ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 200511Yêu cầu khách quan phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001200511Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001200522ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 201037Yêu cầu mới về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của Khánh Hòa trong những năm 2006201037Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2006201043KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 201058Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân58Kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa.70
Trang 1MỞ ĐẦU 3
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH
ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ
1.1 Yêu cầu khách quan phát triển kinh tế biển ở tỉnh
Khánh Hòa trong những năm 2001-2005 111.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005 22
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH
ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Yêu cầu mới về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của
Khánh Hòa trong những năm 2006-2010 372.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2006-2010 43
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ KINH NGHIỆM TRONG
QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
3.2 Kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biển được gọi là lục địa thứ sáu của trái đất, là cánh cửa nền kinh tếcủa hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngày nay, điều kiện nguồn tài nguyên
Trang 2thiên nhiên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, cùng với sự gia tăng dân số và sựphát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thì việc hướng ra biển để tìmkiếm khai thác các nguồn tài nguyên từ biển là một chiến lược lâu dài của cácnước trên thế giới.
Việt Nam là quốc gia ven biển, có đường bờ biển dài 3.260 km vớihàng nghìn đảo lớn nhỏ không chỉ có tiềm năng kinh tế mà còn giữ vị tríchiến lược đối với việc giao lưu quốc tế và quốc phòng, an ninh
Cùng với đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế, biển và kinh tế biển ngày càng giữ vị trí then chốt, yếu tố khôngthể thiếu để nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020 Vì vậy, phát triển kinh tế biển vừa là mục tiêu chiến lược, vừa xuất phát
từ đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhận thức rõ vị trí của kinh tế biển cũng như sự biển đổi của tình hìnhbiển Đông thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sáchphát triển kinh tế khu vực biển, hải đảo
Khánh Hòa nằm ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ, là nơi đất liềnvươn ra biển Đông xa nhất của Tổ quốc, có bờ biển dài 385 km tính theo mépnước ven đảo Đây là vị trí thuận lợi để có thể khai thác các nguồn lợi từ biển.Các vịnh và đảo ven bờ biển của tỉnh Khánh Hòa có vị trí địa lý thuận tiện vànguồn tài nguyên phong phú, là điều kiện lý tưởng cho phát triển du lịch, khaithác thủy sản và các ngành kinh tế biển khác Khánh Hòa lại được quản lý,khai thác quần đảo Trường Sa, một vùng san hô đầy tiềm năng và triển vọng
để vươn ra khai thác biển khơi
Những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhànước về phát triển kinh tế biển, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã cónhiều chủ trương, giải pháp và hành động cụ thể để phát triển mạnh các ngànhkinh tế biển như: phát triển du lịch và dịch vụ biển, hợp tác nghiên cứu và bảo
Trang 3vệ nguồn thủy hải sản ven biển, khai thác các nguồn tài nguyên tại các đảoven bờ… Trong thực tiễn nguồn lợi khai thác từ biển đã thực sự trở thành mộtđộng lực to lớn cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa trongnhững năm qua.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc phát triển kinh
tế biển của tỉnh Khánh Hòa những năm qua còn bộc lộ một số hạn chế yếukém, chưa ngang tầm với yêu cầu, tiềm năng và thế mạnh của Tỉnh Vì vậynghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo phát triển kinh tếbiển, đánh giá kết quả, rút ra những kinh nghiệm, từ đó đề xuất những chủtrương, biện pháp cụ thể để tiếp tục phát triển kinh tế biển không chỉ là mộtyêu cầu cơ bản mà còn là vấn đề cấp bách đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dântỉnh Khánh Hòa hiện nay
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam vớimong muốn đóng góp một phần nhỏ bé đáp ứng yêu cầu nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu biển nói chung,nghiên cứu phát triển các ngành kinh tế biển nói riêng có liên quan đến đề tài
đã được công bố
Những công trình đề cập chung đến biển, đảo Việt Nam có các tác phẩm:
Công ước biển 1982 và chiến lược biển của Việt Nam do Nguyễn Hồng
Thao (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Trong đó, tácphẩm đánh giá vị thế chiến lược và nguồn tài nguyên biển của nước ta, đồng
thời quá trình nước ta thực hiện công ước về biển của quốc tế năm 1982 Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam-lý luận và thực tiễn của Nguyễn Hồng Thao,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Tác giả đã đề cập đến vấn đề ô
Trang 4nhiễm môi trường biển Việt Nam, nhất là các vùng nuôi trồng thủy sản và các
khu du lịch biển Phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
của Ban Tuyên giáo Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008 Tác phẩm này đã đề cập đến vị trí vai trò tiềm năng của biển và kinh tếbiển Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế đồng thời tác
phẩm đề cập đến bảo vệ quốc phòng-an ninh trên biển Một số suy nghĩ về xây dựng chiến lược phát triển kinh tế và quốc phòng trên biển, Ban Biên giới, Bộ Ngoại giao (1998), Phụ lục giáo trình về nâng cao năng lực quản lý biển Biển
và hải đảo Việt Nam, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội, 2007 Tác phẩm đề cập một số nhân tố mới về phát triển kinh tế biển Việt Nam Biển với người Việt cổ của Viện Đông Nam Á, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội,1996.
Tác phẩm đề cập khái quát lịch sử cổ xưa cái nhìn về biển của Việt Nam và quá
trình khai thác tài nguyên biển của người Việt Người Việt với biển, Nguyễn
Văn Kim (chủ biên), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2011
Đây là những tác phẩm đề cập đến tiềm năng vị thế, chiến lược biểntrong phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng-an ninh trên biển
Các bài báo khoa học:
Bùi Tất Thắng: “Sự phát triển kinh tế biển và chiến lược biển của một
số nước”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 6/2007 Bùi Tất Thắng: “Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số7, số
8/2007 Trần Văn Giới: “Kết hợp kinh tế-xã hội với quốc phòng-an ninh ở các
tỉnh ven biển”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số1/2002 Nguyễn Văn Tự:
“Khánh Hòa đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội gắn với xây dựng nền quốc
phòng toàn dân vững mạnh”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 5/2002 Tạ
Quang Ngọc: “Ngành thủy sản với nhiệm vụ phát triển kinh tế biển và một số
kiến nghị về kết hợp kinh tế với quốc phòng trên biển, đảo của Tổ quốc”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9/2004 Duy Anh: “Khánh Hòa gắn chương trình kinh tế biển với phát triển kinh tế-xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 8/2005.
Trang 5Nguyễn Văn Hiến: “Phát triển kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng-an
ninh trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 10/2006 Quốc Toản, Mạnh Hùng, Mạnh Dũng:
“Kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường quốc phòng-an ninh, bảo vệ
chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới”, đăng trên 3 số liên tiếp của Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 9,10 và 11/2008.
Nhìn chung, các bài báo trên đã phân tích khá kỹ về tình hình phát triểnkinh tế biển gắn với củng cố quốc phòng-an ninh, đồng thời phân tích hiệntrạng phát triển kinh tế biển Việt Nam, tuy nhiên các bài báo trên đều chưa đềcập đến phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa
Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến nghiên cứu kinh tế biển Việt Nam, đáng chú ý là:
Sức mạnh về chiến lược trên biển của Trung Quốc của John Wilson Lewis Xue Litai Quyền lực trên biển của nhà nước của Gorshkov- cựu Tư
lệnh Hải quân Liên Xô đã chỉ rõ, thực chất quyền lực trên biển của nhà nước
là biết lợi dụng có hiệu quả nhất khả năng trên các biển của thế giới để phục
vụ cho lợi ích quốc gia
Khai thác trên mạng Internet, còn khá nhiều các bài viết của các tác giảnước ngoài đề cập đến các khía cạnh khác nhau về vấn đề tăng cường khảnăng phòng thủ trên biển để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tếbiển của nhiều quốc gia trên thế giới Trong số đó, đáng chú ý là các bài:Tống Yên Hung (1998) với “Trung Quốc lập pháp biển từng bước dồn ép cácnước”; Vijay Sakhuja (2001) với “Sức mạnh kinh tế biển của Trung Quốc”;Andrew Kennedy (2003) với “Tình hình an ninh ở khu vực Biển Đông”;James A.Boutilier (2003) với “Bức tranh về xung đột và hợp tác ở khu vựcbiển châu Á”; A.Stalbov (2005), “Hoạt động kinh tế-quốc phòng của Ngatrong việc khai thác vùng biển khu vực”
Trang 6Tất cả các bài viết tập trung bàn về vấn đề an ninh, xung đột chủ quyềnbiển và xu hướng hợp tác, tăng cường sức mạnh quân sự trên biển Các vấn đềphát triển kinh tế biển chưa được đề cập đến.
Nghiên cứu về kinh tế biển của Tỉnh có các công trình đáng chú ý sau:
Khánh Hòa - Nha Trang một tiềm năng một hiện thực, Vũ Ngọc Phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Lưới đăng - nghề biển truyền thống ở Khánh Hòa, Nguyễn Viết Trung - Hội văn hóa nghệ thuật
Khánh Hòa năm 2007 Tác giả đã đề cập đến lưới đăng - một nghề đã từng có
năng suất và lợi tức cao nhất trong ngành ngư nghiệp của tỉnh Khánh Hòa Kỷ yếu hội thảo khoa học văn hóa biển đảo ở tỉnh Khánh Hòa, của Ủy ban nhân
dân tỉnh Khánh Hòa, 2011 Đây là ấn phẩm bao gồm nhiều bài viết, chủ yếuđánh giá vai trò của văn hóa du lịch biển trong giai đoạn hiện nay và vai tròcủa báo chí trong công tác tuyên truyền phát triển kinh tế biển theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Mai Trang: Du lịch - Ngành kinh tế mũi nhọn
của tỉnh Khánh Hòa, Tạp chí thương mại, số 30/2003 Tác giả viết về sự phát
triển du lịch ở Khánh Hòa, trao đổi một số giải pháp để du lịch trở thànhngành kinh tế mũi nhọn ở địa phương
Một số luận văn, luận án nghiên cứu về kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa và trên phạm vi cả nước như:
Mai Văn Điệp: Phát triển kinh tế du lịch biển và tác động của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Kinh tế, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2006 Luận văn đã luận giải một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế du lịch biển và tác độngcủa nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà; đưa ra một sốquan điểm và giải pháp cơ bản gắn phát triển kinh tế du lịch biển với củng cố
quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà hiện nay Nguyễn Anh Tuấn: Phát
triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hoà hiện nay, luận văn thạc sĩ Kinh tế
chính trị, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2009 Luận văn tập trung bàn
Trang 7về sự phát triển kinh tế du lịch (một bộ phận của kinh tế biển), đưa ra một sốgiải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh
Hoà trong thời gian tới Nguyễn Thị Kim Dung: Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế biển từ năm 1986 đến năm 1997, luận văn thạc
sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội, 2009 Luậnvăn nghiên cứu những chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với sự phát triểnkinh tế biển, làm rõ các bước phát triển và những thành tựu cụ thể qua mỗigiai đoạn, phân tích ưu điểm, hạn chế, đưa ra một số giải pháp nhằm phát huyhiệu quả kinh tế biển, kết hợp pháp triển kinh tế biển với bảo vệ Tổ quốc
Doãn Đình Tráng: Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh
tế kết hợp với củng cố quốc phòng từ năm 1996 đến năm 2005, luận văn thạc
sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2009 Luận văn đã phân tích,luận giải, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu pháttriển kinh tế kết hợp với củng cố quốc phòng, trình bày kết quả, nguyên nhân,rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế với củng
cố quốc phòng từ năm 1996 đến năm 2005 Nguyễn Văn Dung: Tác động của phát triển kinh tế thuỷ sản ở Khánh Hoà đến xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trong giai đoạn hiện nay, luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị
quân sự, Hà Nội, 2009 Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng tác độngcủa phát triển kinh tế thủy sản tới xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh KhánhHòa, đồng thời đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tácđộng tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của phát triển kinh tế thủysản đến xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra thông tin về kinh tế biển Khánh Hòa còn có một số bài viếttrên các báo cáo của Chính phủ, các tập san, báo địa phương, các trang webcủa Tỉnh và Chính phủ
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều trình bày những vấn đềkhái quát có liên quan đến biển hoặc kinh tế biển của Khánh Hòa Tuy nhiênchưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào quá trình lãnh đạo phát triển các
Trang 8ngành kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh cũng như quá trình phát triển một cách
cụ thể của từng ngành kinh tế biển của địa phương Vì vậy đề tài là công trìnhnghiên cứu độc lập của tác giả không trùng lặp với bất kỳ công trình khoa họcnào đã được công bố
3 Mục đích nhiệm vụ của luận văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa phát triển cácngành kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2010
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian:
Đề tài giới hạn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2001 đếnnăm 2010 là thời kỳ bắt đầu nhiệm kỳ khóa XIV (2001-2005) và kết thúcnhiệm kỳ XV (2006-2010) của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa
Về không gian:
Trang 9Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nhiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Dựa trên lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực phát triển kinh tế nói chung và kinh tế biểnnói riêng để tiếp cận đối tượng, luận giải các nhiệm vụ của đề tài
* Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu.Ngoài ra đề tài còn áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống
kê, khảo sát thực địa, chuyên gia để làm rõ từng vấn đề cụ thể của đề tài
6 Ý nghĩa của luận văn
Đề tài bước đầu cung cấp một cách hệ thống quá trình lãnh đạo pháttriển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 2001 đến năm 2010.Đánh giá thành tựu, hạn chế, nêu ra những kinh nghiệm và giải pháp, gópphần xây dựng cơ sở cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triểnkinh tế biển trong giai đoạn tiếp theo
Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu phát triển kinh tếbiển các tỉnh ven biển và công tác tuyên truyền, giáo dục trong tỉnh KhánhHòa Đồng thời làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy môn lịch sửĐảng nói chung và lịch sử Đảng bộ địa phương nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm: mở đầu, ba chương (6 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Yêu cầu khách quan phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005
1.1.1 Điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa
* Điều kiện tự nhiên
Khánh Hòa nằm ở vị trí cực Đông của đất nước, trải dài theo hướng Nam trên 120 km theo đường chim bay, bờ biển dài 385 km, có gần 200 đảo lớnnhỏ gần bờ và trên 100 đảo, bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa Đặc biệt có
Bắc-3 vịnh nổi tiếng là vịnh Vân Phong nằm cách thành phố Nha Trang khoảng 80
km về phía Bắc Đây thực sự là một kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hòa, bãibiển đẹp, cát mịn, núi đồi hùng vĩ bao quanh có thể tổ chức nhiều loại hình dulịch thể thao dưới nước và trên núi Vịnh Cam Ranh dài 20 km, chỗ rộng nhất 10
km, sâu trung bình 18,2 m, cửa vịnh thông ra biển rộng 3 km, có đảo Bình Ba ánngữ nên vừa kín gió vừa êm sóng đây là điều kiện lý tưởng cho xây dựng quâncảng Vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới Phía Bắc vịnh NhaTrang bắt đầu từ Bãi Tiên đến Hòn Chồng là điểm đến quen thuộc của du khách.Tiếp đó là bãi biển Nha Trang dài 7 km như một mảnh trăng lưỡi liềm viền phíaĐông thành phố ôm lấy vịnh Nha Trang Phía Nam vịnh Nha Trang là đảo HònMiễu có điểm du lịch Trí Nguyên, đảo Hòn Mun-khu bảo tồn sinh vật biển quốcgia và quần thể sinh vật biển đa dạng Các đảo Hòn Tằm, Hòn Chà Là, HònĐụn, Hòn Xưởng là những đảo có cảnh đẹp, có điều kiện thuận lợi để phát triểnloại hình du lịch biển
Khánh Hòa có diện tích 5.217,6 km2, dân số 1.167.744 người (năm2010) Địa giới tỉnh kéo dài từ vĩ độ 11055’00’N đến vĩ độ 12054’00’B, phíabắc giáp tỉnh Phú Yên; tây giáp tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng; nam giáp tỉnh Ninh
Trang 11Thuận và phía đông là biển Đông Đây là vị trí thuận lợi để tiến ra biển trongkhai thác nguồn lợi và lùi lại có thể trấn giữ dải lãnh thổ ven biển và hải đảo.
Khánh Hòa hiện nay bao gồm hai thành phố trực thuộc (Nha Trang,Cam Ranh), một thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh,Khánh Sơn, Cam Lâm, Trường Sa), trong đó có 6/9 đơn vị hành chính với48/138 xã, phường tiếp giáp biển
Huyện đảo Trường Sa, vùng lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam trên biểnĐông với diện tích 180.000km2, gồm hơn 100 đảo lớn nhỏ, bãi đá ngầm vàbãi đá san hô Tiềm năng vô cùng phong phú về hải sản, khoáng sản cùng vớigiá trị chiến lược về hàng hải và quốc phòng-an ninh đang là lợi thế to lớn đểphát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa
Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy dọc theo địa phận Tỉnh,nối Khánh Hòa với các tỉnh, thành phố trong cả nước Quốc lộ 26 nối KhánhHòa với các tỉnh Tây Nguyên Tỉnh lộ 723 nối Khánh Hòa với Lâm Đồng.Nhiều cảng biển nước sâu như: cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, cảngNha Trang, cảng Cam Ranh…có vai trò vừa là cảng trung chuyển thương mạiquốc tế, vừa là cảng du lịch đưa đón khách quốc tế đến Nha Trang
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có lợi thế về tài nguyên biển.Khánh Hòa có 8 cửa lạch, 10 đầm, 2 bán đảo và trên 200 đảo lớn, nhỏ thuậnlợi cho nghề cá ven bờ, phát triển du lịch và giao thông đường thủy KhánhHòa là tỉnh có vùng đất nằm nhô ra xa nhất về phía Đông ở nước ta, gầnđường hàng hải quốc tế, thuận lợi cho vận tải tàu biển và dịch vụ đường thủy
Theo số liệu nghiên cứu của Viện nghiên cứu biển, Khánh Hoà có tổng
trữ lượng hải sản khoảng 92.000-110.000 tấn, trong đó cá nổi chiếm tới 70%tổng trữ lượng Ngoài cá, vùng biển Khánh Hoà còn có các nguồn lợi khácnhư: tôm, cua, ghẹ, ruốc, mực, sứa, rong biển Đặc biệt yến sào là sản vật cógiá trị xuất khẩu cao, được coi là “vàng trắng” ở nước ta Tuy nằm trong khuvực duyên hải Nam Trung Bộ, chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
Trang 12nhưng khí hậu ở Khánh Hòa rất ôn hòa, quanh năm nắng ấm, mát mẻ, nhiệt
độ trung bình hàng năm là 260C, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùakhô, ít chịu ảnh hưởng của gió, bão Đây là điều kiện lý tưởng cho du lịch,nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe, nhất là du lịch biển, đảo
Mặc dù biển Khánh Hòa là một trong những vùng biển có nhiều tiềmnăng nhất nước ta, song đây cũng là vùng biển có mức độ “dễ bị tổn thương”cao Là vùng biển nằm giữa đất nước, là trung tâm giao thông đường thủy trênthế giới và khu vực, biển Khánh Hòa lại có nhiều “dòng rút” nguy hiểm, do
đó, đây là vùng biển chịu sự tác động rất lớn của bão, lũ, động đất, sóng thần,biến đổi khí hậu, tràn dầu, hóa chất, ô nhiễm môi trường biển Tính “dễ bịtổn thương” này, cùng với việc khai thác tài nguyên quá mức, dẫn đến nguy
cơ suy thoái môi trường biển và hệ sinh thái ven bờ, gây tác động bất lợi tớicuộc sống của hàng chục vạn ngư dân ven biển, cũng như nghề khai thác thủysản ở tỉnh Khánh Hòa Biển Khánh Hòa là nơi có nhiều dự án quốc tế về nuôitrồng và bảo vệ môi trường biển như: khu bảo vệ môi trường sinh thái biểnHòn Tằm, dự án bảo vệ dải san hô quý bãi trước Hòn Tre, … nếu Đảng bộkhông có những chủ trương và biện pháp lãnh đạo tốt sẽ tạo ra mâu thuẫngiữa khai thác, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển
Khánh Hòa là một địa phương được Đảng, Nhà nước giao trọng tráchxây dựng các mô hình thí điểm về khu kinh tế biển, khu kinh tế-quốc phòngtrên biển Vì vậy, mọi chủ trương biện pháp đều là mới mẻ, chưa có tiền lệ,chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộTỉnh Biển Khánh Hòa là vùng biển có tranh chấp, cơ chế quản lý của Nhànước chưa hoàn thiện, còn chồng chéo, gây khó khăn nhất định cho quá trìnhquản lý và lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Tỉnh
Người ta thường nói: “Các cường quốc trên thế giới đều có biển, nhưngcác quốc gia có biển chưa hẳn đã là cường quốc” Có biển chỉ là điều kiệncần, biết cách khai thác sử dụng biển để phát triển mới là điều kiện đủ Chính
Trang 13vì thế tỉnh Khánh Hòa cần có những chủ trương, chính sách phát huy tiềmnăng và điều kiện thuận lợi của biển
* Tình hình kinh tế-văn hóa
Kinh tế: Tổng sản phẩm nội địa tăng bình quân hàng năm gần 11%,GDP bình đầu người năm 2010 đạt 1.500 USD/năm; chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đến năm 2010 tỷ trọng ngành công nghiệp-xây dựng chiếm 43,5%, dịch
vụ-du lịch chiếm 43,5%, nông lâm thuỷ sản chiếm 13%; thu ngân sách năm 2010
dự kiến đạt trên 7.000 tỷ đồng, huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạttrên 47.000 tỷ đồng [14, tr.98]
Văn hóa: Khánh Hòa là địa phương giàu truyền thống văn hóa baogồm các dân tộc Kinh, Rag Lai, Hoa, Gie Trieng,…Mỗi dân tộc mang đậmbản sắc văn hóa của dân tộc mình làm giàu cho nền văn hóa chung của tỉnhthể hiện qua lễ hội, trang phục, điệu múa, đàn đá Khánh Sơn có từ lâu đời vàđược lưu truyền cho đến ngày nay
Giáo dục: Với phương châm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, KhánhHòa rất chú trọng đến giáo dục, mở mang dân trí nâng cao trình độ hiểu biếtcho người dân Khánh Hoà hiện có trên 20 cơ quan khoa học kỹ thuật và đàotạo của Trung ương đóng trên địa bàn, trong đó có những cơ quan khoa học
lớn liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế biển như: Viện Hải dương học, Trường Đại học Thuỷ sản (nay là trường Đại học Nha Trang), Viện Nghiên cứu thuỷ sản III, Đài Khí tượng thuỷ văn khu vực Nam Trung Bộ, Phân viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp miền Trung, Học viện Hải quân.
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có tiềm năng và điều kiện để pháttriển các ngành kinh tế biển Nhận thấy thế mạnh của biển, từ năm 2001 đếnnăm 2010, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã quán triệt sâu sắc đường lối, chínhsách phát triển kinh tế biển của Đảng, Nhà nước, mạnh dạn đẩy mạnh đầu tư
và kêu gọi đầu tư để phát triển kinh tế biển, hiện nay mới tập trung để hiện đạihóa quy trình chế biến hải sản, đánh bắt hải sản xa bờ, du lịch biển
1.1.2 Đường lối, chính sách phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nước
Trang 14* Khái niệm kinh tế biển
Kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biểnchủ yếu là: Kinh tế hàng hải (vận tải biển và du lịch cảng biển); Hải sản (đánhbắt và nuôi trồng hải sản); Khai thác dầu khí ngoài khơi; Du lịch biển; Làmmuối, dịch vụ tìm kiếm cứu hộ cứu nạn; Kinh tế đảo Có thể coi đây là quanniệm về kinh tế biển theo nghĩa hẹp
Các hoạt động kinh tế trực tiếp liên quan đến khai thác biển tuy khôngdiễn ra trên biển nhưng những hoạt động kinh tế này đều phải nhờ vào yếu tốbiển hoặc trực tiếp phục vụ các hoạt động kinh tế biển ở dải đất liền ven biểnbao gồm đóng và sửa chữa tàu; công nghiệp chế biến dầu khí; công nghiệpchế biến hải sản; cung cấp dịch vụ biển, thông tin liên lạc biển, nghiên cứukhoa học công nghệ biển, đào tạo nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển Cóthể coi cách hiểu này là quan niệm kinh tế biển theo nghĩa rộng
* Quan điểm và chính sách phát triển kinh tế biển của Đảng và Nhà nước
Là một quốc gia biển nên ngay từ rất sớm, người Việt Nam đã ý thức sựcần thiết tiến ra biển Thời phong kiến, nhân dân ta đã biết tiến hành các hoạtđộng sử dụng biển truyền thống như: đánh bắt, nuôi trồng hải sản và đi lại trênbiển, đồng thời các triều đại phong kiến đã biết bảo vệ vùng biển trước sự xâmlược của ngoại bang, mở rộng lãnh thổ và vùng biển về phía Đông và phíaNam, tổ chức các hoạt động nghiên cứu biển, phòng thủ bờ biển
Tháng 3 năm 1960 Bác Hồ đến thăm bộ đội Hải quân, Bác căn dặn:
“Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển, bờbiển ta dài, tươi đẹp, ta phải giữ gìn lấy nó” Khẳng định giá trị của lời căndặn này, Đảng ta tiếp tục kế thừa và phát huy khai thác và bảo vệ nguồn lợi từbiển trong thời đại mới Đây cũng chính là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trongquá trình giữ gìn và khai thác sử dụng biển Đông, cũng như trong quá trìnhđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại và bảo vệ chủ quyền biển đảo
Trang 15Tiếp theo định hướng phát triển kinh tế của Đại hội Đảng lần thứ VI,VII, VIII, Đại hội toàn quốc lần thứ IX (2001) đã định hướng phát triển kinh
tế đối với vùng biển và hải đảo:
Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thếmạnh của hơn 1triệu km2 thềm lục địa Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sởcho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển Đẩy mạnh nuôi trồng,khai thác, chế biến hải sản, thăm dò khai thác dầu khí, phát triển đóng tàuthuyền và vận tải biển; mở mang du lịch; bảo vệ môi trường, tiến ra biển khơilàm chủ vùng biển Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợithế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúcđẩy các vùng khác phát triển Xây dựng một số căn cứ hậu cần ở một số đảo
để tiến ra biển khơi Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninhtrên biển [17, tr.715]
Đối với Bắc Trung Bộ, duyên hải Trung Bộ và vùng kinh tế trọng điểmmiền Trung (trong đó có Khánh Hòa) Đảng chỉ đạo:
Phát huy lợi thế biển và ven biển, khai thác có hiệu quả các tuyếnđường trục Bắc-Nam, các tuyến đường ngang, các tuyên đường xuyên Á, cáccảng biển Hình thành khu công nghiệp ven biển, khu công nghiệp thươngmại, thương mại tổng hợp…phát triển du lịch biển và ven biển, gắn liền vớicác khu di tích, danh lam thắng cảnh của cả vùng [17, tr.718]
Để khai thác triệt để nguồn tài nguyên biển, Đại hội IX của Đảng đã chỉđạo các tỉnh trong đó có Khánh Hòa vạch ra định hướng phát triển kinh tếbiển và an ninh quốc phòng trên biển phù hợp với tình hình của từng tỉnh
1.1.3 Tình hình phát triển kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa trước năm 2001
Dựa vào thế mạnh của địa phương, tỉnh Khánh Hòa rất quan tâm đếnphát triển kinh tế biển Thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TW ngày 22/9/1997 của
Bộ Chính trị (khóa VIII) về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công
Trang 16nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã đề ra Chương trìnhhành động phát triển kinh tế thủy sản đến năm 2000 và một số dự án về pháttriển du lịch biển, giao thông vận tải Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh đãsoạn thảo “Chương trình kinh tế biển giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010”,trong đó nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2010, xây dựng Khánh Hòa trở thànhtỉnh mạnh về kinh tế biển, có kinh tế hướng về xuất khẩu với một số ngànhkinh tế mũi nhọn, có công nghệ hiện đại, có giá trị xuất khẩu lớn tạo tích lũycao và ổn định, đóng góp lớn cho kinh tế tỉnh nhà Xây dựng kinh tế xã hộivùng biển, đảo ven biển trở thành vùng phát triển năng động, thúc đẩy cácvùng trong cả nước phát triển
Xác định tầm quan trọng của biển với nền kinh tế của Tỉnh, Đại hộiĐảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XIII (4/1996) đã xác định cơ cấu kinh tếchuyển dịch theo hướng công nghiệp-nông nghiệp-dịch vụ và du lịch tạo môitrường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội những năm tiếp theo
Sau 3 năm thực hiện chương trình với những định hướng phát triển màNghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua các ngành kinh tế biển đã cóbước tăng trưởng như sau:
Ngành thủy sản
Khai thác thủy sản: “Sản lượng hải sản khai thác năm 2000 đạt 65.000tấn bằng 100% so với kế hoạch năm, đạt 100% Nghị quyết Hội đồng nhândân tỉnh (chỉ tiêu Đại hội XIII là 54.000 tấn)”[51, tr.3] Chương trình khaithác hải sản xa bờ ở tỉnh Khánh Hòa đã giải quyết việc làm cho hơn 400 laođộng trực tiếp khai thác trên biển, cùng nhiều gia đình và một số lớn lao độnglàm dịch vụ Sự có mặt tàu thuyền trong Chương trình khai thác hải sản xa bờcủa tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh ở vùng biển Đông và Trường Sa khẳng địnhchủ quyền vùng biển, hạn chế tàu thuyền nước ngoài khai thác trộm hải sảnvùng đặc quyền kinh tế của nước ta
Trang 17Nuôi trồng thủy sản: Tôm sú là đối tượng phát triển khá nhanh, “năm
1988 có 627 ha với sản lượng 70 tấn, năm 1999 là 4.536 tấn, năng suất bìnhquân khoảng 0,8 tấn/ha/năm Đến tháng 4/2000 toàn tỉnh có 4.803,80 hachuyên nuôi tôm, tổng sản lượng đạt 7.400 tấn, năng suất bình quân đạt trên1,5 tấn/ha/năm” [51, tr.3] Khánh Hòa vừa là nơi có phong trào tôm sú đẻ đầutiên ở miền Nam vừa là nơi cung cấp giống nhiều nhất cho cả nước Bên cạnh
đó nuôi biển cũng được nhân dân quan tâm như nuôi cá mú, tôm hùm…nhưng phong trào nuôi tôm hùm phát triển mạnh hơn cả “Đã có 820 hộ sốngbằng nghề nuôi tôm hùm Tổng sản lượng nuôi tôm hùm trên biển bằng lồngnăm 2000 là 790 tấn mang lại nguồn lợi cao” [51, tr.4] Sở Thủy sản KhánhHòa quan tâm đến nuôi nhuyễn thể như ngao, sò huyết… và coi chúng là đốitượng xóa đói giảm nghèo cho ngư dân nghề cá nhỏ ven bờ
Chế biến thủy sản: Thời kỳ 1996-2000, mặc dù thị trường Châu Á biếnđộng nhưng ngành thủy sản đã hoàn thành kim ngạch xuất khẩu đạt 311.482triệu, tốc độ bình quân 8% “Trong năm 1999-2000 các doanh nghiệp tậptrung nâng cấp và xây dựng mới với tổng kinh phí hơn 60 tỷ đồng, trong đóF17 được xét đề nghị cấp giấy phép xuất khẩu hàng thủy sản vào liên minhchâu Âu” [51, tr.5] Nhưng vấn đề khó khăn nhất hiện nay là bố trí mặt bằngcác doanh nghiệp thuộc diện di dời ra khỏi thành phố Nha Trang chưa đượctriển khai, mặt khác có một số doanh nghiệp đã đầu tư cho hệ thống xử lýnước thải đạt kết quả tốt, nhưng vẫn còn một số doanh nghiệp khác chưa triểnkhai hệ thống nước thải đạt yêu cầu
Dịch vụ hậu cần: Năm 1998, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định thànhlập công ty quản lý Cảng cá Khánh Hòa Các bến cá hiện tại được nâng cấp:
Cù Lao, Vĩnh Trường Cảng cá Hòn Rớ bước đầu được hình thành, khu côngnghiệp chế biến thủy sản Bắc Hòn Ông (Nha Trang), khu nuôi tôm theochương trình 773 như ở Lệ Cam-Hang Dơi (Ninh Hòa), Cam Lập (Cam
Trang 18Ranh), hệ thống các đại lý thức ăn, thuốc cho tôm cá, dịch vụ đóng, sửa chữatàu thuyền vỏ gỗ hình thành.
Yến sào là nguồn lợi quý hiếm mà thiên nhiên ưu đãi cho Khánh Hòa
đã thực sự tham gia vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh
“Sản lượng hàng năm ngày càng ổn định từ 2000-2050 kg với giá trị khoảng3-3,2 triệu USD” [51, tr.5]
Nhìn chung sau những năm đổi mới, ngành thủy sản Khánh Hòa đã ứngdụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào nuôi trồng thủy sảndẫn đến chất lượng và giá trị các sản phẩm trong xuất khẩu ngày càng cao.Mặt khác nuôi trồng thủy sản đã đóng góp đáng kể vào việc chuyển đổi cơcấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ gia đình, hạnchế đánh bắt ven bờ, góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái Tuynhiên trong lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản vẫn còn mangtính tự phát, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái nếu không tiếnhành quy hoạch tổng thể Trong khai thác nuôi trồng thủy sản cần gắn liền vớibảo vệ nguồn lợi thủy sản, gắn nhiệm vụ kinh tế với an ninh trên biển Bêncạnh đó, một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản chưađược cụ thể hóa hoặc chưa ban hành kịp thời
Trang 19biển như : khu du lịch Đảo Trí Nguyên và Thủy Cung (Nha Trang); khu du lịchHòn Lao, Hòn Thị, Hòn Hèo trong đầm Nha Phu (Ninh Hòa) ; khu du lịch DốcLết (Ninh Hòa); khu du lịch Hòn Tằm (Nha Trang )…
Đặc biệt trong những năm 1998-1999, du lịch biển được đầu tư nhiềunhất, 23,891 tỷ đồng Do được đầu tư lớn nên các chỉ tiêu về hoạt động kinhdoanh du lịch biển Khánh Hòa có chiều hướng tăng trưởng khá: “Lượt kháchđến năm 2000 tăng so với năm 1996 là 200%, trong đó khách quốc tế tăng37% ; tổng doanh thu năm 2000 tăng so với năm 1996 là 51% ; chỉ số chi tiêunăm 2000 tăng so với năm 1996 là 9%” [51, tr.10] Đã hình thành được ngành
du lịch biển bao gồm nhiều khu du lịch trải dài theo các vịnh, đầm của Tỉnhvới nhiều hình thức dịch vụ du lịch khá phong phú như du lịch sinh thái, dulịch nghỉ dưỡng , tạo điều kiện cho du lịch biển Khánh Hòa phát triển
Tuy nhiên tiềm năng du lịch biển phát triển nhưng chưa tương xứng vớikhả năng của Tỉnh Cơ chế chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ du lịch biển chưa theo kịp yêu cầu tăng trưởng kinh tế Tiến
độ đầu tư các dự án du lịch biển trên một số địa bàn còn chậm Vấn đề ônhiễm môi trường nước biển và bờ biển Nha Trang chưa được giải quyết triệt
để Nguồn nhân lực của ngành du lịch còn thiếu và yếu đặc biệt về trình độngoại ngữ như tiếng Pháp, tiếng Đức Bên cạnh đó Khánh Hòa đang đứngtrước những thách thức cạnh tranh rất mạnh từ các tỉnh lân cận như BìnhThuận, Hội An-Quảng Nam, từ các quốc gia trong khu vực có kinh nghiệm vàthương hiệu du lịch như Thái Lan, Indonesia Chính điều này đòi hỏi tỉnhKhánh Hòa cần có những chủ trương, chính sách thúc đẩy kinh tế du lịch biểnphát triển để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh
Ngành giao thông vận tải biển
Vùng biển Khánh Hòa nằm gần đường hàng hải quốc tế (vịnh CamRanh chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển) nên có nhiều điều kiệnphát triển giao thông biển Khánh Hòa có nhiều vũng vịnh đều là những vịnhnước sâu, tương đối kín gió, thuận lợi cho xây dựng cảng nước sâu đón tàu
Trang 20trọng tải lớn Khánh Hòa có 3 cảng biển quốc tế: cảng Nha Trang, Ba Ngòi,Đầm Môn ngoài ra còn có các cảng Hải quân, cảng Hòn Khói tham gia bốcxếp hàng hóa nhập khẩu trong và ngoài nước Cảng Nha Trang có năng lựcbốc xếp lớn nhất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa: “Độ sâu trước bến từ 8,5-9 mphù hợp cho tàu có trọng tải đến 20.000 tấn cập cầu bốc xếp; sản lượng hànghóa thông qua cảng bình quân hàng năm (1996-2000) 484.000 tấn/năm; sảnlượng hàng hóa thông qua cảng năm 2000 là 550.000 tấn” [51, tr.7] Ngoài rahàng năm cảng còn tiếp đón khách du lịch Cảng Ba Ngòi có sản lượng hànghóa thông qua hàng năm khoảng 920.000 tấn/năm.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, những năm gần đây du lịch biển pháttriển đã mở ra nghề vận tải phục vụ du lịch biển
Năm 1997, tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam và tập đoànHyundai của Hàn Quốc đã liên doanh cho ra đời nhà máy sửa chữa và đóngmới tàu Hyundai-Vinashin Cũng thời điểm này, xí nghiệp đóng tàu KhánhHòa đã sáp nhập vào tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
Ngoài ra trên địa bàn của Tỉnh còn có các xưởng đóng vỏ tàu gỗ củacác hợp tác xã và xưởng đóng tàu vỏ composit của đơn vị đào tạo Trung ươngđóng trên địa bàn
Tuy vậy những năm gần đây, tập đoàn Vinashin không đáp ứng đượcyêu cầu phát triển ngành công nghiệp đóng tàu, ngày càng thua lỗ, dẫn đến sựsụp đổ Đây là thách thức lớn đối với công nghiệp đóng tàu nói chung và ởKhánh Hòa nói riêng
Khánh Hòa là tỉnh có tiềm năng phát triển vận tải đường biển nhưngchưa phát huy được lợi thế so với các nước trong khu vực Các bến còn đơn
sơ, sự quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với tàu thuyền đường thủy thamgia kinh doanh khách du lịch và dịch vụ chưa chặt chẽ ảnh hưởng đến trật tự
an ninh trên biển
Từ sau ngày giải phóng cho đến năm 1989, Khánh Hòa là một bộ phậncủa tỉnh Phú Khánh Cũng như cả nước, Khánh Hòa rơi vào cuộc khủng
Trang 21hoảng kinh tế-xã hội Nền kinh tế vận hành theo cơ chế cũ kém hiệu quả, mấtcân đối, không phát huy được nguồn lực của Tỉnh Kinh tế biển lúc đó chỉ cóngành khai thác thủy sản-được xem là chủ đạo của Tỉnh, song không phát huyđược vai trò mũi nhọn, hiệu quả kinh tế thấp Bên cạnh đó, ngư trường, nguồntài nguyên biển chưa được bảo vệ tốt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến bảo vệnguồn lợi hải sản sau này.
Sau gần 7 năm tái lập tỉnh, Khánh Hòa đã tiến hành Đại hội Đảng bộlần thứ XIII nhiệm kỳ 1996-2000 Từ đây đường lối phát triển kinh tế-xã hộicủa tỉnh được vạch ra một cách cụ thể và đúng đắn theo đường lối đổi mớiphát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Nền kinh tế của Tỉnh có bước khởisắc Đến cuối năm 2000, các ngành kinh tế biển (thủy sản và du lịch biển) đãkhẳng định được vai trò mũi nhọn của mình trong nền kinh tế của Tỉnh Nuôitrồng đánh bắt thủy sản phát triển mạnh, “diện tích nuôi trồng đến năm 2000
là 7000 ha, tăng 2 lần so với năm 1995, giá trị xuất khẩu tăng bình quân hàngnăm là 11,6%” [12, tr.69]
Du lịch là một trong những thế mạnh của Tỉnh từng bước phát triển đadạng các loại hình, nhất là khai thác du lịch biển đảo, du lịch sinh thái tiếp tụctăng cường cơ sở vật chất, doanh thu du lịch tăng bình quân hành năm 17,4%
Trước năm 2001 kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa có bước phát triểnđáng kể, đang phát huy vai trò to lớn trong nền kinh tế của Tỉnh, đã giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động, cơ cấu hạ tầng cơ sở bước đầuhình thành, các thành phần kinh tế xã hội đã kết hợp tốt với quốc phòng-anninh, nhiều đảo xa đất liền đã có lưới điện quốc gia Đó là những tiền đề vôcùng quan trọng để Tỉnh tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế biển trong nhữngnăm tiếp theo
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005
Trang 221.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001-2005
Chương trình kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005 và2006-2010 xác định kinh tế biển là sự tổng hợp của ba ngành kinh tế: kinh tếthủy sản, du lịch biển, giao thông vận tải biển
Từ đường lối chỉ đạo chung của Đảng và Nhà nước cùng với nhữngthành tựu đã đạt được trong phát triển kinh tế của tỉnh Khánh Hòa trước năm
2001, Đảng bộ tỉnh đã chú trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế biển từ năm2001-2005
Quán triệt Nghị quyết 03-NQ/TW của Bộ Chính trị về nhiệm vụ kinh tếbiển và Chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế biển đảo,Tỉnh ủy đã xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV(2001-2005) về phát triển kinh tế biển, Tỉnh ủy đã xác định Chương trình kinh
tế biển tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005 là một trong những chương trìnhkinh tế -xã hội trọng điểm của Tỉnh
Phấn đấu đạt tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa kinh tế biển so với tổngsản phẩm nội địa toàn tỉnh giai đoạn đến năm 2005 là 20-30%, đến năm 2010
là 30- 40% Giải quyết việc làm cho 200.000 người” [40, tr.2]
Trang 23Phát triển mạnh một số ngành kinh tế biển quan trọng như giao thôngvận tải biển, thủy sản, du lịch và dịch vụ biển tạo thành một số ngành mũinhọn, có kỹ thuật công nghệ hiện đại, có giá trị xuất khẩu lớn (trong đó lấyxuất khẩu thủy sản làm trọng tâm) ổn định, đủ sức đứng vững, cạnh tranh trênthị trường quốc tế Dự kiến kim ngạch xuất khẩu của kinh tế biển đến năm
2005 chiếm 55%- 56% kim ngạch xuất khẩu của Tỉnh
Đầu tư phát triển đồng bộ và từng bước hiện đại hóa cơ sở hạ tầng chocác trung tâm kinh tế biển Các trung tâm này vừa là cửa ngõ thông ra nướcngoài, vừa làm bàn đạp để vươn ra khai thác biển khơi Hình thành các khucông nghiệp, khu du lịch ven biển trên một số đảo Từng bước xây dựng vùngven biển thành vùng kinh tế phát triển nhanh và sôi động của Tỉnh, là môitrường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Đổi mới cơ cấu kinh tế vùng biển và ven biển theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa Tăng cường khai thác thế mạnh và tiềm năng trên địa bàn, phát triểntoàn diện kinh tế biển đi đôi với ưu tiên một số ngành và sản phẩm mũi nhọn
Phương hướng chung:
Xây dựng Khánh Hòa trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển trên cơ
sở hoàn thành tốt Chương trình kinh tế biển của Tỉnh
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát và phương hướng chung, Đảng bộ vànhân dân tỉnh Khánh Hòa đã tập trung nguồn lực khai thác và phát huy hiệuquả những tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế biển, nhất là trong lĩnh vựcthủy sản; du lịch biển, đảo; giao thông vận tải biển với cơ cấu ngành nghềphong phú và từng bước hiện đại Chương trình kinh tế biển của Tỉnh ngàycàng được hình thành rõ nét tạo nền tảng cho giai đoạn tiếp theo
Giải pháp:
Để Khánh Hòa thực sự trở thành một tỉnh mạnh về kinh tế biển, Tỉnh
ủy xác định những giải pháp sau:
Trang 24Quy hoạch diện tích nuôi trồng thủy sản, quy hoạch du lịch tuyến biểnđảo; quy hoạch các bến đò thành thể thống nhất, các yếu tố này hỗ trợ vớinhau để kết hợp phát triển kinh tế với giữ vững quốc phòng, an ninh biển đảo.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lựa chọn để nhanh chóng áp dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật vào kinh tế biển, xây dựng các cơ chếkhuyến khích nghiên cứu những ứng dụng khoa học, có những chính sách ưuđãi về vốn, về thuế để các cơ sở sản xuất áp dụng, chuyển giao nghệ mới đặcbiệt là công nghệ sinh học
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về nguồn lợi thủy sản,môi trường sinh thái, tăng cường công tác quản lý, kiên quyết xử lý nghiêmminh những hành vi làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, duy trì kếhoạch hàng năm thả tôm giống, cá giống ra biển để tái tạo nguồn lợi, có kếhoạch khôi phục rừng ngập mặn, thực hiện tốt dự án thí điểm khu bảo tồnbiển Việt Nam
Tăng cường công tác quản lý biển, lực lượng dân quân tự vệ biển, bốtrí các công trình, các điểm dân cư đáp ứng nhu cầu dân sinh và quốc phòngthời bình và thời chiến; đầu tư thỏa đáng cho các lực lượng làm nhiệm vụquản lý biển, đảo về trang bị tàu thuyền, thông tin liên lạc Khuyến khích cácthành phần kinh tế đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế biển; ban hànhcác chính sách đãi ngộ để thu hút nhân tài và khuyến khích cán bộ công táclập nghiệp lâu dài ở hải đảo
Gắn thực hiện Chương trình kinh tế biển với các chương trình kinh
tế-xã hội khác: như chương trình phát triển kinh tế du lịch; chương trình sản xuấthàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; chương trình nuôi trồng thủy sản; chươngtrình kiên cố hóa kênh mương; chương trình xanh-sạch-đẹp-văn minh;chương trình phát triển miền núi và hải đảo và dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bảođảm tính đồng bộ, hài hòa và tiết kiệm vốn đầu tư
Trang 25Từ mục tiêu tổng quát, phương hướng chung, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòaxác định quan điểm phát triển kinh tế biển cho từng ngành trong Chương trìnhkinh tế biển giai đoạn 2001-2005.
Đối với ngành thủy sản
Phát huy lợi thế của các vùng nước lợ, mặn, tiềm lực về lao động, khảnăng hợp tác quốc tế, khả năng kết hợp nông-lâm-ngư-thủy lợi và du lịch đểđẩy mạnh sản xuất nhằm đảm bảo nhu cầu thực phẩm cho nhân dân
Tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu để tăng cường tích lũy nội bộ ngành,
mở rộng năng lực sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuậtxương sống của ngành, nộp nghĩa vụ Nhà nước ngày một nhiều hơn
Nghề cá nhân dân được coi là động lực chủ yếu phát triển nghề cá.Lựa chọn công nghệ mới thích hợp để mở rộng thị trường tiêu thụnhiều mặt hàng chất lượng cao chóng thu hồi vốn, có nhiều lợi nhuận, nhanhchóng nâng cao đời sống người dân lao động
Xây dựng kinh tế xã hội vùng biển, hải đảo trở thành vùng phát triểnnăng động, thúc đẩy các vùng trong cả tỉnh phát triển, đồng thời trở thành nơithu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường khả năng hợp tác và đấu tranh giữvững an ninh quốc phòng Từng bước xây dựng đô thị hiện đại, nông thôn vàhải đảo văn minh, cơ sở hạ tầng trình độ sản xuất phát triển đời sống nhân dânđược cải thiện rõ rệt
Mục tiêu cụ thể của ngành thủy sản:
“Tập trung đưa công nghệ mới vào đánh bắt, nuôi trồng và chế biếnnhằm tăng hiệu quả kinh tế; chú ý quy hoạch diện tích đất làm muối một cáchphù hợp”[39, tr.1] Cải tạo, nâng cấp các cơ sở chế biến thủy sản đều đạt đượctiêu chuẩn ngành số 28TCN130/1998 Phấn đấu toàn tỉnh Khánh Hòa có ítnhất hai đơn vị đạt tiêu chuẩn của doanh nghiệp sản xuất hàng thủy sản vàothị trường liên minh châu Âu
Trang 26Đối với ngành du lịch biển
Phát triển du lịch biển phải gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia
là nhiệm vụ của các cấp các ngành, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân
Phát triển du lịch biển để khai thác nguồn lợi tự nhiên trên biển nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan giải trí nghỉ dưỡng để phục hồi sức khỏe của nhândân và khách du lịch quốc tế góp phần làm giàu cho nền kinh tế của Tỉnh
Phát triển du lịch phải gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, bồi đắp
và làm giàu thêm nguồn tài nguyên biển
Phát triển du lịch biển để góp phần đưa ngành du lịch của tỉnh nhà trởthành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới
Mục tiêu của ngành du lịch biển:
Ngành du lịch phối hợp với ngành thủy sản, giao thông vận tải, quốcphòng- an ninh để phát triển kinh tế biển trở thành ngành kinh tế trọng điểmcủa Tỉnh Giai đoạn 2001-2005 phát triển khu du lịch cụm đảo phía Bắc- đầmNha Phu và cụm đảo phía Nam vịnh Nha Trang thành một tổ hợp du lịch sinhthái mạnh nhất của Tỉnh
Đối với ngành giao thông vận tải biển
Mục tiêu của ngành giao thông biển:
Cùng với ngành giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, hàng khôngcủa Trung ương trên địa bàn tỉnh, tạo ra một hệ thống giao thông vận tải đồng
bộ và liên thông có khả năng thỏa mãn mọi nhu cầu xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế-xã hội của Khánh Hòa
Trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành giao thông vận tảicần phải đào tạo và đào tạo lại các loại nhân lực có khả năng tiếp nhận và sửdụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến trên thế giới
Giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động trên các lĩnhvực ngành nghề: Bốc xếp, vận tải biển và đường thủy, các dịch vụ hàng hải,các đơn vị cơ khí
Trang 27Xây dựng và cải tạo, nâng cấp một số cảng biển của Tỉnh có trang thiết
bị hiện đại, phù hợp giữa hệ thống hạ tầng cơ sở với trình độ quản lý cán bộ
và công nhân điều hành trong cả nước
Phát triển công nghiệp đóng tàu biển, tàu du lịch, tàu cá bằng vật liệumới, nâng cấp các bến đường thủy ở các huyện đảo vừa phục vụ dân sinh, vừamang tính phòng thủ chiến lược
Tăng cường quản lý của Nhà nước đối với giao thông vận tải biển theoNĐ40/CP, Chỉ thị 454-TTg của Thủ tướng Chính phủ Đồng thời bảo đảmquốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền lợi ích quốc gia trên biển
Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình thực tiễn của Tỉnh, Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa đã đề ra Chương trình phát triển kinh tế biển những năm tiếp theo
là hoàn toàn xát với thực tiễn Đây cũng là nền tảng để Đảng bộ tỉnh KhánhHòa chỉ đạo phát triển kinh tế biển
1.2.2 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo phát triển kinh tế biển từ năm 2001 đến năm 2005
Thực hiện Chỉ thị 20/CT-TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về đẩymạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tỉnh
ủy Khánh Hòa nhiệm kỳ 13 đã có Chương trình phát triển kinh tế thủy sảnđến năm 2000 và một số dự án phát triển Du lịch biển và Giao thông vận tảibiển Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 20/CT-TW ở giai đoạn mới, Tỉnh ủyKhánh Hòa nhiệm kỳ 14 ra Nghị quyết xây dựng Chương trình kinh tế biểncủa tỉnh giai đoạn 2001-2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có côngvăn số 292/UB ngày 21/2/2001 chỉ đạo Sở Thủy sản Khánh Hòa chủ trì phốihợp với các ngành để xây dựng Chương trình kinh tế biển của Tỉnh
Triển khai công văn trên, Sở Thủy sản đã thành lập Ban nội dung để xâydựng Chương trình kinh tế biển Ngày 26/4/2001 Sở Thủy sản tổ chức hội nghịlần 1 để đóng góp ý kiến bổ sung cho dự thảo gồm đại biểu các sở ban ngànhliên quan: Sở Thủy sản, Sở Thương mại-Du lịch, Sở Giao thông vận tải, Bộ chỉhuy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Ngày 7/2/2001 Sở Thủy sản tổ
Trang 28chức hội nghị lần 2 để đi đến đóng góp ý kiến hoàn chỉnh cho dự thảo gồm đạidiện lãnh đạo sở ban ngành, các đơn vị Ngày 12/7/2001, Tỉnh ủy Khánh Hòanhiệm kỳ 14 đã ban hành Nghị quyết số 124/2001/NQ-HĐND về Chương trìnhphát triển kinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005
Sau khi có Nghị quyết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, các ngành,các cấp đã tổ chức quán triệt và đề ra các chương trình, kế hoạch, biện phápphát triển các ngành kinh tế biển
Ngành thủy sản
Khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản: Tỉnh ủy Khánh Hòa đã chỉ đạothực hiện những biện pháp cụ thể để khuyến khích, phát triển lĩnh vực khaithác thủy sản như: tích cực hỗ trợ phát triển nghề khai thác xa bờ thể hiện ởviệc tạo cơ chế phối hợp với ngân hàng để ngư dân vay vốn, đào tạo bồidưỡng thuyền máy trưởng, tập huấn bảo quản sau thu hoạch, ký hợp đồngđóng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm cho thuyền viên, chuyển hướngsản xuất từ hướng sản lượng sang hướng giá trị
Thực hiện Chương trình khai thác thủy sản xa bờ của Chính phủ và sựchỉ đạo của Bộ thủy sản, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Thủy sản cùngphối hợp với các địa phương và các ban ngành liên quan xây dựng các dự ánđầu tư đóng mới và cải hoán tàu thuyền đánh bắt hải sản xa bờ trong toàntỉnh Sở Thủy sản đã phối hợp với Tổng công ty hải sản Hạ Long đưa đội tàugồm 6 chiếc của ngư dân đi khai thác thử nghiệm tại Brunei
Qua đầu tư Chương trình khai thác hải sản xa bờ, mặc dù còn nhữngkhiếm khuyết, tuy nhiên ngoài lợi ích quốc gia bảo vệ lợi ích về quốc phòng,
an ninh trên biển, còn đóng góp định hướng quan trọng và rút ra bài học chongư dân về trình độ khai thác khơi, về lựa chọn nghề, về ngư trường, chọn đốitượng khai thác cá ngừ đại dương, về cách tổ chức khai thác theo hướng côngnghiệp Sản lượng khai thác hải sản tăng liên tục từ năm 2001 đến năm 2005,năm 2005 gấp gần 1,06 lần sản lượng năm 2001
Trang 29Chương trình khuyến khích đầu tư thuyền công suất lớn khai thác xa bờgắn với dịch vụ hậu cần trên tuyến khơi được đẩy mạnh có tác dụng tích cực
Hoạt động bảo vệ và tái tạo nguồn lợi được đẩy mạnh, tăng cường côngtác kiểm ngư, đăng kiểm tàu cá, tuyên truyền, giáo dục ngư dân thực hiệnpháp lệnh bảo vệ nguồn lợi và Chỉ thị 01/1998/CT-TTg ngày 2/1/1998 củaThủ tướng Chính phủ Tình trạng sử dụng chất nổ, xung điện, sử dụng hóachất độc hại giảm so với năm 2000 Đã triển khai 2 dự án của các tổ chức phichính phủ (NGOs) về bảo vệ đa dạng sinh học: Khu bảo tồn biển Rạn Trào(Vạn Ninh) của IMA và khu bảo tồn biển Hòn Mun của IUCN
Ngành khai thác thủy sản là ngành sản xuất có sức thu hút, khơi dậy
và phát huy nội lực của các thành phần kinh tế, thoát ly đời sống bao cấp,vươn lên từ ý thức tự lực tự cường, góp phần cải thiện và nâng cao đờisống ngư dân vùng ven biển và hải đảo.Tuy vậy, nguồn lợi thủy sản ven bờvẫn chịu áp lực lớn do số lượng tàu thuyền khai thác ven bờ không giảm;tình hình giã cào, giã nhụi sai tuyến vẫn còn diễn ra, việc sắp xếp, chuyểnđổi hợp lý cơ cấu thuyền nghề ven biển trong thực tế đang gặp khó khăn doliên quan trực tiến đến việc giải quyết các vấn đề bức xúc vế đời sống củangư dân, giá vật tư, nguyên, nhiên liệu tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả sản xuất của ngư dân
Nuôi trồng thủy sản: Ngành nuôi trồng thủy sản của Tỉnh mới pháttriển trong những năm gần đây, song mang lại kết quả rất khả quan Nuôitrồng thủy sản là một trong những hình thức làm kinh tế được chính quyền địaphương quan tâm, đầu tư vì nó góp phần đa dạng hóa các loại hàng hóa từbiển, giải quyết nhu cầu việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân, mặt khác, gópphần cân bằng, làm giảm khả năng khai thác nguồn lợi biển Thực hiệnChương trình phát triển nuôi trồng thủy sản trong năm 2001-2005, ngành thủysản Khánh Hòa đã triển khai các dự án: khu nuôi tôm công nghiệp tại xã CamThịnh Đông (Cam Ranh); khu nuôi tôm công nghiệp Dốc Đá Trắng (Vạn Ninh);khu trại giống hải sản sông Lô (Nha Trang); đường vào vùng sản xuất kiểm định
Trang 30tôm sú giống Cam Lập (Cam Ranh); cảng cá Hòn Rớ; và sẽ tiếp tục đầu tư triểnkhai trong những năm tiếp theo Cùng với việc đưa khu nuôi tôm công nghiệpCam Thịnh Đông (Cam Ranh) và Dốc Đá Trắng (Vạn Ninh) vào hoạt động đểphát huy lợi thế và tạo bước phát triển nhảy vọt trong nuôi trồng thủy sản trênđịa bàn toàn tỉnh, nhất là nghề sản xuất tôm sú thịt và tôm giống Ngành Thủysản Khánh Hòa đã phối hợp với các Sở thủy sản các tỉnh Nam Trung Bộ tăngcường quản lý chất lượng tôm sú giống để ngư dân có con giống tốt phục vụnuôi tôm thịt đạt hiệu quả đồng thời luôn quán triệt cho ngư dân là đi đôi vớinuôi trồng thủy sản phải biết bảo vệ nguồn lợi và môi trường sinh thái.
Ngoài nuôi tôm sú, tôm hùm ngư dân ven biển Khánh Hòa đã triển khaiứng dụng khoa học công nghệ mới vào nuôi nhuyễn thể, rong sụn và các đốitượng có giá trị kinh tế khác để giải quyết xóa đói giảm nghèo ở nông thônvùng biển và làm nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho các nhà máy chếbiến trên địa bàn toàn Tỉnh
Mặc dù Khánh Hòa nằm trong vùng sinh thái đa dạng và thuận lợi chophát triển các loại hình nuôi trồng hải sản, nhưng thực tế nuôi trồng trong nămqua 2001-2005 cho thấy nghề nuôi trồng chưa đa dạng, không gian nuôi chỉ bóhẹp vào dải đất ngập mặn ven biển với hệ thống ao nuôi chưa được quy hoạchđầy đủ, trong khi đó đối tượng nuôi và không gian mặt nước lớn ven biển khácchưa được khai thác sử dụng đúng với tiềm năng vốn có của chúng Đó cũng lànguyên nhân làm cho sản lượng nuôi trồng thủy sản của Tỉnh không cao
Chế biến thủy sản: Năm 2001, thị trường thủy sản thế giới có nhiềubiến động theo hướng bất lợi về thị trường và giá cả với các lý do khác nhau,đặc biệt là là hàng rào phi thuế quan như vấn đề Cloramphenicol, Nitrofurantrong hàng thủy sản vào liên minh châu  Trước những bất lợi của tình hìnhthế giới, Tỉnh ủy Khánh Hòa đã đầu tư nâng cấp mở rộng xây dựng các nhàmáy mới trong năm 2001 là 30 tỷ đồng, trong năm 2002 là 40 tỷ đồng
Trang 31Ngành chế biến thủy sản của Tỉnh đứng thứ 4 cả nước về kim ngạch xuấtkhẩu, chiếm 6,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam Từnăm 2001 đến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt 836 triệu USD
Bên cạnh đó, ngành chế biến thủy sản tiêu thụ nội địa cũng có nhiều đổimới Hầu hết các cơ sở chế biến trên địa bàn Tỉnh đã quan tâm nâng cao đổi mớichất lượng, đảm bảo yêu cầu vệ sinh và an toàn thực phẩm, nhiều mặt hàng thủysản phong phú về mẫu mã, mỹ thuật bao bì, được người tiêu dùng ưu chuộng và
có uy tín ngày càng cao trên thị trường Đánh dấu được bước tiến quan trọngtrong công cuộc đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kết cấu hạ tầng phục vụ nghề cá: Trong những năm qua, với mụctiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá địa phương, Tỉnh đã chú trọngđến công tác xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nghề cá Một loạt các côngtrình cảng cá, các khu chợ, bến bãi, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống báohiệu an toàn hàng hải… đã được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng baogồm khu dân cư Hòn Rớ, cảng cá Hòn Rớ kết hợp với chợ cá miền Trung,khu công nghiệp chế biến thủy sản Bắc Hòn Ông, đầu tư nâng cấp các cảng
cá Hòn Khói, Đá Bạc và bến cá Cam Lập (Cam Ranh) “Tổng số vốn thựchiện là 36 tỷ đồng, so với kế hoạch giai đoạn 2001-2005 là 559 tỷ đồng, đạt18% kế hoạch” [57, tr.6]
Ngành du lịch biển
Người ta vẫn thường nói rằng: du lịch là ngành công nghiệp không khóihay là “con gà đẻ trứng vàng” Điều đó chứng tỏ rằng du lịch được đánh giárất cao Từ sau thời kỳ đổi mới, ngành du lịch của Việt Nam đã được chú ýphát triển là ngành kinh tế trọng điểm của đất nước Chiến lược biển ViệtNam đến năm 2020 đã nhấn mạnh mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc giamạnh về biển, làm giàu về biển, trong đó xác định phương thức khai thác tàinguyên kiểu mới, đảm bảo phát triển đồng bộ và bền vững, đặc biệt góp phầnđưa các sản phẩm văn hóa du lịch từ biển của chúng ta có sức cạnh tranh
Trang 32trong khu vực và quốc tế rộng, đưa Việt Nam cùng thế giới chủ động bướcvào “Thế kỷ của đại dương”.
Thực hiện Quyết định số 301/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày22/4/2002 về phê duyệt định hướng quy hoạch chung khu vực vịnh VânPhong, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 Trong đó có một số nội dung quantrọng về du lịch: Khu du lịch Hòn Gốm là trung tâm du lịch toàn khu vực, dulịch sinh thái có quy mô diện tích khoảng 3.000 ha; khu du lịch Đại Lãnh làkhu du lịch nghỉ mát biển và núi, quy hoạch khoảng 100 ha
Quyết định số 194/2005/QĐ/TTg ngày 4/8/2004 của Thủ tướng Chínhphủ về đề án phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch khu vựcmiền Trung-Tây Nguyên trong đó Nha Trang được xác định là trung tâm dulịch của các tỉnh từ Bình Định đến Bình Thuận
Tỉnh ủy Khánh Hòa với quan điểm tận dụng các điều kiện tự nhiênthuận lợi, cơ sở hạ tầng hiện có để đầu tư phát triển du lịch nói chung, du lịchbiển, đảo nói riêng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào
sự phát triển bền vững về kinh tế của Tỉnh Ngày 27/6/1995, Ủy ban nhân dântỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 1800/QĐ-UB về điều chỉnh quyhoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020
Tỉnh Khánh Hòa đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để mở rộng quy mô,loại hình kinh doanh ở các điểm du lịch tuyến biển đảo, ban hành một sốchính sách kêu gọi đầu tư để tập trung xây dựng một số dự án lớn: Làng dulịch Bãi Trũ, Khu du lịch Dốc Lết, khu du lịch Hòn Tằm; xây dựng các vùngthen chốt Đại Lãnh, Hòn Gốm Tỉnh ủy Khánh Hòa đã có nhiều chính sáchkhuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển dulịch nói chung, du lịch biển nói riêng; cơ sở hạ tầng phục vụ cho kinh tế dulịch được xây dựng khá đồng bộ; hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc và hệthống khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế Đặc biệt Khánh Hòa có các khu dulịch như Vinpearl Land, Yang Bay, Đảo Khỉ, Suối Hoa Lan…
Trang 33Ngành du lịch biển phối hợp với ngành thủy sản, giao thông vận tảibiển, quốc phòng-an ninh để phát triển kinh tế biển thành ngành kinh tế trọngđiểm của Tỉnh Phát triển du lịch biển gắn với bảo vệ chủ quyền, an ninh quốcgia là nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, của các tổ chức xã hội
và toàn thể nhân dân
Những năm qua du lịch biển đảo Khánh Hòa đã nắm lấy cơ hội, lợi thế
về du lịch tự nhiên và nhân văn gắn với du lịch biển thu hút ngày càng nhiềulượng khách du lịch trong và ngoài nước đến với vịnh Nha Trang
Ngành giao thông vận tải biển
Biển là một trong những huyết mạch giao thông chính đóng vai tròquan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân Khánh Hòa là tỉnh ven biển, độsâu của biển Khánh Hòa vào bậc nhất Việt Nam, tiếp giáp rất gần với đạidương và các đường hàng hải quốc tế Chính vì thế Khánh Hòa hội tụ nhiềuthuận lợi cho phát triển giao thông vận tải biển
Tỉnh tiếp tục chỉ đạo đầu tư xây dựng mới cảng Đầm Môn thành cảngkhách du lịch quốc tế có khả năng đón tàu trọng tải đến 20.000 tấn do Sở Dulịch và Thương mại làm chủ đầu tư Bên cạnh đó, tỉnh Khánh Hòa đẩy mạnhphát triển công nghiệp đóng tàu biển, tàu du lịch, tàu đánh cá bằng vật liệutruyền thống và vật liệu mới Dần dần từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng, nângcấp bến đường thủy nội địa ở các huyện và đảo, phục vụ du lịch dân sinhđồng thời mang tính phòng thủ chiến lược Tăng cường công tác quản lý củanhà nước đối với giao thông vận tải biển, bảo đảm quốc phòng-an ninh và bảo
vệ chủ quyền lợi ích quốc gia trên biển Tăng cường phổ cập tuyên truyềnpháp luật giao thông đường thủy tới chủ phương tiện và đào tạo bổ túc cấpbằng thuyền trưởng, máy trưởng các hạng mục cho khoảng 200 người theođúng quy định mới của Bộ giao thông vận tải Đồng bộ hóa hiện đại hóa cơ sởvật chất kỹ thuật quản lý điều hành ngành hàng hải bao gồm hệ thống rada,đèn biển, phao tiêu, cứu hộ, phát triển thông tin hàng hải trên biển và trên
Trang 34tuyến đảo phục vụ kinh tế, quốc phòng Nâng cấp, nạo vét các cảng Ba Ngòi,cảng Hòn Khói, cảng Nha Trang.
Do vị trí địa lý Vịnh Vân Phong cách hải phận quốc tế 14 km, gầnđường hàng hải Châu Âu-Bắc Á, Châu Úc và Đông Nam Á-Đông Bắc Á,thuận lợi phát triển cảng trung chuyển quốc tế, Tỉnh ủy Khánh Hòa dự kiếnxây dựng cảng Vân Phong trở thành cảng trung chuyển quốc tế mang tầm cỡkhu vực, với công suất thiết kế có thể sánh ngang với Hồng Công (17,9container hóa/năm)
Ngành công nghiệp đóng tàu của Khánh Hòa có khả năng đóng mới vàsửa chữa tàu trọng tải lớn phục vụ vận tải biển đang phát triển mạnh với 3 nhàmáy quy mô lớn là Nhà máy đóng tàu Nha Trang; Nhà máy đóng tàu CamRanh thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công nghiệp tàuthủy Nha Trang và Nhà máy tàu thủy Huyndai Vinashin từng hạ thủy nhữngcon tàu hàng chục nghìn tấn Hệ thống cảng biển bao gồm: Cảng hàng hóaquốc tế Ba Ngòi, cảng hàng hoá và du lịch quốc tế Cầu Đá, cảng hàng hóa nộiđịa Hòn Khói, cảng trung chuyển container quốc tế khu kinh tế Vân Phong,quân cảng Cam Ranh
Qua 5 năm (2001-2005) thực hiện Chương trình kinh tế biển của Tỉnh
đã thu được những kết quả đáng kể: “tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa củaChương trình kinh tế biển so với tổng sản phẩm nội địa toàn tỉnh là 57%, tốc
độ tăng trưởng bình quân của kinh tế biển là 20%” [57, tr.10] “Tổng sảnlượng khai thác thủy sản năm 2005 là 66.190 tấn các loại, đạt 83% so với kếhoạch của Chương trình kinh tế biển, sản lượng khai thác và nuôi trồng nộiđịa đạt 22.550 tấn các loại, so với kế hoạch của chương trình đề ra là 21.694tấn, đạt 104% Năm 2005, tổng công suất cảng biển trên địa bàn tỉnh là 3 triệutấn/năm, vượt 67% so với kế hoạch đề ra của chương trình Tổng doanh thu
du lịch biển trong năm 2005 là 550 tỷ đồng, đạt 390% so với kế hoạchchương trình đề ra (là 128 tỷ đồng) Đến năm 2005, toàn tỉnh có hơn 203.572
Trang 35lao động, trong đó số lao động được giải quyết công ăn việc làm từ Chươngtrình kinh tế biển hơn 200.000 người, vượt 11% so với Chương trình kinh tếbiển đề ra (là 180.000 người)”[57, tr.11-12].
*
* *Biển Khánh Hòa là một vùng biển có vị trí, vai trò chiến lược đối vớiquốc phòng và có tiềm năng kinh tế to lớn Với 9 đơn vị hành chính trực thuộc,trong đó Khánh Hòa có tới 6 đơn vị giáp biển, với địa thế “Lưng dựa núi, mặthướng ra biển” và với một vùng đất có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa,Khánh Hòa đang được coi là một vùng đất “Thiên thời- địa lợi- nhân hòa”, làtỉnh có tiềm năng to lớn trong sự phát triển kinh tế biển trong cả nước
Trong những năm gần đây, trước tình hình thế giới và khu vực hết sứcphức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ, sự giatăng dân số và hiện tượng cạn kiệt tài nguyên môi trường, đã tạo ra xu thếquốc tế chung là hướng ra biển, khai thác và làm giàu từ biển
Từ năm 2001 đến năm 2005, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã đánh giáđúng tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh trong phát triển kinh tế biển và đã đề rachủ trương, đường lối phát triển kinh tế biển của Tỉnh, phù hợp với tiềm năngcủa từng địa phương Trong đó, Đảng bộ đã đề ra các mục tổng quát và cụ thểcũng như phương hướng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực kinh tếphục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế biển của Tỉnh
Trên cơ sở chủ trương lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, Ủy ban nhân dântỉnh Khánh Hòa đã triển khai Chương trình kinh tế biển giai đoạn 2001-2005tới các địa phương, các ngành, các lĩnh vực kinh tế đảm bảo sự phát triểnđúng hướng Kết quả trong những năm từ 2001-2005, kinh tế biển của Tỉnh
đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: cơ cấu ngành tương đối đa dạng hơn trướcvới các ngành khai thác, nuôi trồng và bảo quản nguồn lợi hải sản, ngành dulịch biển, ngành giao thông vận tải biển, các ngành này đóng góp ngày càng
Trang 36lớn vào ngân sách của Tỉnh Ngành khai thác hải sản và du lịch biển đã vàđang khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế của tỉnh nhà Những thànhtựu đã đạt được về kinh tế biển đang tạo tiền đề cho sự phát triển của tỉnhtrong những năm tiếp theo.
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Yêu cầu mới về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển của Khánh Hòa trong những năm 2006-2010
Ngày nay, thế giới đang bước vào giai đoạn bùng nổ, phát triển mới với
xu hướng ngày càng khẳng định tầm quan trọng của biển và đại dương Tìnhtrạng khan hiếm nguyên liệu, năng lượng trở nên cấp thiết, dẫn đến cạnh tranhthị trường, tranh chấp lãnh thổ, xung đột quốc gia, dân tôc, tôn giáo liên tiếpxảy ra và ngày càng gay gắt Vươn ra biển và khai thác đại dương đã trởthành khẩu hiệu hành động mang tính chiến lược của toàn thế giới
Trang 37Cùng với xu thế chung của thế giới, Đại hội Đảng lần thứ X (4 2006)
đã đề ra chiến lược phát triển kinh tế-xã hội (2001- 2010), trong đó đặc biệt
đề cập đến kinh tế khu vực biển và hải đảo Đại hội khẳng định:
Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện cótrọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tếbiển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh và hợp tác quốc tế.Phát triển hệ thống cảng biển, vận tải biển, khai thác và chế biến dầu khí, hảisản, dịch vụ biển, đẩy nhanh công nghiệp đóng tàu biển và công nghiệp khaithác, chế biển hải sản Phát triển mạnh, đi trước một bước một số vùng kinh tếven biển và hải đảo” [18, tr.93]
Đại hội đưa ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong
5 năm 2006-2010 về kinh tế biển đó là:
Phát triển kinh tế biển vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành cólợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn vớibảo đảm quốc phòng an ninh và hợp tác quốc tế Hoàn chỉnh quy hoạch và pháttriển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biển, khai thác và chế biến dầukhí, khai thác và chế biến hải sản phát triển du lịch biển, đảo Đẩy mạnh ngànhcông nghiệp đóng tàu và phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ bổ trợ Hìnhthành một số hành lang kinh tế ven biển Nhanh chóng phát triển kinh tế-xã hội ởcác hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh [18, tr 225]
Đây là lần đầu tiên, chính sách phát triển kinh tế biển của nước ta đượcthể hiện một cách đầy đủ và toàn diện trong Văn kiện Đại hội Đảng
Ngày 9/2/2007, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa X đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về Chiến lược biển Việt Namđến năm 2020 Đây là Nghị quyết quan trọng có ý nghĩa vừa cơ bản, lâu dàivừa cấp thiết trước mắt, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước ta trong tìnhhình mới Nghị quyết đã đánh giá thực trạng quản lý và khai thác biển cũng
Trang 38như hiện trạng phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của Việt Nam, từ đóvạch ra định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 Nghị quyết đưa
ra 3 quan điểm chỉ đạo:
Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển trên cơ
sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biểnvới cơ cấu phong phú, hiện đại tạo ra tốc độ phát triển nhanh bền vững, hiệuquả cao với tầm nhìn dài hạn
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với đảm bảo an ninh quốc
tế và bảo vệ môi trường, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hảiđảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trườngbiển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa Phát huy đầy đủ, có hiệu quảcác nguồn lực bên trong, tranh thủ sự hợp tác quốc tế và thu hút các nguồn lực
từ bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước [19, tr.75 ]
Mục tiêu tổng quát: đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thànhquốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảm bảo vững chắc chủ quyền quốcgia trên biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước
Đây là chiến lược hết sức quan trọng, thể hiện bước chuyển biến tư duycăn bản, sự thay đổi tâm thế “đứng trước biển” chuyển sang “hướng ra biển”của cả một dân tộc trong thời kỳ hội nhập
Với sự ra đời của “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, KhánhHòa trở thành một trong những địa danh được Trung ương Đảng lựa chọ làm
mô hình thí điểm phát triển kinh tế biển và xây dựng các mô hình kinh tế quốc phòng trên biển Trong quá trình thực hiện Chiến lược phát triển kinh tếbiển, Khánh Hòa luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng,Nhà nước và các ban ngành Trung ương Đây vừa là một trọng trách nặng nề,
Trang 39-đồng thời cũng là một lợi thế của tỉnh Khánh Hòa trong quá trình lãnh đạophát triển kinh tế biển
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau
mà phát triển kinh tế biển ở Khánh Hòa những năm qua chưa thật ngang tầmvới tiềm năng, thế mạnh của Tỉnh Vì vậy, đẩy mạnh phát triển kinh tế biểnđang là một nhu cầu cấp bách, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới choquá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2006-
2010 Cụ thể là:
Phát triển kinh tế biển thực sự trở thành lĩnh vực mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hòa
Trong xu thế chung của thế giới, tất cả các quốc gia dù có biển hay không
có biển đều nhất loạt thực hiện chủ trương tiến ra biển để tìm kiếm các nguồn lợi
từ biển Khánh Hòa là một tỉnh với đầy đủ các điều kiện “Thiên thời-địa lợi-nhânhòa” trong lĩnh vực phát triển kinh tế biển Vì vậy, phát triển đảm bảo cho kinh tếbiển trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển của Tỉnh làmột yêu cầu khách quan Mặt khác, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hànhTrung ương Đảng khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, nhữngquan điểm chỉ đạo, mục tiêu và những định hướng chiến lược của Đảng và Nhànước đặt ra những yêu cầu mới để Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa tiếp tục lãnh đạo, chỉđạo phát triển kinh tế biển Thực tiễn quá trình triển khai thực hiện Chương trìnhkinh tế biển của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2001-2005 tuy đã đạt được nhữngthành tựu đáng khích lệ, nhưng chưa thực sự ngang tầm với tiềm năng, thế mạnhcủa Tỉnh Từ những đặc điểm tình hình và thực trạng trên, Nghị quyết Hội nghịlần thứ 5 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa khóa XV nhiệm kỳ 2005-
2010 đã khẳng định: “Đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hóa cơ sở hạ tầngcho các trung tâm biển, trước hết là các địa bàn trọng điểm Tận dụng lợi thế vịtrí của biển, hình thành các khu công nghiệp ven biển và trên một số đảo, từng
Trang 40bước xây dựng vùng ven biển thành vùng kinh tế phát triển nhanh và sôi độngnhất của tỉnh” [43,tr.1].
Hoàn thiện hệ thống chính sách đảm bảo đẩy mạnh phát triển kinh tế biển ở tỉnh Khánh Hòa
Đẩy mạnh phát triển kinh tế biển là một chủ trương đúng đắn của Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa, phù hợp với xu thế chung của thế giới, với quan điểm chỉđạo, định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng là mộtlĩnh vực kinh tế chiếm ưu thế nhất của tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, để chủtrương của Đảng bộ Tỉnh trở thành hiện thực, đòi hỏi phải có sự nỗ lực củanhiều ngành, nhiều cấp, với sự đoàn kết, thống nhất của toàn Đảng bộ và nhândân Khánh Hòa với những giải pháp đồng bộ, trong đó việc hoàn thiện hệthống chính sách, luật pháp là yêu cầu tiên quyết, nó tạo ra hành lang pháp lý
để chỉ đạo các ngành nghề kinh tế phát triển đúng hướng và tạo ra động lực đểcác thành phần kinh tế đầu tư, phát triển các hoạt động kinh tế biển Từ nhữngbài học rút ra trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế biển giaiđoạn 2001-2005 là cơ sở, nền tảng để Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo, chỉđạo các cấp, các ngành rà soát lại hệ thống chính sách và các quy định cụ thể,tránh sự thiếu hụt hoặc chồng chéo trong quản lý, tiếp tục đẩy mạnh phát triểnkinh tế biển giai đoạn 2006-2010 Mặt khác, các chính sách kinh tế-xã hộiphải thu hút và khuyến khích được các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân
cư đầu tư phát triển các ngành nghề trong lĩnh vực kinh tế biển
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ cho phát triển kinh tế biển
Kinh tế biển là lĩnh vực vừa rộng vừa đa dạng và đòi hỏi con ngườiphải có trình độ cao trong quá trình quản lý, thăm dò và khai thác các nguồntài nguyên đa dạng của biển cả Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ và thực tiễn ứng dụng công nghệ trong quản lý, tìm kiếm và khaithác tài nguyên trên biển của các nước trên thế giới những năm qua đã trởthành hiện thực Đây là một trong những yêu cầu khách quan đối với phát