Những vấn đề GDHN ở trường phổ thông từ lâu đã được Đảng và Chính phủ rất quan tâm như: Quyết định 126/CP ra ngày 13 tháng 09 năm 1981 của chính phủ “Về công tác giáo dục hướng nghiệp tr
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN CHÍNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN VĂN CHÍNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã ngành: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đã đƣợc chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đƣa vào luận văn theo đúng quy định
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Trần Văn Chính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; khoa Sau đại học; Ban chủ nhiệm khoa Tâm lí - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, cơ quan, đồng nghiệp… những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ mọi mặt để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Thái Nguyên, ngày tháng…….năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Văn Chính
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Hướng phát triển của đề tài 4
9 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 5
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm liên quan 9
1.2.1 Việc làm 9
1.2.2 Nghề nghiệp 9
1.2.3 Hướng nghiệp 13
1.2.6 Chất lượng giáo dục hướng nghiệp 15
1.3 Ý nghĩa, bản chất và tầm quan trọng của công tác GDHN trong trường trung học cơ sở 15
Trang 61.3.1 Ý nghĩa của công tác GDHN trong trường trung học cơ sở 15
1.3.2 Bản chất của giáo dục hướng nghiệp 17
1.3.3 Tầm quan trọng của công tác GDHN ở trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay 17
1.5 Các giai đoạn của công tác GDHN trong trường Trung học cơ sở 19
1.5.1 Giai đoạn thứ nhất của GDHN là định hướng nghề 19
1.5.2 Giai đoạn thứ hai của GDHN là tư vấn chọn nghề 20
1.6 Các con đường GDHN cho học sinh THCS 21
1.6.1 Hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy học các môn văn hoá khoa học cơ bản 21
1.6.2 Hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy học môn kỹ thuật và lao động sản xuất 21
1.6.3 Hướng nghiệp thông qua hoạt động ngoại khoá 22
1.6.4 Hướng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp 22
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG 25
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội và giáo dục đào tạo ở địa bàn huyện vùng cao Chiêm Hóa 25
2.2 Vài nét về đối tượng khảo sát và khách thể khảo sát 29
2.3 Thực trạng về lựa chọn nghề nghiệp của học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 33
2.3.1 Thực trạng về lựa chọn nghề nghiệp của học sinh 33
2.3.2 Thực trạng về sự hứng thú nghề nghiệp của học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 41
2.3.3 Thực trạng về hướng đi của học sinh sau khi tốt nghiệp THCS ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 45
2.4 Thực trạng công tác GDHN và quản lý GDHN cho học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 48
2.4.1 Thực trạng việc thực hiện các hoạt động GDHN cho học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 48
Trang 72.4.2 Thực trạng điều kiện phục vụ công tác GDHN ở các trường THCS huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 54
2.4.3 Thực trạng quản lý GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 58
2.5 Đánh giá chung 60
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG 64
3.1 Định hướng, chiến lược của tỉnh, huyện để xác định biện pháp 64
3.2 Các nguyên tắc để xây dựng các biện pháp hướng nghiệp cho học sinh THCS 66
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của công tác hướng nghiệp 66
3.2.2 Đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong hướng nghiệp 67
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn, thiết thực với đời sống 68
3.2.4 Hướng nghiệp phải phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội 69
3.3 Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý GDHN cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 70
3.3.1 Nâng cao nhận thức về công tác GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 70
3.3.2 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về GDHN cho cán bộ - giáo viên các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 73
3.3.3 Thành lập ban tư vấn GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa 74
3.3.4 Kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp trong và ngoài nhà trường 75
3.3.5 Tăng cường trang thiết bị và các điều kiện khác phục vụ cho công tác GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 78
3.3.6 Nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thông qua dạy học các môn văn hóa khoa học cơ bản, các môn công nghệ và các buổi sinh hoạt hướng nghiệp 79
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý 86
Trang 83.5 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục
hướng nghiệp 87
3.5.1 Mục đích khảo sát 87
3.5.2 Đối tượng xin ý kiến đánh giá: Số lượng: 44 người 87
3.5.3 Quy trình khảo sát 88
3.5.4 Nhận xét 89
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Khuyến nghị 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
CBGV Cán bộ giáo viên GDHN Giáo dục hướng nghiệp GDLĐ Giáo dục lao động
THPT Trung học phổ thông TNCS Thanh niên cộng sản
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu học sinh ở cấp học THCS và THPT của huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang trong một số năm qua 28
Bảng 2.2 Tình hình chung về khách thể nghiên cứu 31
Bảng 2.3 Tình hình chung về khách thể nghiên cứu 32
Bảng 2.4 Tình hình chung về khách thể nghiên cứu 32
Bảng 2.5 Tình hình chung về khách thể nghiên cứu (đối tượng khác) 32
Bảng 2.6 Bảng nhận thức về nghề của học sinh 34
Bảng 2.7 Ý kiến về nghề lao động còn thiếu 36
Bảng 2.8 Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 37
Bảng 2.9 Nhận thức của học sinh về thị trường lao động của địa phương 38
Bảng 2.10 Nhận thức của học sinh về nghề yêu thích 41
Bảng 2.11 Phân tích hứng thú với nghề 43
Bảng 2.12 Định hướng tương lai của học sinh THCS huyện Chiêm Hóa 45
Bảng 2.13 Hướng lựa chọn phân ban của học sinh khi tốt nghiệp THCS 46
Bảng 2.14 Ý kiến đánh giá của cán bộ - giáo viên về con đường GDHN trong trường thcs huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang 49
Bảng 2.15 Ý kiến đánh giá của học sinh về con đường GDHN trong trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 51
Bảng 2.16 Ý kiến của các bậc phụ huynh về công tác GDHN trong trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 53
Bảng 2.17 Ý kiến của các cán bộ và đoàn thể khác về công tác GDHN trong trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 54
Bảng 2.18 Ý kiến của CB-GV về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa 55
Bảng 2.19 Khó khăn của CB-GV khi thực hiện công tác GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 56
Bảng 2.20 Khó khăn của HS THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang khi tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp 57
Bảng 2.21 Nguyện vọng được trang bị thêm kiến thức về nghiệp của các em HS các trường THCS huyện Chiêm Hóa 58
Bảng 3.1 Thống kê kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Bảng 3.2 Điểm trung bình kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp 89
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Sự hiểu biết nghề nghiệp của học sinh THCS 39
Biểu đồ 2.2 Hướng nghiệp của CB-GV thông qua các bộ môn 50
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của công tác GDHN 19
Sơ đồ 1.2 Nhiệm vụ tổng quát của giáo viên trung học cơ sở trong công tác GDHN 23
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý GDHN 87
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi người có quyền tự do chọn nghề và học nghề phù hợp với nhu cầu làm việc của mình Vì thế, mọi người có quyền lựa chọn con đường vào đời, vào nghề một cách tự nguyện, tự giác mà xã hội dành cho Việc chọn nghề vô cùng quan trọng người ta ví nó như là “ngày sinh lần thứ hai” của con người; bởi vì nếu con người chọn nghề phù hợp với sở trường, năng lực của bản thân, con người sẽ phấn khởi hăng say và sáng tạo trong lao động; từ đó năng suất và hiệu quả lao động sẽ cao, nếu chọn nghề không đúng, con người sẽ buồn chán, không tập trung tư tưởng, tai nạn lao động dễ xảy ra, năng suất lao động thấp cuối cùng lại sẽ xin chuyển nghề hoặc bỏ nghề, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng không chỉ cho bản thân mà cho xã hội Rõ ràng là, lợi ích kinh tế của xã hội và lợi ích kinh tế tinh thần của cá nhân được hội tụ tại khâu chọn nghề Rất tiếc nhiều bạn trẻ chưa hiểu được tầm quan trọng này Phần lớn học sinh sau THCS hiện nay không đánh giá được năng lực của mình, cũng không biết mình thích học ban nào, trường nào, chọn nghề tương lai nào…
Hiện nay trong điều kiện thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội theo cơ cấu thị trường, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự mở rộng của thế giới trong xu thế hội nhập, đặc biệt là Việt Nam gia nhập WTO, tham gia sân chơi chung với thị trường thương mại thế giới đang đặt ra nhiều thách thức đối với nền giáo dục - đào tạo nước
ta Phát triển nhân cách toàn diện, hài hoà cho thế hệ trẻ là mục tiêu tổng quát, song hết sức coi trọng phát triển năng lực nghề nghiệp (bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà bước khởi đầu là giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường THCS, với vai trò đặt nền tảng và định hướng cho học sinh phát triển nghề nghiệp tương lai, chuẩn
bị tâm thế và năng lực cụ thể cho việc hiểu kỹ thuật, hiểu thế giới nghề nghiệp, nắm được yêu cầu của xã hội, đồng thời hiểu năng lực và ý thức bản thân trong quá trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai
Việc thực hiện chương trình phân ban ở các trường THPT hiện nay làm cho công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS càng trở nên quan trọng hơn, cấp bách hơn
Huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, là một huyện vùng cao của tỉnh miền núi Tuyên Quang nằm trong khu vực miền núi phía bắc của tổ quốc, mấy năm gần đây được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước mà ngành giáo dục và đào tạo
có bước phát triển quan trọng Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì còn một số
Trang 13hạn chế nhất định, một trong những hạn chế đó là coi nhẹ công tác GDHN cho học sinh, đặc biệt là công tác GDHN cho học sinh THCS Các giáo viên THCS ở đây chỉ chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức chuyên môn cho học sinh chứ không hề nghĩ
gì đến việc theo dõi và định hướng nghề nghiệp cho các em Các em học sinh THCS thì chỉ biết học cho giỏi còn sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình thì hầu như chưa có định hướng gì, phụ thuộc vào gia đình là chủ yếu
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; Chỉ thị số CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về “phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn”, để nâng cao chất
10-lượng giảng dạy hướng nghiệp trong trường phổ thông nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau trung học Chính phủ đã có Nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế với mục đích
là xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để Chính phủ chỉ đạo các
Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 29 nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phấn đấu đến năm 2030 nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực
Tất cả các vấn đề trên cho thấy công tác GDHN trong trường phổ thông cơ sở của chúng ta còn nhiều yếu kém, chưa được quan tâm đúng mức
Để góp phần giúp học sinh THCS trong cả nước nói chung và học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nói riêng có thêm hiểu biết hơn về sự lựa chọn phân ban, nghề nghiệp trong tương lai của mình và nhằm nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường THCS đáp ứng với đòi hỏi mới tác giả quyết định chọn đề tài
“Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các trường THCS huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang, từ đó đề xuất biện pháp Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Trang 143 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và thực hiện được hệ thống các biện pháp giáo dục hướng nghiệp phù hợp mang tính khả thi, thì sẽ nâng cao được hiệu quả của công tác quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học
sinh THCS hiện nay
5.2 Khảo sát và đánh giá thực trạng GDHN và quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các
trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang hiện nay
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu qủa của công tác quản lý
hoạt động hướng nghiệp cho học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn địa bàn: Nghiên cứu trên một số trường THCS ở huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang
6.2 Giới hạn nội dung: Nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động hướng
nghiệp cho học sinh các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
6.3 Giới hạn đối tượng:
- Nghiên cứu trên 528 học sinh THCS trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Giáo viên: 50 người
- Cán bộ quản lý: 22 người
- Phụ huynh học sinh: 122 người
- Đối tượng khác như Đoàn TNCS HCM, Phòng Lao động TBXH, các cơ sở sản xuất kinh doanh… 20 người
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sưu tầm, nghiên cứu tài liệu và cơ sở
lý luận, phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết, phương pháp phân tích và tổng hợp
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp
so sánh thực nghiệm, phương pháp điều tra, phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý GDHN
7.3 Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu; Sử dụng biểu bảng,
sơ đồ, hình vẽ để minh hoạ
8 Hướng phát triển của đề tài
Thời gian tới, từ kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động hướng nghiệp cho các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; kết quả nghiên cứu thể hiện cơ bản ở 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh Trung
học cơ sở
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các trường
THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động hướng nghiệp
cho học sinh Trung học cơ sở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thành lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt trong tương lai của đất nước, là quá trình liên tục với nhiều thành tố của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, nhằm hướng tới hình thành
và phát triển nhân cách toàn diện và hài hoà của người lao động Xét theo chiều dài lịch sử, khoảng thời gian vài trăm năm trở lại đây, các nhà khoa học xã hội kinh điển
đã đặt nền móng cho nền giáo dục với sự kết hợp chặt chẽ của các dòng khoa học nhân văn, dòng khoa học tự nhiên và dòng GDHN hay thực chất là dòng giáo dục công nghệ
Trung Quốc: Theo tài liệu báo cáo của một số chuyên gia về giáo dục lao
động - kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (GDLĐ - KTTH - HN) đã sang thăm và làm việc tại Viện khoa học giáo dục TW, Bộ giáo dục Trung Quốc cho thấy hoạt động GDLĐ - KTTH - HN ở Trung Quốc có một số nét nổi bật như sau:
- Giáo dục Trung Quốc rất chú trọng đến việc giáo dục lao động, kỹ thuật cho học sinh phổ thông Ngay từ bậc tiểu học học sinh đã được học môn Lao động nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức, ký năng tối thiểu trong các lĩnh vực lao động
tự phục vụ, lao dộng thủ công, nấu ăn, trồng cây, chăn nuôi vật nuôi nhỏ Mục tiêu chủ yếu của môn Lao dộng là giáo dục ý thức, thái độ lao động cho học sinh và cung cấp cho học sinh một số kiến thức, kỹ năng cần thiết tối thiểu về lao động Ở cấp THCS học sinh được học môn kỹ thuật lao động và có điều kiện thực hành ngay trong trường những nội dung học như gia công gỗ, kim loại, lắp ráp điện, thủ công… Đồng thời được tham gia lao động của địa phương và cơ sở sản xuất kinh doanh
- Ở cấp THPT: Hiện nay một số nội dung kỹ thuật lao động đã trở thành bất buộc để giúp học sinh có được những kiến thức, kỹ năng kỹ thuật cần thiết và có thể tham gia ngay vào cuộc sống lao động sau khi tốt nghiệp THCS, THPT Đặc biệt giáo dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề, trường trung học tổng hợp nhằm mục tiêu trang bị cho học sinh học vấn PTTH và những kỹ năng cần thiết để có thể học tiếp lên đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề đào tạo Việc đưa giáo dục nghề nghiệp vào các trường phổ thông đã đáp ứng đòi hỏi của xã
Trang 17hội là đào tạo nguồn năng lực vừa có học vấn phổ thông hoàn chỉnh, vừa có kỹ năng nghề nghiệp cao Đồng thời cũng góp phần đắc lực vào việc phân luồng hợp lý sau THCS và THPT
- Nhiều trường phổ thông có bộ phận chuyên môn làm công tác tư vấn tâm lý
và tư vấn nghề cho học sinh nhằm giúp các em khắc phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và có hướng chọn ngành, nghề cho phù hợp với năng lực của bản thân và thị trường lao động
- Chương trình học do Bộ giáo dục và các địa phương biên soạn theo hướng mềm hóa, hiện đại hóa
- Hoa Kì: Học sinh được học chương trình “Giáo dục nghề nghiệp” từ tiểu
học Chương trình này góp phần thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường và sản xuất Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào tất cả các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế Tại Mỹ đã thành lập những hội đồng thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với xã hội, bao gồm đại diện của trường học, xí nghiệp, các thành phần kinh tế trong thị trường lao động Gần 10.000 nghiệp đoàn đã tham gia công việc của hội đồng, thu hút hàng năm 600.000 học sinh vào thực hành sản xuất Ví dụ
ở bang Michigan, 1 hội đồng phục vụ 33 trường Học sinh được thực hành lao động
và học những nghề khác nhau như thợ hàn, thợ cơ khí tự động, thợ trang điểm… ở các xí nghiệp khác nhau
- Ý: Giáo dục Ý có các bộ phận chính như học viện và hướng nghiệp Giáo
dục tiểu học và trung học cơ sở cho trẻ từ 6 đến 14 tuổi là bắt buộc, trong đó có 5 năm tiểu học, 3 năm THCS Kết thúc giáo dục bắt buộc, học sinh có nhiều lựa chọn giữa các loại trường PTTH khác nhau: Cổ điển, khoa học, kỹ thuật, cơ khí, kế toán, ngôn ngữ, nghệ thuật Tất cả các trường PTTH ở Ý đều kéo dài 5 năm Kết thúc PTTH, học sinh có thể chọn bất cứ khoa đại học nào
- Ở một số nước khác
Giáo dục lao động, kỹ thuật, hướng nghiệp được thực hiện qua việc giảng dạy các môn học, nhất là môn kỹ thuật hoặc môn Công nghệ Ví dụ ở Malaysia, học sinh được học môn nghề và công nghệ với các nội dung: Những nguyên tắc cơ bản của kế toán, kinh tế cơ sở, thương nghiệp, khoa học công nghệ, khoa học gia đình, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật điện và điện tử, công nghệ của kỹ thuật, vẽ kỹ thuật
Ở bang Brandenburg và một số bang khác của CHLB Đức, học sinh được học
kỹ thuật theo các chủ đề sau: Lao động và sản xuất, xây dựng và nhà ở, cung cấp điện nước và xử lý phế thải; vận tải và giao thông; thông tin liên lạc Các chủ đề trên được
Trang 18xem xét trong chu kỳ: Kỹ thuật sản xuất - bán và mua sản phẩm kỹ thuật - sử dụng vận phẩm kỹ thuật - kiểm tra, bảo dưỡng và sủa chữa các sản phẩm kỹ thuật - tái sản xuất và xử lý phế thải
Ở Anh, học sinh được học chương trình thiết kế và môn công nghệ Qua đó học sinh có cơ hội để phát triển khả năng thiết kế và công nghệ qua hệ thống bài tập thiết kế
và làm ra sản phẩm, tập trung vào hoạt động thực hành và hoạt động khám phá, đánh giá những sản phẩm và ứng dụng của nó Học sinh cũng có cơ hội để áp dụng những kiến thức, kỹ năng hiểu biết từ chương trình học tập
Ở Hàn Quốc, học sinh nam được học môn kỹ nghệ, học sinh nữ học kinh tế gia đình bao gồm: Nông nghiệp, công nghệ thương mại, ngư nghiệp Đây là môn học nằm trong chương trình tự chọn bắt buộc của lĩnh vực nhân văn và khoa học
Tại các nước khác như: Nhật, Đức, Pháp, Nga,… giáo dục lao động, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông cũng được đưa vào chương trình học bắt buộc Ví
dụ như ở Liên bang Nga, nội dung tin học và công nghệ thông tin được coi trọng học ở
cả 3 cấp Riêng môn công nghệ thì được học sâu về thực hành công nghệ thông tin
Tóm lại: Vấn đề giáo dục kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ
thông là một xu thuế chung và được nhiều nước quan tâm Tùy yêu cầu, mục tiêu giáo dục phổ thông của từng nước mà mức độ nội dung, phương pháp giáo dục khác nhau Tuy nhiên, việc đưa giáo dục kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp vào trường phổ thông đều nhằm đạt được mục tiêu là tạo cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống lao động như kỹ năng thông tin, lập kế hoạch, kỹ năng thiết kế, kỹ năng gia công, vận hành, tổ chức kinh doanh và giải quyết các tình huống trong cuộc sống
1.1.2 Ở Việt Nam
So với các nước trên thế giới, công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam là một phạm trù còn rất mới mẽ cả về lý thuyết và hoạt động thực tiễn Những vấn đề GDHN ở trường phổ thông từ lâu đã được Đảng và Chính phủ rất quan tâm như: Quyết định 126/CP ra ngày 13 tháng 09 năm 1981 của chính phủ “Về công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông tốt nghiệp khi ra trường”, Chỉ thị 33/2003/TCT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp
Trong thời đại hiện nay, khi mà sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng đem lại nhiều lợi ích lớn lao cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, việc trang bị cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ những kiến thức kỹ năng về kỹ
Trang 19thuật, công nghệ đã trở thành một yêu cầu không thể thiếu Chính vì vậy, ở nhiều quốc gia, việc giáo dục kỹ thuật cho học sinh phổ thông các cấp được hết sức coi trọng Có thể thấy rõ vấn đề qua thực tiễn giáo dục kỹ thuật ở một số nước như sau [Hội thảo khoa học: Định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông các dân tộc thiểu số ở tây Nguyên, Trường ĐHSPHN, 3-2008 Các đại biểu đã đóng góp nhiều tham luận quan trọng, nhằm đánh giá và đưa ra những đề suất nhằm nâng cao quản lý hoạt động hướng nghiệp, tiêu biểu như: PGS.TS Nguyễn Kế Hào; PGS.TS Đặng Danh Ánh; PGS.TS Nguyễn Văn Lê; TS Nguyễn Thị Thu Hằng; PGS.TS Nguyễn Hữu Long…
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung
ương 8 khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; Chỉ thị số CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về “phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn”, để nâng cao chất
10-lượng giảng dạy hướng nghiệp trong trường phổ thông nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản Số: 3119/ BGDĐT-GDCN ngày 17 tháng 6 năm 2014 V/v hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông
Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cũng đã được rất nhiều nhà quản lý và nhà khoa học quan tâm từ rất lâu:
- Người có công đóng góp rất lớn trong sự nghiệp GDHN của Việt Nam đó là Phạm Tất Dong Ông đã nghiên cứu rất tỉ mỉ về: Hứng thú nghề nghiệp, những vấn đề
cơ bản về nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho học sinh… Điều này được thể hiện trong hàng loạt các bài báo, bài viết của ông như: Tác phẩm: Hướng nghiệp theo tinh thần nghị quyết Đại hội IX - Kỉ yếu hội thảo khoa học, trường ĐHSPHN; Gần đây ông đã có bài viết rất quan trọng là: Đề xuất một số giải pháp cụ thể về công tác hướng nghiệp trong giai đoạn 2005 - 2010 [18]…
- Một số tác giả tiêu biểu khác như: TS Nguyễn Thị Thu Hằng, một số kinh nghiệm phối hợp nhà trường với cha mẹ học sinh để làm tốt công tác hướng nghiệp (2008), kỷ yếu hội thảo Khoa học - Trường ĐHSP Hà Nội [25], PGS.TS Nguyễn Văn Lê, kinh nghiệm về hướng nghiệp ở một số nước trên thế giới và một số vấn đề đặt ra đối với công tác hướng nghiệp ở nước ta (2008), kỷ yếu hội thảo Khoa học - Trường ĐHSP Hà Nội [31]; Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền (2006), Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường phổ thông, NXB
Trang 20Giáo dục, Hà Nội [27]; Đặng Danh Ánh với bài viết “Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông” [3]; Nguyễn Đức Trí, với bài viết “Đổi mới cơ cấu trình độ đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp ở nước ta” - Tạp chí GD số 87-2004 [47]và “Hướng nghiệp một
số vấn đề lí luận và thực tiễn” - Tạp chí GD số 119 - 2005 [46]; PGS.TS Trần Quốc Thành, định hướng giá trị nghề nghiệp của học sinh THPT một số tỉnh miền núi phía Bắc [44], Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ cùng nghiên cứu vấn đề này
1.2 Các khái niệm liên quan
1.2.1 Việc làm
Theo từ điển “Kinh tế khoa học xã hội” xuất bản tại Paris năm 1996, khái niệm việc làm được định nghĩa như sau: “Việc làm là công việc mà người lao động tiến hành nhằm có được thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật” Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, người lao động làm chủ tư liệu sản xuất, việc làm có nghĩa là thực hiện quyền làm chủ trên tư liệu sản xuất đó, vừa làm việc cho cá nhân người lao động, vừa làm việc cho xã hội”
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, có thể hiểu khái niệm việc làm như sau: Việc làm là hoạt động lao động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, tạo thu nhập hoặc lợi ít cho bản thân, cho gia đình người lao động hoặc cho một cộng đồng nào đó
Theo tác giả Climov E.A: “Nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có), nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển [14]
Trang 21Theo từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động của xã hội Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và phục vụ xã hội” [52]
Từ một số khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu nghề nghiệp là một thuật ngữ chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động mà ở đó con người
sử dụng sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho
cá nhân và cho xã hội Đồng thời, thông qua việc hành nghề để mỗi người duy trì và phát triển cuộc sống cá nhân Nghề nghiệp chính là tổ hợp chuyên môn có quan hệ cùng loại với nhau ở một khía cạnh nào đó
1.2.2.2 Đặc điểm hoạt động của nghề
Khi bàn đến đặc điểm hoạt động của nghề trong xã hội, người ta thường đề cập đến các vấn đề sau:
* Đối tượng lao động: Là hệ thống những thuộc tính, những mối quan hệ qua lại tương hỗ của các hiện tượng, các quy trình mà cương vị lao động nhất định của con người phải vận dụng chúng
* Mục đích lao động: Là kết quả mà xã hội đòi hỏi trông đợi ở người lao động
Nó thể hiện ở các công việc, thao tác chủ yếu phải hoạt động trong nghề và sản phẩm thu được trong nghề
* Công cụ lao động: là những dụng cụ cụ thể gia công mà gồm những phương tiện nhằm tăng năng lực nhận thức của con người về các đặc điểm của đối tượng lao động, làm tăng sự tác động của con người đến đối tượng đó Vì vậy, các công cụ đo lường, những máy móc để biến đổi năng lượng, xử lý thông tin cũng như các qui tắc, phương thức giải quyết các nhiệm vụ thực hành và lý luận được coi là công cụ lao động
* Điều kiện lao động: được hiểu như là những đặc điểm của môi trường mà trong đó công việc, nghề nghiệp của con người được diễn ra Đó là công việc được tiến hành trong nhà hay ngoài trời, trong điều kiện nhiệt độ hay tiếng ồn, độ ẩm, các chất độc hại, tư thế làm việc, ánh sáng phục vụ cho công việc,…
Như vậy, tất cả những nghề trong xã hội đều có các đặc điểm trên, chúng ta cần nắm rõ các đặc điểm của từng nghề để có thể phân loại nghề phù hợp và để cố vấn cho học sinh khi các em chọn nghề
1.2.2.3 Phân loại nghề
Hiện nay thế giới nghề nghiệp rất đa dạng và phong phú Trên thế giới có khoảng 65.00 nghề, còn ở Việt Nam có khoảng 400 nghề (Theo số liệu của Tổng cục thông kê tại QĐ số114/1998/QĐ-TCTK ngày 29-3-1998) Có rất nhiều cách phân loại
Trang 22nghề, có thể phân loại nghề dựa theo mức độ phức tạp về kỹ thuật, theo kết quả cuối cùng của quá trình hành nghề, theo nhóm rộng và theo đặc điểm của hoạt động nghề, theo đối tượng lao động chủ yếu của nghề…
- Theo cách phân loại nghề dựa vào đối tượng lao động chủ yếu, Klimôv chia thành 5 nghề chính như sau:
+ Nhóm nghề người - người: Là loại nghề có đối tượng hành nghề của người lao động cũng là người, như nghề y, nghề nhà giáo, nghề cán bộ tổ chức, phục vụ khách sạn, bán hàng…
Với loại nghề này đòi hỏi người lao động phải có lòng nhân đạo, bác ái, biết sống vì mọi người Ngoài ra còn phải nhạy cảm và có lòng kiên nhẫn đồng thời phải có khả năng giao tiếp trong mối quan hệ với đối tượng lao động của mình
+ Nhóm nghề người - nghệ thuật: Bao gồm các nghề nhạc, hoạ, điêu khắc, nhà văn, nhà thơ,… Với loại nghề này, người lao động phải có óc thẩm mỹ, có cảm nhận tinh tế, tinh mắt, khéo tay, cần cù nhẫn nại, có khả năng phân tích, thể hiện và điều quan trọng là phải có tính sáng tạo
- Nhóm nghề người - tự nhiên: Bao gồm các nghề trồng trọt, chăn nuôi,… Loại nghề này đòi hỏi người lao động phải yêu thiên nhiên, có cảm nhận tinh tế, nhạy bén trước sự thay đổi của tự nhiên
+ Nhóm nghề người - kỹ thuật: Bao gồm các nghề kỹ sư, thợ điện, cơ khí, thợ rèn, sữa chữa, bảo trì, bảo dưỡng,… Loại nghề này đòi hỏi người lao động phải có
tư duy kỹ thuật, có tác phong công nghiệp, tính nhạy cảm của các giác quan, hoạt bát, nhanh nhẹn, thao tác chuẩn xác và đặc biệt là phải có óc tiếp thu các thành tựu khoa học
+ Nhóm nghề người - tín hiệu: Bao gồm các nghề kế toán, tin học, mật mã, bưu chính viễn thông… Loại nghề này đòi hỏi người lao động phải cẩn thận, tỉ mỉ, cần cù, có khả năng trừu tượng hoá, khả năng thuộc lòng các tính hiệu, quy trình
- Dựa vào mục đích lao động: có 3 dạng
+ Nghề có mục đích nhận thức đối tượng: Thanh tra, toà án, quản lý, lãnh đạo, kiểm tra kho tàng,…
+ Nghề có mục đích biến đổi đối tượng: Thầy giáo, thầy thuốc, các loại thợ… + Nghề có mục đích tìm tòi, khám phá, phát hiện cái mới: Nghiên cứu khoa học, sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo mốt,…
- Dựa vào công cụ lao động: có 4 loại
Trang 23+ Nghề sử dụng các công cụ đơn giản, cầm tay như các nghề tiểu thủ công, các nghề dịch vụ, sửa chữa,…
+ Nghề sử dụng máy móc như tiện, phay, bào, điều khiển máy móc,…
+ Nghề sử dụng máy tự động: Các dây chuyền tự động, hệ thống ký hiệu tự động, hệ thống năng lượng,…
+ Nghề sử dụng các công cụ đặc biệt như ngôn ngữ, động tác: Nghề phiên dịch, nghề xiếc, múa, các huấn luyện viên thể dục, thể thao,…
- Dựa vào điều kiện lao động
+ Lao động trong điều kiện bình thường: Thủ quỹ, kế toán, phiên dịch,…
+ Lao động trong môi trường thiên nhiên khoáng đạt, khí hậu thời tiết thất thường: Nghề trồng trọt, lâm nghiệp, xây dựng, lái xe,…
+ Lao động trong điều kiện thất thường như trong lòng đất, dưới nước, trên cao, trong môi trường độc hại, nguy hiểm: Phi công, thợ lặn, thợ mỏ, nạo vét cống rãnh,… + Lao động trong môi trường đạo đức, chính trị với tinh thần trách nhiệm cao như quản lý Nhà nước, thầy giáo, thầy thuốc, toà án, điều tra hình sự,…
1.2.2.4 Nhận thức nghề nghiệp và con đường giúp các em nhận thức nghề
* Nhận thức về nghề nghiệp là quá trình phản ảnh các đặc trưng cơ bản của nghề, những yêu cầu của xã hội đối với nghề, những yêu cầu đòi hỏi về mặt tâm, sinh
lý đối với người làm nghề đó và cũng là sự phản ánh các quá trình lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định Bao gồm:
- Sự nhận thức về nhu cầu của xã hội đối với nghề (hay là nhận thức về thị trường lao động của xã hội)
- Nhận thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu đặc trưng của nghề đối với người chọn nghề
- Nhận thức về đặc điểm cá nhân
Dựa trên cơ sở nhận thức về nghề nghiệp, học sinh sẽ lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình
* Các con đường giúp các em nhận thức nghề
Căn cứ nguồn tiếp thu tri thức về nghề, có thể chia các con đường nhận thức
về nghề của học sinh thành hai loại: Tự phát và tự giác
- Nhận thức nghề tự phát: Những hiểu biết về nghề do học sinh thu lượm được trong cuộc sống, bằng các con đường khác nhau ngoài nhà trường có thể là qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ bạn bè hay từ những hứng thú của các em Những
Trang 24hiểu biết của học sinh về nghề nghiệp qua con đường tự phát có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình chọn nghề của các em
+ Hướng tích cực xảy ra khi các thông tin mà các em thu lượm được đúng đắn, sâu sắc, giúp các em chọn nghề phù hợp
+ Hướng tiêu cực xảy ra khi các thông tin về nghề mà các em thu thập được không chính xác, không đúng với nghề, làm cho các em hiểu về nó quá mơ hồ dẫn đến sự lệch lạc khi chọn nghề, thậm chí sai lầm khi chọn nghề Vì thế, các thông tin
về nghề từ gia đình, bạn bè, thông tin đại chúng chỉ có giá trị hướng dẫn chọn nghề khi nó kết hợp với sự nhận thức nghề nghiệp một cách tự giác của bản thân học sinh, của hoạt động hướng nghiệp trong nhà trường và của trung tâm tư vấn nghề nghiệp
- Nhận thức nghề tự giác có hệ thống: Là những tri thức mà học sinh thu lượm được thông qua quá trình học tập ở nhà trường, thông qua các buổi sinh hoạt ở trung tâm hướng nghiệp, thông qua tư vấn nghề và tự tìm tòi một cách tự giác, có chủ định của bản thân học sinh Trong quá trình học tập ở nhà trường, thông qua các môn học, qua hoạt động ngoại khoá, thông qua sinh hoạt hướng nghiệp, học sinh hiểu thế giới nghề nghiệp phong phú hơn với nhiều ngành nghề, những chuyên môn cụ thể, những yêu cầu tâm, sinh lý của nghề, những dự đoán tương lai về nghề nghiệp, từ đó giúp các em biết được đặc điểm tâm, sinh lý của bản thân mình để lựa chọn được một nghề phù hợp
1.2.3 Hướng nghiệp
Có nhiều cách hiểu khái niệm hướng nghiệp khác nhau với tiêu chí, mục tiêu quan sát và góc độ chuyên môn khác nhau
Các nhà giáo dục cho rằng: “Hướng nghiệp là một hoạt động của các tập thể
sư phạm, được tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn, phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế - xã hội Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường”
[49, tr.34]
Các nhà tâm lý học coi hướng nghiệp là “Hệ thống các tâm lý sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân” [27, tr.41]
Các nhà kinh tế thì coi hướng nghiệp là “Những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào lĩnh vực hoạt động
cụ thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội” [40, tr.16]
Trang 25Các nhà Tâm lý học Thụy sĩ coi nhiệm vụ của hướng nghiệp như sau “Trên cơ
sở những đặc điểm tâm, sinh lý hãy chỉ cho mỗi thanh niên, người tàn tật và người thất nghiệp một nghề mà họ có thể làm được” [27, tr.12]
Theo từ điển tiếng việt: “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực và thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ lựa chọn hợp lý ngành nghề” [52]
Theo từ điển giáo dục học: “Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều khiển thực tế khách quan của
xã hội Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông cần tiến hành qua các môn học, các giờ lao động, các sinh hoạt ngoại khoá, các buổi tham quan sản xuất, Để
từ đó có những gợi ý, hướng dẫn, động viên, khuyến khích giúp các em xác định tương lai nghề nghiệp của mình Ngoài trường phổ thông, công tác hướng nghiệp còn được thực hiện tại các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề, tại nhà máy, làng nghề,
trang trại,…Để thanh niên chưa có nghề hoặc muốn chuyển nghề làm quen, thử sức
và lựa chọn” [51]
Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ vừa chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” [16]
Như vậy, qua hàng loạt các định nghĩa trên ta có thể hiểu hướng nghiệp là toàn
bộ những tác động để giúp con người định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định đảm bảo được sự phù hợp giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của
xã hội Hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông là công việc của tập thể sư phạm
Là hoạt động dạy của thầy, hoạt động của trò, nhằm giúp các em lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, ở từng địa phương, từ đó giúp các em có khả năng tự đối chiếu những năng lực phẩm chất, những đặc điểm tâm, sinh lý của mình với yêu cầu của nghề nghiệp đang đặt ra cho người lao động
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để có trể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, vào cuộc sống
Trang 26GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời cũng góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội
1.2.5 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
Quản lý giáo dục hướng nghiệp là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch và pù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hưởng đến các thành tố của GDHN nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của GDHN trong môi trường KTXH luôn biến động
1.2.6 Chất lượng giáo dục hướng nghiệp
Chất lượng GDHN thể hiện ở sự hiểu biết và lựa chọn nghề đúng, và phù hợp của học sinh phổ thông, với năng lực của bản thân
Kết quả của GDHN biểu hiện cụ thể ở số học sinh được tư vấn và hướng dẫn chọn nghề một cách chủ động, đảm bảo các tiêu chí của tư vấn nghề, thể hiện ở sự hài lòng sau khi đã xác định hướng đi về nghề nghiệp
1.3 Ý nghĩa, bản chất và tầm quan trọng của công tác GDHN trong trường trung học cơ sở
1.3.1 Ý nghĩa của công tác GDHN trong trường trung học cơ sở
GDHN có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội, nhìn một cách tổng quát nhất có thể thấy rõ ý nghĩa to lớn của hoạt động giáo dục hướng nghiệp đối với học sinh trung học cơ sở thể hiện như sau:
GDHN là một bộ phận của công tác giáo dục Đây là công tác điều chỉnh động
cơ chọn nghề của học sinh, điều chỉnh hứng thú nghề nghiệp cho các em theo xu thế nhu cầu lao động xã hội và sự phân công lao động xã hội Thực tế đã cho chúng ta thấy, sự lựa chọn nghề nghiệp một cách tự phát của thanh, thiếu niên ít khi phù hợp với hướng sản xuất, nhu cầu lao đông của xã hội nên mới xảy ra tình trạng mất cân đối như hiện nay (người có trình độ đại học thì quá nhiều trong khi đó công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề thì lại quá thiếu) Như vậy tác dụng của giáo dục hướng nghiệp
có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển của xã hội Kết quả của giáo dục hướng nghiệp là việc học sinh phải tự giác chọn nghề trên cơ sở điều hoà lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội, sao cho phù hợp với nguyện vọng của bản thân mình
GDHN luôn hướng vào việc sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước, từ đó nâng cao năng xuất lao động của xã hội, đồng thời đưa thanh, thiếu
Trang 27niên vào đúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp các em phát huy hết sở trường trong lao động, phát triển cao những hứng thú nghề nghiệp, làm nảy sinh óc sáng tạo trong lao động, đây là việc làm hết sức quan trọng đối với công tác giáo dục hướng nghiệp
Vì thế, nghề nghiệp không chỉ là nơi kiếm sống đơn thuần mà còn là nơi giúp cá nhân thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, hết mình cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong luận văn tốt nghiệp trung học của mình với
tên “suy nghĩ của thanh, thiếu niên khi chọn nghề” Mác viết: “Nếu ta chọn một nghề, trong đó ta có thể làm việc được nhiều hơn cho nhân loại, thì ta không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự hy sinh cho mọi người, khi đó ta tìm thấy một niềm vui không phải là tội nghiệp, thiển cận, ích kỷ mà hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, những việc làm của chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quý” [9, tr.62]
GDHN có tác dụng góp phần cụ thể hoá mục tiêu giáo dục của nhà trường trung học cơ sở, có nghĩa là hoạt động hướng nghiệp có chức năng thực hiện hoá đường lối giáo dục của Đảng và nhà nước, hiện thực qua đường lối giáo dục trong đời sống xã hội Ngày nay, sự về khoa học - kỹ thuật giữa các nước làm cho tốc độ sản xuất hàng hoá phát triển mạnh Trong giai đoạn này, các nước bị tụt hậu phần lớn là không làm tốt công tác đào tạo người lao động, đào tạo một đội ngũ thợ lành nghề và những cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, hay nói cách khác là những nước đó chưa làm tốt khâu GDHN
GDHN trong nhà trường trung học cơ sở là một vấn đề cơ bản trong nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Chúng ta cần nhận thức sâu sắc và rõ ràng vấn đề này Từ lâu,
Mác đã chỉ rõ: “Nền giáo dục sẽ kết hợp lao động sản xuất với giáo dục, đối với hết thảy các trẻ em trên một tuổi nhất định nào đó, và làm như vậy không những chỉ là phương pháp tăng thêm sản xuất xã hội, mà còn là phương pháp duy nhất và độc nhất để đào tạo ra những con người toàn diện” [9] Sau này Lênin cũng đã nhấn
mạnh: Không thể hình dung được một xã hội lí tưởng tương lai, trong đó nền giáo dục lại sẽ không kết hợp với lao động sản xuất của thế hệ trẻ: Nếu giảng dạy mà thoát
ly lao động sản xuất , hoặc lao động sản xuất không đi đôi với giảng dạy, thì không thể đạt tới mức độ thích ứng với trình độ khoa học kỹ thuật ngày nay
Chúng ta biết rằng, để thanh, thiếu niên đứng ngoài lao động nghề nghiệp, đứng ngoài việc làm sẽ gây nên nhiều tác hại phức tạp về mặt xã hội Bởi vậy, cần hướng dẫn thanh, thiếu niên chọn nghề cho mình và có thái độ sẵn sàng tham gia vào
Trang 28thị trường lao động sản xuất và hoạt động nghề nghiệp nhằm góp phần sức lực, trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước Qua đó tạo nên ý thức xã hội và xây dựng vị trí, chỗ đứng trong xã hội của thế hệ trẻ
1.3.2 Bản chất của giáo dục hướng nghiệp
Về bản chất, hướng nghiệp là một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của học sinh, bao gồm:
* Các chủ thể của sự điều khiển: Nhà trường, gia đình, các cơ quan nhà nước (trong đó có cơ sở sản xuất, xí nghiệp, công, nông trường, các tổ chức xã hội, các nhóm không chính thức của học sinh,…)
* Đối tượng điều khiển là các động cơ và định hướng giá trị của học sinh
* Các phương tiện và phương pháp điều khiển: Bao gồm hướng nghiệp trong nhà trường, giáo dục gia đình, thông tin định hướng về nghề nghiệp của các xí nghiệp, cơ quan chuyên môn của nhà nước, tác động của các nguồn thông tin đại chúng, dư luận của nhóm và dư luận của xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp của các trung tâm tư vấn,…
* Kết quả điều khiển: Sự chuẩn bị về hướng nghiệp của học sinh, cụ thể là sự chuẩn bị cho học sinh có khả năng chọn nghề, chọn trường nghề phù hợp với đòi hỏi của nghề nghiệp, đúng với khả năng, nguyện vọng của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội Tham gia vào hệ thống này còn có các kênh thông tin, trong đó rất cần chú ý tới thông tin ngược về hiệu quả của những tác động hướng nghiệp cũng như nhu cầu của nền kinh tế quốc dân đối với việc đào tạo nhân lực
1.3.3 Tầm quan trọng của công tác GDHN ở trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, nước ta trong giai đoạn lịch sử mới, giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhằm đưa đất nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Nghị quyết Hội nghị lần 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI đã khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” Điều 28 về Luật Giáo dục 2005 đã viết: “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông, có những trình
độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật về hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Trang 29Hiện nay trong điều kiện thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội theo cơ cấu thị trường, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự mở rộng của thế giới trong xu thế hội nhập, đặc biệt là Việt Nam đã gia nhập WTO, tham gia sân chơi chung với thị trường thương mại thế giới đang đặt ra nhiều thách thức đối với nền Giáo dục - Đào tạo ở nước ta
1.4 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
1.4.1 Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý là cách làm, cách thực hiện, tiến hành giải quyết một công việc hợp qui luật của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý để điều khiển, hướng dẫn các hành vi của đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý
1.4.2 Quản lý giáo dục hướng nghiệp
GDPT là một tiểu hệ thống trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Hệ thống này có một vai trò và vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục hình thành nhân cách con người Việt Nam mới Cơ sở GDPT gồm trường tiểu học, trường THCS, trường THPT, trường phổ thông nhiều cấp, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Mục tiêu giáo dục ở trường THCS đã được Luật giáo dục 2005 của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu lên ở điều 27: “Giúp học sinh củng cố
và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [20]
Hướng nghiệp ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Vì vậy quản lý GDHN ở trường THCS trong giai đoạn hiện nay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN
1.4.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường THCS
Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhiệm vụ năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường
và các cấp có thẩm quyền [6]
Trang 301.4.4 Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp
Là cách thức, cách tiến hành giải quyết GDHN cho học sinh THCS hợp quy luật của hiệu trưởng nhà trường cùng những lực lượng ngoài nhà trường có liên quan tác động đến học sinh nhằm hiện thực hoá mục tiêu quản lý GDHN
1.5 Các giai đoạn của công tác GDHN trong trường Trung học cơ sở
GDHN có ba giai đoạn có mối quan hệ liên hoàn, chặt chẽ, là định hướng nghề,
tư vấn nghề và lựa chọn nghề
Theo tác giả Đặng Danh Ánh, 3 giai đoạn của công tác GDHN kết hợp với nhau tạo thành tam giác hướng nghiệp (sơ đồ 1)
Trong ba giai đoạn này thì GDHN trong trường phổ thông chỉ có 2 giai đoạn,
đó là định hướng nghề, tư vấn nghề Mối quan hệ của các giai đoạn hướng nghiệp tạo thành tam giác hướng nghiệp, có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc của công tác GDHN
Chủ thể định hướng nghề là: Nhà trường, phụ huynh
Chủ thể tư vấn nghề là: Các tổ chức đoàn thể
Chủ thể tuyển chọn nghề là: Học sinh
1.5.1 Giai đoạn thứ nhất của GDHN là định hướng nghề
Trong xã hội có rất nhiều ngành nghề khác nhau, có những nghề thuộc khu vực kinh tế nhà nước, có những nghề thuộc khu vực kinh tế tập thể, có những nghề tự do,… Mỗi nghề lại có những yêu cầu về tâm - sinh lý, năng lực, thể lực, năng khiếu nhất định,
có những yêu cầu về nhân lực trong từng thời kỳ, giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội,…
ĐỊNH
HƯỚNG NGHỀ
TƯ VẤN
NGHỀ
CHỦ THỂ
Trang 31Do đó công việc chủ yếu của định hướng nghề nghiệp là thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội, nhất là những nghề đang cần nhiều nhân lực của đất nước và địa phương Những thông tin này không chỉ đơn thuần giới thiệu cho học sinh biết các ngành nghề trong xã hội, các cơ sở, các trường đào tạo nghề tương ứng, mà phải làm cho học sinh có những hiểu biết về:
- Yêu cầu về tâm - sinh lý của nghề
- Tình hình phân công lao động và yêu cầu tuyển chọn
- Điều kiện lao động và triển vọng của nghề
- Những quan niệm (thường biểu hiện dưới dạng dư luận xã hội) đúng hoặc sai lệch về một số nghề trong xã hội hiện tại
- Yêu cầu phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật trong những giai đoạn trước mắt, lâu dài của đất nước và địa phương liên quan đến sự phát triển của các ngành nghề
- Hệ thống các trường dạy nghề, xí nghiệp, công - nông trường, hầm mỏ, hợp tác xã,… Học sinh có những hiểu biết nhất định về cơ sở sản xuất như: Địa điểm, cơ cấu, hoạt động, sản phẩm,… để có hướng chọn cho mình một chỗ đứng sau này ở cơ
sở sản xuất đó
Tất nhiên, công tác định hướng nghề còn bao gồm cả một hệ thống tác động của toàn xã hội Việc phối hợp công tác GDHN giữa nhà trường phổ thông với trường dạy nghề với các nhà máy, các cơ quan báo chí, đài phát thanh, đoàn thanh niên,… Sẽ góp phần nhanh chóng chuẩn bị về mặt tâm lý cho thế hệ trẻ đi vào nghề công nhân kỹ thuật lành nghề, vào lao động sản xuất
1.5.2 Giai đoạn thứ hai của GDHN là tư vấn chọn nghề
“Việc lựa chọn nghề nghiệp, trở thành công việc khó khăn quan trọng nhất không thể gạt bỏ được đối với học sinh lớp trên” [35, tr.28] Do vốn tri thức và kinh nghiệm cuộc sống còn hạn chế, tuổi trẻ còn lúng túng, bỡ ngỡ trước khi quyết định chọn một nghề nào đó trong thế giới nghề nghiệp, do vậy nhà trường phải giữ vai trò chủ đạo phối hợp với gia đình, xã hội, giáo dục giúp đỡ học sinh trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp Thực chất của công tác này là chuẩn đoán và tư vấn nghề nghiệp
để giúp học sinh có được quyết định đúng khi chọn nghề
Tư vấn chọn nghề được hiểu là hệ thống biện pháp tâm lí - giáo dục và y học nhằm phát hiện và chọn nghề trên cơ sở khoa học Nói cách khác, tư vấn chọn nghề là việc đối chiếu yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động với hứng thú, khuynh hướng và năng lực của học sinh, nhằm giúp các em học sinh lời khuyên nên
Trang 32học trường nào cho phù hợp Kết quả của tư vấn chọn nghề là giới thiệu cho học sinh chọn được một nghề phù hợp với nguyện vọng và năng lực của cá nhân và yêu cầu của nhà nước trong việc đào tạo cán bộ
1.6 Các con đường GDHN cho học sinh THCS
Để thực hiện nội dung công tác hướng nghiệp phải được tiến hành từ lớp đầu cấp của trường Trung học cơ sở tới lớp cuối cấp của trường phổ thông trung học: Đồng thời hướng nghiệp phải được tiến hành thông qua các nhiệm vụ giáo dục, qua các hoạt động giáo dục và phải kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức trong nhà trường
và ngoài nhà trường Bao gồm các con đường sau đây:
1.6.1 Hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy học các môn văn hoá khoa học cơ bản
Dựa vào đặc trưng của bộ môn, các môn học nào cũng có thể GDHN cho học sinh, tuỳ theo từng môn học mà ta lựa chọn con đường phù hợp nhất, qua các kiến thức mà giáo viên cung cấp cho học sinh có được tri thức về tiềm năng đất nước, khả năng và thành tựu của nhân dân trong lao động, sự phát triển các ngành nghề, giáo dục ý thức chọn ngành, chọn nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đi vào các ngành đang cần để phát triển, để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm có thể tìm hiểu nguyện vọng và theo dõi sự phát triển của năng khiếu nghề nghiệp thông qua dạy học các bộ môn văn hoá Học sinh sẽ hình thành dần sự định hướng nghề và có biểu tượng rõ ràng về những nghề có liên quan đến môn học, đồng thời làm cho các môn học thực tiễn trở nên hấp dẫn thu hút sự chú ý của học sinh hơn
Ở trường THCS, thông qua việc giảng dạy các bộ môn văn hoá khoa học cơ bản, giáo viên biết được khả năng học tập của từng em, từ đó cho các em một lời khuyên nên chọn ban nào khi học lên THPT hay cung cấp cho các em những kiến thức về nghề nghiệp nhất định
1.6.2 Hướng nghiệp thông qua hoạt động dạy học môn kỹ thuật và lao động sản xuất
Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng để thực hiện công tác hướng nghiệp Qua lao động sản xuất, giáo dục quan điểm, thái độ,
ý thức lao động cho học sinh: Trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối với một vài dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với năng lực bản thân
Trang 33Muốn làm tốt công tác hướng nghiệp này, phải xây dựng đội ngũ giáo viên chỉ đạo lao động và làm nòng cốt cho công tác hướng nghiệp của nhà trường Phải có kế hoạch kết hợp với các cơ sở sản xuất của địa phương Ngoài ra, các địa phương cần trang bị kỹ thuật tối thiểu để cung cấp cho nhà trường
1.6.3 Hướng nghiệp thông qua hoạt động ngoại khoá
Là việc hướng dẫn để học sinh tự mở rộng hiểu biết về nghề nghiệp, tự thử sức mình thông qua những hoạt động phong phú, đa dạng từ các buổi sinh hoạt ngoại khóa như: Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu nghề, các buổi tọa đàm về nghề, trao đổi ý kiến với chuyên gia,… và các hình thức đọc thêm sách báo, xem phim, nghe đài, tham gia các hoạt động đoàn đội, hội cha mẹ học sinh, tổ chức trong và ngoài nhà trường Việc tổ chức các cuộc thi tìm hiểu nghề là rất quan trọng và cần thiết với các
em, mục đích nhằm kích thích tính ham hiểu biết về nghề của học sinh Nhà trường
có thể kết hợp với các cơ quan đoàn thể khác tổ chức các cuộc thi tìm hiểu nghề, nội dung của cuộc thi có thể yêu cầu các em sưu tầm những câu chuyện về gương lao động giỏi, yêu cầu các em kể những câu chuyện về các xí nghiệp, nhà máy mà em biết, các ngành nghề đang được quan tâm ở địa phương,… Để từ đó giáo viên (Người điều hành cuộc thi) thấy được những mặt hạn chế của các em mà sữa chữa và cung cấp thêm những thông tin bổ ích Như vậy, đây cũng là con đường bổ ích giúp các em tìm hiểu và lựa chọn hợp lý phân ban và ngành nghề của mình
Những hình thức hoạt động ngoại khoá vừa nêu lên có tác dụng mở rộng không gian và thời gian GDHN, nó khắc phục những hạn chế của hoạt động nội khoá giúp học sinh mở rộng thông tin về nghề nghiệp, nhu cầu lao động và điều chỉnh động cơ chọn nghề một cách sinh động, tạo điều kiện để các em tự bộc lộ và thể hiện tài năng hứng thú của mình, sau đó tự điều chỉnh nguyện vọng, chọn nghề cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
1.6.4 Hướng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
Các hình thức hướng nghiệp trên còn nhiều hạn chế, chưa đủ và chưa trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn học sinh định hướng trong học tập, đinh hướng nghề nghiệp, chuẩn
bị chọn nghề và chọn nghề tương lai một cách có ý thức, có cơ sở khoa học và tính thực tiễn Vì vậy, sinh hoạt hướng nghiệp sẽ giới thiệu ngành nghề một cách có hệ thống và đầy đủ hơn nhằm làm cho học sinh có những hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân Trên cơ sở đó sẽ hướng dẫn giúp đỡ học sinh liên hệ, đối chiếu bản thân với yêu cầu của nghề và tình hình phát triển kinh tế xã hội, qua đó, có thể tư
Trang 34vấn cho học sinh để định hướng nghề và chọn nghề một cách đúng đắn, trên cơ sở khoa học, với đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần, yếu tố chủ quan và khách quan
Như vậy, thông qua các con đường GDHN cho thấy để mạng lại hiệu cao trong công tác GDHN thì vai trò quyết định thuộc về các giáo viên, trong đó có giáo viên các môn khoa học cơ bản, các giáo viên môn kỹ thuật và lao động sản xuất, giáo viên phụ trách giảng dạy các tiết sinh hoạt hướng nghiệp, và các giáo viên chủ nhiệm lớp… Vậy nhiệm vụ của từng giáo viên phải làm gì trong công tác GDHN ở nhà trường trung học cơ sở? PGS.TS Đặng Danh Ánh có sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Nhiệm vụ tổng quát của giáo viên trung học cơ sở
Cho học sinh làm quen với các nghề cơ bản tại các cơ
sở sản xuất kinh doanh
Minh hoạ những nguyên tắc chung trên cơ sở những nghề cụ thể
Liên hệ với đại diện các doanh nghiệp các trường chuyên nghiệp cho học sinh tham gia
Nghiên cứu nhân cách cho học sinh
và tiến hành tư vấn nghề cho học sinh
Trang 35Tiểu kết chương 1
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở là vấn đề nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã đề cập tới một cách tương đối sâu sắc và có hệ thống nhằm tìm ra các biện pháp phù hợp để thực hiện nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương phù hợp với từng thời kỳ phát triển KT - XH của mỗi địa phương đó
GDHN với nhiệm vụ, các con đường, tính chất và nội dung đã được xác định trong lý luận nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chiến lược đó Việc phân tích các cơ sở pháp lý và những lý luận liên quan sẽ tạo nên luận cứ để xây dựng các biện pháp quản lý GDHN ở các trường trung học cơ sở phù hợp với nhiệm vụ của nhà trường trong thời kỳ mới đáp ứng được yêu cầu về nguồn lực lao động trên địa bàn huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG 2.1 Vài nét về tình hình kinh tế xã hội và giáo dục đào tạo ở địa bàn huyện vùng cao Chiêm Hóa
Chiêm Hoá là huyện miền núi cách trung tâm tỉnh lỵ Tuyên Quang 67km về phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên trên 127 nghìn ha Huyện có 25 xã, 01 thị trấn với 378 thôn bản, tổ nhân dân; đến nay toàn huyện có 21 xã khó khăn với 195 thôn khó khăn, trong đó 05 xã ATK thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược
(xã: Xuân Quang, Kim Bình, Vinh Quang, Kiên Đài, Linh Phú)
Dân số trên địa bàn huyện có trên 127 nghìn người, gồm 18 dân tộc anh em cùng sinh sống Dân tộc thiểu số có 17 dân tộc chiếm 78%, trong đó Dân tộc Tày 66,1 %; dân tộc Dao 12,3 %; dân tộc Hoa 1,2 %; dân tộc Nùng 1,15 %; dân tộc Mông 1,5 %; còn lại là các dân tộc thiểu số khác chiếm 17,4 %
Toàn huyện có 88 trường/1.288 nhóm, lớp Trong đó có: 26 trường Mầm non/452
nhóm, lớp (gồm 153 nhóm Nhà trẻ, 299 lớp Mẫu giáo); có 27 trường Tiểu học và 04
trường TH&THCS, tổng số lớp: 504 trong đó có 29 lớp ghép (có 10 đơn vị trường học với 135 lớp/3.038 học sinh được học 02 buổi/ngày); 21 trường THCS/167 lớp; 04 trường TH&THCS/17 lớp; 03 trường PTDT Bán trú THCS /26 lớp; 01 trường PTDT Nội trú THCS/08 lớp; 06 trường THPT/122 lớp
Về giáo dục thường xuyên: Năm học 2014-2015, bậc học Tiểu học không có lớp bổ túc
Bậc học THCS có 01 lớp 9 bổ túc với 13 học viên của trường THCS Phúc Sơn, đang thực hiện chương trình học kỳ I (địa điểm mở tại Thôn Biến, xã Phúc Sơn) và 01 lớp 10
với 23 học viên của Trung tâm Dạy nghề huyện Chiêm Hóa Tính đến thời điểm hiện tại
có 26/26 xã, thị trấn đều có Trung tâm học tập cộng đồng
Đối với bậc học THCS: Có 7.059/7.090 học sinh, đạt 99,56% so với dân số trong độ tuổi 11-14 tuổi, tổng số học sinh nữ trên địa bàn huyện: 3.416 học sinh, học sinh dân tộc thiểu số: 6.216 học sinh
Về thành tích Bậc học THCS
Trang 37Về Kỳ thi giải Toán trên Máy tính cầm tay:
Cấp huyện (tổ chức cho học sinh lớp 8, 9): Có 25 học sinh đạt giải/78 học sinh dự thi, đạt 32,1% Trong đó: Có 01 giải Nhất; 08 giải Nhì; 03 giải Ba; 13 giải
Khuyến khích
Về Kỳ thi chọn học sinh giỏi các môn lớp 8, 9:
Cấp huyện (tổ chức cho học sinh lớp 8, 9): Có 191 học sinh đạt giải/540 học
sinh dự thi, đạt 35,3% Trong đó: Có 3 giải Nhất; 25 giải Nhì; 60 giải Ba; 103 giải Khuyến khích
Về Cuộc thi Olympic Tiếng Anh trên Internet:
Cấp huyện (tổ chức cho học sinh lớp 6, 7, 8, 9): Có 42 học sinh đạt giải/168 học sinh dự thi, đạt 25% Trong đó: Có 4 giải Nhất; 6 giải Nhì; 15 giải Ba; 17 giải Khuyến khích
Về Cuộc thi Khoa học - Kỹ thuật dành cho học sinh lớp 8, 9 THCS:
Cuộc thi cấp huyện: Có 26/28 đơn vị trường tham gia dự thi (trường THCS Xuân Quang và Trường PTDTBT THCS Trung Hà không có sản phẩm dự thi) với 32 sản phẩm dự thi; số sản phẩm đạt giải là 13/32 sản phẩm dự thi, đạt 40,62% Trong đó: Có
01 giải Nhất; 3 giải Nhì; 03 giải Ba; 06 giải Khuyến khích
Cấp tỉnh: Có 05 sản phẩm dự thi đạt giải/05 sản phẩm dự thi, đạt 100% Huyện Chiêm Hóa xếp vị trí thứ Nhất trên 7 huyện, thành phố
Về phát triển kinh tế, nâng cao mức sống nhân dân
Sản xuất nông nghiệp: Được quan tâm đầu tư, hỗ trợ phát triển nhất, tích cực
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chú trọng đầu tư thâm canh, nâng cao hệ số sử dụng đất Đã hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa như cây Lạc trên 2.600 ha, Mía trên 3.700 ha, Chuối tây 600 ha, cây Cam trên 400 ha,… cho thu nhập cao Đến nay hệ số sử dụng đất ruộng hàng năm đạt 2,7 lần, Quản lý chặt chẽ diện tích trồng cây lương thực, sản lượng lương thực hàng năm đạt trên 71 nghìn tấn, bình quân lương thực đầu người 565 kg/người/năm, đảm bảo
an ninh lượng thực
Về chăn nuôi: Thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển chăn nuôi, từng bước
đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Chủ động triển khai có hiệu quả Đề án khôi phục và phát triển chất lượng đàn gia
Trang 38súc, gia cầm sau rét hại và dịch bệnh Đến nay số lượng và chất lượng đã từng bước được cải thiện, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số chăn nuôi quy mô 60-100 con lợn thịt/lứa Đàn trâu trên 26 nghìn con, đàn bò 653 con, đàn lợn trên 100 nghìn con, đàn gia cầm gần 1 triệu con Đàn gia súc, gia cầm được duy trì về số lượng và nâng cao về chất lượng Hàng năm thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm
Nuôi trồng thủy sản: Quy mô có bước phát triển, tạo thành một ngành nghề
mới, tạo việc làm, thu nhập cho nhân dân Đến nay tổng diện tích nuôi trồng trên 997
ha, trong đó: Trên hồ thủy điện Chiêm Hóa 500 ha; diện tích ao, hồ 497 ha; 125 lồng,
bè nuôi cá các loại
Lâm nghiệp: Đã hình thành rõ nét vùng sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến Tiếp tục quán triệt thực hiện tốt Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 30/11/2006 của Tỉnh ủy về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020 Chú trọng thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, phòng chống cháy rừng Từ năm 2009 đến nay toàn huyện trồng mới trên 19.000 ha rừng, độ che phủ rừng đạt trên 70% Kinh tế lâm nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện
và nâng cao đời sống nhân dân nói chung
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Tích cực thu hút đầu tư
phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp trong
cơ cấu kinh tế, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2013 đạt 290,5 tỷ đồng, đạt 128% kế hoạch, tăng 64,6% so với năm 2012, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 14,8% Cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại các xã từng bước được hình thành và phát triển Hệ thống siêu thị, các ngành kinh doanh, dịch vụ được tạo điều kiện đầu tư hoạt động, cùng với một số chợ tại các khu vực thị tứ hoạt động có hiệu quả, việc lưu thông hàng hóa nhất là hàng hóa nông, lâm sản phát triển mạnh, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân
Về xây dựng Nông thôn mới: Thực hiện nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 23/11/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa XV) về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 Đến nay huyện đã hoàn thành công
tác lập và phê duyệt đề án cho các xã, thị trấn để tổ chức, huy động mọi nguồn lực
triển khai thực hiện
Trang 39Nhận thức về nghề nghiệp và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh là một quá trình, quá trình này có thể diễn ra tự phát hoặc tự giác Những hiểu biết về nghề nghiệp của các em thông qua con đường tự giác có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực trong quá trình chọn nghề của các em vì vậy các nguồn thông tin này chỉ có giá trị hướng dẫn chọn nghề khi nó được kết hợp với nhận thức nghề tự giác, có hệ thống của bản thân học sinh, của nhà trường và các trung tâm tư vấn nghề nghiệp
Đa số học sinh chọn hướng học tập, định hướng nghề nghiệp, dự định chọn nghề và chọn nghề chỉ theo cảm tính của cá nhân và gia đình, mang nặng tính chất chủ quan
và phiến diện, thiếu tính thực tiễn và hoàn toàn không phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và địa phương hiện nay Đối với học sinh THCS, ở tuổi của các em chưa nghĩ gì đến cuộc sống, do đó phụ thuộc hầu hết vào gia đình, các
em đều muốn học lên THPT bất kể là sức học của mình ở loại nào và kể cả những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, dẫn đến sự lãng phí mà không mang lại hiệu quả Rất ít học sinh sau khi tốt nghiệp THCS thi vào các trường công nhân kỹ thuật, các trường nghề
Ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, số lượng học sinh ở các cấp THCS tương đối nhiều và số lượng học sinh lên cấp THPT rất cao, Do vậy câu chuyện phân luồng sẽ còn khó khăn hơn nếu như chủ trương bỏ thi THCS và bỏ điểm sàn tuyển sinh vào các trường đại học được thực thi khi chưa có đủ lộ trình và biện pháp khắc phục những yếu kém trong công tác quản lý GD-ĐT như hiện nay
Các trường THCN và Dạy nghề toàn tỉnh chưa có nhiều biện pháp tốt để thu hút học sinh tốt nghiệp THCS, dẫn tới nếu nghỉ học chỉ lao động ở nhà hoặc đi ra tỉnh
và thành phố kiếm việc làm mà chưa được trang bị gì về kiến thức nghề nghiệp
Bảng 2.1 Số liệu học sinh ở cấp học THCS và THPT của huyện Chiêm Hóa,
tỉnh Tuyên Quang trong một số năm qua
Năm học Số học sinh
THCS
Số học sinh THPT
Tỉ lệ THPT/THCS(%)
Trang 40Nhìn vào bảng ta thấy, mỗi năm một số lượng rất lớn học sinh THCS được cung cấp vào thị trường lao động Số học sinh này hầu như không được trang bị kiến thức về nghề nghiệp cũng như chưa có một ngành nghề nào Tác giả tìm hiểu việc này, kết quả là sau khi nghỉ học một số lượng lớn học sinh đã tham gia vào thị trường lao động của địa phương Các em làm việc ở các cơ sở sản xuất, công việc lao động chủ yếu bằng chân tay và trong môi trường độc hại, nhưng tiền lương lại thấp, thường xuyên xảy ra nhiều tệ nạn xã hội Một số các em khác thì đi lên thành phố, tìm vào các khu công nghiệp để xin việc làm, cuộc sống rất khổ Tất cả vấn đề trên cho thấy, công tác GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa là chưa tốt, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội và của địa phương hiện nay
Vậy thực trạng nhận thức về nghề nghiệp của học sinh THCS và thực trạng GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa hiện nay được thực hiện ra sao? Chất lượng GDHN ở các trường THCS biểu hiện qua sự nhận thức về nghề nghiệp, lựa chọn nghề của học sinh đạt được ở mức độ nào? Từ thực trạng và các nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó cần rút ra biện pháp nào để tăng cường chất lượng GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang?
Trong phạm vi của đề tài, người nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu thực trạng nhận thức nghề nghiệp của học sinh và thực trạng về công tác GDHN ở một số trường THCS huyện Chiêm Hóa, từ đó rút ra các biện pháp nâng cao chất lượng quản
lý GDHN ở các trường THCS huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang hiện nay
2.2 Vài nét về đối tượng khảo sát và khách thể khảo sát
Tác giả tiến hành khảo sát 5 trường THCS ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Trường THCS Phú Bình, trường THCS Ngọc Hội, trường THCS Thị trấn Vĩnh lộc, trường THCS Xuân Quang, trường Phổ thông dân tộc nội trú THCS huyện