Một trong những lý do quan trọng của thực trạng này là công tác tổ chức và quản lý hoạt động hướng nghiệp QL HĐHN ở trường THPT chưa phù hợp, kém hiệu quả, đặc biệt là chưa khai thác đượ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thanh Thủy
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CÁT - TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thanh Thủy
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CÁT - TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số : 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Lê Thị Thanh Thủy
Là học viên cao học khóa 22 - chuyên ngành Quản lý Giáo dục của Khoa Tâm lý Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian tham gia khóa đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được sự hỗ trợ quý báu từ quý Lãnh đạo, Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn:
- Quý Thầy, Cô lãnh đạo Trường ĐH Sư phạm Tp Hồ Chí Minh;
- Quý Thầy, Cô lãnh đạo Phòng KHCN và Sau đại học;
- Quý Thầy, Cô Khoa Tâm lý giáo dục;
- Ban Giám hiệu và các Thầy, Cô tại các trường THPT thuộc huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
- Các em học sinh lớp 12 (năm học 2012 - 2013) trên địa bàn huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương;
Đặc biệt, xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Văn Nam, người đã tận tình
hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Mặc dù tôi đã cố gắng đầu tư nhiều công sức vào việc thực hiện luận văn, nhưng
chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót đáng tiếc Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn thêm của quý Thầy, Cô và các anh chị đồng nghiệp để
luận văn được hoàn thiện hơn
Tác gi ả
Lê Th ị Thanh Thủy
Trang 53
M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
L ỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
M Ở ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết nghiên cứu 8
6 Giới hạn nghiên cứu 8
7 Phương pháp luận nghiên cứu 9
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT 12
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 12
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 12
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 15
1.2 Một số khái niệm công cụ 18
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục (QLGD), quản lý nhà trường 18
1.2.2 Hướng nghiệp (HN), giáo dục hướng nghiệp (GDHN) 19
1.2.3 QL HĐHN trong nhà trường THPT 22
1.3 Hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT 23
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của HĐHN ở nhà trường THPT 23
1.3.2 Cấu trúc, mục tiêu, nhiệm vụ HN ở nhà trường THPT 24
1.3.3 Nội dung HN ở trường THPT 26
1.3.4 Hình thức tổ chức HĐHN ở nhà trường THPT 29
1.4 Quản lý hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT 32
1.4.1 Mục tiêu QL HĐHN trong trường THPT 33
1.4.2 Nội dung QL HĐHN trong trường THPT 33
1.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL HĐHN cho HS THPT 39
Trang 64
CHO H ỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CÁT - TỈNH BÌNH
DƯƠNG 43
2.1 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 43
2.1.1 Đặc điểm tình hình KT - XH của huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương 43
2.1.2 Tình hình phát triển GD&ĐT của địa phương 44
2.1.3 Sơ lược các trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cát 44
2.2 Thực trạng QL HĐHN cho HS lớp 12 trên địa bàn huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương hiện nay 46
2.2.1 Nhận thức, thái độ của GV, CBQL và HS lớp 12 về HĐHN 46
2.2.2 Mục đích, nội dung QL HĐHN 60
2.2.3 Công tác quản lý, tổ chức thực hiện các hình thức HN cho HS 69
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL HĐHN cho HS THPT 76
2.2.5 Đánh giá của CB, GV và HS về hiệu quả của HĐHN cho HS lớp 12 ở các trường hiện nay 78
C HƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LỚP 12 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BẾN CÁT - TỈNH BÌNH DƯƠNG 98
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 98
3.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp QL HĐHN 98
3.3 Một số biện pháp QL HĐHN 99
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 110
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PH Ụ LỤC 125
Trang 75
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB, GV, HS Cán bộ, Giáo viên, Học sinh
CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CTHN Công tác hướng nghiệp
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 8sở thích của bản thân và nhu cầu của xã hội nhằm tránh tình trạng đào tạo lệch lạc gây lãng phí trong đào tạo, đồng thời nâng cao năng suất lao động
Hoạt động hướng nghiệp (HĐHN) cho HS hiện nay được thực hiện ở các trường phổ thông, các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (KTTH-HN), các trường đào tạo, các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp Nhưng trong trường phổ thông, HĐHN đa dạng hơn, toàn diện và sâu sắc hơn như: giảng dạy KTTH-HN; tổ chức dạy nghề phổ thông; HĐHN; tư vấn hướng nghiệp (TVHN) và GDHN trong dạy học các môn khoa học… Tất cả điều đó cho thấy vai trò và vị trí quan trọng của nhà trường phổ thông trong HĐHN, đặc biệt
là trường THPT, nơi mà các em HS, đặc biệt là HS lớp 12 sắp sửa ra trường, phải lựa chọn cho mình một trường đào tạo, một nghề nghiệp trong tương lai
1.2 Một trong những thực trạng khá phổ biến hiện nay là HS phổ thông ra trường thường chọn nghề một cách ngẫu nhiên, theo cảm tính, không có hiểu biết cần thiết về nghề
mà mình định lựa chọn, thiếu ý thức đúng đắn về ngành nghề; do đó, thiếu ý thức phấn đấu vươn lên trong nghiệp vụ, thậm chí có HS bỏ nghề, ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vừa lãng phí công lao đào tạo của nhà nước, vừa có hại cho sự phát triển của cá nhân
Trước thực trạng đó, công tác hướng nghiệp (CTHN) cho HS THPT luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước cũng như toàn xã hội quan tâm Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX nêu rõ: “Coi trọng CTHN và phân luồng HS trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả
Trang 97
nước và từng địa phương” [20] Tại Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ X, Đảng ta
tiếp tục xác định đổi mới toàn diện GD - đào tạo trên cơ sở làm tốt CTHN và phân luồng
từ cấp THCS [21] Hiện nay, đứng trước yêu cầu về thực hiện 3 đột phá chiến lược và
nhiệm vụ “Đổi mới căn bản và toàn diện nền GD quốc dân” [22] theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung và chất lượng, hiệu quả GDHN nói riêng càng trở nên cấp thiết Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2011 - 2020 và chủ trương đổi mới chương trình GD phổ thông (GDPT) hiện nay đều nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng HS, chuẩn bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội
1.3 Trong hơn 30 năm qua, công tác GDHN ở trường phổ thông đã có nhiều đổi mới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng qua thực hiện đổi mới chương trình, giảm tải nội
dung, giảm lý thuyết tăng thực hành và GDHN cho HS theo hướng “Học để biết, học để làm, học để sống chung và học để tự khẳng định mình”[29] Tuy vậy, chất lượng của công
tác này chưa cao và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, CTHN và phân luồng HS sau trung học đang đứng trước những yếu kém kéo dài Một trong những lý do quan trọng của thực trạng này là công tác tổ chức và quản lý hoạt động hướng nghiệp (QL HĐHN) ở trường THPT chưa phù hợp, kém hiệu quả, đặc biệt là chưa khai thác được tiềm năng, ưu thế của hoạt động GDHN trong nhà trường
1.4 Là một trong những huyện có tốc độ đô thị hóa nhanh và công nghiệp hóa mạnh nhất của tỉnh Bình Dương hiện nay, huyện Bến Cát đang chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh
tế, phát triển công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ xây dựng nông thôn mới, nhu cầu đào tạo nhân lực tăng cao Những năm qua, công tác GDHN cũng đã được quan tâm và đã thu được một số kết quả nhất định, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, vì vậy công tác GDHN cho HS THPT của các trường trên địa bàn chưa đạt kết quả cao, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của địa phương Bên cạnh đó, chưa có những nghiên
cứu một cách bài bản về thực trạng QL HĐHN cho HS lớp 12 trên địa bàn huyện Bến Cát,
tỉnh Bình Dương
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu “Thực
trạng QL HĐHN cho HS lớp 12 trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương” nhằm
tìm ra các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDHN cho HS lớp 12 tại địa
Trang 103 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đặt ra,đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lí luận về QL HĐHN cho HS THPT
- Khảo sát thực trạng công tác QL HĐHN cho HS lớp 12 tại các trường THPT trên
địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương
- Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả CTHN cho HS lớp
12 tại các trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác QL HĐHN cho HS THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu : Thực trạng công tác QL HĐHN cho HS lớp 12 tại các
trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác QL HĐHN cho HS lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn
- CTHN cho HS lớp 12 trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương đã đạt được những thành quả nhất định, song còn nhiều hạn chế Có biện pháp khắc phục được các hạn chế đó sẽ giúp cho CTHN cho HS lớp 12 đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tế
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng QL hoạt động GDHN cho HS lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương
6.2 Về phạm vi khảo sát
Trang 119
Đề tài chỉ khảo sát thực trạng công tác QL HĐHN cho HS lớp 12 trong năm học
2012 - 2013 tại các trường THPT trên địa bàn huyện Bến Cát - tỉnh Bình Dương
7 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống - cấu trúc trong công tác quản lý hoạt động GDHN cho HS lớp 12 ở các trường THPT huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương gồm những yếu tố: mục tiêu quản lý, nội dung quản lý, chủ thể quản lý, khách thể và đối tượng quản lý, hiệu quả quản lý
7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
GDHN đã được vận dụng đưa vào trong ngành GD Việt Nam từ hơn 30 năm qua
Do vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ tiếp thu, sử dụng những đánh giá về GDHN và hoạt động quản lý GDHN ở trường THPT của Bộ GD&ĐT, của các cơ quan nghiên cứu về
GD từ trước đến nay trong logic phát triển của nó
7.1.3 Quan điểm thực tiễn
Từ thực trạng công tác QL HĐHN cho HS lớp 12 ở các trường THPT huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương còn nhiều bất cập đề ra những biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN cho HS lớp 12 ở các trường THPT huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Các nhận xét, đánh giá và đề xuất, kiến nghị của đề tài phải trên cơ sở khách quan, các yêu cầu cần thiết qua nghiên cứu thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng kết hợp một số phương pháp trong quá trình nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn sâu cá
nhân, phương pháp quan sát, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và phương pháp xử lý dữ
liệu Trong đó, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu chủ yếu
của đề tài
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết về công tác QL HĐHN; lý luận về quản lý nói chung và QL HĐHN nói riêng
Trang 1210
- Tổng hợp, nghiên cứu và khai thác tri thức khoa học đã có trong các công trình khoa học, chính sách, chiến lược, chỉ thị của ngành GD, sách, tạp chí chuyên ngành để xác lập cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
dạy HN, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa )
Phiếu khảo sát Có hai loại phiếu khảo sát chính: phiếu khảo sát dành cho giáo viên (GV) và cán bộ quản lý (CBQL) và phiếu khảo sát dành cho HS
Nội dung chính của phiếu khảo sát tập trung vào tìm hiểu:
+ Nhận thức của GV, CBQL và HS về vai trò, mục đích của HĐHN đối với HS THPT; + Thái độ của GV, CBQL và HS đối với việc thực hiện HĐHN cho HS THPT;
+ Việc thực hiện các chức năng, mục tiêu và nội dung và các biện pháp QL HĐHN của lãnh đạo nhà trường;
+ Đánh giá của GV, CBQL và HS về hiệu quả quản lý và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL HĐHN cho HS;
+ Ý kiến của CB, GV về các biện pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác QL HĐHN cho HS THPT nói chung và HS lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn hiện nay Phiếu khảo sát được thu từ 149 CB, GV và 298 HS lớp 12 năm học 2012 - 2013 với những đặc điểm mẫu cụ thể như sau:
+ Đối với HS lớp 12: có 298 HS tham gia khảo sát, trong đó có 117 nam (39.3%), 181
nữ (60.7%)
+ Đối với CB, GV: Phiếu khảo sát được thu từ 149 CB, GV, trong đó có 52 nam (39.1%), 81 nữ (60.9%) (16 trường hợp không cho biết thông tin giới tính)
khảo sát Phỏng vấn sâu cá nhân thực hiện trên cả 3 đối tượng GV, CBQL và HS nhằm thu thập những thông tin để làm sáng tỏ kết quả điều tra bằng bảng hỏi và kết quả quan sát Những thông tin định tính thu được từ phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân được sử dụng phối hợp với các dữ liệu định lượng khi tiến hành phân tích các vấn đề nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 3 thành phần GV gồm có: GV chủ nhiệm và GV hướng nghiệp; CBQL thuộc BGH của mỗi trường Phỏng vấn 4 loại HS bao gồm HS có học
Trang 1311
lực yếu, HS có học lực trung bình, HS có học lực khá và HS có học lực giỏi Bên cạnh đó, kết hợp cân đối trong thành phần phỏng vấn sâu có cả nam và nữ, các loại GV có thâm niên công tác khác nhau
nghiên cứu để có được những thông tin đầy đủ, cơ bản nhất của vấn đề nghiên cứu Các ý kiến của chuyên gia được tác giả ghi nhận từ các phát biểu chính thức, các bài viết, nghiên
cứu đã được công bố Cụ thể là các chuyên gia sâu:
+ Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh - Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng đào tạo - Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh
+ Thạc sĩ Lê Thị Thu Thủy - Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nhân lực
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học: Các thông tin định tính thu được từ câu hỏi
mở và phỏng vấn sâu được lọc ra theo các chủ đề dưới dạng trích dẫn dùng kết hợp số liệu thống kê định lượng Thông tin định lượng được xử lí bằng phần mềm SPSS Dữ liệu được tính tần số, phần trăm (%); tính trung bình (TB), độ lệch chuẩn (ĐLC), xếp hạng (XH) và kiểm định ý nghĩa của sự khác biệt giữa hai trung bình điểm số (T-Test); kiểm định ý nghĩa của sự khác biệt giữa các trung bình điểm số bằng phương pháp phân tích phương sai/ biến lượng ANOVA đơn biến (One-way ANOVA)
Trang 1412
C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển các tư tưởng hướng nghiệp (HN)
Những tư tưởng về định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ đã có từ thời cổ đại, tuy nhiên
ở dưới dạng rất sơ khai, thể hiện rõ tính áp đặt của giai cấp thống trị và sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội biểu hiện thông qua việc phân chia, phân cấp lao động tuỳ thuộc vào địa vị và nguồn gốc xuất thân của mỗi người trong xã hội Việc chọn “nghề” và thực hành nghề của giới trẻ chỉ là ngẫu nhiên, may rủi và là định mệnh “do tạo hóa sắp đặt” Platon - một triết gia Hy Lạp thời cổ đại đã cổ động dân chúng rằng: “Khi tạo ra con người, ông trời đã nhào nặn
họ với vàng, hoặc bạc, hoặc đồng Người “vàng” là những người làm khoa học, nghệ thuật, làm quản lý Người “bạc” là những chiến binh Người “đồng” là thợ thủ công, nông dân và nô lệ” [40]
Xã hội dần phát triển, chủ nghĩa tư bản xuất hiện cùng với sự ra đời của đại công trường thủ công và tiếp theo là nền công nghiệp có thị trường lao động rộng lớn với những đòi hỏi ngày càng cao về học vấn, tay nghề của người lao động Theo mô tả của K.Mác, có rất nhiều người lao động làm những việc không phù hợp với năng lực và đặc điểm tâm lý của mình Việc phân hóa ngành nghề, phân hóa người lao động đã âm thầm diễn ra nhưng ngày càng mạnh mẽ [33]
Cùng với quá trình phát triển khoa học kỹ thuật và những ứng dụng khoa học trong tổ chức lao động sản xuất ở các nhà máy, các nhà tư bản đã nhận thấy yêu cầu ngày càng bức xúc
về việc chọn lựa và đào tạo những người lao động có năng lực đáp ứng yêu cầu cần thiết Đào tạo chuyên sâu cho những nhóm người lao động khác nhau và hợp lý hóa thao tác lao động theo dây chuyền sản xuất trong nhà máy dần dần được sử dụng rộng rãi nhằm gia tăng năng suất lao động, cạnh tranh, chạy theo lợi nhuận… đã dẫn đến việc phải nghiên cứu về quá trình định hướng cho con người tham gia vào một lĩnh vực sản xuất trong một nghề xác định
Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã hội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên khắp thế giới thì khoa học HN mới thực sự trở thành một khoa học
Trang 1513
độc lập Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1849 ở Pháp được xem là cuốn sách đầu tiên nói về HN, đã đề cập đến sự phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp từ đó đã rút ra những kết luận coi GDHN là một vấn đề quan trọng không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc đẩy xã hội phát triển [27]
Năm 1883 ở Mỹ, nhà tâm lý học Ph Galton đã trình bày công trình trắc nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề Vào đầu thế kỷ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các
cơ sở dịch vụ HN Ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười và những năm 20, 30 của thế kỷ XX, CTHN đã được triển khai nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vấn đề lựa chọn nghề cho mỗi công nhân dân của đất nước
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học Mỹ J.L Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp, tác giả đã chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp đó là một số những nghề nghiệp mà cá nhân có thể chọn để có được kết quả làm việc cao nhất Lý thuyết này của J.L Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn HN trên thế giới
Trên cơ sở các luận điểm về HN của K.Mác và V.I Lênin, các nhà GD Liên xô như B.F Kapêep; X.Ia Batưsep; X.A Sapôrinxki; V.A Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan hệ giữa HN và các hoạt động sản xuất xã hội, đồng thời trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho HS PT tại các cơ sở học tập - lao động liên trường [27]
Nhìn chung, các nhà khoa học và GD khi xem xét vấn đề HN đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hưởng của nó tới các hoạt động sản xuất xã hội cho rằng nếu sớm thực hiện GDHN cho thế hệ trẻ trong trường học thì đó sẽ là cơ sở để giúp cho họ lựa chọn nghề đúng đắn, có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội GDHN vì vậy không chỉ được thực hiện trong các trường đào tạo mà dần trở nên phổ biến và áp dụng rộng rãi trong các trường phổ thông
1.1.1.2 GDHN và quản lý GDHN của một số nước trên thế giới
Chương trình GD công nghệ học ở trường phổ thông Liên bang Nga hiện nay bao gồm những nội dung có tính chất GD kỹ thuật tổng hợp không nhằm đào tạo một nghề cụ thể mà theo
Trang 1614
nhóm công nghệ học, gắn sản xuất với kinh doanh, mang tính HN Nhờ thông qua GD công nghệ học cụ thể, HS được làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất, đồng thời chú ý vai trò của công nghệ thông tin được sử dụng trong nền kinh tế hiện đại
Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ XX gắn với HN và đào tạo nghề:
Vào những năm 70 - 80 thế kỷ trước, các nước Châu Âu lần lượt tiến hành cải cách GD
từ cấu trúc tổ chức đến nội dung, phương pháp GD và giảng dạy, đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩn mực chung về trình độ GDPT và GD nghề với HN tại trường phổ thông như giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường tỷ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng, ý nghĩa HN trong nhà trường Pháp Hiện đại hóa quá trình học tập của nhà trường Đức theo hướng tạo điều kiện cho HS có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh
GDHN - lập nghiệp (Career Education) ở những trường học Úc nhằm phát triển những
kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hóa Việc GD này giúp cho HS biết đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính HN - lập nghiệp trong và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động xã hội
GDHN - lập nghiệp ở các nhà trường Úc có 4 nhiệm vụ quan hệ mật thiết với nhau: Học
về bản thân trong mối quan hệ với lao động; Học về thế giới nghề nghiệp; Học về lập kế hoạch
và ra quyết định HN - lập nghiệp; Phát triển khả năng triển khai các quyết định về HN và tiến hành thay đổi công việc [6]
Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần HN ở nhà trường Nhật Bản:
Chương trình cải cách GD được xây dựng trên cơ sở hai luận điểm quan trọng: Tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống GD và thực hiện cải cách GD không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong hệ thống GD mà còn phải mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế Nhà trường phổ thông Nhật Bản tiến hành rèn luyện khả năng thích ứngcủa HS qua một số hoạt động như: Hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”; GD lòng trung thành của người lao động Nhật Bản tương lai trong trường phổ thông; GD quan hệ lãnh đạo trong trường phổ thông; Hình thành
Trang 1715
thói quen cần cù, tự giác của người lao động
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, GDHN tuy được xếp ngang tầm quan trọng với các mặt GD khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận
và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng, không mang tính chuyên nghiệp Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều hiệu quả Vấn đề HN chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực
Nhìn chung, CTHN nói chung và QL HĐHN ở nhà trường phổ thông nói riêng còn khá mới mẻ cả về mặt lý luận lẫn hoạt động thực tiễn Phải đến những năm 1970, 1980 thì khoa học
HN ở Việt Nam mới có những bước phát triển mạnh mẽ với những nghiên cứu chủ yếu về CTHN Đặc biệt phải kể tới sự đóng góp của các tác giả như: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ đã nêu ra một số cơ sở tâm lý, nội dung của CTHN Đặc biệt, với luận văn Phó Tiến sĩ của mình, tác giả Phạm Tất Dong là người đầu tiên đặt nền móng cho việc thiết lập những cơ sở lý thuyết về HN
GS Phạm Tất Dong là người có những đóng góp rất lớn cho GDHN Việt Nam, ông đã dày công nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn cho GDHN như xác định mục đích, ý nghĩa, vai trò của HN; hứng thú, nhu cầu và động cơ nghề nghiệp; hệ thống các quan điểm, nguyên tắc
HN, các nội dung, phương pháp, biện pháp GDHN Trong nghiên cứu về “Đổi mới CTHN phục
vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”(2005) của mình, tác giả đã chỉ ra rằng: CTHN góp phần điều
chỉnh việc chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế Bởi vì theo tác giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH, trong quá trình CNH-HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ
Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp hóa
GS Nguyễn Văn Hộ cũng là một trong những người rất tâm đắc và nghiên cứu chuyên
sâu về GDHN Trong luận án Tiến sĩ của mình, tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống HN cho HS Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống
GDHN trong điều kiện phát triển KT-XH của đất nước Tác phẩm “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” của tác giả và Nguyễn Thị Thanh Huyền [27] năm 2006 đã hệ
Trang 1816
thống hóa các cơ sở lý luận nền tảng về HN và GDHN, xây dựng hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức GD kỹ thuật trong trường THPT
Công trình nghiên cứu “GDHN ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay” năm
2008 của tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã đi sâu nghiên cứu về việc cần thiết phải đổi mới GDHN trong trường phổ thông và đã đưa ra các định hướng đổi mới như đổi mới mục tiêu GDHN, đổi mới phương thức GDHN, đổi mới nội dung GDHN trong đó nhấn mạnh GDHN
là quá trình dạy học có chủ đích, phục vụ mục tiêu làm thay đổi một cách lâu bền vị thế của người học để họ có thể hoàn thành các yêu cầu nghề nghiệp [11] Do đó, trong đào tạo nghề hay trong dạy học các môn học ở trường phổ thông, GV đều có nhiệm vụ phải thực hiện chủ đích này
Trên thực tế, trong khoảng thời gian 10 năm từ 1980 đến 1990, CTHN đã được triển khai đối với hệ thống GDPT theo kế hoạch, theo chương trình và nội dung của Bộ GD&ĐT hoạch định nhằm làm tốt việc phân luồng HS tốt nghiệp các cấp THCS và THPT sau khi tốt nghiệp ra trường Từ đó đến nay, các nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn cũng như hoạt động thực nghiệm trong lĩnh vực HN cũng như TVHN đã không ngừng được phát triển Tuy nhiên, các nghiên cứu về hoạt động quản lý GDHN trong nhà trường THPT thì lại khá khiêm tốn
Trong những thập niên gần đây, nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về GDHN và phân luồng HS phổ thông, đã có rất nhiều những nghiên cứu về HN ở nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với
sự đa dạng trong nghiên cứu khoa học HN ở Việt Nam Đặc biệt, cùng với xu hướng đổi mới công tác QLGD thì công tác QL HĐHN cũng được quan tâm hơn Một số công trình nghiên cứu
đã cụ thể hóa về lĩnh vực này như GS.TS Phạm Tất Dong với đề tài “Đổi mới CTHN phục vụ
Thị Ánh Tuyết với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động GDHN ở các trường THPT quận
Bên cạnh đó, các tác giả Nguyễn Văn Lê, Phan Văn Kha, Hà Thế Truyền cũng có những công trình nghiên cứu, bài viết về GDHN Các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả đã cho chúng ta những khái niệm, số liệu, kinh nghiệm GD kỹ thuật - dạy nghề cho HS phổ thông
và đề cập đến các vấn đề như: Tổ chức lao động sản xuất, tư vấn nghề cho HS phổ thông, đề
Trang 1917
xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong HN
- dạy nghề cho HS phổ thông
Trong những năm gần đây, trước nhu cầu đổi mới CTHN trong nhà trường phổ thông phục vụ mục đích phát triển KT-XH tại các địa phương Nhiều nghiên cứu về công tác QL HĐHN đồng thời cũng là luận án Tiến sĩ hoặc luận văn Thạc sĩ GD học, QLGD đã được thực
hiện Chẳng hạn như các đề tài luận văn Thạc sĩ “Biện pháp quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng các trườngTHPT tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Hồ Tấn Yên ở Đại học Đà nẵng [54], đề
Phú, Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Ngọc Trân (2012) [50], công trình “Biện pháp
tổ chức hoạt động GDHN cho HS THPT miền núi Tây Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Nhung ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2009) [34]; công trình “Quản lý GDHN THPT tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” của tác giả Hồ Văn Thống ở
trường Đại học Sư phạm Hà Nội [42]
Đặc biệt, cuối năm 2012, Tổ chức Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Flamăng -
Vương quốc Bỉ (VVOB) đã xuất bản tài liệu “QLHN ở cấp trung học” [47], tài liệu được biên
soạn trong khuôn khổ Chương trình HN mà tổ chức VVOB Việt Nam và hai tỉnh Quảng Nam và Nghệ An đang hợp tác thực hiện nhằm góp phần nâng cao kiến thức, kĩ năng về HN và QLHN cho đội ngũ cán bộ QLHN của hai tỉnh Ngoài việc cung cấp những kiến thức và kĩ năng cần thiết trong CTHN, tài liệu lần đầu tiên đã trình bày một cách hệ thống lý luận về những kiến thức, kĩ năng cần thiết về lãnh đạo và QLHN ở cấp trung học Bên cạnh đó, đầu năm 2013, tổ
chức VVOB Việt Nam cũng cho ra đời “Tài liệu bổ sung sách GV hoạt động GDHN lớp 10, 11,
12” [48] Tài liệu nhằm cập nhật, bổ sung các thông tin liên quan tới HĐHN và có hướng dẫn cụ thể nhằm giúp cho các GV không được đào tạo chuyên môn về HN có thể thực hiện tốt các giờ HĐHN theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT đồng thời thực hiện được các mục tiêu trong “Tầm nhìn HN” của hai tỉnh đã xây dựng trong dự án Các tài liệu trên cùng với toàn bộ dự án Chương trình HN mà tổ chức VVOB - Việt Nam và hai tỉnh Quảng Nam và Nghệ An thực sự đã có tác động tốt đến tư duy và phương pháp tổ chức, QL HĐHN hiện nay của các địa phương
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã góp phần khái quát được thực trạng CTHN nói chung và công tác QL HĐHN nói riêng của các địa phương, vùng miền khác nhau, góp phần tích cực trong việc cải tiến HĐHN của các địa phương trong bối cảnh công tác GDHN của cả nước nói chung còn nhiều yếu kém và chậm đổi mới Tuy vậy, hiện nay chưa có công trình
Trang 2018
nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng QL HĐHN cho HS lớp 12 trên địa bàn huyện Bến Cát,
tỉnh Bình Dương
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục (QLGD), quản lý nhà trường
Quản lý là sự tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý có liên quan) nhằm thực hiện được những mục tiêu quản lý dự kiến [31]
Đối với cấp vĩ mô: QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở GD là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống GD; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống, nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động [31]
Đối với cấp vi mô: QLGD được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống GD, đó có thể là một trường học, một trung tâm KTTH - HN, một tập hợp các cơ sở GD phân bố trên một địa bàn dân cư Khi đó QLGD là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể
HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản
lý vào quá trình GD (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường [31] Muốn quản lý một cách khoa học (hoặc tối ưu) thì chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối vận hành của đối tượng quản lý
Tóm lại: QLGD là một chuỗi tác động hợp lý của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động Đó là hoạt động có tính mục đích, được tổ chức một cách khoa học của Hiệu trưởng nhằm tổ chức - chỉ đạo một cách khoa học các hoạt động GD&ĐT trong nhà trường, hướng tới những mục tiêu đã định
Trang 21Theo các nhà kinh tế học, HN là những mối quan hệ kinh tế giúp cho từng thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội Các nhà tâm lý học cho rằng HN là một hệ thống các biện pháp tâm lý, sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân Theo quan điểm của các nhà GD học thì HN là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, xí nghiệp khác nhau được tiến hành với mục đích giúp HS chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu KT-XH HN là một bộ phận cấu thành của quá trình GD - học tập trong nhà trường [27]
Tại Hội nghị lần thứ IX những người đứng đầu cơ quan GD nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tại La Habana thủ đô Cu-Ba vào tháng 10/1980 đã thống nhất về khái niệm HN
như sau: “HN là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ có sẵn của đất nước” [38, tr.76.]
Ở Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về HN, chẳng hạn coi “HN là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bổ tối ưu (có chú ý tới năng lực, thể lực) nhân dân theo ngành và loại lao động” [37, tr.458]
Từ điển GD học định nghĩa “HN là hệ thống các biện pháp giúp đỡ HS làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người, với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội” [25, tr.209]
Theo GS Phạm Tất Dong thì HN là một hệ thống tác động của xã hội về GD, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện
Trang 22Nhìn chung, có thể xem xét khái niệm HN dưới các góc độ khoa học lao động, góc độ xã hội và dưới góc độ GDPT
chuẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của từng người cụ thể dựa trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm - sinh lý của họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động [14]
tham gia Trong những điều kiện lý tưởng, trẻ em cần được HN liên tục và thường xuyên bằng nhiều hình thức, bằng nhiều con đường Nếu xã hội biết tận dụng câu lạc bộ, nhà văn hoá, rạp chiếu phim, đài phát thanh, truyền hình, nhà xuất bản, thư viện… vào CTHN, tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với trẻ em sẽ rất lớn
Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường, các cơ quan quản lý kinh tế
và quản lý nhà nước, các cơ quan của những đoàn thể chính trị và xã hội,… đều cần đến những người có năng lực và những phẩm chất nhân cách phù hợp Để chọn được người theo đúng những tiêu chuẩn đã định bao gồm những chỉ số khách quan Những cơ quan, những tổ chức nói trên có nhiệm vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm, điều kiện công tác của mình, giúp cho họ tìm hiểu những nghề nghiệp, chuyên môn mà mình cần tuyển chọn Cuối cùng những cơ quan, những cơ sở sản xuất phải tiến hành tuyển chọn người trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề nghiệp của họ
Chúng ta đang phấn đấu để cho trẻ em được chọn nghề theo hứng thú, sở thích và cũng mong muốn chúng ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó, HN phải là công việc được xã hội quan tâm đặc biệt Không nên để cho trẻ em chọn nghề một cách tự phát, cũng không nên để cho số phận nghề nghiệp của mỗi HS, mỗi thanh thiếu niên phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên HN là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó, có
Trang 2321
được cuộc sống thoả mãn với lao động nghề nghiệp
Ở góc độ GDPT: Trong trường phổ thông , HN là một hình thức hoạt động dạy của thầy
và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, HN được coi như là công việc của tập thể GV, tập thể sư phạm, có mục đích GD HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Với cách hiểu này, HN là sự tác động của một hệ thống những biện pháp tác động của nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng
thú, năng lực cá nhân [26]
Điều 3 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật GD 2005 cũng khẳng
định: “HN trong GD là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS
có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội”[45]
Như vậy, tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng lĩnh vực hoạt động khoa học mà có những quan điểm khác nhau khi xem xét về khái niệm HN Trong nghiên cứu này, HN được tiếp cận dưới góc độ GDPT là sự tác động vào thế hệ trẻ của một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của hệ thống sư phạm làm trung tâm, giúp các em có những hiểu biết cơ bản về một số ngành nghề phổ biến để khi ra trường, các em có thể lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình một cách có ý thức
1.2.2.2 Khái niệm GDHN
Theo quan điểm truyền thống, GDHN gắn với khâu chọn nghề Về phạm vi, HN chỉ diễn
ra ở trường phổ thông Về đối tượng, là HS phổ thông nhưng chủ yếu là HS từ THCS đến hết cấp THPT Theo quan điểm mới, GDHN gắn với quá trình phát triển nghề nghiệp gồm có chọn nghề và thích ứng nghề Về phạm vi, CTHN diễn ra không chỉ ở trường phổ thông mà ở cả trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp (TCCN), cao đẳng (CĐ), đại học (ĐH) và cả ở những cơ sở sản xuất kinh doanh Về đối tượng, bao gồm cả HS phổ thông, HS học các trường nghề và THCN, sinh viên ĐH, CĐ và người lớn tuổi học thêm nghề hoặc chuyển đổi nghề do thay đổi công nghệ, cổ phần hoá doanh nghiệp, môi trường sống,
Trong trường phổ thông, GDHN là một bộ phận của GD toàn diện GDHN là hoạt động được thực hiện bởi GV và HS và được tiến hành qua nhiều hình thức GDHN khác nhau nhưng
Trang 2422
tập trung vào thực hiện mục đích giúp cho HS lựa chọn nghề vừa đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH vừa phù hợp với nguyện vọng, năng lực, thể lực của HS để các em phát huy được khả năng bản thân trong cuộc sống nghề nghiệp Do vậy, GDHN trong trường phổ thông không phải
là nhằm quyết định nghề cho mỗi cá nhân mà là điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ, giúp các em giải quyết việc chọn nghề cho tương lai một cách có ý thức ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường
1.2.3 QL HĐHN trong nhà trường THPT
1.2.6.1 Khái niệm quản lý hướng nghiệp
Theo Tổ chức hợp tác phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật vùng Fla-măng - Bỉ (VVOB -Việt Nam): “quản lý HN (hay QL HĐHN) là một bộ phận của QLGD, là hệ thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý của CTHN nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu HN cho HS phổ thông” [46, tr.72]
QL HĐHN gồm những yếu tố cơ bản như ở sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố của quản lý HĐHN
Chủ thể quản lý là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý và chịu
trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả các nguồn lực cho CTHN tại địa bàn, đơn vị đang quản lý Trong QL HĐHN, chủ thể quản lý là lãnh đạo và hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban Giám hiệu (BGH) nhà trường và Giám đốc Trung tâm GD thường xuyên ở địa phương có chức năng HN cho HS phổ thông cấp trung học trên địa bàn Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu HN
Phương pháp quản lí
Công cụ quản lí
Chủ thể quản lí
Đối tượng quản lí
MỤC TIÊU HƯỚNG NGHIỆP
Trang 2523
Đối tượng quản lý là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao gồm: các
cán bộ (CB), GV phụ trách HN; tập thể HS ở các trường THCS, THPT; CB, GV và HS các trung tâm GD thường xuyên, trung tâm KTTH - HN; các tổ chức, đoàn thể xã hội (như Hội cha
mẹ HS, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các doanh nghiệp…) Đối tượng quản lý còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, CSVC và thiết bị GD và hệ thống thông tin phục vụ cho CTHN
Công cụ quản lý là những phương tiện mà CB QL HĐHN sử dụng trong quá trình quản
lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân HN và HS phổ thông cấp trung học trong việc thực hiện mục tiêu CTHN Công cụ chủ yếu để QL HĐHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với CTHN, là các cơ chế và chính sách cho CTHN
Phương pháp quản lý là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của CB
QL HĐHN đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lý (như quyền lực, quyết định, cơ chế chính sách, tài chính, kĩ thuật - công nghệ…) và lựa chọn cách thức tác động (tác động bằng quyền lực; tác động bằng kinh tế; tác động bằng tư tưởng chính trị…) của CB QL HĐHN tới đối tượng quản lý
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, QL HĐHN (hay là quản lý công tác
GDHN) trong trường THPT được tiếp cận dưới góc độ là một hoạt động tác động hợp lý có
kế hoạch, nội dung, phương pháp, chương trình, mục đích của nhà quản lý (Hiệu trưởng,
GV chủ nhiệm lớp - người thay mặt Hiệu trưởng quản lý lớp) đến từng HS, nhằm điều khiển, điều chỉnh, định hướng, quá trình tự GD của HS giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu của xã hội
1.3 Hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT
1.3.1 Vai trò, ý nghĩa của HĐHN ở nhà trường THPT
HN là một bộ phận hữu cơ quan trọng của chương trinh GDPT Vai trò của HN luôn được khẳng định trong các văn bản quan trọng của Đảng và nhà nước Bộ GD&ĐT, Ủy ban nhân dân các tỉnh/ thành phố cũng đã có những văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo, hướng dẫn các cấp QLGD, các trường học thực hiện GDHN cho HS phổ thông Đồng thời hiện nay theo quan điểm mới, GDHN mở rộng đối tượng và tiến hành liên tục nhằm giúp HS, sinh viên, người lao động có thêm kiến thức, kỹ năng lựa chọn nghề phù hợp với bản thân và nhu cầu nhân lực của xã hội
CTHN chiếm một vị trí quan trọng trong việc định hướng phân công lao động xã hội
Trang 2624
và phát triển nguồn nhân lực của đất nước HN có vai trò quan trọng không chỉ đối với xã hội mà nó còn ảnh hưởng đến từng cá nhân, từng gia đình Khi cả nước đang trên con đường CNH-HĐH cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, sự chuyên môn hóa trong sản xuất ngày càng ở trình độ cao thì rất cần nguồn lao động có trình độ, có năng lực, đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội Để đáp ứng yêu cầu đó thì hệ thống GD, đặc biệt là GD ở bậc THPT cần giúp HS có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, phù hợp với khả năng, sở thích của bản thân và nhu cầu của xã hội nhằm tránh tình trạng đào tạo lệch lạc gây lãng phí trong đào tạo, đồng thời nâng cao năng suất lao động
HĐHN cho HS hiện nay được thực hiện ở các trường phổ thông, các Trung tâm KTTH-HN, các trường đào tạo, các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp Nhưng trong trường phổ thông, HĐHN đa dạng hơn, toàn diện và sâu sắc hơn như: giảng dạy KTTH-HN;
tổ chức dạy nghề phổ thông; HĐHN; TVHN và GDHN trong dạy học các môn khoa học… Tất cả điều đó cho thấy vai trò quan trọng của nhà trường phổ thông trong HĐHN, đặc biệt
là trường THPT, nơi mà các em HS, đặc biệt là HS lớp 12 sắp sửa ra trường, phải lựa chọn cho mình một trường đào tạo, một nghề nghiệp trong tương lai
1.3.2 Cấu trúc, mục tiêu, nhiệm vụ HN ở nhà trường THPT
Dựa trên mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ của trường phổ thông hiện nay, với đặc trưng riêng của mình, HN có mục đích chung là hình thành năng lực tự chủ trong việc lựa chọn nghề của học sinh trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú sở thích cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các hoạt động đa dạng của đời sống xã hội Thực hiện được mục đích nêu trên,
HN sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội, điều chỉnh từ gốc sự phân luồng nguồn lao động dự trữ trên bình diện cả nước
Mục đích trên của toàn bộ hệ thống được chia nhỏ thành những mục đích bộ phận tương ứng với từng cấp học hiện nay trong hệ thống GDPT và GDHN
Đối với HS THPT, mục đích của HN là giúp cho HS có được ý thức như là chủ thể trong
sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động xã hội và năng lực, sở trường của bản thân
HS THPT là bộ phận thanh niên đến tuổi trưởng thành, được tiếp cận với một hệ thống kiến thức từ quá trình học tập ở trường phổ thông và được trải nghiệm thực tiễn thông qua những dạng lao động trong gia đình, trong các tổ chức đoàn thể, hàng ngày được tiếp nhận các dạng
Trang 2725
thông tin nghề nghiệp và chính những điều kiện này đã giúp cho các em hình thành được những
cơ sở xác đáng về kiến thức, về kỹ năng và đặc biệt là sự trưởng thành đáng kể trong nhận thức đối với ý nghĩa cuộc sống, vị trí của bản thân, có được thử thách ban đầu trong lao động nghề nghiệp, góp phần vào đời sống gia đình, tạo ra những tiền đề cho quá trình thích ứng nghề nghiệp sau này Một HS có ý chí vươn lên, ngay từ khi còn học phổ thông đã tích cực học thêm các môn học cần cho nhiều nghề như tin học, ngoại ngữ Với cái nền rất đáng quý đó của HS THPT, nhiệm vụ HN đối với các em không chỉ dừng lại ở mức độ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết kỹ càng hơn về nghề mà còn là quá trình xác lập những điều kiện hiện thực để đưa các em vào hoạt động trong thế giới nghề nghiệp, tạo ra sự thích ứng ở mức độ nhất định với nghề hoặc lĩnh vực lao động mà họ ưa thích
Mục tiêu của GDHN ở trường THPT là góp phần định hướng nghề nghiệp cho HS
Trong trường phổ thông, chủ thể trực tiếp định hướng nghề nghiệp là HS Quá trình định hướng
đó được hình thành trên cơ sở trợ giúp của các lực lượng GD, đặc biệt là vai trò của lực lượng sư phạm trong nhà trường qua các hoạt động GDHN
Cấu trúc của hệ thống HN: HN là một hệ thống đa cấp, trong cấu trúc của HN có thể
phân chia thành các bộ phận/ thành phần như sau: khai sáng nghề, thông tin nghề, GD nghề, chẩn đoán nghề, tư vấn nghề, lựa chọn nghề, tuyển chọn nghề và thích ứng nghề
Sơ đồ 1.2 Các bộ phận hợp thành hệ thống HN [27]
HĐHN được thực hiện trong sự gắn bó chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Mỗi một thành phần trong cấu trúc có đặc trưng riêng về nội dung, phương pháp thực hiện tuỳ thuộc vào điều kiện thực tiễn của HĐHN (mức độ chuẩn bị cho tuổi trẻ tiếp tục học lên trong các trường, tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp hoặc trong sản xuất)
Trang 2826
Khai sáng nghề, dự báo nghề và tư vấn nghề được tiến hành trong các trường phổ thông
và trong các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp Tuyển chọn và thích ứng nghề chỉ được thực hiện chủ yếu trong các cơ sở đào tạo nghề và trong các tập thể lao động GD nghề cho thanh thiếu niên được thực hiện trong nhà trường, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp và các tập thể lao động
Nhiệm vụ của CTHN ở các trường phổ thông được ghi rõ trong quyết định 126/CP của
Hội đồng Chính phủ: “CTHN ở các trường phổ thông gồm các nhiệm vụ sau đây: GD thái độ lao động đúng đắn; tổ chức cho HS thực tập làm quen với một nghề; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên hướng dẫn HS đi vào chọn nghề những nơi đang cần lao động trẻ tuổi
có văn hoá” Nhiệm vụ chung của CTHN ở trường THPT có thể khái quát trong các nội dung sau:
1 Qua CTHN, giúp HS làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội và những nghề có
vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở địa phương mình
2 Hướng dẫn HS phát triển những nhận thức định hướng nghề nghiệp, giúp HS chọn nghề phù hợp
3 Giúp HS hình thành và phát triển năng lực nghề nghiệp qua lao động sản xuất, GD KTHT-HN và dạy nghề phổ thông
4 GD HS thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao động, ý thức bảo vệ của công, ý thức tiết kiệm
1.3.3 Nội dung HN ở trường THPT
Nội dung của HĐHN trong trường THPT hiện nay là nhằm định hướng nhận thức, thái
độ, phát triển năng lực nghề nghiệp cho HS
Nhận thức nghề nghiệp là cốt lõi mang tính định hướng cho hành động lựa chọn nghề của
HS Có được những nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về nghề nghiệp HS sẽ dễ dàng hơn trong chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình Nhận thức nghề nghiệp bao gồm những thành tố như sau:
+ Nhận thức về những yêu cầu xã hội đối với nghề nghiệp
+ Nhận thức về thế giới nghề nghiệp
Trang 2927
+ Nhận thức về những đặc điểm cá nhân
Cả ba mặt nêu trên trong nhận thức nghề nghiệp của HS có liên quan chặt chẽ và bổ sung cho nhau tạo thành tính trọn vẹn của nhận thức nghề nghiệp
Thái độ đối với nghề nghiệp bao gồm ba yếu tố: tình cảm, nhận thức và hành vi Đặc trưng cơ bản nhất của thái độ nghề nghiệp được biểu hiện trước tiên thông qua động cơ chọn nghề Động cơ chọn nghề của HS là những yếu tố tâm lý bên trong thôi thúc, chi phối mọi hoạt động giúp HS vươn tới sự xác định cho mình một nghề nghiệp nào đó
Biểu hiện cao nhất của thái độ nghề nghiệp là nguyện vọng nghề nghiệp Đó là sự xác định vị trí xã hội mà các em mong muốn vươn tới trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của bản thân Đối với HS, để có được nguyện vọng xác thực và chính đáng là việc khó, bởi lẽ tính tích cực hay tiêu cực của nguyện vọng, mức độ cao thấp của nguyện vọng nghề nghiệp của HS không chỉ dựa vào năng lực nhận thức của cá nhân mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể của sự phát triển KT -XH khi lựa chọn nghề Dưới tác động của các nội dung, biện pháp GD của nhà trường phổ thông trong CTHN, HS sẽ xây dựng nhu cầu, hứng thú để xác định đúng đắn nguyện vọng nghề nghiệp của mình
Năng lực là thuộc tính của nhân cách, nó không tồn tại độc lập mà chỉ tồn tại trong mối tương quan với một hoạt động nhất định nào đó Năng lực được biểu hiện ra bên ngoài bởi cách thức hoạt động như sự thể hiện về chiều sâu, sự bền vững trong việc chiếm lĩnh phương pháp Năng lực là điều kiện để cá nhân tiến hành có hiệu quả một số hoạt động nhất định, là thành tố bên trong của hoạt động và động cơ tâm lý
Năng lực có tiền đề sinh học, mỗi con người đều tiềm ẩn những năng lực và sở trường đặc biệt để đi tới thành công nếu biết lợi dụng đầy đủ các cơ sở ấy nhất là những sở trường để phát huy năng lực nghề nghiệp Năng lực nghề nghiệp không chỉ được hình thành riêng trong hoạt động nghề nghiệp mà có thể hình thành trong quá trình chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai Khi GDHN cho HS nhà trường cần phải biết lợi dụng và biết phát huy những tố chất nội tại, thậm chí còn phải nâng niu, giúp đỡ HS phát huy những mầm móng của năng lực để thành công, thành tài
Trong GDHN của nhà trường, nếu thiếu đi sự hiểu biết HS về mặt sinh học để tạo ra những điều kiện cần thiết cho sự phát triển những ưu thế về trí lực, thể lực, năng khiếu của các
Trang 3028
em thì khó có thể phát hiện và hình thành được năng lực nghề nghiệp cho HS
Từ các nội dung của công tác GDHN kể trên, được cụ thể thành các chủ đề GDHN cho
HS THPT (các lớp 10, 11, 12) Hiện nay các chủ đề GDHN cho HS các lớp 10, 11, 12 THPT có thể được phân loại thành các chủ đề đặc trưng về lý luận GDHN, các chủ đề về tìm hiểu ngành nghề cụ thể, thực hành và các chủ đề giao lưu, tham quan, thực tế
- Các chủ đề về lý luận GDHN bao gồm:
+ Lớp 10: Em thích nghề gì; vấn đề giới trong chọn nghề; năng lực bản thân và truyền thống gia đình
+ Lớp 11: Tôi muốn đạt được ước mơ
+ Lớp 12: Những điều kiện để thành đạt trong nghề
Đây là những chủ đề đòi hỏi người tổ chức phải có kiến thức rất sâu về tâm lý học sư phạm, tâm lý học lứa tuổi, sinh học, xã hội học, văn hóa doanh nhân, … mới có thể tự tin trong việc tổ chức các hoạt động chuyên môn Rõ ràng, với nguồn lực hiện có, việc tổ chức hiệu quả các chủ đề trên là điều hết sức khó khăn
+ Lớp 12: Tư vấn chọn nghề trong quá trình HN; hướng dẫn HS chọn nghề và làm
hồ sơ tuyển sinh; thanh niên lập thân lập nghiệp
- Các chủ đề giao lưu, tham quan, thực tế:
+ Lớp 11: Giao lưu với những gương điển hình về sản xuất kinh doanh giỏi, những gương vượt khó; tham quan trường ĐH, CĐ, THCN - Dạy nghề tại địa phương
+ Lớp 12: Tổ chức tham quan hoặc hoạt động văn hoá theo chủ đề HN
Từ năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT hướng dẫn giảm số tiết chương trình GDHN, chỉ còn 9 tiết/năm (tức 01 tiết/tháng) đối với tất cả các lớp, trước đây là 27 tiết/năm học (03 tiết/tháng) do một số chủ đề có nội dung trùng lặp với các môn học khác như GD công dân, GD
ngoài giờ lên lớp,… Do đó, các nội dung trùng lặp sẽ để các môn khác thực hiện, các nhà trường
tự lựa chọn các chủ đề phù hợp với đặc điểm HS, điều kiện của nhà trường Ở cấp THPT, nội
Trang 319 Định hướng phát triển KT-XH của đất nước và địa phương
10 Những điều kiện để thành đạt trong nghề
11 Tìm hiểu hệ thống trường THCN và dạy nghề
12 Tìm hiểu hệ thống đào tạo ĐH, CĐ
1 Thanh niên lập thân, lập nghiệp
2 Tư vấn chọn nghề
3 Hướng dẫn chọn nghề và làm hồ sơ tuyển sinh ĐH, CĐ và THCN
4 Tổ chức hoạt động văn hóa theo chủ đề HN
Nhìn chung, nội dung chương trình GDHN hiện nay chưa phục vụ được tính đặc thù của từng vùng miền; số lượng ngành nghề đề cập trong nội dung GDHN cấp THPT còn hạn chế, những ngành nghề điển hình về nghệ thuật, giải trí, những ngành nghề truyền thống ở Việt Nam, những ngành nghề mang tính đặc thù ở từng địa phương chưa được quan tâm Những chủ đề tham quan, giao lưu ít khả thi Để tổ chức thành công những chủ đề tìm hiểu các nghề, GV phải
tự sưu tầm, đọc tài liệu hoặc học hỏi từ những người đã và đang hoạt động trong những ngành nghề ấy Điều này rất khó khăn với những người mới bắt đầu thực hiện và đặc biệt là ở những vùng nông thôn, vùng miền núi, …
1.3.4 Hình thức tổ chức HĐHN ở nhà trường THPT
Theo Thông tư 31/TT ngày 17 tháng 8 năm 1981 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn thực
hiện Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ “Về CTHN trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS phổ thông cơ sở, phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”,
CTHN cho HS phổ thông được thực hiện thông qua bốn con đường (hình thức): HN qua các môn học, HN qua các hoạt động ngoại khóa, HN qua việc giới thiệu các ngành nghề và HN qua hoạt động lao động sản xuất
1.3.3.1 HN qua các môn học
Trang 3230
Hoạt động GDHN cho HS THPT còn được thực hiện trong quá trình giảng dạy các bộ môn học Những kiến thức trong các môn học mà HS lĩnh hội sẽ tạo thành nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp bởi lẽ đó là hệ thống tri thức cơ bản, chung nhất, được tất cả các ngành nghề lấy đó làm điểm tựa để bồi đắp dần tri thức chuyên ngành cho giai đoạn tiếp theo Vì vậy, thông qua các môn học là một trong những hình thức HN rất quan trọng Quá trình đó làm cho nội dung bài giảng gắn liền với cuộc sống, mở rộng nhãn quan nghề nghiệp của HS, kích thích cho HS hăng say học tập, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học
HN qua các môn học, trước hết gắn việc truyền thụ kiến thức cơ bản của các môn học với công tác GD chính trị tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức lý tưởng nghề nghiệp cho thanh niên Đây là yêu cầu rất quan trọng để GD lẽ sống, là cơ sở để xác định mục đích chọn nghề của
thanh niên Tùy thuộc vào nội dung giảng dạy, các môn học, đặc biệt các môn khoa học xã hội phải có trách nhiệm hướng vào yêu cầu này Đồng thời, qua việc giảng dạy các môn học, GV cần gắn việc truyền thụ kiến thức cơ bản với việc giới thiệu các ngành, nghề trong xã hội, làm cho HS có hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, đặc điểm hoạt động của ngành, nghề có quan hệ tới nội dung bài học Mỗi môn học, nhất là môn khoa học tự nhiên, những ứng dụng của chúng được thể hiện trong các ngành, nghề khác nhau Vì vậy, giới thiệu cho HS những ứng dụng những kiến thức trong nghề này hay nghề khác là yêu cầu rất quan trọng của CTHN, chẳng những có tác dụng mở rộng nhãn quan nghề nghiệp cho HS, mà còn kích thích HS hứng thú học tập
HN qua các môn học đòi hỏi GV bộ môn phải thực hiện nghiêm chỉnh những tiết thực hành và tổ chức cho HS tham quan sản xuất Qua đó, rèn luyện kỹ năng thực hành, làm cơ sở cho việc học nghề, sử dụng công cụ, nâng cao tay nghề, tổ chức cho HS làm quen, tiếp xúc với nghề, tìm hiểu hoạt động sản xuất của địa phương, chuẩn bị tích cực cho việc phân luồng lao động sau cấp học
Tóm lại, HN qua các môn học trước hết phải dạy tốt văn hóa, khoa học cơ bản, trên cơ sở
GD kỹ thuật tổng hợp, làm cho HS có những hiểu biết chắc chắn về những sự kiện, khái niệm, quy luật, phát triển tư duy, có kỹ năng thực hành, có hiểu biết sơ bộ về những ngành chủ yếu, nghề cơ bản của đất nước, của địa phương có liên quan trực tiếp tới các môn học và có ý thức sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sau khi tốt nghiệp
1.3.3.2 HN qua các hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa phục vụ HN bao gồm những hình thức sau: tổ hoạt động ngoại
Trang 3331
khóa bộ môn (sinh học, vật lý, hóa học, toán, kỹ thuật ), tham quan sản xuất, tọa đàm nghề nghiệp, hướng dẫn HS tìm hiểu ngành nghề, phòng HN Mỗi hình thức được tổ chức tốt có tác dụng giới thiệu nghề, phát triển hứng thú nghề nghiệp, hướng dẫn HS tìm hiểu ngành nghề, làm quen với các dạng lao động khác nhau Trong các hình thức trên, xây dựng và sử dụng phòng
HN có tác dụng định hướng tích cực, phòng HN được coi là cơ sơ vật chất (CSVC), kỹ thuật phục vụ HN trên cơ sở giới thiệu hình ảnh nghề, sản phẩm lao động Phòng HN trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ GD thái độ đúng đắn với lao động, đối với nghề nghiệp; cung cấp cho
HS những kiến thức cần thiết và tối thiểu của một số ngành, nghề của địa phương, nghề truyền thống của địa phương; phát triển hứng thú nghề nghiệp và tổ chức cho HS làm quen với sản xuất, hướng dẫn các em đi vào các hoạt động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường
1.3.3.3 HN qua việc giới thiệu các ngành nghề
Để đảm bảo mục đích, nội dung của các môn học trên, việc giới thiệu nghề cho HS thông qua các bài học và lao động sản xuất chỉ có thể kết hợp trong quá trình dạy những chương, bài liên quan trực tiếp với các ngành, nghề và việc thông tin về nghề không thể kéo dài làm phân tán nội dung học tập Do đó, các buổi sinh hoạt HN giới thiệu nghề cho HS sâu hơn và có hệ thống nhằm làm cho HS có hiểu biết về cơ cấu kinh tế của nền kinh tế đất nước và địa phương, nhu cầu
sử dụng lao động dự trữ xã hội, những hiểu biết về những ngành nghề cơ bản, và nghề truyền thống của địa phương Trên cơ sở đó, hướng dẫn HS lựa chọn hướng học tập và nghề nghiệp phù hợp với năng lực cá nhân đáp ứng những yêu cầu của xã hội
Theo Thông tư 31 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP của Hội
đồng Chính phủ “Về CTHN trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS phổ thông cơ sở, phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường”, các buổi sinh hoạt HN được tiến hành 01 buổi/tháng
trong giờ lao động để giới thiệu, tuyên truyền, giải thích ngành nghề Khi giới thiệu cần tập trung vào một số điểm cơ bản như: vị trí, vai trò, triển vọng, những hoạt động cơ bản của nghề; những phẩm chất, năng lực lao động cần có, những môn học cần thiết đối với nghề Nhà trường tự sưu tầm, sử dụng tài liệu, sách báo, tranh, ảnh, phim, vô tuyến truyền hình, dựa vào các cơ sở sản xuất, phụ huynh HS, cán bộ kỹ thuật của địa phương để giới thiệu nghề cho HS
1.3.3.4 HN thông qua giảng dạy kỹ thuật và lao động sản xuất
Là môn khoa học ứng dụng, kỹ thuật có nhiệm vụ cung cấp cho HS những nguyên lý cơ bản về kỹ thuật, công nghệ, khoa học và tổ chức quản lý sản xuất; minh họa ứng dụng của các nguyên lý khoa học - kỹ thuật trong các quá trình sản xuất chủ yếu, là cầu nối kiến thức cơ bản
Trang 3432
với sản xuất; tạo điều kiện cho HS tiếp cận với các hoạt động nghề khác nhau trong xã hội Do
đó, GD kỹ thuật là con đường quan trọng để thực hiện GD KTTH - HN, nhằm chuẩn bị cho thế
hệ trẻ năng lực dịch chuyển lao động trong điều kiện lao động đổi mới về nội dung và GD sự lựa chọn nghề một cách có ý thức
Môn kỹ thuật gồm nhiều phân môn: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, cơ khí,
kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, vẽ kỹ thuật, kỹ thuật phục vụ và quản lý kinh tế Quá trình giảng dạy tri thức của các ngành trên đòi hỏi nội dung giảng dạy phải gắn với đối tượng lao động, với công cụ lao động và gắn với hoạt động nghề Vì vậy, truyền thụ kiến thức kỹ thuật dễ gắn với người thực, việc thực, nghề thực tạo điều kiện thuận lợi cho công tác GD tư tưởng, chính trị, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, GD lao động, định hướng thế hệ trẻ vào phát triển KT-XH, phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Để đảm bảo nội dung giảng dạy kỹ thuật, quán triệt nguyên tắc kỹ thuật tổng hợp và HN, nhất thiết phải tổ chức cho HS thực hành kỹ thuật và thực tập sản xuất gắn với các nghề khác nhau, làm cho việc giảng dạy lý thuyết kỹ thuật - thực hành kỹ thuật - lao động sản xuất - dạy nghề trở thành những khâu nối tiếp nhau trong quá trình GD kỹ thuật
Ý nghĩa GD KTTH-HN trong lao động sản xuất của HS chỉ đạt được khi người hướng dẫn lao động có ý thức tác động qua giảng dạy lao động nhằm vận dụng, củng cố kiến thức, hướng dẫn HS tìm hiểu ngành, nghề, mức độ lao động phù hợp với lứa tuổi, giới tính, chuẩn bị cho HS có ý thức sẵn sàng tham gia lao động sản xuất sau khi tốt nghiệp Vì vậy, các hình thức lao động trong trường phổ thông không thể tùy tiện mà phải gắn với cơ sở khoa học, đặc biệt gắn với môn kỹ thuật công nghệ và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của địa phương, nhằm chuẩn bị một cách tích cực và có hiệu quả vào việc sử dụng hợp lý nguồn lao động dự trữ ở địa phương, của đất nước [2; tr.114]
Nhìn chung, mặc dù nội dung CTHN đến nay đã có nhiều bổ sung, đổi mới song về hình thức tổ chức HĐHN vẫn cơ bản được thực hiện bằng bốn con đường nói trên Trong đó, GDHN qua các môn học là con đường có nhiều ưu thế nhờ có đội ngũ GV bộ môn đông đảo, kiến thức các môn học đa dạng tuy nhiên trên thực tế hiệu quả tổ chức HN qua các môn học không cao
Thay vào đó, HN qua việc giới thiệu các ngành nghề được thực hiện thông qua tiết sinh hoạt HN
là hình thức HN phổ biến nhất trong nhà trường THPT hiện nay
1.4 Quản lý hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT
Trang 3533
1.4.1 Mục tiêu QL HĐHN trong trường THPT
QL HĐHN là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện của các cấp quản lý và các cán bộ QLGD ở nhà trường THPT Công tác QL HĐHN ở trường THPT có các mục tiêu chính sau:
- Thực hiện mục tiêu HN cho HS phổ thông cấp trung học;
- Phát triển vai trò của các tác nhân tham gia CTHN;
- Sử dụng, khai thác và phối hợp hợp lý các nguồn lực cho CTHN;
- Tổ chức, quản lý hiệu quả các HĐHN cho HS phổ thông cấp trung học
Để đạt được mục tiêu của CTHN, cần thiết phải QL HĐHN nhằm đảm bảo thực hiện được những công việc sau có hiệu quả:
- Chỉ đạo và điều hành xây dựng mục tiêu, kế hoạch chiến lược về HN của địa phương (cơ sở)
- Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và bồi dưỡng, phát triển đội ngũ CB và GV có đủ trình độ, năng lực và phẩm chất để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao;
- Tạo ra sự thống nhất ý chí trên con đường đi tới mục tiêu HN giữa những người làm nhiệm vụ quản lý với các tác nhân HN và HS phổ thông cấp trung học;
- Hỗ trợ và tạo động lực cho các tác nhân tham gia CTHN, đồng thời khuyến khích
mọi người phát huy cao độ năng lực cũng như khả năng sáng tạo thông qua việc thực hiện các chế độ và chính sách khen thưởng hợp lý;
- Huy động, phối hợp, sử dụng và khai thác tối đa các nguồn lực trong và ngoài ngành GD cho CTHN, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu HN cho HS phổ thông cấp trung học
- Thường xuyên thu thập các thông tin về mức độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ HN
của các cơ sở GD, các cá nhân và các bộ phận ở cơ sở GD để từ đó ra quyết định và có biện pháp điều chỉnh kịp thời
Tóm lại, thực hiện QL HĐHN một cách có chủ đích, khoa học, đầy đủ, nghiêm túc
và hợp lý sẽ làm cho mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung HN được hiện thực hóa trong thực tiễn
và đem lại lợi ích thiết thực cho HS, gia đình HS và xã hội
1.4.2 Nội dung QL HĐHN trong trường THPT
Tiếp cận dựa trên góc độ đối tượng của hoạt động quản lý, có thể xem QL HĐHN là
Trang 3634
một trong các nội dung quản lý của Hiệu trưởng trong nhà trường THPT, và bao gồm các
nội dung sau:
- Qu ản lý toàn bộ CSVC và trang thiết bị trong nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất
tiện phục vụ cho HĐHN là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu được trong quá trình
thực hiện hoạt động GDHN Hai nhân tố hết sức quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
của hoạt động GDHN là trình độ, năng lực của đội ngũ GV làm CTHN và CSVC - kỹ thuật
của nhà trường Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng hiệu quả của CSVC - kỹ thuật, phương
tiện còn phụ thuộc vào trình độ và khả năng sử dụng của GV
Quản lý tốt không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt CSVC, mà phải phát huy tốt năng suất của chúng cho việc dạy học và GD, đồng thời huy động từ các lực lượng xã hội, trang
bị những trang thiết bị mới có giá trị đảm bảo công tác GDHN trong nhà trường Vì vậy, để
hoạt động GDHN đạt hiệu quả cao, nhà QLGD phải đảm bảo CSVC - kỹ thuật, phương
tiện cho hoạt động GDHN Cụ thể:
+ Trang bị đầy đủ và đồng bộ các phương tiện, CSVC - kỹ thuật để phục vụ cho hoạt động GDHN (đồng bộ giữa điều kiện trường lớp với phương thức tổ chức hoạt động GDHN; giữa chương trình, sách giáo khoa với CSVC - kỹ thuật, phương tiện cho hoạt động GDHN)
+ Bố trí hợp lý các yếu tố của CSVC - kỹ thuật trong khu vực nhà trường, trong lớp học, trong các loại phòng chức năng
+ Khai thác và sử dụng có hiệu quả các phương tiện, CSVC - kỹ thuật trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và GD nói chung, hoạt động GDHN nói riêng
+ Tổ chức tốt việc bảo vệ, bảo dưỡng và bảo trì phương tiện, CSVC - kỹ thuật của nhà trường
ngoài nhà trường nhằm trang bị, xây dựng mới CSVC phục vụ tốt CTHN trong trường
học đường đảm bảo về chất lượng và số lượng, đáp ứng công tác giảng dạy và TVHN phù
hợp với điều kiện phát triển KT-XH tại địa phương Đồng thời quản lý tốt GV và tập thể HS thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình GDHN của nhà trường trong giờ chính khoá và ngoại khóa
Trang 3735
với tình hình phát triển ngành nghề của địa phương, bảo đảm nghiêm túc, có phương pháp, đúng chương trình và giáo trình HN của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT Trong quản lý phải có biện pháp theo dõi và kiểm tra kịp thời, thanh tra uốn nắn
ở các cơ quan xí nghiệp, bao hàm quản lý về thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần thái độ và phương pháp học tập
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, công tác QL HĐHN được tiếp cận dựa trên góc độ chức năng quản lý bao gồm các nội dung sau:
- Xây dựng kế hoạch, chương trình HĐHN
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐHN
- Kiểm tra, đánh giá HĐHN
1.4.2 1 Kế hoạch hóa trong QL HĐHN
Kế hoạch hóa CTHN là quá trình lập kế hoạch cụ thể cho CTHN Trọng tâm của lập kế hoạch HĐHN là chỉ ra phương hướng hành động và trả lời cho các câu hỏi: Mục tiêu chung cần đạt được của CTHN là gì? Cần phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể nào? Hoàn thành các
nhiệm vụ đó như thế nào? Mức độ cần đạt của từng nhiệm vụ được xác định trong kế hoạch HĐHN là gì? Phân phối, sử dụng các nguồn lực như thế nào để đạt được mục tiêu chung của CTHN và mục tiêu của từng nhiệm vụ HN? Biện pháp tổ chức và quản lý đối với từng nhiệm vụ
là gì? Thời gian cần thiết để thực hiện từng nhiệm vụ như thế nào?
Nội dung cơ bản của chức năng kế hoạch hóa CTHN bao gồm:
+ Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của CTHN trên địa bàn cần
+ quản lý
+ Đảm bảo chắc chắn các nguồn lực để đạt được mục tiêu của CTHN
+ Xác định các nhiệm vụ, các hoạt động cần thiết và các biện pháp để đạt được mục tiêu CTHN
Kế hoạch hóa CTHN là chức năng cơ bản nhất, mang tính định hướng cho toàn bộ HĐHN, tạo cơ sở ban đầu quan trọng cho việc thực hiện các chức năng quản lý khác Mỗi cán bộ QLHN đều phải bắt đầu chu trình quản lý của mình bằng việc thực hiện chức năng kế hoạch hóa thông qua việc lập kế hoạch HĐHN, chương trình hoạt động GDHN theo từng cấp quản lý Việc xây
Trang 3836
dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN giúp các nhà quản lý trường học tập trung chú ý vào mục tiêu hoạt động GDHN, dự kiến trước những khả năng ứng phó với những phương án tối ưu, tiết kiệm nguồn nhân lực và đem lại hiệu quả cao nhất; đồng thời giúp nhà quản lý dễ dàng kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, chương trình của các lực lượng tham gia hoạt động GDHN Việc lập kế hoạch còn giúp các cơ sở GD có kế hoạch, biện pháp đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường GD; đề ra được phương án tối ưu để phối hợp các nguồn lực và tạo ra
sự thống nhất ý chí, hành động của các tác nhân HN vào việc thực hiện mục tiêu chung của CTHN CB QLHN cần huy động sự tham gia của các bên liên quan vào trong tất cả các khâu của chu trình quản lý để đảm bảo đạt được tính khả thi, hiệu quả và bền vững của các HĐHN
1.4.2.2 Tổ chức, chỉ đạo trong QL HĐHN
Một trong những khâu quan trọng của QL HĐHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐHN ở nhà trường Thực thi chức năng tổ chức trong QL HĐHN là thực hiện quy trình thiết kế bộ máy, sắp xếp, bố trí, sử dụng và phát triển các nguồn lực (trọng tâm là nguồn nhân lực)
Nội dung chính của chức năng tổ chức là:
+ Thiết kế mô hình cơ cấu tổ chức làm CTHN;
+ Phân công nhiệm vụ cho các cơ sở GD, CB và GV;
+ Hỗ trợ các cơ sở GD và các cá nhân thực hiện nhiệm vụ được giao;
+ Xác định cơ chế quản lý và phối hợp giữa tác nhân trong và ngoài
+ cơ sở GD
Việc cụ thể hóa kế hoạch, chương trình thực hiện theo từng thời điểm nhất định, phân công trách nhiệm từng thành viên và việc thực hiện kế hoạch đến đâu, hiệu quả ra sao đều phụ thuộc chủ yếu vào việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN của lãnh đạo nhà trường Trong quá trình thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN có thể
xảy ra những tình huống ngoài dự kiến, cần có sự điều chỉnh kịp thời để đạt mục đích mong đợi Thực hiện tốt chức năng tổ chức sẽ thiết kế, hoàn thiện được bộ máy quản lý và xác định được
cơ chế vận hành, phối hợp giữa các bộ phận thực hiện nhiệm vụ CTHN một cách hợp lý, khoa học Nhờ đó, phát huy cao nhất khả năng của mỗi bộ phận, mỗi cá nhân và mỗi tác nhân trong CTHN Đồng thời tạo ra được sự thống nhất và hợp tác chặt chẽ giữa các cá nhân, các bộ phận, các nguồn lực và các tác nhân vào việc thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của CTHN
Trang 3937
Chỉ đạo CTHN là quá trình tác động có chủ đích, có ảnh hưởng của cán bộ quản lý HN tới hành vi, thái độ của những người dưới quyền nhằm biến những yêu cầu chung của CTHN thành nhu cầu của CB, GV, HS và những đối tượng khác tham gia CTHN Trên cơ sở đó, động viên và khích lệ mọi người tích cực, chủ động và tự giác phát huy tối đa khả năng để thực hiện
và hoàn thành nhiệm vụ HN với chất lượng cao Nói cách khác, chỉ đạo là quá trình tác động đến
các cá nhân và tập thể làm CTHN sao cho họ cố gắng một cách tự giác và hăng hái thực hiện mục tiêu chung của CTHN
Chức năng chỉ đạo có vai trò rất quan trọng trong chu trình QLHN Thực hiện nghiêm túc chức năng chỉ đạo giúp cán bộ quản lý HN duy trì được kỉ luật, kỉ cương của các cơ sở GD trên địa bàn, của CB và GV ở cơ sở GD trong việc thực thi các nhiệm vụ của CTHN Thông qua việc thực hiện chức năng chỉ đạo, cán bộ quản lý HN hướng dẫn, thuyết phục, khích lệ và động viên được CB, GV và các tác nhân HN khác phát huy cao độ khả năng của bản thân để đạt được mục tiêu CTHN một cách tối ưu; đồng thời phối hợp tốt với các tác nhân HN, tạo điều kiện cho các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài cơ sở GD thực hiện có hiệu quả các HĐHN Từ đó cho thấy, nếu chỉ tập trung làm tốt chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức mà buông lỏng chức năng chỉ đạo thì cũng khó có thể đạt được mục tiêu của CTHN CBQL HN có phát huy tối đa vai trò của mình hay không, năng lực QLHN của mỗi CBQL HN như thế nào, trách nhiệm của CBQL HN đối với CTHN đến mức nào, sự nhạy bén cũng như nghệ thuật quản lý của CBQL
HN ra sao, được thể hiện rõ qua việc thực hiện chức năng chỉ đạo
Nội dung cơ bản của chức năng chỉ đạo trong QLHĐHN là:
+ Sử dụng quyền hạn để thực hiện quyền chỉ huy và triển khai các nhiệm vụ của CTHN
+ Đôn đốc, động viên, khích lệ mọi người thực hiện nhiệm vụ HN đã được giao + Giám sát, sửa chữa và hỗ trợ mọi đối tượng quản lý thực hiện các nhiệm vụ đã được giao
+ Ra quyết định quản lý và thúc đẩy các HĐHN phát triển
Khi chỉ đạo CTHN, CBQL HN cần chú ý thực hiện những yêu cầu sau:
+ Nội quy, quy chế hoạt động trong CTHN phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước, điều kiện của địa phương và cơ sở GD;
+ Đảm bảo tính dân chủ;
Trang 4038
+ Động viên khích lệ CB, GV phát huy tối đa tiềm năng và năng lực của bản thân đối với nhiệm vụ HN được giao
1.4.2.3 Kiểm tra, đánh giá trong QL HĐHN
Kiểm tra, đánh giá trong QLHN là quá trình thu thập và trao đổi thông tin nhằm xem xét, đánh giá xem các HĐHN có theo đúng kế hoạch về tiến độ, kết quả và chất lượng dự kiến hay không Kiểm tra phải đi đôi với đánh giá Đánh giá là quá trình xử lý các thông tin thu thập được qua kiểm tra, từ đó đưa ra các nhận định về tiến độ và kết quả thực hiện CTHN
Trong quá trình QL HĐHN, việc thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá là rất cần thiết, nhằm:
+ Xem xét các HĐHN ở các cơ sở GD, các bộ phận và cá nhân thực hiện HĐHN có phù hợp với nhiệm vụ đã đề ra trong kế hoạch HĐHN hay không;
+ Xem xét những ưu điểm, thiếu sót và nguyên nhân của những thiếu sót trong quá trình HN ở cơ sở để kịp thời điều chỉnh quyết định quản lý;
+ Xem xét tình hình thực hiện kế hoạch HĐHN có phù hợp với các nguồn lực hiện
có của cơ sở GD hay không;
+ Có căn cứ để đưa ra và hoặc hoàn thiện các quyết định quản lý, đồng thời có cơ sở
để đánh giá mức độ phù hợp của các quyết định quản lý đối với CTHN Qua đó, có sự điều chỉnh kịp thời đối với những quyết định quản lý chưa phù hợp và hoặc kém hiệu quả trong thực tiễn;
+ Thể hiện được quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với CTHN, đồng thời cũng biết được thái độ, trách nhiệm của cấp dưới đối với các quyết định đã được đưa ra;
+ Phát hiện những nhân tố mới, những khả năng tiềm tàng, sáng tạo của cấp dưới trong CTHN để kịp thời bồi dưỡng hoặc điều chỉnh về mặt nhân sự;
+ Giúp cán bộ quản lý HN có biện pháp hỗ trợ kịp thời nếu thấy cần thiết;
+ Thu thập được các thông tin để có cơ sở đánh giá một cách kịp thời, khách quan tiến độ và kết quả CTHN của các cơ sở GD Kết quả kiểm tra, đánh giá là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả CTHN, đổi mới và hoàn thiện tổ chức và lập KHHĐHN tiếp theo
Chức năng kiểm tra, đánh giá HĐHN yêu cầu cán bộ quản lý HN cần thực hiện những công việc sau: