảm đi và diện tích trồng cỏ, các loại cây thức ăn gia súc khác tăng lên và được thâm canh một cách đáng kể

Ở Liên Xô, diện tích trồng cỏ tăng từ 2,1 triệu ha năm 1913 lên 7,3 triệu ha năm 1933 và đến năm 1961 diện tích này đã lên tới 51,9 triệu ha (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]

Ở Thái Lan, với 70% dân liên quan đến sản xuất nông nghiệp, sản phẩm trồng trọt có giá trị thấp, thịt bò và sữa chưa đủ cung cấp theo nhu cầu tiêu dùng Theo FAO, chính phủ Thái Lan có chủ trương tăng thu nhập của người nông dân bằng giải pháp: giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng

Nhằm giải quyết vấn đề thức ăn, trong chăn nuôi gia súc nhai lại nhiều nước trên thế giới phải nhập nhiều giống cỏ khác nhau từ các nước khác nhau

Cỏ voi nguồn gốc từ Uganda được nhập vào Mĩ năm 1913, Australia năm

1914, Cuba 1917, Braxin 1920… (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1976) [7]

Cỏ Pangola xuất hiện ở bên bờ sông Pangola thuộc Nam phi nhập về Mĩ năm

Trang 17

1935, Cuba 1950, Australia 1954 và các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới Ước tính thế giới, gia súc sử dụng khoảng 3,4 tỷ ha đất dùng cho chăn thả và dùng cho sản xuất thức ăn gia súc, diện tích này được đánh giá là hơn 2/3 diện tích

sử dụng sản xuất nông nghiệp (Điền Văn Hưng, 1974) [11]

Tuy nhiên, để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân tố sau để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: độ ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt; phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia súc về các mặt; có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được trồng kết hợp; có khả năng chịu đựng sự giẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và

cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng…

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên thế giới

Song song với diện tích trồng cỏ tăng lên việc nghiên cứu chọn lọc các giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú trọng, nhiều loài

cỏ như cỏ voi, cỏ Ghinê, cỏ Bermuda, cỏ Pangola… đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Lai tạo những giống cỏ mới có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao như Coastcross (cỏ Bermuda lai), cỏ Ghinê từ một loài đã tạo ra nhiều giống mới, cỏ voi cũng vậy Đây là thành tựu khoa học đáng kể để góp phần giải quyết thức ăn cho gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng

Trên thế giới, ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển như:

Úc, Mỹ, Brazin…, vấn đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu Tại vùng đồi núi ở Đông Nam Á chăn nuôi là một bộ phận quan trọng trong

hệ thống sản xuất, nên cũng đã có những quan tâm, đầu tư, nghiên cứu

Trang 18

Tác giả T.Kanno và M.C.M Macedo, 2001 [54] đã tiến hành thí

nghiệm gieo hạt của các cỏ Brachiaria decumbens, B.brizantha,

B.dictyoneura, B humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào đầu mùa mưa tại các cánh đồng ở khu vực đầm lầy

Các tác giả thấy rằng không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi gieo hạt vào giữa mùa mưa thì chỉ còn một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa, tuy nhiên cũng không thể sống sót cho đến hết mùa mưa Những kết quả chỉ rõ rằng giai đoạn cây con phù hợp nhất ở khu vực đầm lầy là bắt đầu của mùa khô, khi đất trở nên cứng có thể sử dụng được máy kéo

Theo John W Miles, 2004 [42] chi Brachiaria là giống lớn được sử

dụng làm thức ăn cho vật nuôi vùng nhiệt đới châu Mĩ

Ở Trung Quốc trong quá trình nghiên cứu đã xác định được các giống

cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum… sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng

năm còn sản xuất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Thông tin khoa học kỹ thuật chăn nuôi, 1998) [26]

Ở Philippin, với 90% gia súc nhai lại nuôi tại vườn nhà hoặc ở các

trang trại nhỏ được trồng các giống cỏ Stylo 184, Panicum maxinum,

Paspalum atratum, đều phát triển tốt cung cấp nguồn thức ăn cho gia súc

Ngoài ra, các giống cỏ trên còn được trồng theo đường đồng mức ở đất dốc, cải tạo đất trống đồi núi trọc, trồng dưới tán cây ăn quả Hàng năm còn sản xuất được trên 1 tấn hạt cỏ (E.F.Latinh, F.Gagunda, 1995)

Một số nước khác như Malaysia, Lào,… cũng đã chú trọng đầu tư phát triển cây thức ăn cho gia súc từ những năm 1985 Cho đến nay một số giống

cỏ Hoà thảo và cỏ họ Đậu được chọn lọc, đang phát huy hiệu quả cao trong sản xuất Hằng năm sản xuất được 2 - 3 tấn hạt cỏ các loại Như vậy, phong trào trồng cây thức ăn xanh để chăn nuôi gia súc đang được nhiều nước quan tâm Nó thực sự là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi đại gia súc phát triển

Trang 19

1.1.1.3 Những kết quả nghiên cứu về nâng cao năng suất cây thức ăn gia súc trên thế giới

Hiện nay trên thế giới ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống

cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề năng suất, chất lượng cỏ

Tại Purertorico, Vieente - Chandler Silva và Figarella (1959) [55]

thông báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg

VCK/ha với mức bón 440 kg đạm/ha và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ

Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết

quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens), Para (Brachiaria

mutica) và Ghinê (Panicum maximum) (Barnard, 1969) [35]

Tại Samford, Queensland năng suất hàng năm của giống Paspalum

dilatatum là 15.000 kg VCK (Davies J.G, 1970) [40]

Tại Fiji với điều kiện khắc nghiệt hơn năng suất trung bình là 5.313

kg VCK/ha với mức prôtein thô là 9,9% trong thời gian trên 3 năm (Roberts, 1970) [50]

Tại Redland Bay, Queensland (Riveros và Wilson, 1970) [49] thông

báo năng suất cỏ Setaria sphacelata đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa

sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ

Middleton và Micosker, (1975) [45] cho biết vào năm 1973 và 1974 tại

miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv

Makueni đã sản xuất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg đạm/ha

Theo Quilichao (Colombia CIAT, 1978) [39], giống Brachiaria

decumbens có thể đạt năng suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí

Trang 20

nghiệm không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp

Theo Anon, 2000 [33] tại Thái Lan, sản lượng vật chất khô của các

giống cỏ Digitaria decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và

Paspalum plicatulum khoảng từ 15 - 20, 18 - 25, 9 - 15 và 6 - 10 tấn/ha

Sản lượng này được thể hiện cụ thể ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng thấp

vào 45 ngày cắt

Tên khoa học Tên Việt Nam Năng suất

(tấn/ha) Prôtêin

(Nguồn: Division of Animal Nutrition, Anon, 2000.[33])

Trong đó giống cỏ đắng Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là

những loài cỏ cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái Lan

Theo M.D Hare và cs [44] cho biết các cỏ Brachiaria mutica và

Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm

thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, sản xuất trung bình là 20tạ/ha VCK Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45 ngày và 65

ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất

30 tạ/ha VCK lớn hơn 10tạ/ha so với B Mutica

Trang 21

Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghinê tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50cm và được bón phân hỗn hợp (15 - 15 - 15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tương đương 18 tấn phân bón/ha Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày (Animal Nutrition Division, 2001) [32] Sản lượng này được thể hiện ở bảng 1.2

Bảng 1.2 Sản lƣợng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày

(Nguồn: Annual Report on Animal Nutrition Division, 2000, [32])

1.1.2 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc ở Việt Nam

1.1.2.1 Tình hình phát triển

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, từ lâu chúng ta cũng đã có rất nhiều cố gắng mở rộng diện tích gieo trồng, vừa đảm bảo lương thực cho

Trang 22

người vừa đảm bảo thức ăn cho gia súc Từ năm 1960, chúng ta đã có chủ trương phát triển đồng cỏ cho trâu bò ở những vùng thiếu cỏ Nếu như năm

1960 ở miền Bắc chỉ có 96 ha trồng cỏ thì qua năm 1961 và 1962 diện tích này đã tăng lên 323 và 687 ha Sang năm 1963, theo số liệu ở 6 tỉnh đồng bằng, diện tích trồng cỏ và ngô đay làm thức ăn cho trâu bò đã đạt tới 3.585 mẫu Bắc bộ (Thái Đình Dũng, Đặng Thị Liệu, 1979) [10]

Năm 1976 Bộ Nông nghiệp đã phát hành bản dự thảo “Quy phạm, xây dựng, sử dụng, dự trữ và quản lý đồng cỏ”, từ đó đến nay diện tích đồng cỏ trồng có tới 5.000 – 6.000 ha, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao Đỏ, Đồng Giao, Phú Mãn,… đã xây dựng được hàng nghìn ha đồng cỏ chăn thả luân phiên (Báo cáo của tổng cục chăn nuôi, 1976) Nhiều khu vực chăn nuôi tập thể đã tiến hành cải tạo bãi cỏ thiên nhiên, đồng cỏ cho trâu bò và lợn, nhiều hợp tác

xã đã sử dụng đất ven bờ sông nhỏ, ven đê trồng cỏ cung cấp cho gia súc

Nông trường Mộc Châu với sự giúp đỡ tận tình và toàn diện của Chính phủ và chuyên gia Cu Ba đã xây dựng thành công hệ thống đồng cỏ kết hợp chặt chẽ với kết cấu chuồng trại thể hiện rõ một phương thức chăn nuôi đồng

bộ trên đồng cỏ thâm canh

Nông trường Đồng Giao từ năm 1969 việc xây dựng đồng cỏ chuyển sang hướng mới, thâm canh đồng cỏ bằng trồng các giống mới, chăm sóc và

sử dụng thích hợp Nếu năm 1969 ở đây chỉ có 3 ha cỏ trồng thì tới năm 1975

đã có tới 1179 ha (Báo cáo của nông trường Đồng Giao, 1976) Bên cạch việc xây dựng và cải tạo đồng cỏ, vấn đề dự trữ, phơi khô và ủ xanh được thực hiện có kế hoạch, có chất lượng như ở Sao Đỏ, Mộc Châu Song song với những cố gắng trên việc nghiên cứu các giống cỏ nhập nội và cỏ địa phương có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã được chú ý, nhiều giống cỏ tốt đã được đưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm chăn nuôi trong cả nước như Mộc Châu, Ba Vì, Đồng Giao, Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Thủ Đức, Khánh Dương, Nha Bố…

Trang 23

Nước ta đã nhập nhiều đợt các giống cỏ đậu và cỏ hòa thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Oxtrâylia và Cuba) và đã tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa

phương Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ Pangola (Digitaria

decumbes) cỏ đậu Stylo (Stylosanthes) Nhiều nông trường và hợp tác xã cũng

đã trồng cỏ voi, cỏ Xu đăng, cỏ Pangola…Kết quả thu hoạch các loại cỏ đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3 - 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 - 60 tấn/ha, trồng qua 3 - 4 năm cỏ vẫn phát triển tốt (Đoàn Ân, Võ Văn Trị, 1976) [2]

Trong thời gian hơn 20 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ăn hoà thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT, Philipin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi cụ thể như:

Năm 1990 chương trình bò thịt VIE86/008 nhập 17 giống cây thức ăn

họ đậu, hoà thảo khác nhau từ Autralia

Năm 1995 chương trình cây thức ăn xanh cho nông hộ nhập vào 70 giống (51 giống đậu và 19 giống hoà thảo) từ CSIRO và CIAT chương trình cây keo dậu nhập 22 giống keo dậu từ Australia

Năm 1997 thông qua hoạt động hợp tác quốc tế đã nhập 10 giống Stylo

từ Trung Quốc và Philippin

Năm 1998 chương trình “Phát triển thịt bò một cách hiệu quả ở Việt Nam ACIAR Projeet as 2/97/18”, nhập 55 loại cây thức ăn gồm 15 loại cây

họ đậu và 40 loại cây hoà thảo

Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế với trường Đại học Hohenhein (Đức), 20 loại Flemingia được nhập vào nước ta Ngoài ra một số giống cây thức ăn được nhập thông qua con đường các chuyên gia đi lại công tác

Trang 24

Một số giống cây cỏ nhập nội đã được đánh giá ban đầu và thu được kết quả tốt, ứng dụng vào trong sản xuất ở một số vùng

Tuy nhiên do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc đi hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng thử nghiệm ra sản xuất

1.1.2.2 Kết quả các công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi

Trong những năm trước đây, một số nhà khoa học mới tập trung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội ở một số vùng như:

Lục Văn Ngôn, 1970 [20] đã nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên

trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (Paspalum urvillei), cỏ Xu đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum

laxum), cỏ voi, Pangola, cỏ lông Para, qua thí nghiệm cho thấy các loài cỏ voi,

Tây Nghệ An có năng suất cao và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ

Lê Hòa Bình và cộng sự, 1992 [4] khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi đã cho kết quả như sau:

- Tại Long Mỹ giống Makueni và Hamil cho năng suất chất xanh đạt

56.959,9 tấn/ha tương ứng với 9,7 - 11,9 tấn VCK

- Tại Sơn Thành: Giống Hamil lại cho năng suất cao hơn cả, đạt 92,9

tấn chất xanh tương ứng 17,6 tấn VCK/ha/năm

- Tại Ba Vì hai giống ghine là Liconi và Hamil có năng suất tốt hơn trong đó nổi bật là Liconi Năng suất chất xanh đạt 99,96 tấn tương đương

18,93 tấn VCK/ha/năm

Trang 25

Như vậy trong cùng một giống cỏ nhưng năng suất có sự khác nhau giữa các vùng khá lớn do ảnh hưởng của khí hậu, đất đai và các yếu tố khác

Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ Văn Núng, Đặng Đình Hanh,

1997 [5] đã nghiên cứu giống cỏ Para, các tác giả cho biết cỏ Para có năng suất 89 - 98 tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha tương đương 39 - 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước

Nguyễn Tuấn Hảo, 1999 đã trồng thử nghiệm một số loài cây thức ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu vùng trung du Bắc Bộ Trong các loài thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm của các

giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex Thái lan

là hai loài cỏ mọc khỏe nhất, cho sinh khối cao (năng suất khoảng 30 - 40 tấn/ha)

và có khả năng chịu hạn Ngoài ra, tác giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là

Paspalum atratum BRA 9610 và Paspalum guenoarum BRA 3824

Phan Thị Phần và CTV (1999) [21]; Vũ Thị Kim Thoa, Khổng Văn Đĩnh (2001) [25] khi nghiên cứu cỏ Ghinê TD58 ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:

- Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm Lượng phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha/năm, năng suất chất xanh

cỏ Panicum maximum TD 58 đạt 64,59 - 83,33 tấn/ha/năm Tỷ lệ lá cao

51,48 - 60,44%, năng suất hạt 287 - 323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/lứa

- Khu vực miền Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, đất chua nghèo lân và kali cỏ đều có

Trang 26

tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 - 2,01 cm/ngày) Năng suất chất xanh đạt 90

- 100 tấn/ ha/ năm Cỏ Ghinê có khả năng cho thu hạt, năng suất đạt 450 kg/ha, tỷ lệ sử dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sữa 77% và

ngựa 85%.Tỷ lệ tiêu hóa của dê đối với cỏ Panicum maximum TD 58 cao,

khả năng sử dụng của gia súc đều tốt từ 86 - 100%

Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang, 2002 [22] khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45 -

1,82 cm/ngày Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum

maximum TD 58 có tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày)

Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hòa Bình, Đặng Đình Hanh, 2004 [17] đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 - 179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93 - 138,5 tấn/ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 - 18,9 tấn/ha trong điều kiện trồng theo băng; 28,5 - 36,9 tấn/ha trong kiều kiện trồng theo đường đi

Nguyễn Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh văn Cải, 2006 [14] đã tiến hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận Các tác giả

cho biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể

sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại Ninh Thuận Trong điều kiện tưới nước phân bón năng suất có thể đạt 100 - 150 tấn/ha/năm

Những nghiên cứu tại Sơn La: Tại Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Sơn La đã nhập nhiều giống cỏ đậu và hoà thảo có nguồn gốc nhiệt đới Một số giống cỏ có triển vọng đã được trồng thử nghiệm cho năng suất bình quân hàng năm như sau: (Theo số liệu của kỹ sư: Đoàn Thị Xuân)

Trang 27

- Năng suất chất xanh có sự sai khác nhất định giữa các giống cỏ khác

nhau Thấp nhất là cây P glaucum hybrit là 75,1 tấn/ha, keo đậu 60,4 tấn/ha

và cao nhất là các giống cỏ sweer jumbo, superdan, cỏ voi: 365,3 tấn/ha; 349,3 tấn/ha; 362,5 tấn/ha

- Các giống cỏ hiện nay đã được chuyển giao cho một số địa điểm tại Sơn La như: Một Châu; Mai Sơn; Thuận Châu; Thị xã Tuy nhiên việc nghiên cứu để tăng năng suất chất lượng cỏ đặc biệt trong mùa khô để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho gia súc vẫn chưa được đề cập nhiều

Hoàng Chung, Giàng thị Hương (2006) [9] tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (cỏ voi, cỏ ghinê), tăng 1 - 2 lứa/năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn - 120 tấn/ha)

Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc

bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày), Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ voi chiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt 29,04 tấn/ha/lứa; trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái

là 25 - 27 tấn/ha Đứng thứ hai là cỏ sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4

- 21,4 tấn/ha Tiếp theo là cỏ Ruzi, cỏ sả lá nhỏ và cỏ lông tây (Báo Lao động, 2005) [3]

1.2 Đặc tính sinh thái và sinh vật của cỏ hòa thảo

Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Poaceae) và có 28

họ phụ, 563 chi, 6802 loài (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1976) [7] Cỏ hoà thảo thường chiếm phần lớn trong đồng cỏ 95 - 98% và trong khẩu phần

ăn của gia súc nhai lại chiếm 70 - 80%

Trang 28

1.2.1 Đặc tính sinh thái của cỏ hòa thảo

Đặc điểm sinh thái học là các mối quan hệ riêng biệt của thực vật với từng yếu tố sinh thái, cũng như ảnh hưởng của thực vật trên nơi sống

Cỏ hòa thảo có vị trí quan trọng trong thảm cỏ do cỏ hoà thảo có khả năng phân bố rộng rãi, có thể thích ứng được ở nhiều vùng và trong những điều kiện đất đai khí hậu khác nhau Chúng có thể sinh trưởng được ở vùng nóng đất khô khan mùa khô kéo dài, độ ẩm trung bình 20 - 30%, hoặc những vùng mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn có thể sinh trưởng và phát triển được như

cỏ xương cá, cỏ lông đồi, cỏ Andropogon, cỏ Brachiaria decumbens,

Song đa phần các loài cỏ sinh trưởng tốt ở vùng có độ ẩm từ 60 - 80%

Có loài lại có khả năng sinh trưởng được ở những nơi đất lầy, ngập nước như

cỏ môi, cỏ bấc, cỏ lông para,

Như vậy, có thể nói thực vật trong đồng cỏ tồn tại trong những điều kiện khác nhau của các yếu tố sinh thái cơ bản trong vùng, và khác nhau ở cả hai phần trên và dưới đất (ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, muối khoáng, CO2 ) Nó biểu thị rõ rệt về phân bố sinh khối theo chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang

Vậy trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của các loài cỏ mà

ta có thể chọn, trồng các loài thích nghi với những điều kiện về khí hậu địa chất tương tự như vùng gốc để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng của chúng

Trang 29

Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng, người ta chia

cỏ hoà thảo thành các loại sau:

- Loại thân rễ: Đặc điểm đặc trưng là thân bò dưới mặt đất và chia

nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh (Imperata cylindrica)

- Loại thân bò: Đặc điểm của cỏ này thân nhỏ và mềm, nên thường nằm ngả trên mặt đất Do thân bò lan nhanh nên chúng có khả năng tạo thành một thảm cỏ dày đặc, che phủ kín mặt đất Đại diện là cỏ pangola, lông Para,

cỏ xích lô

- Loại thân bụi: Loại thân này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành búi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ ra từ dưới mặt đất hoặc trên

mặt đất Đại diện là cỏ Ghine (Panicum maximum), cỏ Mộc Châu, cỏ sả…

- Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng, mầm vươn thẳng nên giống cây mía, thân cao to, cho năng suất cao Đại diện loại này là cỏ voi

1.2.3 Đặc tính sinh lý

1.2.3.1 Nhu cầu về nước

Nước đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của sinh vật, Nước là thành phần quan trọng của các tế bào sinh học và là môi trường của các quá trình sinh hóa cơ bản như quang hợp, đóng góp vào sự phong hoá, giữ vai trò quan trọng trong sinh trưởng và sự phát triển của thực vật cũng như các sinh vật trên trái đất

Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn

họ đậu Hệ số toả hơi nước của cỏ này vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi của cỏ họ đậu 214 - 216 gram

Theo N.G Andreef (1974), với đồng cỏ có độ ẩm đất khoảng 70%, một tháng 10m2cỏ bay hơi khoảng 1m3 nước, trong 5 tháng sẽ có 50 tạ cỏ khô/1ha Trên cơ sở đó ta có thể xác định công thức tưới nước trong mùa đông

Trang 30

Như vậy, chế độ nước của các sinh địa quần lạc cỏ trong một vùng khí hậu xác định phụ thuộc địa thế của đồng cỏ và thành phần cơ giới của đất như đất bằng, đất trũng, đất dốc, đất thấp hay bãi bồi,

Độ ẩm của đất cũng yêu cầu theo từng giai đoạn trong đời sống của cây:

- Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%

- Giai đoạn phát triển cành: 75%

- Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần

1.2.3.2 Nhu cầu về dinh dưỡng

Cỏ hoà thảo yêu cầu đất tốt, giàu mùn, đạm, lân, kali Nhu cầu về dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn

- Giai đoạn 1 (nẩy mầm - phân nhánh): Cần nhiều đạm, lân, kali

- Giai đoạn 2 (phân nhánh): Cần nhiều đạm, lân

- Giai đoạn 3 (ra hoa hình thành hạt): Cần nhiều lân và kali

Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn (Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời, 1981) [16].tr 6 - 12 Trong đồng cỏ, người ta thấy có sự quan hệ rõ rệt giữa việc bón đạm và số chồi có hoa Trong điều kiện có bón đạm vào mùa xuân, số chồi sinh sản tăng lên Bón phân, tưới

nước cũng làm tăng số chồi của cây cỏ loại nhiều chồi Thí dụ (Festuca

pratensis): không tưới nước số chồi là 3,5, tưới ẩm 40 - 60% có 11,5 và 80%

có 14,8 chồi

Quan hệ với phân cũng vậy, cỏ Pleum pratens không có phân bón có

605 chồi trên đơn vị diện tích, có 19% số chồi có hoa, nếu bón phân NPK có

790 chồi trong đó có 35% chồi có hoa (Rabốtnốp T.A, 1984) [48]

Trang 31

Trên đất nghèo không có phân bón thì đời sống thường kéo dài không quá 3 - 5 năm Trên đất phì nhiêu hay thường xuyên có phân bón có thể kéo dài 10 năm, có khi hơn

Vậy chế độ dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng tới số chồi, và tuổi thọ của cỏ hòa thảo

1.2.3.3 Nhu cầu về không khí

Các loại cỏ thân đứng, thân bụi, thân rễ phân chia nhánh dưới mặt đất đòi hỏi phải tơi xốp, thoáng khí

Các loại thuộc thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí và độ ẩm thấp hơn

Vậy các loài cỏ khác nhau thì có sự khác nhau về nhu cầu không khí trong đất, do đó trong canh tác cần chú ý tới loại cỏ để có các biện pháp kỹ thuật phù hợp

1.2.3.4 Tính chịu sương giá và kháng xuân

Loại cỏ chịu sương giá tốt thì trong giai đoạn cuối thu đầu đông nó vẫn phát triển bình thường, còn loại chịu giá yếu kém thì ngừng sinh trưởng hoặc chết vào mùa đông

Tính kháng xuân hay còn gọi là khả năng chịu đựng của cỏ mùa đông

Nó thể hiện khả năng chịu đựng của cỏ về chênh lệch nhiệt độ không khí và nhiệt độ trong đất, chênh lệch này làm cho sự vận chuyển các chất dinh dưỡng trong thân cỏ và quá trình đồng hóa, dị hóa của cỏ mất điều hòa nên

có tính kháng xuân kém sẽ bị chết

Tuy nhiên tính kháng xuân của cỏ còn phụ thuộc vào các yếu tố như:

Cỏ địa phương kháng xuân tốt hơn cỏ nhập nội, cỏ mọc riêng rẽ thấp bé kháng xuân mạnh, cỏ thân rễ, cỏ sinh trưởng phát triển chậm kháng xuân tốt

Trang 32

Loại mùa xuân phục hồi nhanh kháng xuân kém hơn loại phục hồi chậm, cỏ

có hàm lượng vật chất khô cao thì kháng xuân tốt và ngược lại Loại có bộ phận trên mặt đất bị chết trong vụ đông thì kháng xuân mạnh và ngược lại

1.2.4 Đặc tính sinh trưởng

Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt, lúc này tốc độ sinh

trưởng chậm

- Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày, cỏ sinh

trưởng và phát triển nhanh

- Giai đoạn 3: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 40 - 70 ngày, cỏ sinh

trưởng chậm hoặc ngừng hẳn (Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị , 1976)[2]

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của từng giống để chúng ta định thời gian thu hoạch hợp lý Tiêu chuẩn thu hoạch căn cứ vào điều kiện sinh trưởng của giống cỏ Thu hoạch non, năng xuất sẽ thấp, thu hoạch già, giá trị dinh phận trên đất quá mau lứa thì dự trữ đường bột tích luỹ ở gốc để phát triển thành lá sẽ bị suy kiệt, đồng cỏ chóng bị tàn lụi

Đối với cỏ Ghinê, thu hoạch khi thảm cỏ cao 60 - 90 cm; cỏ lông Para,

thu hoạch khi cao khoảng 40 - 50 cm; Cỏ Pangola, thu hoạch khi cao khoảng

35 - 50 cm (L Rham phrây, 1980)

Theo Điền Hưng, 1974 [11] cho biết :

- Cỏ thân bò thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 30 - 45 ngày

- Cỏ thân bụi thu hoạch lứa đầu sau trồng 60 ngày, lứa sau khi cắt 35 -

45 ngày

- Cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng hoặc sau khi cắt trên 60 ngày

Trang 33

1.2.5 Tuổi thọ của cỏ hòa thảo

Tuổi thọ của cây hoà thảo không giống nhau, có loài sống lâu năm, có loài chỉ sống được một năm Vì vậy, người ta chia cỏ hoà thảo thành 4 loại sau:

- Loại cỏ sống một năm thì tàn lụi và chết gọi là cỏ hàng năm như cỏ

1.2.6 Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo

Cỏ hòa thảo có giá trị kinh tế lớn không chỉ vì nó phân bố rộng, chiếm

tỷ lệ cao trong thảm cỏ, mà còn cho năng suất và giá trị dinh dưỡng cao Khi chế biến, dự trữ ít rơi rụng lá, ít bị thối, tỷ lệ cỏ độc ít, chịu đựng chăn dắt cao Cỏ tự nhiên cho 10 - 20 tấn (chất xanh)/ha/năm, cỏ trồng thân bò cho 30

- 40 tấn/ha/năm, thân bụi cho 50 - 60 tấn/ha/năm, thân đứng cho 80 - 100 tấn/ha/năm, nếu thâm canh có thể cho 160 - 260 tấn/ha/năm 1 kg cỏ tươi cho

từ 0,1 - 0,2 đơn vị thức ăn tương đương với 250 - 500 KcalME

Cỏ hoà thảo có giá trị dinh dưỡng cao Ở những nơi đất tốt, nhiều mùn,

ẩm, loài cỏ tốt nhất có thể chứa 16g prôtêin tiêu hoá và 32g lipit trong 1kg cỏ tươi, 8kg cỏ có thể tương đương 1 đơn vị thức ăn (Nguyễn Thiện, 2005) [23]

Trang 34

1.3 Đặc điểm một số giống cỏ làm thí nghiệm

1.3.1 Cỏ voi (Pennisetum purpureum)

1.3.1.1 Nguồn gốc

Cỏ voi có tên khoa học là Pennisetum purpureum, có nguồn gốc từ

Châu Phi nhiệt đới Cỏ voi trồng nhiều ở Indonexia (Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung, 2004) [6]

Có nhiều giống cỏ voi như Merkecon, Seleccion và King grass Trong

đó King grass là dòng được phổ biến ở nước ta cho năng suất cao

Quê hương lâu đời của cỏ voi là vùng Uganda (10 vĩ độ Bắc - 20 vĩ

độ Nam) nhập vào Mỹ từ năm 1913, Australia 1914, Cuba 1917, Braxin 1920 Người ta cũng thấy cỏ voi mọc hoang dại trong các thảm cỏ cao, savan bụi, rừng già thuộc Trung Phi hay đầm lầy Tây Phi Ở Việt Nam cỏ voi là loài cỏ nhập nội và là một loài cỏ cổ điển thường xuyên có mặt trong tất cả các trang trại thí nghiệm như: Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ

Ba Vì, Nông trường bò sữa Đức Trọng, Nông trường bò sữa Phù Đổng…Đến nay trong các hộ nông dân nuôi bò ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã tiến hành trồng cỏ voi, đây là một giống cỏ cho năng suất chất xanh cao trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam và đang được coi là giống cỏ chủ lực được trồng để nuôi trâu, bò

1.3.1.2 Đặc điểm sinh vật học

Cỏ voi thuộc họ hòa thảo là cỏ lâu năm, thân đứng có thể cao từ 3 - 4m, nhiều đốt, những đốt gần gốc thường ra rễ chân kiềng, hình thành cả thân ngầm phát triển thành búi to, lá hình dải có cả mũi nhọn ở đầu, bẹ lá dẹt ngắn

và mềm, dài 30cm rộng 2cm, chùm hoa hình trùy giống đuôi chó, ra hoa vào tháng 9 hàng năm màu vàng nhạt, rễ phát triển mạnh, ăn sâu có khi tới 2m Tỷ

Trang 35

lệ lá/lá + thân chiếm 53% Tỷ lệ lá + thân/tổng cộng là 58% còn các phần ngầm dưới mặt đất chiếm 42% (Yepes và Alfono 1972) Tỷ lệ lá giảm từ 66; 64; 63; 34; 32 đến 30% qua 2; 4; 8; 10 và 12 tuần tuổi (Viện chăn nuôi 1976), đối với những mầm tái sinh sau 35; 44 và 60 ngày tuổi có chiều cao là 126,5; 136,6 và 227,9cm, cao nhất trong cùng một diện tích thí nghiệm cỏ Ghine

(Panicum miximun), cỏ lông Para (Brachiara mutica), cỏ Pangola (Digitaria decumbens) và Faragua (YsabelReyes, 1972), (Nguyễn Thiện, 2005)[23]

1.3.1.3 Đặc điểm sinh thái học

Cỏ voi chịu được khô hạn, không chịu được ngập úng, giai đoạn sinh trưởng chính là trong mùa hè khi nhiệt độ và độ ẩm cao, sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối Nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 - 400

C, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp 2 - 3oC vẫn

không bị cháy lá, tương tự khi hạn hán kéo dài hoặc khi nhiệt độ môi trường

lên trên 45oC, quá trình sinh trưởng và phát triển của cỏ voi bị ngừng Cỏ voi

có thể sinh trưởng ở nơi có độ cao tới 2000m so với mực nước biển Thích hợp nhất với đất màu, giàu dinh dưỡng và thoáng, có tầng canh tác sâu, pH =

6 - 7, không ưa đất cát đất bùn, úng

Như vậy cỏ voi thích ứng với nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất vẫn là loại đất màu mỡ và tơi xốp Cỏ voi là loại cỏ mọc rất khỏe, phát triển nhanh, chu kỳ kinh tế của nó kéo dài từ 4 - 5 năm hay hơn nữa và năng suất tương đối ổn định trong suốt thời gian này

1.3.1.4 Tính năng sản suất

Cỏ voi có năng suất rất lớn, từ 100 - 300 tấn/ha/năm (Filipe, 1965) và

có thể lên tới 500 tấn/ha/năm (Điền Hưng, 1974)[11] Theo Hacvael - Duclos (1969) năng suất cỏ voi ở Ấn Độ là 105 tấn/ha/năm Nếu không được tưới nước, mỗi năm cắt được 3 - 4 lứa, nếu có nước tưới cắt 5 - 6 lứa Áp dụng

Trang 36

biện pháp kỹ thuật hợp lý, cỏ voi có thể thu được năng suất chất tươi cao trong suốt 10 năm mà không cần trồng lại (Trịnh Văn Thịnh)

Bảng 1.3 Ảnh hưởng tuổi thu cắt đến năng suất (tấn/ha)

và tỷ lệ chất khô (%) của cỏ voi

(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)

Bảng 1.4 Năng suất cỏ voi thay đổi theo tuổi thu hoạch

Tuổi cắt (ngày) Năng suất (tấn VCK/ha)

(Nguồn: Viện chăn nuôi, 1976)

Bảng 1.5 Năng suất cỏ voi thay đổi theo mùa (Gespo, 1974)

Năng suất Mùa khô Mùa mưa Tổng cộng % Mùa khô

Qua đây chúng ta thấy năng suất cỏ voi thay đổi tùy tuổi thu cắt, mùa vụ

Trang 37

1.3.1.5 Sử dụng

Cỏ voi dùng thu cắt làm thức ăn gia súc dưới hình thức tươi hay ủ chua Cắt lần đầu sát mặt đất cho cây sinh trưởng và đẻ nhánh nhiều không trồi lên trên Trên thực tế, cỏ voi chỉ sử dụng 3 - 4 năm và phải trồng lại Tuy nhiên, nếu quản lý tốt có thể cho năng suất cao trong 10 năm liền Cỏ voi có thể ủ chua để dự trữ cho gia súc vào mùa thiếu thức ăn (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [19]

1.3.2 Cỏ lông Para (Brachiaria mutica)

1.3.2.1 Nguồn gốc

Cỏ lông Para có nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brasil), châu Phi và có nhiều ở các nước nhiệt đới, được đưa vào Australia năm 1980, vào nước ta ở Nam Bộ năm 1875, Trung bộ năm 1930 rồi sau đó ra Bắc Bộ Hiện nay được sử dụng

ở nhiều nơi và là một trong các loại cỏ hòa thảo tốt ở nước ta

1.3.2.2 Đặc điểm sinh vật học

Cỏ lông Para là loại cỏ lâu năm, thân có chiều hướng bò, có thể cao tới 1,5m Thân và lá đều có lông ngắn Thân cứng, to, rỗng ruột, đốt dài 10 -15cm, mắt hai đầu đốt có màu trắng xanh, các mắt ở đốt có khả năng đâm chồi và ra rễ dài, lá dài đầu nhọn như hình tim ở gốc Bẹ lá dài, lưỡi bẹ ngắn Ivan Beliuchenko (1971 - 1972) khi theo dõi bộ rễ cho biết chúng không phát triển quá độ sâu 75cm và so với các bộ rễ khác phát triển ở độ sâu tương đương thì trọng lượng và thể tích đứng hàng cuối (226g và 436cm3

)

1.3.2.3 Đặc điểm sinh thái học

Cỏ lông Para là cỏ sinh trưởng trong mùa hè, thuộc cỏ lâu năm Nhiệt

độ trung bình thích hợp 210

C (Russell và Webb, 1976) Nó có thể sinh trưởng

ở những vùng cao tới 1000m so với mực nước biển Thích hợp với những nơi

Trang 38

có lượng mưa cao, nhưng có thể tồn tại ở những nơi có lượng mưa thấp 500mm/năm Phát triển mạnh ở chỗ đất bùn lầy, chịu được ngập nước (tới 60cm) Có thể sinh trưởng ở đất đỏ, đất mặn, đất phèn…nhưng ưa đất phù sa, đồng bằng Para là cây cỏ nửa nước, nửa cạn và có thể sống được cả ở những nơi nước chảy

1.3.2.4 Tính năng sản suất

Năng suất cỏ thay đổi nhiều theo thời gian sinh trưởng, mùa vụ và tính chất đất đai Năng suất xanh của cỏ lông Para đạt 70 - 80 tấn/ha/năm Có nơi đạt 120 tấn/ha trong 5 lần cắt (Havard – Duclos, 1969)

Bảng 1.6 Năng suất cỏ lông Para thay đổi theo tuổi thu hoạch

1.4 Cơ sở đánh giá chất lƣợng các giống cỏ

Chất lượng của các giống cỏ được đánh giá bằng thành phần hóa học có trong giống cỏ đó (Nguyến văn Thưởng và L.S.Sumilin, 1992) Thành phần dinh dưỡng của thức ăn xanh phụ thuộc vào giống cây trồng, điều kiện khí hậu, đất đai, kỹ thuật canh tác và giai đoạn sinh trưởng Đây là một chỉ tiêu

Trang 39

hết sức quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu đánh giá một giống cây thức ăn, trên cơ sở đó giúp các nhà chăn nuôi tính toán khẩu phần ăn cho gia súc một cách hợp lý, tạo điều kiện sinh trưởng và phát triển tốt cho gia súc

Trong thực tế để đánh giá chất lượng các giống cỏ người ta thường tập trung chủ yếu vào 4 chỉ tiêu đó là: Vật chất khô (VCK), Protein, đường và chất xơ

Một giống cây thức ăn tốt là giống cho năng suất cao, phần trăm vật chất khô, protein, đường cao, tỷ lệ xơ trong thức ăn thấp, tỷ lệ lá/thân cao, trong đó chỉ tiêu protein được chú ý hơn cả

Trong thực tế khi chăn thả bình thường giá trị thức ăn cao nhất trong thời gian đầu khi cỏ mọc nhanh ra nhiều lá mới, giá trị thức ăn thường giảm khi cỏ bắt đầu đâm bông và tiếp tục giảm khi cỏ càng già Khi chăn thả liên tục theo những khoảng thời gian liên tiếp bằng nhau, giá trị dinh dưỡng của

cỏ có thể ở mức tương đối cao nhưng như vậy năng suất bị giảm đi nhiều

1.5 Những nghiên cứu về năng suất chất xanh

Sản lượng cỏ hòa thảo thay đổi nhiều tùy thuộc vào loài, vùng khí hậu

và kỹ thuật canh tác Đã có rất nhiều kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố này tới năng suất cỏ hòa thảo, cụ thể:

* Giống cỏ khác nhau sẽ cho năng suất, sản lượng khác nhau

Tại Samford, Queensland, sản lượng hàng năm của giống P dilatatum

là 15.000 kg VCK (Davies, 1970) [40]

Tại Fiji sản lượng trung bình là 5.313 kg VCK/ha/năm với mức protein thô trong VCK là 9,9 % trong thời gian theo dõi 3 năm (Roberts, 1970) [50], tại Mỹ sản lượng cỏ này đạt từ 1.230 - 12.000 kg vật chất khô/ha/năm (Bennett, 1973) [36]

Trang 40

Kết quả nghiên cứu của CIAT, (1978) [39] tại Quilichao, Colombia, thì

giống cỏ Brachiaria decumbens có thể đạt sản lượng chất khô trên 42.000

kg/ha/năm với thí nghiệm không có bón đạm, nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thấp

Cỏ B ruziziensis có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, nhưng đòi hỏi

lượng phân bón cao Sản lượng vật chất khô có thể đạt từ 10 - 20 tấn/ha/năm,

tỷ lệ protein thô trong VCK từ 9 - 15 % (Schultze - Kraft., 1992) [52]

Cỏ B brizantha cho sản lượng vật chất khô có thể rất khác nhau tùy

theo đều kiện thâm canh, từ 8 - 20 tấn/ha/năm (Schultze- Kraft, 1992) [53]

Các kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Ngọc Hà và CS, (1985) [12]; (Nguyễn Ngọc Hà, 1995) [13]; (Khai và CS, 1995) [43] cho biết các giống cỏ hòa thảo trồng tại các vùng ở nước ta có sản lượng biến động rất lớn, lệ thuộc vào các yếu tố, như đất đai, chăm sóc, chế độ bón phân và độ

dài của mùa khô Sản lượng của các giống Brachiaria spp có thể biến động

từ 5 - 30 tấn vật chất khô/ha/năm

Theo Trương Tấn Khanh, (2003) [15] thì cỏ Brachiaria humidicola là

cỏ chủ yếu sử dụng để chăn thả trên đồng cỏ lâu năm và để chống xói mòn đất, sản lượng vật chất khô đạt từ 7 - 33 tấn/ha/năm tùy theo khí hậu và đất đai

Như vậy, các giống cỏ khác nhau có sản lượng chất xanh và vật chất khô khác nhau; Cùng một giống cỏ nhưng trồng ở các vị trí địa lý khác nhau cũng cho năng suất khác nhau

* Ảnh hưởng của mùa vụ đến sản lượng cỏ

Cỏ sống ở các điều kiện khác nhau thì yếu tố khí hậu là nhân tố thường hạn chế tới sản lượng của cỏ Đối với các vùng lạnh và những vùng khan hiếm nước, thì yếu tố hạn chế về năng suất chính là nước Do vậy, đã không ít những nghiên cứu về mùa vụ và nước tưới ảnh hưởng tới sản lượng của cỏ

Ngày đăng: 21/11/2014, 18:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn An và Tôn Nữ Tiên Sa, Phát triển kỹ thuật cây thức ăn xanh với nông hộ, do ACIAR và CIAT xuất bản, ACIAR chuyên khảo số 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ thuật cây thức ăn xanh với nông hộ
2. Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị (1976), Gây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây trồng và sử dụng một số giống cỏ năng suất cao
Tác giả: Đoàn Ẩn, Võ Văn Trị
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1976
4. Lê Hòa Bình và các cộng sự (1992), Khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi, Công trình nghiên cứu KHKT chăn nuôi 1991 – 1992, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát năng suất cây thức ăn mới nhập nội ở một số vùng và ứng dụng trong hộ chăn nuôi
Tác giả: Lê Hòa Bình và các cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1992
5. Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ văn Núng, Đinh văn Bình, Đặng Đình Hanh (1997), Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển. NXB Nông nghiệp .tr 241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện chăn nuôi 50 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Lê Hòa Bình, Nguyễn Phúc Tiến, Hồ văn Núng, Đinh văn Bình, Đặng Đình Hanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp .tr 241
Năm: 1997
6. Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung (2004), Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu bò khu vực thành phố Hồ Chí Minh. Báo cáo khoa học Chăn nuôi thú y Phần dinh dưỡng và thức ăn vật nuôi, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn cho trâu bò khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đinh Văn Cải, De Boever, Phùng Thị Lâm Dung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
7. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1976), Phân loại thực vật, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1976
8. Hoàng Chung (2006), Tập bài giảng đồng cỏ học, Tài liệu nội bộ của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tr 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng đồng cỏ học
Tác giả: Hoàng Chung
Năm: 2006
9. Hoàng Chung, Giàng Thị Hương (2006), “Tập đoàn cây cỏ trồng làm thức ăn gia súc tỉnh Sơn La, năng suất chất lượng và khả năng khai thác”. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT số 19/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn cây cỏ trồng làm thức ăn gia súc tỉnh Sơn La, năng suất chất lượng và khả năng khai thác”. "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Hoàng Chung, Giàng Thị Hương
Năm: 2006
10. Thái Đình Dũng, Đặng Đình Liệu (1979), Đồng cỏ nhiệt đới, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng cỏ nhiệt đới
Tác giả: Thái Đình Dũng, Đặng Đình Liệu
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1979
11. Điền Văn Hưng (1974), Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam , NXB Nông thôn. In lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thức ăn gia súc miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Điền Văn Hưng
Nhà XB: NXB Nông thôn. In lần thứ 2
Năm: 1974
12. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Bùi Xuân An, Ngô Văn Mận (1985), Kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội, NXB Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp tháng 8, tr.347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Bùi Xuân An, Ngô Văn Mận
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật nông nghiệp tháng 8
Năm: 1985
13. Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Nguyễn Thị Mùi (1995), Đánh giá cây thức ăn gia súc ở các vùng sinh thái, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học 1969 - 1995, Viện chăn nuôi quốc gia, tr. 135-322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cây thức ăn gia súc ở các vùng sinh thái
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà, Lê Hòa Bình, Nguyễn Thị Mùi
Năm: 1995
14. Nguyễn Thị Thu Hồng, Nguyễn Ngọc Tấn, Đinh văn Cải, “Thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận”,Tạp chí khoa học chăn nuôi 12/2006, tr23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh Thuận”,"Tạp chí khoa học chăn nuôi
15. Trương Tấn Khanh (2003), Đánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc tại M’Drak - Đaklak, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, tr.90-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng đồng cỏ tự nhiên và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện nguồn thức ăn xanh cho gia súc tại M’Drak - Đaklak
Tác giả: Trương Tấn Khanh
Năm: 2003
16. Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời (1981), Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam, NXB khoa học & KT, tập 2, tr.6 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về cây thức ăn gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Khôi, Dương Hữu Thời
Nhà XB: NXB khoa học & KT
Năm: 1981
17. Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hoà Bình, Đặng Đình Hanh (2004), “Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ Hoà thảo, họ Đậu làm thức ăn xanh cho gia súc tại Thái Nguyên”, Tạp chí Chăn nuôi, số 12/2004, tr.20 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ Hoà thảo, họ Đậu làm thức ăn xanh cho gia súc tại Thái Nguyên”, "Tạp chí Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Thị Mùi, Lê Hoà Bình, Đặng Đình Hanh
Năm: 2004
18. Quang Ngọ, Sinh Tặng (1976), Tập đoàn cây thức ăn gia súc Miền núi và Trung du Miền Bắc Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.42-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn cây thức ăn gia súc Miền núi và Trung du Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Quang Ngọ, Sinh Tặng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1976
19. Lê Đức Ngoan (2006), Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung
Tác giả: Lê Đức Ngoan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
20. Lục Văn Ngôn, So sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên (1970), tr177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên
Tác giả: Lục Văn Ngôn, So sánh năng suất và khả năng sống qua đông của một số giống cỏ nhập nội trên đất đồi Thái Nguyên
Năm: 1970
21. Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình và các cộng sự (1999), Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt của cỏ Ghinê TD 58, Báo cáo khoa học phần thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi, trình bày tại hội đồng khoa học Bộ NN & PTNT, 28 -30 tháng 6/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính năng sản xuất và một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất chất xanh và hạt của cỏ Ghinê TD 58
Tác giả: Phan Thị Phần, Lê Hòa Bình và các cộng sự
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng thấp  vào 45 ngày cắt. - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 1.1. Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loài cỏ trên vùng thấp vào 45 ngày cắt (Trang 20)
Bảng 1.2. Sản lƣợng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày. - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 1.2. Sản lƣợng VCK của cỏ Ghine tỉa cắt 30 ngày (Trang 21)
Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu huyên Lục Ngạn năm 2012 - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.1. Đặc điểm khí hậu huyên Lục Ngạn năm 2012 (Trang 47)
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất đai huyện Lục Ngạn năm 2011  STT  Mục đích sử dụng đất  Diện tích - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất đai huyện Lục Ngạn năm 2011 STT Mục đích sử dụng đất Diện tích (Trang 49)
Hình 3.1.  Hình vẽ mô tả phương pháp lấy khối đất rửa lấy rễ. - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 3.1. Hình vẽ mô tả phương pháp lấy khối đất rửa lấy rễ (Trang 60)
Bảng 4.1. Kết quả phân tích mẫu đất trồng cỏ  Tiêu chí - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 4.1. Kết quả phân tích mẫu đất trồng cỏ Tiêu chí (Trang 63)
Bảng 4.4. Năng suất tươi và khô của cỏ voi qua các lứa cắt (kg/m 2 /lứa) . - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 4.4. Năng suất tươi và khô của cỏ voi qua các lứa cắt (kg/m 2 /lứa) (Trang 68)
Hình 4.1.  Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 4.1. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC (Trang 70)
Hình 4.2. Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 4.2. Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ voi tại ô TN và ĐC (Trang 70)
Bảng 4.5. Năng suất tươi và khô của cỏ lông Para qua các lứa cắt  (kg/m 2 /lứa) - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 4.5. Năng suất tươi và khô của cỏ lông Para qua các lứa cắt (kg/m 2 /lứa) (Trang 73)
Hình 4.4. Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ lông Para - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 4.4. Biểu đồ năng suất khô phần trên mặt đất của cỏ lông Para (Trang 75)
Hình 4.3. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ lông Para - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 4.3. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ lông Para (Trang 75)
Hình 4.5. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ lông  Para tại ô TN - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Hình 4.5. Biểu đồ năng suất tươi phần trên mặt đất của cỏ voi và cỏ lông Para tại ô TN (Trang 77)
Bảng 4.6. Tỷ lệ % trọng lƣợng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt              Lứa cắt - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 4.6. Tỷ lệ % trọng lƣợng thân, lá cỏ voi qua các lứa cắt Lứa cắt (Trang 78)
Bảng 4.7. Tỷ lệ % trọng lƣợng thân, lá, hoa cỏ lông Para   qua các lứa cắt - nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm đất đến cấu trúc năng suất cỏ trồng tại xã đồng cốc, huyện lục ngạn, tỉnh bắc giang
Bảng 4.7. Tỷ lệ % trọng lƣợng thân, lá, hoa cỏ lông Para qua các lứa cắt (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm