Xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên
Trang 1MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương Du lịch sinh thái là loại hình khai thác tìm hiểu đa hệ sinh thái tự nhiên gồm: Đa hệ sinh thái động vật, thực vật, hệ sinh thái nhân văn của núi, của rừng, của hồ
Ở Việt Nam có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, khu du lịch Hồ Núi Cốc… đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền Nhưng việc quản lý và cải tạo các khu du lịch sinh thái ở nước ta vẫn chưa mang lại hiệu quả cao như mong muốn
Để có thể phát huy được tiềm năng du lịch sinh thái và đưa loại hình du lịch này phát triển mạnh mẽ thì việc chúng ta cần quan tâm hơn về chất lượng của loại hình du lịch này và những tác động của nó đến môi trường là vấn đề đang được nhà nước và các ban ngành rất quan tâm Vì cho đến hiện nay vấn đề quy hoạch du lịch sinh thái để mang lại hiệu quả cao mà không tác động nhiều đến hệ sinh thái tự nhiên vẫn chưa có được sự quan tâm đúng mực của xã hội
Tỉnh Phú Yên là một nơi có nhiều điểm du lịch hấp dẫn.Tuy nhiên còn chưa được phát hiện và khai thác hết tiềm năng Đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, có nhiều dự án đến,
và cuối cùng không được đầu tư Đây là vấn đề nan giải mà tỉnh phải tìm cho ra và
Trang 2khắc phục các điểm yếu của mình Để có thể khai thác hết tiềm năng du lịch và hạn chế những tác động xấu đến môi trường có thể xảy ra ở các tuyến điểm tỉnh Phú Yên thì việc giải quyết bài toán môi trường cũng như công tác quản lý không phải là chuyện ngày một ngày hai, do đó cần phải có sự phối hợp giữa các ban ngành nhất là ngành du lịch Cũng như ý thức của du khách và những cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch ở KDL ở Tỉnh Phú Yên
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên” để làm đề tài tốt nghiệp
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành thu thập số liệu về hiện trạng môi trường, các điểm, khu du lịch mà tỉnh hiện có
Quy hoạch, xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động DLST cho tỉnh
Đề xuất các giải pháp thực hiện và định hướng phát triển
Trang 3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Phát triển du lịch đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vệ sinh môi trường
Quy hoạch du lịch đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách để đảm bảo đầu tư, xây dựng có hiệu quả, chú trọng đến đầu tư chiều sâu, nâng cao chất lượng dịch vụ
Sử dụng nguồn lực một cách bền vững: bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội, nó sẽ giúp cho việc kinh doanh du lịch phát triển lâu dài
Duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa, xã hội là hết sức quan trọng cho du lịch bền vững và cũng là chổ dựa sinh tồn của ngành du lịch
Lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn
Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch
Phát triển DLST đảm bảo phát triển cân bằng ba mục tiêu: mục tiêu về kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường
Phương pháp cụ thể:
Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu
Tiến hành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu
Thống kê số liệu thực tế để phục vụ cho việc quản lý và tính thực thi của dự án
Trang 4Tổng hợp điều kiện tự nhiên, đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái, nghiên cứu phân vùng địa lý và đề xuất định hướng quy hoạch DLST
Phương pháp khảo sát thực địa
Là phương pháp thu nhập trực tiếp số liệu thông tin du lịch trên địa bàn thuộc đối tượng nghiên cứu
Lượng thông tin thu thập được đảm bảo sát với thực tế, có độ tin cậy cao, tạo cơ
sở để đề xuất những định hướng phát triển và giải pháp thực hiện hợp lý
Phương pháp cân đối kinh tế
Là phương pháp tính toán lập kế hoạch phát triển, dự báo hệ thống các chỉ tiêu
và thiết lập sự cân đối giữa cung và cầu về các mặt sau:
- Cân đối giữa tiềm năng tài nguyên du lịch và nhu cầu của du khách
- Cân đối giữa nhu cầu của du khách với khả năng cung ứng dịch vụ về cơ sở
hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
- Cân đối giữa nguồn vốn đầu tư cho xây dựng và phát triển du lịch
- Cân đối nguồn lao động du lịch
Trang 5- Phản ánh những đặc điểm không gian, sự phân bố các nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, các dòng du khách
- Là cơ sở để phân tích và phát hiện quy luật hoạt động của hệ thống lãnh thổ
du lịch, trên cơ sở đó đưa ra các định hướng phát triển và tổ chức hoạt động
du lịch trong tương lai
Sử dụng bản đồ đơn tính và tổng hợp cùng tỉ lệ nhằm nhìn nhận khách quan
về tự nhiên và sự phân hóa môi trường tự nhiên trong không gian dùng để vạch tuyến, cụm, điểm của du lịch sinh thái ở những vị trí địa lý khác nhau
Kết quả đạt được của đề tài
Hiểu rõ được hiện trạng phát triển du lịch và thực trạng của các dự án đầu tư du lịch của tỉnh Phú Yên
Đưa ra các định hướng, giải pháp xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên
Hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài : “ Xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên”
Kết cấu của đồ án tốt nghiệp
Luận văn Tốt nghiệp được chia thành 4 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa tỉnh Phú Yên Chương 2: Cơ sở khoa học nghiên cứu quy hoạch du lịch sinh thái
Chương 3: Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 4: Xây dựng các tuyến điểm du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 5 : Một số giải pháp và định hướng phát triển du lịch cho tỉnh Phú Yên
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA
TỈNH PHÚ YÊN 1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Phú Yên là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 12o42’36’’ đến
13o41’28’’ vĩ độ Bắc và từ 108o40’00’’ đến 109o27’47’’ kinh độ Đông có vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Bắc giáp tỉnh Bình Định;
Phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa;
Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc;
Phía Đông giáp biển Đông
Phú Yên có bờ biển dài 189 km, diện tích tự nhiên 5060 km2 gồm thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu và 7 huyện: Đồng Xuân, Tuy An, Sơn Hòa, Sông Hinh, Phú Hòa, Đông Hòa và Tây Hòa
Phú Yên nằm ở miền trung Việt Nam, cách Hà Nội 1.160km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 561km về phía nam theo tuyến quốc lộ 1A
Trang 7Hình 1.1 Bản đồ các huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Phú Yên
bề mặt cao nguyên bazan cổ như Sơn Hòa, Sơn Thành, Sông Hinh Trên các cao nguyên đất đỏ này còn sót nhiều nón núi lửa
Trang 8- Địa hình đồng bằng ven biển phân bố ở vùng cửa sông Đà Rằng, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ và sông Cái Đây là các dải đồng bằng hẹp tổng diện tích chừng 6.000ha có nguồn gốc sông – biển hỗn hợp
- Tiếp giáp với đồng bằng là những gò đồi, những cồn cát, đụn cát ở ven biển Giữa hai vùng này có những đầm phá, những vùng đất trũng Bờ biển dài khúc khuỷu,
có nhiều dải núi chạy sát ra biển, tạo thành các eo vịnh, đầm phá Dọc bờ biển có các cửa sông, lạch như các cửa: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, Tiên Châu (cửa sông Kỳ Lộ), Tân Quy (đầm Ô Loan), Đà Diễn (cửa sông Đà Rằng), Đà Nông (cửa sông Bàn Thạch) và cửa vịnh Vũng Rô Hai vịnh Vũng Rô và Xuân Đài là vùng nước rộng, sâu
và kín gió, thích hợp cho các loại tàu, thuyền lớn hơn 1000 tấn neo đậu, trú ẩn khi có gió bão
Tóm lại, địa hình trong tỉnh Phú Yên thấp dần từ Tây sang Đông, đồi núi chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phần còn lại là đồng bằng ven biển với tổng diện tích khoảng 816 km2, trong đó đồng bằng Tuy Hòa chiếm 500 km2
Địa hình phức tạp, đa dạng và chia cắt mạnh ở vùng đồi núi là nhân tố chủ yếu gây nên sự biến đổi trong không gian của các yếu tố khí tượng thủy văn khá phức tạp; phần lớn sông suối có hướng chảy từ Tây Bắc-Đông Nam hay từ Tây sang Đông hay từ
vùng đồi núi cao chảy ra biển
1.1.3 Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương
Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng
8
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm 26,5 °C ở vùng đồng bằng ven biển, khoảng 22,5 oC ở vùng núi cao Nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động không nhiều: (23,3 – 29,3)oC tại trạm Tuy Hòa, (22,1 – 28,8)oC tại trạm Sơn Hòa; các tháng 5
Trang 9tháng 8 đều có nhiệt độ trung bình tháng 28 – 29,5oC, thấp nhất vào tháng 1(22 – 23)oC, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm khoảng 80 – 82% ở vùng đồng bằng ven biển 83 – 85% ở vùng đồi núi thấp và trên 85% ở vùng núi cao Các tháng mùa mưa đều có độ ẩm tương đối cao, đạt tới 80 – 90%, còn độ ẩm không khí trong các tháng mùa khô tương đối thấp, nhất là vào các tháng 6, tháng 8
Tốc độ gió trung bình năm khoảng 2 – 2,5 m/s ở vùng đồng bằng ven biển, 1,5 –
2 m/s ở vùng đồi núi Tốc độ gió trung bình tháng cao nhất vào các tháng có gió Tây khô nóng (tháng 6, tháng 8), riêng ở trạm Tuy Hòa do chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới nên tốc độ gió trung bình tháng 11 và tháng 12 đạt tới 3,1 m/s Tốc độ gió trung bình tháng thấp nhất khoảng 1 m/s vào tháng 10 ở trạm Sơn Hòa và 1,7 m/s vào tháng 9, tháng 10 tại trạm Tuy Hòa
Hướng gió thịnh hành là hướng Tây Bắc vào các tháng 1,2,3 và tháng 11, 12, hướng gió Đông Bắc vào các tháng 4, 6 và hướng Tây vào các tháng 7, 9
Chế độ lũ ở Phú Yên khá đặc biệt Đặc điểm thủy văn mùa lũ sinh ra do mưa bao trùm lên một diện rộng Trừ mùa lũ chính (từ tháng 9 đến tháng 12) còn có lũ sớm (vào tháng 8), lũ muộn (vào tháng 1), lũ tiểu mãn (vào tháng 5, 6, 7), có khi xuất hiện
dị thường vào các tháng không có lũ Lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 10 và tháng
11, trong đó nhiều nhất là tháng 11 Do địa hình lưu vực dốc lớn, cường độ mưa rào cao, nên tốc độ tập trung nước nhanh, làm cho mực nước trên các triền sông trong thời gian mùa lũ lên xuống đột ngột, lũ thường có đỉnh nhọn Như trận lũ lịch sử xuất hiện vào tháng 10/1993 và 11/2009 gây thiệt hại rất lớn về người và của
1.1.4 Sông suối
Phú Yên là tỉnh khá giàu về nước mặt do có hệ thống sông, suối rất phát triển và phân bố khá đều trong phạm vi toàn tỉnh Sông ở Phú Yên đều phát nguồn từ dãy núi Trường Sơn ở phía Tây, Cù Mông ở phía Bắc và Đèo Cả ở phía Nam Hướng chính
Trang 10của các con sông là Tây Bắc - Đông Nam hoặc gần Tây Đông, nhưng lượng nước chủ yếu tập trung ở các sông như: sông Ba, sông Bàn Thạch, Kỳ Lộ, sông Cầu Các sông này là nơi thu nước của hầu hết các suối chảy trong vùng Tổng lượng nước các sông, suối chảy qua Phú Yên là 11,8 tỉ m3, riêng sông Ba là 9,7tỉ m3, chiếm 82,2% Song đáng lưu ý là lượng nước trong các sông, suối phân bố không đều trong năm, có đến 70¸80% lượng nước tập trung vào mùa mưa lũ, còn trong các tháng mùa khô, lượng nước trong các sông, suối giảm thấp, chỉ chiếm 20¸30% cả năm Do các sông ở Phú Yên đều ngắn và dốc nên khi lượng mưa lớn khả năng thoát nước chậm, rất dễ gây nên lụt ở vùng hạ lưu và lũ quét ở vùng thượng lưu Lưu lượng nước sông trong mùa mưa
và mùa khô chênh lệch nhau rất lớn
Nước sông ở Phú Yên thuộc loại nước trong, có độ đục bùn cát từ 31,0 – 51,0 mg/l Riêng sông Ba thuộc loại nước hơi đục, có độ đục bùn cát là 245 mg/l Độ pH thay đổi từ 6,5-7,5, độ tổng khoáng hóa trung bình dưới 100 mg/l, độ cứng toàn phân 1,5 mg/l, thuộc loại nước rất mềm Nước trong các sông, suối ở Phú Yên có chất lượng khá tốt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp Loại hình nước chủ yếu là Biacbonat Natri hoặc Clorua Bicacbonat Natri Kali Nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu là nước mưa và một phần là nước ngầm
Cũng như sông, suối ở Phú Yên có khắp tỉnh, mật độ tương đối dày, đặc biệt là các huyện miền núi và vùng núi của những huyện miền núi và vùng núi của những huyện đồng bằng Phú Yên là tỉnh có tiềm năng nước khoáng, đã phát hiện các nguồn nước khoáng tại: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Sơn Thành và Mỹ Thành Các nguồn nước khoáng nóng ở Phú Yên đều có độ khoáng hóa thấp từ 0,3-0,7g/l, hàm lượng HCO3, chiếm ưu thế Riêng nguồn nước Phú Sen có hàm lượng Flo tương đối cao, hàm lượng HCO3- và Na+ đều cao hơn hàm lượng các nguyên tố khác, hàm lượng các chất độc hại không lớn Một số nguồn nước như Phú Sen, Trà Ô, Sơn Thành có hàm lượng Silic hơi cao, dao động từ 71,4-102,2 mg/l Hầu hết các nguồn nước khoáng nóng trong
Trang 11tỉnh đều có hàm lượng Flo khá cao, dao động từ 3,5-16,3 mg/l Do đó cần chú ý xử lý khi sử dụng vào mục đích giải khát và ăn uống Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong lòng đất như Diatomit (90 triệu m3), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m3), vàng sa khoáng (300 nghìn tấn) (số liệu năm 2006 theo Cẩm nang xúc tiến thương mại du lịch Phú Yên)
1.2 Đặc điểm kinh tế
1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ - Việt Nam, nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả Đây là vùng đất có truyền thống cách mạng vẻ vang, với bề dày lịch
sử và nền văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc Phú Yên có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên trục giao thông chính - quốc lộ I Bắc-Nam, quốc lộ 25 Đông - Tây
Có mạng lưới đường sắt, đường bộ, đường thủy, nối với cảng biển Vũng Rô, sân bay Tuy Hòa rất thuận lợi cho giao thương, phát triển kinh tế, du lịch trong nước và quốc
Phú Yên có bờ biển khá dài, gần 190km với nhiều đầm, vũng, vịnh, bãi biển đẹp như:
Cù Mông, Xuân Đài, Ô Loan, bãi Tiên, bãi Bàng, bãi Tràm, cùng nhiều di tích, danh thắng cấp Quốc gia Đặc biệt, di tích lịch sử Vũng Rô hào hùng - nơi tiếp nhận những chuyến tàu không số chống quân xâm lược, và gành Đá Đĩa - một danh thắng thiên nhiên cực kỳ độc đáo Vùng lãnh hải Phú Yên rộng trên 6900 km2 có trữ lượng hải sản lớn, với nhiều loại đặc sản quý hiếm, có giá trị xuất khẩu cao, là những điều kiện tốt cho phát triển kinh tế biển và du lịch
Phú Yên có nguồn tài nguyên đất đai và lao động dồi dào, với 290.000 ha đất là tiềm năng tốt cho phát triển nông - lâm nghiệp và chăn nuôi; có lực lượng lao động dồi dào, thôngminh, cần cù và sáng tạo; Đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật ngày càng đông nhờ có chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài tham gia xây dựng địa phương
Trang 12Trong những năm qua, Phú Yên đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế và chăm lo an sinh xã hội cho người dân Trong giai đoạn 2006-2010, GDP tăng bình quân gần 12.3%/năm GDP bình quân đầu người tăng từ xấp xỉ 6,3 triệu đồng năm 2005 lên 15,8 triệu đồng năm 2010 Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà nước tăng bình quân 18,04%/năm Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, còn 9% năm 2010 (giảm 2,42% so với năm trước) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Sản xuất công nghiệp, dịch vụ đang chuyển từ quy mô nhỏ, manh mún sang quy mô lớn Năm 2010, giá trị công nghiệp- xây dựng chiếm 34,4% trong cơ cấu GDP, tăng 0,2% so năm 2009, nông- lâm- thuỷ sản chiếm 29,2%, giảm 0,4% so năm 2009, dịch vụ chiếm 36,4%, tăng 0,2% so năm
2009 Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong từng ngành, lĩnh vực đang
có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế mà Phú Yên đạt được trong năm 2011
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung (GDP): tăng 13,1%
Ngành công nghiệp, xây dựng: tăng 15,6%
Ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: tăng 7,2%
GDP bình quân đầu người/năm: 952 USD
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn cả
năm:
7.695 tỷ đồng
Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh: 1.460 tỷ đồng
Trang 13Chỉ tiêu Kết quả (2011, ước tính)
Tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa
bàn tỉnh:
163 triệu đô la Mỹ
1.2.2 Giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu gồm có:
Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa
Quốc lộ 25 nối với Gia Lai
Quốc lộ 1D ( nối Thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn)
Tỉnh lộ 645 ( sẽ nâng cấp thành quốc lộ ) nối với Đăk Lăk
Tỉnh lộ 641 từ Thị trấn Chí Thạnh chạy dọc theo đường sắt Bắc – Nam qua Thị trấn La Hai rồi gặp lại QL1A tại Thị trấn Diêu Trì ( Bình Định )
Đường Phước Tân – Bãi Ngà chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô
Phú yên cũng có đường sắt Bắc-Nam đi qua với ga chính là ga Tuy Hòa
Về hàng không, Phú Yên hiện đang vận hành Sân bay Đông Tác (Hoạt động từ tháng 4/2003) với 2 đường bay chính: Tuy Hòa-Hà Nội và Tuy Hòa-Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Hệ thống điện: Nhà máy Thủy điện Sông Hinh với công suất 72 MW và hệ thống đường dây 500 KVA Bắc – Nam đi qua tỉnh đảm bảo cung cấp nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, sinh hoạt
Năm 2008 đã đưa vào hoạt động nhà máy thủy điện Sông Ba hạ với công suất lớn gấp 3 lần so với nhà máy thủy điện Sông Hinh hiện nay
Trang 14Hệ thống cấp nước: Nhà máy cấp thoát nước Phú Yên với công suất 28.500
m3/ngđ, phục vụ cho khu vực Thành phố Tuy Hòa, các vùng lân cận và khu công nghiệp Hòa Hiệp Đồng thời xây dựng mới một số nhà máy cấp nước cho các thị trấn huyện lỵ với công suất khoảng 13.000 m3/ngđ
Hệ thống thủy nông Đồng Cam có đập dâng đầu mối bắc ngang sông Ba dài 680m, là một trong những hệ thống thủy lợi tự chảy lớn nhất miền Trung với chiều dài
2 tuyến kênh chính Nam và Bắc cùng hệ thống kênh cấp 1, 2 lên tới 250 km Ngoài ra, còn có hàng nghìn km kênh mương nội đồng lấy nước tưới cho hơn 19.000 ha lúa 2 vụ tập trung của đồng bằng Tuy Hòa
Hệ thống thông tin liên lạc: Phú Yên có mạng lưới viễn thông khá tốt Bưu điện trung tâm Tỉnh, huyện, xã được trang bị : Vi ba, cáp quang…đảm bảo liên lạc thông suốt
Hệ thống Internet qua đường truyền ADST cũng là một kênh liên lạc quan trọng hiện nay đối với sự phát triển của toàn tỉnh
1.2.4 Du lịch
Du lịch là một trong những ngành ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quá trình đi lên của Phú Yên Mặc dầu có xuất phát điểm thấp, nhưng đến nay du lịch Phú Yên đã vươn lên trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh
Phú Yên được ban tặng cho một hệ thống cảnh quan thiên nhiên khá đa dạng, đầy đủ với núi, cao nguyên, đồng bằng châu thổ, sông, hồ, đầm, vịnh, hải đảo….Nét đặc trưng nổi bật của phong cảnh tự nhiên nơi đây rất nên thơ, hung vĩ
và độc đáo…Một số danh thắng tiêu biểu có thể kể ra: Gành Đá Dĩa, Đầm Ô Loan, núi Đá Bia, vịnh Xuân Đài, bãi Môn – mũi Điện, di tích lịch sử cấp quốc gia như vũng Rô, núi Nhạn – sông Đà v.v
Cơ sở hạ tầng du lịch của Phú Yên gần đây được đầu tư mạnh Hàng loạt khách sạn, nhà nghỉ, resort, khu giải trí – sinh thái đạt tiêu chuẩn cao xây dựng
Trang 15gần đây không những góp phần thay đổi diện mạo thành phố Tuy Hòa mà còn làm đòn bẩy kích thích ngành dịch vụ này tăng trưởng mạnh hơn
Phú Yên hiện có 1 khách sạn 5 sao ( Cendeluxe ), 3 khách sạn 4 sao ( Kaya, Sài Gòn – Phú Yên, Long Beach ), và nhiều khách sạn khác như Hương Sen, khách sạn Công Đoàn…Cơ sở vui chơi, nghỉ dưỡng thì có Khu giải trí – sinh thái Thuận Thảo, khu resort Sao Việt, bãi Tràm hideaway…
Thiên nhiên tươi đẹp, giao thông thuận tiện, người dân hiền hậu…tất cả các yếu tố đó sẽ giúp Phú Yên nay mai trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất với du khách trong và ngoài nước
Phú Yên có diện tích vùng biển trên 6.900 km2 với trữ lượng hải sản lớn: trên
500 loài cá, 380 loài tôm, 15 loài mực và nhiều hải sản quý
Sản lượng khai thác hải sản Phú Yên năm 2010 đạt 26.310 tấn, tăng 10,2% Trong đó sản lượng các loại 22.710 tấn tăng 10,1%, tôm 670 tấn tăng 8,1%, thủy sản khác 2.930 tấn tăng 10,6% ( trong đó mực tăng 10,5%) so với năm 2009 Riêng sản lượng khai thác cá ngừ đại dương 4.825 tấn tăng 14,9% so với sản lượng khai thác của năm 2009
1.3 Đặc điểm xã hội
1.3.1 Diện tích – dân số
Phú Yên có diện tích là 5.045,3 km2, chiều dài bờ biển 189km
Trang 16Dân số Phú Yên là 868.514 người ( năm 2010 - Theo cổng thông tin điện tử Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Phú Yên ) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5% dân số
Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau Chăm, Êđê , Ba Na, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên
Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi thành lập huyện Sông Hinh (
1986 ) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu,…
1.3.2 Giáo dục
Phú Yên có hệ thống trường đại học ( Phú Yên, Xây dựng số 3 ) đào tạo 300 sinh viên, Cao đẳng ( Công Nghiệp ) mỗi năm đào tạo khoảng 1.200 học viên, một chi nhánh học viện ngành tài chính ngân hàng đào tạo trên 300 học viên và các trường và trung tâm đào tạo nghề ( mỗi năm đào tạo khoảng 1.400 kỹ thuật viên và trên 800 công nhân có tay nghề cao – từ bậc 3/7 trở lên )
1.3.3 Văn hóa xã hội
Dân Phú Yên thường được gọi là dân xứ “ nẫu”, đó là tiếng nói đặc trưng của
họ, tiếng nẫu ( nẫu = người ta )
Dân Phú Yên còn có thể loại hát chòi, đó là một thể loại hát dân gian từng rất phổ biến ở Phú Yên
Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hóa, như bộ trường
ca quý giá của các dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn về cung bậc thuộc loại chính xác nhất và những chiếc kèn đá có một không hai
Trang 17CHƯƠNG 2
CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH DU LỊCH SINH THÁI 2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm du lịch sinh thái
Ngày nay, con người với cuộc sống hiện đại thay đổi không ngừng đã ngày càng trở nên mệt mỏi và áp lực nên xu hướng chung của toàn thế giới là quay trở về với thiên nhiên Mức sống ngày càng cao và nhu cầu nghỉ ngơi giải trí đã thúc đẩy người ta
đi du lịch và du lịch sinh thái được coi là chọn lựa toàn vẹn nhất Du lịch sinh thái đã
và đang trên đà trở mình và đã trở nên phổ biến đối với những người yêu thiên nhiên,
nó xuất phát từ các trăn trở môi trường, kinh tế và xã hội – một trong những thách thức
để trả nợ môi trường tự nhiên và làm gia tăng giá trị của các khu bảo tồn thiên nhiên còn lại
Du lịch sinh thái là một khái niệm tương đối mới và cho tới nay chưa được chuẩn hoá mặc dù nó đang được ứng dụng nhiều vào các hoạt động có thể không đúng với ý nghĩa của nó Hiện nay du lịch sinh thái đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể nói du lịch sinh thái là một dạng du lịch tự nhiên có mục đích hỗ trợ cho việc bảo vệ thiên nhiên Du lịch sinh thái là một khái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc độ tiếp cận khác nhau Đối với một số người, du lịch sinh thái chỉ đơn giản là sự
ghép nối ý nghĩa của hai khái niệm Du lịch và Sinh thái vốn đã quen thuộc từ lâu Tuy
nhiên, đứng ở góc nhìn nhận rộng hơn, tổng quát hơn thành một số quan niệm rằng du lịch sinh thái là một loại hình du lịch thiên nhiên Như vậy, với cách tiếp cận này mọi hoạt động có liên quan tới thiên nhiên như: tắm biển, leo núi đều được hiểu là du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái còn được biết đến bởi nhiều tên gọi khác nhau:
Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature_ Based Tourism)
Trang 18 Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
Du lịch xanh (Green Tourism)
Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Du lịch sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên và du lịch ngoài trời Có người quan niệm du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch, cũng
có ý kiến cho rằng du lịch sinh thái đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững
Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về "Xây dựng chiến lược phát triển sinh thái ở Việt Nam" từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái là
"Loại hình du lịch thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương"
Là loại hình du lịch vừa dựa vào những hình thức du lịch truyền thống sẵn có, nhưng có sự hòa nhập vào môi trường tự nhiên và nền văn hóa bản địa; du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn
có của nền văn hóa của điểm, vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hóa sở tại
Trang 19Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc du lịch sinh thái
Ngoài những khái niệm và định nghĩa trên còn có một số định nghĩa mở rộng hơn về nội dung của du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về cảnh đẹp quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững (Lê Huy
Bá 2000)
Du lịch sinh thái là sự tạo nên và thoả mãn sự khao khát thiên nhiên, là
sự khai thác các tiềm năng du lịch cho bảo tồn và là sự ngăn ngừacác tác động tiêu cực lên hệ sinh thái, văn hoá và thẩm mỹ
Du lịch sinh thái là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm, hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn,
Trang 20trân trọng khung cảnh và muông thú hoang dã và các biểu thị văn hoá được khám phá trong các khu vực này (Cebllos_Lascurain,1987)
Du lịch sinh thái là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi Nó phải đóng góp vào bảo tồn tự nhiên và phúc lợi của dân địa phương (L.Hens, 1998)
Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hoá và lịch sử tự nhiên, tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội đối với phát triển kinh
tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương (Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ,1998)
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững
và có lợi cho sinh thái (Hiệp hội du lịch sinh thái Autraylia)
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam)
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang tiến diễn nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về du lịch sinh thái nhưng đa số các ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hoá mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hoá bản địa Du lịch sinh thái nói theo một định nghĩa nào đi chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:
Trang 21 Sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường
Trách nhiệm với xã hội trong cộng đồng
Các loại hình du lịch sinh thái được phân loại chủ yếu dựa trên các loại tài nguyên du lịch sinh thái cơ bản:
Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học:
Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
Hệ sinh thái đất ngập nước
Hệ sinh thái san hô, cỏ biển
Hệ sinh thái vùng cát ven biển
Hệ sinh thái biển – đảo
Hệ sinh thái nông nghiệp
Các tài nguyên du lịch sinh thái đặc thù:
Đặc điểm sinh hoạt văn hoá với các lễ hội truyền thống
Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thống đặc điểm
tự nhiên của khu vực
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn liền với cuộc sống của cộng đồng
Các di tích lịch sử văn hoá, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng
Trang 22Từ đó, ta có thể thấy có các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam như sau:
Dã ngoại : là hình thức du lịch đưa con người đến với thiên nhiên, sản
phẩm du lịch chủ yếu là tham quan thắng cảnh, hiện khá phổ biến ở Việt Nam Leo núi : là loại hình du lịch chinh phục các đỉnh cao Phansipan, Bidoup, Bạch Mã, … Ngoài ra có thể là các tour du lịch hành hương lễ hội đến các điểm di tích lịch sử văn hoá ở các khu bảo tồn thiên nhiên như: chùa Hương, Yên Tử …
Đi bộ trong rừng : là hình thức du lịch sinh thái được ưa chuộng ở nhiều
nước trên thế giới và ở Việt Nam, đi bộ trong rừng là hình thức du lịch kết hợp tham quan các cảnh quan tự nhiên ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đang phát triển
Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên : là hình thức du lịch sinh thái phổ biến thu hút sự quan tâm
đặc biệt của khách du lịch đến từ những thị trường khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay hình thức này còn chưa phát triển
Tham quan miệt vườn : là hình thức du lịch sinh thái với sản phẩm chủ
yếu là tham quan nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt ở các miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long Hình thức này mặc dù mới phát triển trong thời gian gần đây, song đã thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước
Quan sát chim : các sân chim ở Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông
Cửu Long có số lượng chim lớn, thành phần loài phong phú với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm cần được bảo vệ, là nơi thu hút nhiều nhà khoa học và du khách tới nghiên cứu tham quan Hình thức du lịch quan sát chim ở các sân chim, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên chỉ mới phát triển, chưa phổ biến nhiều ở Việt Nam
Thăm bản làng dân tộc : việc thăm các bản làng dân tộc trong các vườn
quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên thường được kết hợp tổ chức trong các
Trang 23tour du lịch mang sắc thái du lịch sinh thái ở Việt Nam hiện nay Khách du lịch có cơ hội để tìm hiểu các giá trị văn hoá bản địa (tập tục sinh hoạt, sản xuất, hoạt động lễ hội, văn hoá dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, các di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, các đặc sản ẩm thực …) được hình thành và phát triển gắn liền với đặc điểm sinh thái tự nhiên của khu vực
Du thuyền: Việt Nam có nhiều sông hồ cùng với bờ biển dài hơn 3200
km Đây là tiền đề thuận lợi để tổ chức loại hình du lịch tham quan thắng cảnh trên du thuyền đầy hấp dẫn Hiện nay các tour du lịch trên sông nước…đồng bằng sông Cửu Long kết hợp tham quan các miệt vườn trên các
cù lao hoặc hai bên bờ sông, du lịch trên sông Hương (Huế), sông Hồng (Hà Nội) … du lịch trên hồ Hoà Bình (Hoà Bình), hồ Thác Bà (Yên Bái) … ngày càng thu hút sự tham quan của du khách
Mạo hiểm: ở Việt Nam một số hình thức du lịch mạo hiểm đã bắt đầu
được hình thành: du lịch lặn biển, du lịch xuyên Việt bằng xe đạp và môtô vượt các địa hình hiểm trở của đồi núi Việt Nam Ngoài ra còn có các tour tham quan hang động là hoạt động du lịch thám hiểm cũng được tổ chức nhiều
Săn bắn, câu cá: các hoạt động săn bắn thường được thực hiện tại các
khu vực khoanh vùng dành riêng cho các hoạt động này, đối tượng tham quan là khách có độ tuổi trung niên trong nội địa và quốc tế
Các điểm phục vụ hoạt động câu cá: được mở nhiều trong thời gian gần đây phục vụ đông đảo khách nội địa
Các loại hình khác: tổ chức tour cấp khu vực hay xuyên quốc gia để tham gia tìm hiểu cảnh quan thiên nhiên và con người Việt Nam
2.1.2 Tài nguyên du lịch
Trang 24Tài nguyên du lịch là toàn bộ các giá trị tự nhiên và nhân văn được sử dụng cho mục đích phát triển du lịch
Là đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta mà
nó có khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch gọi là tài nguyên du lịch tự nhiên
Là các đối tượng và hiện tượng được con người tạo ra trong quá trình sinh sống
và làm việc của mình được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn, không phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên khác
Tài nguyên du lịch còn được hiểu cụ thể hơn là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người
có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch
( Nguồn: Tổng Quan Du Lịch, TS.Trần Văn Thông, NXB Giáo Dục, 2001)
2.1.3 Hoạt động du lịch sinh thái
Hoạt động du lịch sinh thái là dạng hoạt động khai thác các tiềm năng du lịch (
tự nhiên và nhân văn ) trong lãnh vực môi tường sinh thái, đối tượng của du lịch sinh thái là các hệ thống môi trường ở các vùng khác nhau Mỗi vùng có một đặc thù sinh thái và cân bằng sinh thái riêng cùng với sự phong phú đa dạng thực vật, cảnh vật, cây
cỏ sông ngòi, ao hồ, rừng Khách du lịch là những người thích thưởng thức sinh thái
2.1.4 Phát triển du lịch sinh thái bền vững
DLSTBV đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững Phát triển DLST làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu Kinh Tế - Xã Hội và Môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và giá trị đạo đức
Trang 25- Mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế,
xã hội, văn hóa
- Quá trình phát triển diễn ra trong một thời gian lâu dài
- Đáp ứng nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tiếp theo
( Nguồn: Du Lịch Bền Vững – Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, XNB ĐHQG
Hà Nội, 2001 )
2.2 Định nghĩa quy hoạch du lịch sinh thái
2.2.1 Định nghĩa quy hoạch du lịch sinh thái
Quy hoạch du lịch là luận chứng khoa học về phát triển và tổ chức không gian
du lịch tối ưu trên lãnh thổ của quốc gia và vùng
Quy hoạch du lịch sinh thái là công tác thiết kế sơ đồ quy hoạch mạng lưới các
khu du lịch sinh thái, các tuyến du lịch sinh thái dựa trên cơ sở những đặc điểm đặc trưng của hệ sinh thái các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng lịch sử - văn hóa – môi trường và các miệt vườn, cơ sở hạ tầng
( Nguồn: Quy hoạch du lịch – những vấn đề lý luận và thực tiễn, TS.Trần Văn Thông, 2003 )
Quy hoạch du lịch sinh thái là việc tổ chức phân chia các đơn vị khôn gian lãnh thổ trong phạm vi một khu vực có hệ sinh thái đặc trưng Thường là một khu có cảnh sinh thái đặc thù như các khu bảo tồn tự nhiên (BTTN) hoặc các vườn quốc gia sao cho vừa phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện tự nhiên vốn có của nó, đồng thời vừa tổ chức được hoạt động du lịch sinh thái, bảo vệ và tôn tạo hệ sinh thái trên mỗi đơn vị ấy một cách hiệu quả nhất
Sở dĩ phải tiến hành quy hoạch vì hoạt động du lịch sinh thái là hoạt động thường được tiến hành ở những khu BTTN hoặc các vườn quốc gia – nơi lưu trữ các giá trị đa dạng sinh học của tự nhiên hay những hệ sinh thái có cảnh quan đặc thù Đây
là những khu vực khi thành lập đã có những quy chế phân vùng hợp lý, vì vậy, ta cần
Trang 26phải quy hoạch sao cho vừa phát triển du lịch sinh thái vừa phù hợp với quy chế thành lập mà không ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên cũng như đời sống của các sinh vật
trong từng đơn vị lãnh thổ ở các khu BTTN hoặc các vườn quốc gia
2.2.2 Mục đích quy hoạch du lịch sinh thái
Mục đích của việc quy hoạch du lịch sinh thái là để đảm bảo rằng các khu BTTN gắn thêm chức năng du lịch sinh thái vào đó mà không gây xáo trộn quá lớn đến chức năng của bảo tồn tự nhiên đó Du lịch sinh thái sẽ thành công nếu tài nguyên thiên nhiên trong khu BTTN đó được bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên sẽ được bảo vệ một cách tốt nhất nếu có được một chiến lược quản lý, và các nhà quản lý khu BTTN và cộng đồng địa phương đóng một vai trò đi đầu trong chiến lược quản lý
Du lịch sinh thái đang nhanh chóng chiếm được sự chú ý của nhiều người Mặc
dù, các cộng đồng sống gần các khu BTTN đang có những cơ hội việc làm mới từ du lịch nhưng các nhà quản lý các khu BTTN này lại đang đối mặt với số lượng du khách đến với các khu BTTN ngày một tăng Các chuyên gia phát triển nông thôn và chính quyền các cấp đang xem du lịch sinh thái như một nguồn trao đổi ngoại tệ quan trọng
và tiềm năng kinh tế từ du lịch sinh thái cũng rất đáng kể Du khách đến thăm các vườn quốc gia và các khu dự trữ thiên nhiên và sinh quyển trên phạm vi toàn cầu nhiều hơn bao giờ hết và voi những chuyến đi này như một cách để hiểu biết hơn về môi trường thiên nhiên và trả nợ cho tự nhiên
Sự tác động của du lịch sinh thái là quá rõ ràng Xét về khía cạnh môi trường cái giá trị tiềm năng phải trả của du lịch sinh thái là sự suy thoái về môi trường, sự không công bằng và sự không ổn định về kinh tế, và sự thay đổi tiêu cực về văn hoá xã hội Lợi ích tiềm tàng về du lịch sinh thái là tạo ra nguồn kinh phí cho các khu BTTN, tạo công ăn việc làm cho những người sống gần với các khu BTTN, thúc đẩy giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn Việc xác định cái giá phải trả
và lợi ích tiềm tàng nói trên đã làm xuất hiện những ý kiến khác nhau về du lịch sinh thái Nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là phải nhìn nhận được điểm gặp của du lịch sinh
Trang 27thái, bảo tồn và phát triển, tìm ra phương pháp để giảm thiểu cái giá phải trả và làm gia tăng tối đa những lợi ích của du lịch sinh thái và bảo tồn
2.2.3 Các bước cơ bản quy hoạch và thiết kế du lịch sinh thái
Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái phải được tiến hành trong khuôn khổ quy hoạch quản lý tổng thể của khu vực thường là một làng quê có hệ sinh thái đặc trưng hay một khu BTTN, một vườn quốc gia Quy hoạch và thiết kế du lịch sinh thái bao gồm các bước chủ yếu sau:
Bước 1: Thu thập và phân tích thông tin
Để chuẩn bị cho công tác quy hoạch và thiết kế DLST thu được hiệu quả
cao, các thông tin cần thu thập là thông tin về tài nguyên DLST như tài nguyên về đa dạng sinh học, các giá trị văn hoá bản địa, các di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng, các sản phẩm có tính đặc trưng… Thông tin về khách du lịch, thông tin về các điều kiện có liên quan đến phát triển du lịch như hạ tầng cơ sở, kinh tế - xã hội … Các dữ liệu sau đây cần được thu thập:
Các loại, nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực, đặc biệt là các giá trị
đa dạng sinh học, loài đặc thù… Tất cả những giá trị đặc trưng của hệ sinh thái khiến nó được đầu tư xây dựng thành khu DLST, các thông tin quan trọng bao gồm loài nào là đặc hữu của vùng, số lượng và tình trạng hiện tại cũng như phân khu chúng thường tập trung nhiều nhất
Thông tin về các điểm/ khu du lịch lân cận, liệt kê các điểm và số lượng khách/ năm
Các thông tin về tình trạng cơ sở hạ tầng, dịch vụ của khu vực
Số liệu về lượng, loại khách, thị trường, lứa tuổi khách và các loại phương tiện khách sử dụng để đến tham quan
Các loại hình hoạt động du lịch và các sản phẩm du lịch chính (tham quan, thắng cảnh, nghiên cứu, cắm trại, picnic, thể thao, câu cá,…)
Thời gian tập trung cao điểm hoạt động DLST
Trang 28 Thời gian lưu trú trung bình của khách
Mức độ thoả mãn của khách đối với các sản phẩm DLST và các đề xuất thay đổi
Bước 2: Xác định phạm vi không gian lãnh thổ
Dựa trên thông tin thu được từ bước 1, xác định phạm vi không gian lãnh thổ có thể tiến hành quy hoạch,thiết kế phát triển DLST trên địa bàn đó Quy hoạch phát triển DLST cần chỉ rõ giới hạn về không gian được tiến hành các hoạt động DLST với mức
độ khác nhau và phương án thực hiện cụ thể
Việc xác định sức chứa của không gian du lịch sẽ là căn cứ để khống chế lượng khách đến khu vực, vì vậy, đây cũng là yếu tố cần xác định, trong đó có tính đến mức
độ nguyên vẹn về tài nguyên, môi trường và khả năng phục hồi chúng dưới tác động của hoạt động du lịch Bên cạnh đó việc xác định các phân vùng trong khu DLST cũng không kém phần quan trọng, cần phải vẽ phác thảo các phân vùng bằng cách đánh dấu mốc chính thức Đây là bước quan trọng giúp cho việc định hướng tổ chức DLST, đưa khách đến điểm nào trước và thời gian cho mỗi điểm là bao lâu, nhưng cần phải lưu ý
bố trí điểm tham quan sao cho không xuất hiện cảm giác nhàm chán trong lòng du khách
Trong bước 1 cần đánh giá cụ thể đặc điểm của tài nguyên DLST để làm căn cứ lập ra các khu với chức năng khác nhau về hoạt động du lịch trong không gian được xác định Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho khu vực phát triển DLST cũng như để hoạt động DLST phát triển có hiệu quả cần phải chú ý đến việc thiết kế các cơ sở lưu trú cho phù hợp với khách DLST đến từ các nền văn hoá khác nhau Trong phạm vi khu chức năng lưu trú, có thể thiết kế các loại nhà nghỉ và khách sạn phục vụ cho các loại khách DLST có sở thích khác nhau
Bước 3: Xác định các mâu thuẫn
Dựa trên danh mục các nguồn tài nguyên và các dữ liệu thu thập được, phải xác định các mâu thuẫn sẽ nảy sinh khi sử dụng tài nguyên và tìm ra các phương án giải
Trang 29quyết các mâu thuẫn, thường là mâu thuẫn về khai thác nguồn tài nguyên vốn được sử dụng trong cuộc sống của người dân địa phương cho phát triển DLST
Đây là bước quan trọng đầu tiên, làm căn cứ cho các bước triển khai đầu
tư xây dựng và khai thác kinh doanh tiếp theo Vì vậy, cần đưa ra một cơ chế dung hoà trong sử dụng nguồn tài nguyên và phát triển DLST cho phù hợp với cuộc sống và văn hoá địa phương Việc xác định mâu thuẫn này có tầm quan trọng trong công tác quy hoạch, hiểu rõ, xác định được nguyên nhân gây ra mâu thuẫn, từ đó có kế hoạch quy hoạch hợp lý cho việc sử dụng và khai thác tài nguyên cho phát triển DLST mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên địa phương
Bước 4: Lập kế hoạch phát triển DLST
Đây là công việc đòi hỏi sự phối hợp của các nghành chức năng với chính quyền địa phương, ban quản lý khu DLST và các tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm tránh những mâu thuẫn về sử dụng lãnh thổ giữa hoạt động du lịch và hoạt động phát triển kinh tế khác Để làm được điều này cần phải gắn quy hoạch phát triển DLST với quy hoạch tổng thể phát triển lãnh thổ Trong đó, việc quy hoạch phát triển DLST phải dựa trên cơ sở sử dụng đất của cả vùng Khi đưa ra kế hoạch khai thác, sử dụng đất cho phát triển du lịch phải xem xét trong mối quan hệ đến lợi ích kinh tế chung của vùng,
và tất nhiên lợi ích kinh tế này phải được cân nhắc nếu hoạt động phát triển DLST có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến cảnh quan, môi trường của vùng
Tùy điều kiện của khu du lịch mà có thể quy hoạch và thiết kế để xây dựng một tuyến hoặc một cụm du lịch, thuận tiện cho du khách có thể tham quan tất cả các điểm kết hợp với nghỉ ngơi hợp lý
Ban quản lý khu DLST cần phối hợp với các cơ quan chính phủ và chính quyền địa phương để xây dựng quy hoạch chi tiết phát triển DLST đối với các
phân khu chức năng khác nhau trong tổng thể quy hoạch chung về phát triển DLST của khu vực này
Trang 30Để có căn cứ cho công tác quản lý quy hoạch, cũng như đưa ra các mô hình kiến trúc, kiểm soát và xử lý chất thải cần xây dựng những tiêu chuẩn cho việc phát triển các khu du lịch chức năng trong vùng
Bước 5: Đề xuất hướng dẫn trong quá trình xây dựng quy hoạch và thiết kế DLST
Trong quá trình xây dựng khu DLST cần nghiên cứu việc sử dụng các vật liệu
và đưa ra các phương pháp xây dựng, nhằm hạn chế tối đa tác động của các hoạt động xây dựng phát triển du lịch sinh thái tới tài nguyên và môi trường, bởi nếu nhu cầu về nguyên liệu xây dựng để đáp ứng quy mô phát triển DLST đã được xác định trong quy hoạch vượt quá khả năng cung cấp có thể sẽ dẫn đến việc khai thác không hợp lý các nguồn tài nguyên khác của địa phương
Mặt khác, trong hoạt động du lịch nói chung cũng như DLST nói riêng khó tránh khỏi tình trạng ô nhiễm Vì vậy, cần phải có dự đoán về khả năng ô nhiễm Với các nguồn gây ô nhiễm khác nhau, cần có những quy định riêng nhằm hạn chế tác động của chúng Trong quy hoạch phát triển DLST cần phải chú trọng đến các yếu tố sau:
Bước 6: Tiến hành thực hiện quy hoạch và thiết kế DLST
Đây là công việc được cụ thể hoá bằng những kế hoạch cụ thể cho mỗi giai đoạn, mỗi vấn đề chính Đòi hỏi ban quản lý khu BTTN hoặc vườn quốc gia phải xây dựng những quy định và kế hoạch điều hành cụ thể Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành quy hoạch và thiết kế một khu DLST:
Trang 31 Trong quy hoạch mặt bằng: cần giữ lại các cây quan trọng, hạn chế sự biến đổi cảnh quan tự nhiên Hệ thống đường mòn cần phỏng theo hoặc tôn trọng lối đi lại, thói quen của động vật hoang dại và can phải thưa, trong đó
có kiểm soát xói mòn
Về xây dựng công trình kiến trúc: sử dụng tối đa các kỹ thuật xây dựng của địa phương, vật liệu địa phương, hình dáng kiến trúc – văn hoá địa phương, xây dựng công trình phải dựa theo tiêu chuẩn môi trường địa phương dài hạn Nên sử dụng các kiến trúc đơn giản, kích thước nhỏ và nếu
sử dụng vật liệu xây dựng địa phương cần tính toán các tác động môi trường
2.3 Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
2.3.1 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các
hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology)
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường)
Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển
Trang 32ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên ( natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hinh du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn ( rural tourism ) hoặc các trang trại ( farm tuorism) điển hình
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái
ở 2 điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và
có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống tường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách
Trang 33Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động
du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ cá quy định về “sức chứa” Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm
-Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối vớ mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ
-Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá-
xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương
có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập
-Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý ( lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ
có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau ( ví dụ giữa các nước châu á và châu Âu, giữa các nước phát triển và đang phát triển ) rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản
Trang 34lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ Du lịch sinh thái không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách
Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách
du lịch Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm
2.3.2 Cơ sở của các nguyên tắc sinh thái
Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu của du khách, giảm thiểu các tác động lên môi trường sinh thái và đem lại phúc lợi ( sinh thái, kinh tế, xã hội) cho cộng đồng địa phương, DLST lấy một số cơ sở sau để phát triển:
Tìm hiểu bảo vệ các giá trị tự nhiên, nhân văn
Giáo dục môi trường
Phải có tổ chức về nghiệp vụ du lịch, hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường
Phải hỗ trợ cho bảo vệ môi trường
Trang 35Hình 2.2: Phát triển DLST bền vững phải đảm bảo phát triển cân bằng cả ba
mục tiêu liên quan
( Nguồn : Du lịch sinh thái, GS-TSKH Lê Huy Bá, XNB ĐHQG TP.HCM,2005 )
2.3.3 Những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Thị trường du lịch sinh thái hiện nay đang phát triển mạnh so với thị trường khác Song sự phát triển nhanh chóng này đe dọa tính bền vững của du lịch sinh thái và
mở rộng ra những cái có thể đóng góp cho sự phát triển bền vững
Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững Điều
đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt Nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của
du lịch
Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường và sinh thái thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái chứa đựng mối tác động qua lại lớn giữa con người và thiên nhiên hoang dã cộng với ý thức được giáo dục nhằm biến chính những khách du lịch thành những người đi đầu trong việc bảo vệ môi trường Phát triển du lịch sinh thái làm giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường,
Trang 36đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do khách du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên
Sau đây là những nguyên tắc cơ bản về thế nào là du lịch sinh thái thực sự
- Du lịch sinh thái phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiệm với đạo đức đối với môi trường tự nhiên
- Du lịch sinh thái ( DLST ) không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài ( tự nhiên và văn hóa ) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó
- DLST phải tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này
- Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân
- DLST phải đảm bảo lợi ích lâu dài với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành ( lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hóa, xã hội hay khoa học )
- DLST phải đưa ra những kinh nghiệm đầu tay khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiệm được hòa đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái
lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể
- Ở đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia
- Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch ( trước, trong và sau chuyến đi)
- Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiển biết và sự phối hớp với các ban ngành chức năng
Trang 37- Các nguyên tắc về đạo đức, cách ửng xử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động
- Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành
2.4 Nguyên tắc quy hoạch điểm du lịch
để định vị điểm du lịch, xác định phương hướng chủ yếu, thứ tự phát triển và nội dung
du lịch của công tác quy hoạch du lịch
2.4.2 Nguyên tắc hiệu quả và lợi ích
Trong quy hoạch du lịch phải chú ý phát huy hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái
2.4.3 Nguyên tắc sắc thái đặc biệt
Sắc thái đặc biệt là linh hồn của khu du lịch, quy hoạch du lịch phải làm nổi bật
2.4.5 Nguyên tắc toàn cục
Quy hoạch điểm du lịch phải quán triệt nguyên tắc toàn cục Yêu cầu cụ thể là:
Trang 38- Quy hoạch khai thác điểm du lịch phải thích ứng với chiến lược phát triển du lịch của toàn khu vực
- Điều hòa nhịp nhàng giữa xây dựng điểm du lịch với xây dựng hệ thống thành phố, thị trấn của khu vực ( nơi tập trung đông khách )
- Mức độ đô thị hóa tỉ lệ thuận với phát triển du lịch
- Quy hoạch khu du lịch phải kết hợp phòng chống thiên tai của khu vực
2.5 Nguyên tắc quy hoạch tuyến du lịch
2.5.1 Cân đối giữa thời gian di chuyển và thời gian tham quan
- Thời gian di chuyển không vượt quá 50% thời gian của tuyến du lịch trong
ngày
- Xu hướng là ngày càng hiện đại hóa phương tiện vận chuyển để làm giảm
thời gian đi lại, tăng thời gian tham quan giải trí
2.5.2 Nội dung của tuyến, điểm du lịch phải phong phú, đa dạng mang tính
đặc thù
- Tránh lặp lại cùng một tuyến đường cho lượt đi và về
- Tránh trường hợp khách phải tham quan lại những gì đã tham quan ở một địa phương khác, do vậy mỗi tuyến du lịch phải có nét độc đáo riêng
2.5.3 Giá cả phải phù hợp với chất lượng du lịch
Việc xác định giá cả tour du lịch phải tương xứng vơi chất lượng du lịch, đây là yếu tố có ý nghĩa to lớn để kích cầu
2.5.4 Đảm bảo cho du khách có thời gian để phục hồi sức khỏe
Bố trí các điểm tham quan với mật độ phù hợp, kết hợp với các trạm dừng chân nghỉ ngơi, kết hợp với mua sắm để bảo đảm sức khỏe cho du khách
2.5.5 Tuyến tham quan phải kết hợp mua sắm
- Thỏa mãn nhu cầu mua sắm quà lưu niệm và hàng tiêu dùng của du khách
- Kích thích sự phát triển kinh tế địa phương
Trang 39CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN
3.1 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
3.1.1 Khách du lịch
Lượng khách du lịch đến Phú Yên có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Tốc độ tăng lượng khách bình quân giai đoạn 2007 - 2010 là 37,5%/năm, trong đó khách du lịch quốc tế là 36,0%/năm và khách du lịch nội địa là 37,5%/năm Đến năm 2010, tổng lượt khách đến Phú Yên là 312.000 người, trong đó khách quốc tế
là 12.000 người (3,8%) và khách nội địa là 300.000 người (96,2%)
Bảng 3.1: Hiện trạng khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2006 – 2010
Tốc độ tăng bình quân (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Phú Yên,2010 – Cục Thống Kê Phú Yên
Bảng 3.2 : Ngày lưu trú của khách du lịch ở tỉnh Phú Yên giai đoạn 2006 - 2010
Đơn vị : Ngày
Ngày lưu trú của khách
quốc tế 4.212 7.824 13.265 22.000 30.000
Trang 40Nguồn: Niên giám thống kê Phú Yên,2010 – Cục Thống Kê Phú Yên
3.1.2 Doanh thu du lịch
Giai đoạn 2006 – 2010: Lượng khách du lịch đến Phú Yên tăng khá nhanh so với mức trung bình chung của cả nước, doanh thu du lịch thuần túy tăng 65%/năm Năm 2010, thu nhập du lịch của tỉnh đạt 21,45 triệu USD, giá trị gia tăng ( GDP ) du lịch chiếm 3,6% tổng GDP của tỉnh
Bảng 3.3 : Mức chi tiêu trung bình của khách du lịch giai đoạn 2006 – 2011
Nguồn: Niên giám thống kê Phú Yên,2010 – Cục Thống Kê Phú Yên
Bảng 3.4 : Doanh thu du lịch ở tỉnh Phú Yên giai đoạn 2006 - 2010
Đơn vị : Triệu đồng
3.1.3 Phát triển sản phẩm du lịch
Các sản phẩm du lịch hiện nay ở Phú Yên nhìn chung vẫn còn đơn điệu với những sản phẩm chủ yếu bao gồm tắm biển, nghỉ dưỡng biển, tham quan một số di tích văn hóa lịch sử… Do việc đầu tư phát triển các khu du lịch còn bất cập, tình trạng
Ngày lưu trú của khách nội
địa 93.829 154.216 201.177 346.000 500.000
Doanh thu du lịch 20.296 47.444 92.762 144.000 249.500