PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI MỘT SỐ VẤN ĐỀ Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN10Một số vấn đề chung về phát triển kinh tế du lịch bền vững10Thực trạng phỏt triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội 27QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 50Quan điểm phỏt triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội 50Những giải phỏp phỏt triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội 57
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại.Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, cho đến nay du lịch đã trở thành nhu cầukhông thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người Ngày nay, du lịchđược xem là ngành “công nghiệp không khói” và là một trong những ngànhdịch vụ quan trọng, đem lại nguồn thu nhập đáng kể, góp phần quan trọng vào
sự phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ở nước
ta, trong những năm qua, ngành Du lịch luôn được Đảng và Nhà nước rấtquan tâm, coi phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trongđường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệphóa, hiện đại hóa, đồng thời xác định phát triển du lịch thực sự trở thành mộtnghành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở “đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình
du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế” (Văn kiện Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam - 2011)
Hà Nội - Thủ đô ngàn năm văn hiến - là trung tâm kinh tế, chính trị, vănhóa của cả nước Trong những năm qua, ngành Du lịch Thủ đô đã góp phầnquan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Năm 2010, Hà Nội đã vinh dự được Tạp chí Dulịch trực tuyến Smart Travel Asia bình chọn là một trong 10 điểm du lịch hấpdẫn nhất châu Á Đây là những yếu tố thuận lợi để kinh tế du lịch Thủ đô pháttriển lên tầm cao mới hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững
Tuy nhiên, trong thời gian qua kinh tế du lịch Hà Nội phát triển chưatương xứng với tiềm năng, nhiều mặt, nhiều yếu tố phát triển thiếu bềnvững Sản phẩm du lịch Hà Nội chủ yếu vẫn dựa vào các yếu tố tự nhiên, khaithác những tiềm năng sẵn có và chưa được đầu tư thỏa đáng; thêm vào đó việckhai thác quá mức, không theo quy hoạch bảo tồn đang đặt ra những vấn đềbáo động về ô nhiễm môi trường sinh thái, hệ lụy bức xúc về văn hóa - xã hội,suy giảm chất lượng cuộc sống cộng đồng tại các khu, điểm du lịch
Trang 3Vì vậy, để kinh tế du lịch phát triển bền vững, ngành Du lịch Hà Nội cầngiải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế du lịch, gắn với bảo tồn, giữgìn các di sản, bảo vệ môi trường sinh thái, sớm đưa du lịch thực sự trở thànhngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô Đây cũng chính là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Với lý do đó tác giả chọn vấn đề: “Phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành
phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trước sức ép từ sự bùng nổ du lịch lên môi trường sống của con người,phải đến những năm 90 của thế kỷ XX người ta mới bắt đầu đề cập đến khái
niệm “Du lịch bền vững” Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu
về phát triển du lịch, với cách tiếp cận là một hoạt động kinh tế theo hướngbền vững nhưng chưa nhiều, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.Trong đó, tiêu biểu có các công trình khoa học sau:
“Du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2001 Cuốn sách giới thiệu những vấn đề về mối quan
hệ giữa du lịch và môi trường Khái niệm, nguyên tắc, chính sách của du lịchbền vững, du lịch bền vững ở những vùng sinh thái nhạy cảm như du lịchmiền núi, du lịch ven biển, du lịch sinh thái
“Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam”,
đề tài cấp Nhà nước do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương - Viện Nghiên
cứu Phát triển Du lịch làm Chủ nhiệm đề tài, năm 2002 Đề tài khá toàn diện
trong nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững từ trước tới nay, trong đó đã hệthống hoá các vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững; xác định nhữngvấn đề cơ bản đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững thông qua phân tíchthực trạng phát triển du lịch Việt Nam từ năm 1992 Tổng quan một số kinhnghiệm quốc tế về phát triển du lịch bền vững; đề xuất hệ thống các giải phápđảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam; thửnghiệm nghiên cứu mô hình phát triển du lịch bền vững ở khu vực cụ thể
Trang 4Luận án tiến sĩ kinh tế có một số công trình: “Một số giải pháp phát
triển du lịch bền vững thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”, tác giả Đoàn
Liêng Diễm, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003.Luận án đã trình bày tổng quan những vấn đề lý luận - thực tiễn về phát triển
du lịch bền vững; thực trạng và tiềm năng phát triển, giải pháp và phác họa
mô hình phát triển du lịch bền vững “Phát triển du lịch bền vững ở Phong
Nha - Kẻ Bàng”, tác giả Trần Tiến Dũng, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội, năm 2006 Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và kinh nghiệmquốc tế về phát triển du lịch bền vững; chỉ ra thực trạng và c ác giải phápphát triển du lịch bền vững ở Phong Nha - Kẻ Bàng
Phát triển kinh tế du lịch gắn với quốc phòng - an ninh, những năm vừaqua đã có một số công trình đi sâu nghiên cứu Luận án tiến sĩ kinh tế của tác
giả Nguyễn Đình Sơn, hoàn thành năm 2007 về: “Phát triển kinh tế du lịch ở
vùng du lịch Bắc Bộ và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh” Luận án chỉ
ra những vấn đề lý luận chung và kinh nghiệm phát triển kinh tế du lịch kết hợpvới củng cố quốc phòng - an ninh Thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở vùng
du lịch Bắc Bộ và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh Phương hướng,mục tiêu và giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế du lịch ở Vùng du lịch Bắc
Bộ kết hợp với tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh
Luận văn thạc sĩ kinh tế có các công trình: “Phát triển kinh tế du lịch
và tác động của nó tới quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh Hà Tây”, tác
giả Nguyễn Đình Sơn, hoàn thành năm 2003; “Phát triển kinh tế du lịch
biển và tác động của nó đến củng cố quốc phòng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện nay”, tác giả Mai Văn Điệp, hoàn thành năm 2006; “Phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay”, tác giả Nguyễn Anh Tuấn, hoàn
thành năm 2009; “Phát triển kinh tế du lịch gắn với bảo vệ chủ quyền an
ninh biên giới ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay”, tác giả Trần Quốc Hoàn, hoàn
thành năm 2010 Các công trình đã đi sâu nghiên cứu khái niệm du lịch, kinh
Trang 5tế du lịch, một vài công trình đã phân tích tác động của việc phát triển kinh
tế du lịch đến quốc phòng - an ninh; đồng thời chỉ ra thực trạng và giải phápnhằm phát triển kinh tế du lịch, phát triển kinh tế du lịch gắn với củng cốquốc phòng - an ninh ở một địa phương cụ thể
Ở thành phố Hà Nội, đã có một số công trình nghiên cứu về địa chất,địa mạo, đa dạng sinh học cũng như việc đẩy mạnh phát triển du lịch Tiêubiểu có những công trình sau:
“Du lịch Thăng Long - Hà Nội” của Tiến sĩ Trương Sỹ Vinh làm chủ biên,
Nhà xuất bản Hà Nội, năm 2010 Cuốn sách giới thiệu tổng quan những giá trị tựnhiên, văn hóa lịch sử có ý nghĩa với sự phát triển du lịch của Hà Nội; khái quátnhững thành tựu của ngành Du lịch Hà Nội qua các thời kỳ phát triển (chủ yếu làtrước thời điểm Hà Nội mở rộng địa giới hành chính - 01/8/2008); phân tíchnhững cơ hội, thách thức đối với du lịch Thủ đô trong quá trình hội nhập và pháttriển, đồng thời đưa ra phương hướng phát triển du lịch Hà Nội trong thời gian tới
Về phía luận văn, luận án có các công trình sau: “Những giải pháp chủ
yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội”, tác giả Bùi Thị Nga, Luận án
phó tiến sĩ khoa học kinh tế, Học viện Quân y, Hà Nội, năm 1996; “Giải pháp
cơ bản khai thác tiềm năng du lịch của Thủ đô và phụ cận nhằm phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010”, tác giả Nguyễn Thị Nguyên Hồng, Luận án tiến
sĩ kinh tế, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, năm 2004; “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp du lịch nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới”, tác giả Vũ Đức Minh, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại
học Thương mại, Hà Nội, năm 2004; “Phát triển du lịch theo hướng bền
vững ở khu vực tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội)”, tác giả Hồng Thị Minh,
Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008; “Một số giải
pháp phát triển du lịch Hà Nội”, tác giả Lưu Anh Tuấn, Luận văn thạc sĩ kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009; “Xúc tiến đầu tư phát triển du lịch
Trang 6Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Hoàng Văn Hoàn, Luận án tiến sĩ
kinh tế, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội, năm 2010 Các luận văn, luận
án đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về du lịch, phát triển du lịch, nguồn nhânlực du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch…; chỉ ra những tiềm năng và lợi thế (tàinguyên thiên nhiên và truyền thống văn hóa lịch sử của Thủ đô ngàn năm vănhiến); thực trạng phát triển du lịch Hà Nội về quy hoạch, chính sách đầu tư,điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ lao động, thị trường, vai trò quản lý nhànước… đồng thời đưa ra những định hướng và giải pháp để phát triển du lịch
Hà Nội từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Ngoài các công trình, luận văn, luận án nêu trên, một số bài báo khoahọc có liên quan đến chủ đề của luận văn đã được công bố trên một số tạp chí
chuyên ngành như: “Thực trạng và những vấn đề đặt ra để phát triển du lịch bền
vững”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12/2004 của tác giả Phạm Trung Lương;
“Xây dựng môi trường phát triển du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Trọng
Hoàng, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 12/2004; “Bảo vệ các cảnh quan và đa
dạng sinh học để phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” , tác giả Đặng
Huy Huỳnh, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 5/2005; “Môi trường xã hội
nhân văn để phát triển du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Thế Kỷ, Tạp chí Du
lịch Việt Nam, số 7/2005; “Môi trường tự nhiên với phát triển du lịch bền
vững ở Việt Nam”, tác giả Phạm Lê Thảo, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số
8/2005;“Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch bền vững”, tác giả
Lê Hải, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 3/2006; “Phát triển du lịch bền vững
quan hệ gắn bó với quốc phòng - an ninh”, tác giả Nguyễn Đình Sơn, Tạp chí
Du lịch Việt Nam, số 6/2006; “Phát triển bền vững du lịch Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả Nguyễn Văn Mạnh, Tạp chí Du
lịch Việt Nam, số 1/2008; “Du lịch Hà Nội: Hội nhập và hướng tới phát triển
bền vững”, bài tham luận của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hà Văn Hội tại Hội thảo
“Phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình”, Báo
Trang 7điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 8/10/2010 Nội dung các bài báo khoa họccủa các tác giả kể trên đã đề cập một cách chung nhất về phát triển du lịch bềnvững, đồng thời chỉ ra các mối liên hệ, tác động giữa phát triển du lịch bềnvững với các yếu tố như tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, văn hóa
- xã hội, quốc phòng - an ninh, đường lối đối ngoại…
Tóm lại, từ góc độ phát triển du lịch bền vững với hướng tiếp cận là mộthoạt động kinh tế trong phạm vi cả nước và từng địa phương đã có một số côngtrình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn Đây là cơ sở khoa học quan trọnggiúp tác giả làm tư liệu tham khảo trong luận văn của mình Song tác giả thấyrằng, cho đến nay vấn đề phát triển kinh tế du lịch bền vững ở Hà Nội chưa cócông trình khoa học nào nghiên cứu một cách cách đầy đủ, có hệ thống Vì vậy,
đề tài của luận văn không trùng lắp với bất kỳ công trình nào đã công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi của luận văn
* Mục đích:
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế du lịch bền vững
ở thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm phát triểnkinh tế du lịch bền vững của Thủ đô trong thời gian tới
* Nhiệm vụ:
Luận giải những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế du lịch bền vững Phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển kinh tế du lịch của thành phố
Hà Nội trên quan điểm phát triển bền vững
Đề xuất các quan điểm, giải pháp để phát triển kinh tế du lịch bền vững
ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới
* Đối tượng nghiên cứu: luận văn đi sâu nghiên cứu phát triển kinh tế
du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội
* Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển kinh tế du lịch
bền vững ở thành phố Hà Nội, số liệu điều tra khảo sát giai đoạn 2000 - 2010
Trang 8Về không gian: Toàn bộ thành phố Hà Nội trước và sau khi điều chỉnh
địa giới hành chính (01/8/2008)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam và các Nghị quyết của Đại hội đại biểu Đảng bộ, Ban Chấp hành Thành
ủy Hà Nội về phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô, trong đó có đề cập đến pháttriển kinh tế du lịch; đồng thời luận văn sử dụng số liệu khảo sát thực tế, thamkhảo các tài liệu và kế thừa kết quả của các công trình khoa học có liên quan
đã công bố trước đó
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử
dụng phương pháp chung là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học kinh tế chính trị là phương pháptrừu tượng hóa khoa học Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiêncứu khác như: phương pháp thống kê, so sánh, thu thập, phân tích, tổng hợp tàiliệu, phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn và phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về phát triển kinh tế dulịch bền vững; phân tích tiềm năng du lịch, đánh giá những thành tựu cũng
như hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội thời
gian qua; đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế
du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới; góp phần cung cấp
thêm cơ sở khoa học cho việc xác định chủ trương, giải pháp phát triển kinh
tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội và các địa phương khác
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và phụ lục
Trang 9Chương 1 PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH BỀN VỮNG Ở THÀNH PHỐ
HÀ NỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề chung về phát triển kinh tế du lịch bền vững
1.1.1 Phát triển kinh tế du lịch bền vững
* Khái quát quan niệm về du lịch
Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sởthích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Thuật ngữ du lịch bắtnguồn từ tiếng Hy Lạp: “Tonos” - nghĩa là đi một vòng Sau này được La tinhhoá thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòngquanh, cuộc dạo chơi Theo Robert Langquar, từ Tourism (du lịch) lần đầutiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá nênnhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa
Về khái niệm du lịch, do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, góc
độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tác giả lại có một cách hiểu khác nhau Khiđiểm lại các công trình nghiên cứu về du lịch, Giáo sư, Tiến sĩ Berkener, mộtchuyên gia uy tín về lĩnh vực du lịch trên thế giới, đã đưa ra nhận xét: “Đốivới du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [14,tr.9] Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả không đi sâu phân tích cácquan niệm khác nhau về du lịch mà chỉ đưa ra quan niệm chung nhất, bảođảm tính hệ thống cho luận văn mà thôi
Khi bàn về mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, theo Các Mác:
“Sản xuất, coi là trực tiếp đồng nhất với tiêu dùng và tiêu dùng coi là trực tiếp
ăn khớp với sản xuất, cái đó các nhà kinh tế học gọi là tiêu dùng sản xuất”,
“Tiêu dùng đồng thời cũng trực tiếp là sản xuất, cũng giống như trong tựnhiên, tiêu dùng các nguyên tố hóa chất là sự sản xuất ra thực vật” [26,tr.600] Du lịch cũng vậy, đây là hoạt động của con người luôn diễn ra đồngthời cả hai mặt sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm du lịch, trong đó, ngườikinh doanh du lịch tạo ra và cung ứng các sản phẩm du lịch đảm bảo nhu cầu
Trang 10của du khách, còn khách du lịch là những người trả tiền để được tiêu dùng cácsản phẩm đó Chỉ khi hai hoạt động diễn ra đồng thời thì mới đảm bảo mộttour du lịch hoàn chỉnh Như vậy, du lịch là một hoạt động có sự thống nhấtbiện chứng giữa người cung cấp và người tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ du
lịch Dựa trên cách tiếp cận trên có thể tách thuật ngữ “Du lịch” thành hai phần để định nghĩa nó, qua đó “Du lịch” được hiểu như sau:
Thứ nhất, du lịch là “sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch
vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng” [44, tr.18].
Thứ hai, du lịch là “một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh” [44, tr.18].
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thànhphần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch vừa
có đặc điểm của ngành kinh tế lại vừa có đặc điểm của ngành văn hóa - xã hội
* Khái quát quan niệm về kinh tế du lịch
Vẫn theo hướng tiếp cận đảm bảo tính hệ thống cho luận văn, tác giảkhông đi sâu phân tích các quan niệm khác nhau về kinh tế du lịch mà chỉ đưa
ra quan niệm mang tính khái quát nhất theo góc độ nghiên cứu
Ở giai đoạn đầu do trình độ phát triển của sản xuất còn thấp, giao thông đilại khó khăn nên hoạt động du lịch chưa thực sự phổ biến, chủ yếu của vua chúa,quý tộc Mối quan hệ kinh tế trong hoạt động du lịch còn mang tính ngẫu nhiên,chưa được coi là một ngành kinh tế riêng biệt Đến giữa thế kỷ XIX, sự phát triểnnhanh chóng của du lịch, đã đưa du lịch ngày càng trở thành một bộ phận quantrọng của hoạt động kinh tế - xã hội; trên thế giới bắt đầu hình thành một ngànhnghề mới, ngành du lịch - lấy doanh lợi làm mục đích gọi là kinh tế du lịch
Trang 11Trên thế giới cũng như Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về kinh
tế du lịch Theo các tác giả Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (TrungQuốc): về bản chất “Kinh tế du lịch là một hoạt động kinh tế, là tổng thể cáchành vi phối hợp với nhau của hoạt động kinh tế nói chung với hoạt động kinh
tế du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu về du lịch” [27, tr.228] Ở Việt Nam,
trong Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Kinh tế du lịch là một loạihình kinh tế có tính đặc thù mang tính dịch vụ và thường được xem như ngànhcông nghiệp không khói, gồm du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chứcnăng nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước(tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử…) nhằm thu hútkhách du lịch trong nước và ngoài nước tổ chức buôn bán xuất nhập khẩu tại
chỗ hàng hóa dịch vụ cho khách du lịch” [54, tr.586]
Từ các quan niệm trên cho thấy, cách tiếp cận của các tác giả mới chỉ đềcập đến mặt kinh tế - kỹ thuật là chủ yếu mà chưa đề cập hoặc có đề cập thì cũngchưa thực sự rõ nét mặt kinh tế - xã hội trong hoạt động kinh doanh du lịch - đó
là yếu tố con người, mối quan hệ, tác động lẫn nhau giữa con người với conngười, con người với tự nhiên trong vai trò là chủ thể sáng tạo ra các sản phẩm
du lịch và đồng thời cũng là lực lượng tiêu thụ những sản phẩm đó Đứng trêngóc độ của kinh tế chính trị học, tác giả cho rằng kinh tế du lịch là tổng hòa cácmối quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế, kinh tế với xã hội, nó đượchình thành trên cơ sở phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa cùng nhu cầu về vậtchất, tinh thần ngày càng nâng cao của con người Từ góc tiếp cận đó, tác giảnhất trí cao với quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Đình Sơn: “Kinh tế du lịch là mộtngành kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực du lịch dịch vụ, nó là một loại hình kinh
tế phản ánh bước tiến mới của lực lượng sản xuất, là quá trình tổ chức khai tháccác tài nguyên du lịch của đất nước thành sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách
du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa
và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng cho du khách, góp phần nâng caođời sống vật chất, tinh thần cho con người, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
Trang 12Ở các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì có mục đích, tính chất
và chiến lược phát triển kinh tế du lịch khác nhau” [42, tr.23]
Dựa trên cơ sở quan niệm của các học giả đi trước, tác giả cho rằng:
Thứ nhất, kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù Nó đề
cập đến các hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực du lịch, trong đó loại hìnhdịch vụ là chủ yếu Trên cơ sở tài nguyên du lịch, chủ thể kinh doanh tạo ranhững sản phẩm hàng hóa du lịch đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, hưởng thụcủa du khách Trên thị trường du lịch, ngoài những đặc điểm như hàng hóa nóichung, sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm riêng: nó có thể vừa là vật chấthoặc phi vật chất khi đem ra trao đổi giữa nhà cung cấp du lịch với khách dulịch và cái được đối với du khách là sự cảm giác, trải nghiệm hay hưởng thụ
Sự trao đổi này cũng không làm thay đổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trongquá trình chuyển đổi cũng không xảy ra sự dịch chuyển sản phẩm, chỉ là dukhách có quyền sở hữu tạm thời sản phẩm du lịch tại nơi mình đến Cùng mộtsản phẩm du lịch có thể bán được nhiều lần cho nhiều du khách khác nhau sửdụng, còn quyền sở hữu trước sau vẫn thuộc về người cung cấp sản phẩm đó
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của kinh tế du lịch mang tính thời vụ cao.
Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch tồn tại bởi tác động của tập hợp nhiềunhân tố như các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, cách thức tổ chức, kỹ thuật,tâm lý, phong tục, tập quán, cung - cầu trên thị trường… Ngoài ra, tình hìnhthời tiết, biến đổi khí hậu, thiên tai, quốc phòng - an ninh… cũng là nhân tố tácđộng đến tính thời vụ trong kinh doanh du lịch Một số nhân tố tác động chủyếu lên cung du lịch, một số khác tác động chủ yếu lên cầu du lịch, có nhân tốtác động lên cả cung và cầu du lịch Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch đượcbiểu hiện ra là: các khu du lịch nghỉ mát thường vắng khách vào mùa đôngnhưng lại rất đông khách vào mùa hè; các khu du lịch tâm linh thu hút đượcnhiều khách du lịch vào các mùa lễ hội; các nhà hàng trong khách sạn thườngđông khách ăn vào trưa hoặc chiều tối; hoặc các khách sạn gần trung tâm thànhphố thường đông khách vào ngày nghỉ cuối tuần…
Trang 13Thứ ba, chức năng, nhiệm vụ của kinh tế du lịch là tổ chức khai thác các
tài nguyên du lịch của đất nước - gồm các tài nguyên du lịch thiên nhiên (đấtđai, khí hậu, sông suối, rừng núi…); tài nguyên du lịch nhân văn (các di tích
cổ, kiến trúc cổ, ẩm thực, tôn giáo, hội họa…) - từ đó xây dựng nên những sảnphẩm du lịch hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước; thựchiện các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ du lịch, thu ngoại tệgóp phần tăng thu nhập quốc dân cho địa phương và quốc gia đó
Thứ tư, quá trình phát triển của kinh tế du lịch gắn liền với quá trình vận
động phát triển của lực lượng sản xuất Kinh tế du lịch là một trong những nhân tốphản ánh lực lượng sản xuất xã hội ở một trình độ phát triển trong một giai đoạnlịch sử nhất định, nó luôn gắn liền với quá trình phát triển của con người, thể hiệnquá trình sản xuất và tiêu dùng của con người ở một trình độ cao hơn, sản xuấthàng hóa và dịch vụ đa dạng, phong phú hơn Khi lực lượng sản xuất càng pháttriển thì kinh tế du lịch càng có môi trường hoạt động rộng rãi và khả năng liên kếtcao với các ngành kinh tế khác, giữa các vùng miền, khu vực, các quốc gia dântộc với nhau thông qua mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trìnhsản xuất, tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ du lịch Nó thúc đẩy việc mở rộng mốiquan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, giúp con ngườichinh phục, cải tạo, bảo vệ thiên nhiên có hiệu quả bền vững hơn
Thứ năm, các quốc gia có điều kiện kinh tế và chế độ chính trị - xã hội
khác nhau thì quan điểm, mục đích và chiến lược phát triển kinh tế du lịch khácnhau Ở mỗi một quốc gia lại có điều kiện kinh tế, văn hóa lịch sử, tài nguyên
và chế độ chính trị - xã hội khác nhau nên việc xác định quan điểm, mục đích,xây dựng chiến lược phát triển kinh tế du lịch không một quốc gia nào giốngquốc gia nào Tùy vào điều kiện riêng, từng nước sẽ xác định quan điểm, mụctiêu (trước mắt, trung hạn, dài hạn), quy mô phát triển, sản phẩm du lịch đặcthù… trong chiến lược phát triển kinh tế du lịch của quốc gia mình Các quốcgia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau có mục đích phát triển kinh tế du lịchkhác nhau ở chỗ phân chia lợi ích từ hoạt động kinh doanh du lịch (những lợiích đó sẽ đem lại cho ai, ai là người được hưởng thụ những nguồn lợi mà kinh
Trang 14tế du lịch đem lại) và bằng việc họ phân chia tỷ lệ, quan tâm đến mức độ nhưthế nào với tiêu chí kinh tế, tiêu chí văn hóa - xã hội, tiêu chí môi trường sinhthái… trong quá trình phát triển kinh tế du lịch Ở các nước tư bản chủ nghĩa,mục đích hàng đầu, tối thượng là tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở khai thác mộtcách triệt để, cùng kiệt các tài nguyên du lịch (trong thời hạn hợp đồng kinhdoanh du lịch) và tất nhiên, hầu hết phần lợi nhuận đó thuộc về nhà tư bản nắmquyền sở hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; các tiêu chí về văn hóa - xãhội, bảo tồn tài nguyên du lịch, môi trường sinh thái thường ít được quan tâm
và coi trọng đúng mức Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, việc phát triển kinh
tế du lịch bền vững luôn được cân nhắc, tính toán cẩn thận trong việc ưu tiênhợp lý, thỏa đáng đối với cả 3 tiêu chí: kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trườngsinh thái Những lợi ích mang lại được phân chia công bằng, bình đẳng cho cảdoanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền và nhân dân địaphương Tất cả mọi người đều có cơ hội được thụ hưởng những giá trị đíchthực từ chiến lược phát triển kinh tế du lịch bền vững
* Quan niệm về phát triển kinh tế du lịch bền vững
Hiện nay, phát triển kinh tế du lịch bền vững đang nhận được sự quantâm đặc biệt của nhiều quốc gia trên thế giới; tuy nhiên, đây là một phạm trùcòn khá mới mẻ nên còn nhiều quan điểm khác nhau:
Với cách tiếp cận là một hoạt động kinh tế, tác giả Machado địnhnghĩa: Du lịch bền vững là “các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tạicủa khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnhhưởng tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi
về kinh tế nhưng không phá hủy tài nguyên mà tương lai của du lịch phụthuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên và kết cấu xã hội của cộng đồngđịa phương” [7, tr.13] Theo định nghĩa trên, tác giả mới chỉ tập trung vàotính bền vững của các hình thức du lịch (sản phẩm du lịch), chứ chưa đề cậpmột cách tổng quát tính bền vững cho toàn ngành Du lịch
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới: “Du lịch bền vững là việcđáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm
Trang 15những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” [20, tr.63].Dựa trên quan điểm phát triển bền vững thì định nghĩa trên là tương đối kháiquát Tuy nhiên, định nghĩa này còn quá chung chung, chỉ mới đề cập sự đápứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu củacộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học
Định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới: “Du lịch bền vững là việcphát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách dulịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạocác nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch tương lai Du lịchbền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn cácnhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trìđược sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinhthái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người” [7, tr.14] Đây là mộtđịnh nghĩa khá hoàn chỉnh, hàm chứa được nội dung, các yếu tố liên quan đếnkinh tế du lịch bền vững Định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồngdân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa
Ở Việt Nam khái niệm phát triển kinh tế du lịch bền vững đã được đềcập đến và cũng xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau:
Quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương - Viện Nghiên cứuPhát triển Du lịch cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là một hoạt động khaithác một cách có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn nhu cầu
đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫnđảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sựtoàn vẹn văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo
vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [25]
Ngoài ra, trong cuốn “Du lịch bền vững”, tác giả Nguyễn Đình Hoè,
Vũ Văn Hiếu đã chỉ ra 10 nguyên tắc phát triển kinh tế du lịch bền vững [20,tr.65-66]; Hội đồng khoa học của Tổng cục Du lịch cũng đã đưa ra 12 mụctiêu phát triển kinh tế du lịch bền vững [7, tr.15]
Trang 16Các quan điểm trên thế giới cũng như Việt Nam đã đề cập nhiều đếnmục tiêu, nguyên tắc của phát triển kinh tế du lịch bền vững Trên cơ sở kếthừa những quan niệm của các học giả đi trước, kết hợp với thực tế nghiêncứu quá trình phát triển kinh tế du lịch ở thành phố Hà Nội, tác giả cho rằng:
Phát triển kinh tế du lịch bền vững là một hoạt động kinh tế, dựa trên cơ sở khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch để tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của du khách, góp phần mở rộng các nguồn lực sản xuất, duy trì ổn định và lâu dài các chỉ tiêu tăng trưởng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thúc đẩy văn hóa - xã hội địa phương phát triển, có đóng góp tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn tài nguyên du lịch cho các thế hệ tương lai và bảo đảm ổn định
về quốc phòng - an ninh, trật tự - toàn xã hội trên địa bàn.
Từ cách hiểu về “Phát triển kinh tế du lịch bền vững”, tác giả quan niệm:
Thứ nhất, cơ sở quan trọng nhất trong phát triển kinh tế du lịch bền
vững là tạo ra được các sản phẩm du lịch độc đáo, chất lượng cao hay nóicách khác chính là những “sản phẩm du lịch bền vững”
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầucủa khách du lịch trong chuyến đi du lịch Nó được được tạo nên bởi sự kếthợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồnlực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốcgia nào đó… hợp thành tổ hợp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu, mong muốn tiêudùng của du khách kể từ lúc họ rời khỏi nhà cho đến khi họ về
Tiêu chí của sản phẩm du lịch bền vững cần đáp ứng các yêu cầu về chấtlượng, tính đặc thù và hiệu quả kinh tế Tiêu chí về tính đặc thù đòi hỏi các sảnphẩm du lịch khi trùng tu, tôn tạo nên giữ đúng hình thái nguyên thủy vốn cónhằm phân biệt nét độc đáo của sản phẩm giữa các vùng miền, nâng cao tính cạnhtranh trong việc thu hút du khách Đối với tiêu chí về kinh tế: mọi sản phẩm dulịch bền vững phải luôn mang tính sáng tạo, có sức hấp dẫn, có hàm lượng khoahọc cao và có thể phân phối cho nhiều người một lúc, nhiều người sử dụng, giá trị
Trang 17tăng thêm lớn, đem lại lợi ích kinh tế cho ngành, cho dân cư địa phương và cho xãhội, đồng thời phải duy trì lợi ích ấy trong khoảng thời gian dài Tiêu chí về chấtlượng: sản phẩm du lịch phải kết hợp được cả tính hiện đại và tính dân tộc, thỏamãn tối đa nhu cầu của du khách, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của thị trường,đảm bảo an toàn, đồng thời phải được sản xuất trong điều kiện không ô nhiễm vàquá trình sử dụng không làm ô nhiễm môi trường, mai một giá trị văn hóa bản địa.Các tiêu chí được quan tâm đầy đủ trong quá trình sản xuất, cung ứng các sảnphẩm du lịch phục vụ du khách là cơ sở để kéo dài chu kỳ sống của chính nó.
Thứ hai, nội dung phát triển kinh tế du lịch bền vững thể hiện trên 3
khía cạnh, đó là: sự bền vững về kinh tế; sự bền vững về văn hóa, xã hội; sựbền vững về môi trường
Sự bền vững về kinh tế: Sự phát triển của kinh tế du lịch phải bảo đảm
tăng trưởng hiệu quả, ổn định và lâu dài về kinh tế Kinh tế du lịch phải tạo ranguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế - xã hội nóichung và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của một quốc gia, củađịa phương có tài nguyên du lịch
Sự bền vững về văn hóa, xã hội: Không ngừng nâng cao và cải thiện chất
lượng cuộc sống cho tất cả mọi người trong suốt quá trình phát triển Quá trình khaithác đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoáicác giá trị văn hóa truyền thống đã có và để lại hậu quả xấu cho các thế hệ tiếp theo
Sự bền vững về môi trường: Phát triển kinh tế du lịch không làm suy
thoái hay hủy diệt môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Việc sử dụngcác tài nguyên không vượt quá khả năng tự phục hồi của nó, vừa đáp ứngđược nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo chotương lai để đáp ứng được nhu cầu cho thế hệ mai sau
Thứ ba, các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch bền vững.
Xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế du lịch bềnvững là cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành, du khách, cơ quan quản lý và cộngđồng nhận thức và hành động đúng trong quá trình phát triển kinh tế du lịch.Theo đó, phát triển kinh tế du lịch bền vững cần có những tiêu chí sau đây:
Trang 18Một là, tiêu chí về quy hoạch, quản lý du lịch.
Đây là cơ sở đầu tiên để xây dựng các tiêu chí khác Phát triển bền vữngphải được đặt ra trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển, bắt đầu
từ việc thiết kế, thi công cơ sở hạ tầng du lịch: phải chấp hành những quy định
về bảo tồn di sản tại địa phương; tôn trọng những di sản thiên nhiên và phongtục tập quán của địa phương trong công tác thiết kế; đánh giá được những tácđộng cả tích cực, tiêu cực và áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững phù
hợp Trong công tác quản lý du lịch, cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, các
doanh nghiệp kinh doanh du lịch cần thực hiện hệ thống quản lý chặt chẽ, phùhợp với quy mô và khả năng của mình để góp phần giải quyết tốt các vấn đề vềmôi trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và an toàn cho cộng đồng; tuân thủ luậtpháp và quy định có liên quan đến lĩnh vực du lịch; tất cả nhân viên được đàotạo định kỳ về nhiệm vụ của họ trong quản lý môi trường, văn hóa xã hội, sứckhỏe và các thói quen an toàn; cần lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của kháchhàng để có các biện pháp điều chỉnh phù hợp; quảng cáo đúng sự thật về các sảnphẩm du lịch; cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường du lịch, di sản,văn hóa địa phương, đồng thời giải thích cho họ những quy định khi tham quancác khu vực tự nhiên, di sản văn hóa quốc gia và thế giới
Hai là, tiêu chí về kinh tế.
Tiêu chí về kinh tế được đánh giá dựa trên sự phát triển ổn định và lâu dàicủa sản phẩm du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởngkinh tế của xã hội và đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là cho người dân địaphương nơi có tiềm năng du lịch Lấy doanh thu hay mức tăng GDP, GNP từngành Du lịch là tiêu chí quan trọng để bảo đảm sự tồn tại cho hoạt động kinh tế
du lịch, song phải đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, hiệu quả và bền vững Tổ chứckinh doanh các sản phẩm du lịch dựa trên điều kiện về thiên nhiên, lịch sử và vănhóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ công, nghệ thuật biểudiễn và các mặt hàng nông sản) nhằm không ngừng thu hút, gia tăng số lượng dukhách đến tham quan và quay trở lại các điểm du lịch; chú trọng việc sử dụng hợp
Trang 19lý tài nguyên du lịch trong quá trình sản xuất kinh doanh, tận dụng tối đa cácnguồn tài nguyên có thể tái tạo; chủ động chia sẻ lợi nhuận thu được từ kinhdoanh du lịch (tài chính, nhân lực hoặc vật chất) để hỗ trợ các hoạt động phục vụcộng đồng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Ba là, tiêu chí về môi trường, sinh thái.
Kinh tế du lịch có mối quan hệ gắn bó mật thiết với môi trường, sinh thái
Vì vậy, phát triển kinh tế du lịch bền vững đòi hỏi phải khai thác và sử dụng hợp
lý (không vượt quá khả năng tự phục hồi) các nguồn tài nguyên tái sinh vàkhông tái sinh, tìm cách gia tăng sự bền vững của môi trường và giảm nhẹ tácđộng tiêu cực, vừa đảm bảo nhu cầu hiện tại cũng như nhu cầu của thế hệ mai
sau Có biện pháp tích cực trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên (ưu tiên phát triển
những sản phẩm du lịch, dịch vụ thân thiện môi trường; cân nhắc thận trọng khixây dựng các sản phẩm tiêu dùng khó phân hủy và hạn chế sử dụng các sảnphẩm ảnh hưởng không tốt tới môi trường sinh thái; thực hiện các hoạt động tiếtkiệm năng lượng đồng thời ứng dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng mới,khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo; có biện pháp sử dụng lượng nước hợp
lý, lắp các thiết bị tiết kiệm nước, thu hồi và sử dụng nước mưa); giảm thiểu ô
nhiễm môi trường (kiểm soát lượng khí thải, thay mới các công nghệ sản xuất
nhằm hạn chế hiệu ứng nhà kính, hướng đến cân bằng khí hậu; phân loại rác thải
để xử lý riêng; sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường (sản phẩm làm từ vậtliệu tái chế, chất tẩy rửa có nguồn gốc hữu cơ, sản phẩm có nhãn xanh), hạn chế
sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn, thuốc tẩy, thay thế bằng cácsản phẩm không độc hại, quản lý chặt chẽ các hóa chất được sử dụng; áp dụngcác quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước thải, chất gây xóimòn, hợp chất gây suy giảm tầng ôzôn và chất làm ô nhiễm không khí, đất; thamgia vào các chiến dịch về môi trường hay biến đổi khí hậu của địa phương và
quốc tế (chương trình Giờ trái đất, trồng cây xanh, đi xe đạp…); bảo tồn đa
dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên (không bắt giữ và tiêu thụ
động vật hoang dã; không bán quà lưu niệm, thực phẩm, món ăn làm từ động,
Trang 20thực vật hoang dã được bảo vệ theo pháp luật và các công ước quốc tế; có chínhsách, chương trình đào tạo, bảng thông tin phổ biến luật về bảo tồn đa dạng sinhhọc, hệ sinh thái, cảnh quan, khai thác, mua bán động, thực vật hoang dã chonhân viên và khách hàng; đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinhhọc; hạn chế mọi tác động tiêu cực lên hệ sinh thái tự nhiên, cảnh quan môitrường).
Bốn là, tiêu chí về văn hóa.
Phát triển kinh tế du lịch mà các giá trị văn hóa bị hủy hoại hoặc biếndạng sẽ không còn đủ sức thuyết phục, hấp dẫn du khách Do vậy, kinh tế dulịch bền vững phải dựa trên cơ sở gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa
và giảm nhẹ các tác động tiêu cực; quá trình khai thác vừa đáp ứng nhu cầuhiện tại nhưng không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống
đã có và để lại hậu quả xấu cho các thế hệ tiếp theo
Tiêu chí về văn hóa đòi hỏi phải: Tuân thủ các hướng dẫn và quy định
về hành vi ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảmnhẹ các tác động từ du khách; cung cấp, hướng dẫn và giải thích cho du kháchthông tin về di sản văn hóa, di sản thiên nhiên tại địa phương để du khách có thái
độ và hành vi phù hợp khi tham quan các điểm du lịch; thể hiện nét văn hóa,truyền thống của địa phương trong kiến trúc, các dịch vụ của cơ sở lưu trú;tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của dân cư bản địa khi sử dụng nghệ thuật, kiếntrúc, các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh, thiết kế,trang trí, ẩm thực; có trách nhiệm đóng góp cho công tác bảo tồn di tích lịch
sử, văn hóa, khảo cổ hay các sản vật có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, hỗ trợđịa phương phát triển các loại hình văn hóa dân tộc; không mua bán, trao đổi vàvận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản văn hóa vật thể thuộc sởhữu nhà nước hoặc đưa trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài;không lấn chiếm đất đai thuộc di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh
Năm là, tiêu chí về xã hội.
Trang 21Kinh tế du lịch bền vững phải không ngừng nâng cao và cải thiện chấtlượng cuộc sống cho tất cả mọi người, góp phần ổn định xã hội Nó phải làcông cụ trong việc xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho lực lượnglao động dư thừa địa phương Theo đó, trong quá trình phát triển kinh tế dulịch cần ưu tiên sử dụng các dịch vụ và hàng hoá là sản phẩm nội địa hoặc sảnphẩm, nguyên liệu được sản xuất tại địa phương nhưng không làm cạn kiệt tàinguyên; hỗ trợ các nhà cung ứng của địa phương phát triển, xúc tiến và bán các sảnphẩm du lịch độc đáo, đặc thù của địa phương tại cơ sở lưu trú du lịch; thực hiệntốt chính sách chống bóc lột thương mại, bóc lột tình dục, đặc biệt đối với trẻ
em chưa đến tuổi thành niên; công bằng trong việc tuyển dụng phụ nữ, ngườidân tộc thiểu số ở địa phương, kể cả vị trí quản lý, có chính sách riêng hỗ trợnhân viên nữ (chế độ thai sản, đào tạo, tư vấn sức khỏe sinh sản…); tuân thủluật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả lương đầy đủ
Sáu là, tiêu chí về quốc phòng - an ninh, trật tự - an toàn xã hội.
Kinh tế du lịch phát triển, mở cửa thu hút khách du lịch trong và ngoàinước, là điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm quốc tế, đối tượng hình sự
và tệ nạn xã hội trà trộn, len lỏi theo con đường du lịch để tiến hành các hoạtđộng gây rối an ninh, trật tự tại địa phương
Theo Luật Du lịch Việt Nam, một trong những nguyên tắc về phát triển
du lịch phải “bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng - an ninh, trật tự - antoàn xã hội” Do vậy, cần sự phối hợp chặt chẽ, liên ngành từ Trung ương đếnđịa phương, giữa lực lượng quân đội, công an, cơ quan quản lý du lịch, doanhnghiệp kinh doanh du lịch, chính quyền, nhân dân địa phương trong phát triểnkinh tế du lịch Kết hợp phát triển kinh tế du lịch với tăng cường, củng cố quốcphòng - an ninh ngay từ công tác quy hoạch, xây dựng chiến lược, kế hoạch pháttriển của mỗi ngành, mỗi cơ quan, đơn vị; tổ chức triển khai thực hiện tốt “Quychế phối hợp đảm bảo an ninh trật tự” trên các tuyến, điểm du lịch, đẩy mạnhphong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo vệ an ninh trật tự khu du lịch;xây dựng lực lượng quân đội và công an thực sự là lực lượng nòng cốt trongcủng cố quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự - an toàn xã hội,
Trang 22tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế du lịch; tăng cường quản lý Nhànước đối với hoạt động du lịch, không để kẻ địch lợi dụng phá hoại các mục tiêu,công trình kinh tế, văn hoá, an ninh - quốc phòng hay thực hiện “Diễn biến hòabình”, “Bạo loạn lật đổ” chống đối Đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoànkết toàn dân; nghiêm cấm các hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái phápluật hay truyền bá văn hoá phẩm đồi truỵ, mê tín, dị đoan; đấu tranh có hiệu quảvới bọn tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên các tuyến,điểm du lịch, không để tồn tại băng nhóm gây rối an ninh trật tự…
1.1.2 Sự cần thiết phải phát triển kinh tế du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay
Trước thực tế phát triển mạnh mẽ của ngành Du lịch trên thế giới, bêncạnh những tác động tích cực dễ nhận thấy, phát triển kinh tế du lịch cũngmang lại những tác động tiêu cực đến các nguồn tài nguyên du lịch, môitrường văn hóa - xã hội, môi trường sinh thái… ở nhiều quốc gia, trong đó cóViệt Nam Do vậy, phát triển kinh tế du lịch ở Việt Nam cần được xác địnhlại đúng đắn hơn, nghĩa là phải hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững.Đây chính là vấn đề cấp thiết hiện nay Điều đó xuất phát bởi các lý do sau:
Một là, xuất phát từ vai trò của phát triển kinh tế du lịch bền vững.
Phát triển kinh tế du lịch bền vững có thể tạo ra lợi nhuận như kinh tế
du lịch đơn thuần, nhưng có nhiều lợi ích được nằm lại với cộng đồng địaphương về cả mặt kinh tế, xã hội và môi trường Những chương trình, kếhoạch, đề án phát triển kinh tế du lịch được tính toán, cân nhắc thấu đáo ngay
từ lúc bắt đầu để giảm thiểu đến mức tối thiểu các tác động xấu của hoạt động
du lịch; cơ hội cũng như các đe dọa được xem xét và theo dõi cẩn thận nhằmbảo tồn các giá trị tốt, các nguồn lợi tự nhiên và mang lại nhiều lợi ích chocộng đồng Phát triển kinh tế du lịch bền vững mang nhiều ý nghĩa giáo dục
về bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch cho du khách và cộngđồng địa phương, ngăn ngừa sự suy thoái môi trường trong hiện tại và tươnglai Phát triển kinh tế du lịch bền vững đặt ra yêu cầu phải tạo ra những sảnphẩm du lịch chất lượng cao, độc đáo, khai thác trong thời gian dài, đem lại
Trang 23cho du khách những chuyến du lịch thực sự thoải mái, thỏa mãn và nguồn thuđáng kể cho nguồn ngân sách địa phương cũng như cộng đồng dân cư bản địa.
Hai là, xuất phát từ hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch đơn thuần.
Trong phát triển kinh tế du lịch đơn thuần, động cơ chính chỉ là tăng
doanh thu, lợi nhuận, quy mô, chiếm lĩnh thị trường Quy hoạch, kế hoạchphát triển không có tính chiến lược dài hạn nên quá trình thực hiện thườngbộc lộ nhiều thiếu sót Chi phí cho công tác bảo tồn thấp, việc xử lý các tácđộng xấu từ kinh doanh du lịch lúng túng, chậm trễ Kinh tế du lịch đơn thuầnthường tạo ra những sản phẩm du lịch mang tính thời vụ, chụp giật, ít đặc sắc,thiếu tính bền vững và hàm lượng khoa học không cao; việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học công nghệ mục đích chính để khai thác tài nguyên mộtcách tối đa Do đó, chỉ mang lại lợi ích chủ yếu cho ngành Du lịch và mộtphần cho khách du lịch mà ít quan tâm đến tuổi thọ của các tài nguyên dulịch, mang lại không nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương và có thể pháhuỷ nhanh chóng các môi trường nhạy cảm Vì vậy, phát triển kinh tế du lịchđơn thuần sẽ tạo ra một áp lực lớn cả về kinh tế, xã hội và môi trường
Ba là, xuất phát từ thực trạng phát triển kinh tế du lịch của Việt Nam
thời gian qua còn chứa đựng nhiều yếu tố thiếu bền vững
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 nhận định: Trong những năm vừa qua, “… bên cạnh những thành tựu đạtđược, ngành Du lịch còn nhiều hạn chế và bất cập; chưa có bước phát triển độtphá để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; phát triển nhưng vẫn ẩnchứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững” [48, tr.8] Điều đó thể hiện:
Thứ nhất, phát triển kinh tế du lịch ở nước ta còn thiếu bền vững về kinh tế Dù đã có nhiều cố gắng nhưng nhìn chung hệ thống sản phẩm du lịch
nước ta còn nghèo nàn, đơn điệu, sức cạnh tranh trên thị trường còn yếu, giátrị gia tăng thấp Chúng ta vẫn chưa tạo ra được những sản phẩm đặc trưng,mang tầm cỡ, có thương hiệu quốc gia Hệ thống cơ sở hạ tầng, vật chất kỹthuật du lịch chưa đồng bộ, chủng loại và chất lượng dịch vụ còn hạn chếchưa đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Trong lĩnh vực kinh doanh
Trang 24lưu trú du lịch, tình trạng vừa thiếu vừa thừa buồng ngủ đang xảy ra nghiêmtrọng Hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch mới chỉ tập trung quảng bá hìnhảnh, chưa tạo dựng và quảng bá được những sản phẩm đặc thù và thương hiệu
du lịch, hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch thấp Kết quả là thị phần củangành Du lịch của Việt Nam còn thấp so với khả năng và thấp hơn nhiềunước trong khu vực (chỉ đứng thứ 5 trong khối ASEAN sau Malaysia, TháiLan, Singapore và Inđônêxia); chưa thu hút được nhiều khách du lịch cao cấp,
tỷ trọng khách du lịch thuần túy, nghỉ dưỡng dài ngày, chi tiêu cao còn ít
Thứ hai, phát triển kinh tế du lịch thiếu bền vững về môi trường sinh thái.
Trong những năm qua, chất lượng môi trường đang là yếu tố gây cản trở sự pháttriển kinh tế du lịch, làm giảm sức thu hút khách và sức cạnh tranh quốc tế củangành Du lịch Việt Nam Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2008 dự báo:mỗi năm Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập từ ngành Du lịch,
do những cơ sở có hệ thống xử lý vệ sinh nghèo nàn Diễn đàn Kinh tế Thế giớinăm 2007 và năm 2008 đã tụt hạng Việt Nam từ vị trí thứ 93 xuống 122 trong số
133 nước được xếp hạng về mặt chất lượng môi trường, quản lý và kinh doanh
du lịch Thực tế chỉ ra, việc phát triển quá nhanh các hoạt động du lịch mà khôngcoi trọng đúng mức việc đánh giá và quản lý tác động môi trường tại các khuvực phát triển du lịch, không tuân theo quy hoạch chung, ý thức bảo vệ môitrường du lịch của người dân địa phương cũng như khách du lịch chưa tốt (nhưnạn xả rác bừa bãi, tàn phá rừng khai thác gỗ, săn bắn các loài thú, đánh bắt hảisản và các nguồn lợi từ biển, khai thác các khoáng sản quý trái phép tại các khuvực ưu tiên phát triển du lịch…) đã dẫn tới tình trạng ô nhiễm môi trường, biếndạng hệ sinh thái và tài nguyên du lịch tại hầu hết các khu, điểm du lịch, làmgiảm sút chất lượng cuộc sống của dân cư bản địa, ảnh hưởng đến khả năng thuhút khách và doanh thu của ngành Du lịch
Thứ ba, phát triển kinh tế du lịch thiếu bền vững về môi trường văn hóa
xã hội Thực tế hoạt động du lịch nước ta thời gian qua cho thấy, còn nhiều địa
phương và các điểm tham quan vẫn chưa tạo lập được ấn tượng cho khách về
môi trường văn hóa - xã hội Nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, độc đáo đang có xu
Trang 25hướng bị mai một, lai căng “Tây hóa” trước tác động của toàn cầu hóa Hiệntượng “bẩn - bực và buồn” trong tâm trạng của khách du lịch còn diễn ra kháphổ biến Ở nhiều khu du lịch, những hình ảnh không đẹp về văn hóa du lịch,cách hành xử thiếu văn minh của cư dân bản địa và cả khách du lịch như mộtcăn bệnh kinh niên, đó là: nạn vứt rác và đồ thải bừa bãi, vệ sinh không đúng nơiquy định, bẻ cành, hái hoa, viết bậy lên các di tích, buôn bán những hàng hoá vàvăn hoá phẩm cấm, ăn mặc thiếu lịch sự, những hành vi tác động xấu đến môitrường xã hội của địa phương như: cờ bạc, mại dâm, cướp giật, lừa đảo, ép mua,
ép giá, đeo bám, tranh giành khách…, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn khu
du lịch, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh đất nước và con người Việt Nam
Thứ tư, phát triển kinh tế du lịch còn chứa đựng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững về quốc phòng - an ninh Việc phối hợp với cơ
quan Công an, Quân đội để gắn lĩnh vực quốc phòng - an ninh vào xây dựngchiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế du lịch chưa thực sự đượcquan tâm đúng mức Quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹthuật phục vụ du lịch ở nhiều nơi mới chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt
mà chưa chú ý đến tính lưỡng dụng của các công trình, dự án; cá biệt trongthu hút vốn đầu tư nước ngoài xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ dulịch một số địa phương chưa tính toán cẩn thận đến thế trận quốc phòng - anninh, như các dự án liên doanh xây dựng Casino Đồ Sơn (Hải Phòng), kháchsạn cao tầng tại những vị trí đắc địa, trên những điểm cao chiến lược có tầmbao quát lớn ở Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số khu, điểm
du lịch ven biển khác… Thông qua con đường du lịch, các hoạt động truyềnđạo trái phép, tuyên truyền, kích động nhân dân địa phương, chia rẽ khối đạiđoàn kết dân tộc, thực hiện Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lựcthù địch chưa được phát hiện kịp thời và xử lý triệt để, gây mất an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn một số khu du lịch Nhiều doanhnghiệp kinh doanh du lịch chưa coi trọng công tác xây dựng lực lượng dự bịđộng viên, kinh phí cho hoạt động này còn thấp…
Trang 26Từ các lý do trên khẳng định, phát triển kinh tế du lịch bền vững ở Việt Nam
là con đường tất yếu, hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại vàChiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.Theo đó, phát triển bền vững kinh tế du lịch ở Thủ đô Hà Nội cũng nằm trong xuthế chung đó và thực sự cần thiết
1.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội
1.2.1 Lợi thế tiềm năng và vị trí của ngành Du lịch trong chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế du lịch bền vững thành phố Hà Nội
* Lợi thế tiềm năng
Thứ nhất, về vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn
Hà Nội nằm ở phía Tây Bắc của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông,tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hòa Bình, BắcGiang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Phú Thọ Ba phần tư diện tích tự nhiên của HàNội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu cáccon sông: sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Tô Lịch, sôngKim Ngưu Ngoài hệ thống sông, hệ thống hồ (hồ Tây, hồ Gươm, hồ Đồng
Mô, hồ Suối Hai, hồ Quan Sơn ) cũng là một trong những nét đặc trưng của
Hà Nội Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ nhiệt đới gió mùa ẩm, mùahè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa; độ ẩm và lượng mưa khá lớn,trung bình 114 ngày mưa/năm Đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là có đủbốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông Với vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn kể trên, đâychính là điều kiện lý tưởng, tiềm năng lớn để Hà Nội phát triển kinh tế du lịch
Thứ hai, về điều kiện kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại.
Hiện nay, dân số Hà Nội vào khoảng 6,69 triệu người, diện tích 3.329
km2, gồm 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện ngoại thành; đứng thứ hai về dân số vàđứng đầu cả nước về diện tích, là một trong 17 Thủ đô có diện tích lớn nhất thếgiới Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là địa phương có tốc độ đô thịhóa cao nhất cả nước, phát triển mạnh theo chiều rộng và có sức lan tỏa lớn
Trang 27Từ 2000 đến nay, kinh tế - xã hội của Hà Nội đạt được nhiều thành tựuđáng kể, kinh tế Thủ đô đã chặn được đà suy giảm và duy trì tốc độ tăng trưởngcao (giai đoạn 2000 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân là 10,9%, caogấp 1,49 lần cả nước) GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 2.014 USD,gấp hơn 1,7 lần trung bình cả nước và 1,75 lần so với Vùng đồng bằng sôngHồng, tính chung giai đoạn 2006 - 2010 đạt 36,79 triệu đồng/người/năm Cáclĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá - xã hội đều có bướcphát triển quan trọng Vấn đề việc làm có chuyển biến tích cực (trung bình từ
2006 - 2010 giải quyết việc làm cho trên 120.000 lao động/năm), tỷ lệ thấtnghiệp thành thị giảm từ 6,06% năm 2006 xuống còn 5,35% năm 2008 Sựnghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiến bộ Các phong trào đền ơn đápnghĩa phát triển sâu rộng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch - văn minh” được đẩy mạnhkết hợp với phong trào xây dựng Thủ đô văn minh - xanh - sạch đẹp
Đảm bảo tốt an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội nhất là những sựkiện mang tầm cỡ khu vực và quốc tế như: Hội nghị APEC năm 2006, Đại lễPhật đản Liên hiệp quốc 2008, Hội nghị Ngoại trưởng Á - Âu 2009 Chủđộng phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chủnghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong thực hiện chiến lược “Diễn biếnhòa bình”, “Bạo loạn lật đổ”, không để xảy ra khủng bố, phá hoại, bạo loạnchính trị Quan hệ giao lưu hợp tác với các nước trong khu vực, các tổ chứcquốc tế và các địa phương trong cả nước được mở rộng, đẩy mạnh Nhữngthành tựu về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại kể trên là điềukiện, môi trường quan trọng cho kinh tế du lịch Hà Nội phát triển
Thứ ba, về cơ sở hạ tầng.
Hà Nội là Thủ đô của cả nước, do vậy xây dựng cơ sở hạ tầng nhằmđưa Hà Nội trở thành Thủ đô hiện đại, văn minh luôn được Đảng, Nhà nước,các Bộ, ngành và Thành phố quan tâm đặc biệt Cho đến nay, cơ sở hạ tầng
Trang 28của Hà Nội được đầu tư tương đối cơ bản và đồng bộ Đây là một thuận lợilớn để Hà Nội phát triển kinh tế du lịch Trong đó phải kể đến:
Mạng lưới giao thông: Trên địa bàn Hà Nội hiện nay có khoảng 3.974 km
giao thông đường bộ và 237 cầu các loại; trong đó có nhiều tuyến đường quantrọng đi qua Hà Nội nối với các tỉnh lân cận như: quốc lộ 2, quốc lộ 3, quốc lộ 5,quốc lộ 6, đường Hồ Chí Minh, đường Pháp Vân - Cầu Giẽ, đại lộ Thăng Long,đường Nội Bài - Bắc Ninh, đường Bắc Thăng Long - Nội Bài…
Hà Nội có các sông lớn chảy qua như: sông Hồng, sông Đà, sông Đáy,sông Tích… với 9 cảng sông (Khuyến Lương, Thanh Trì, Chèm, Phù Đổng,Đức Giang, Sơn Tây, Hồng Vân, Vạn Điểm, Chu Phan); bến Chương Dương,bến Bát Tràng; 17 bến thuỷ nội địa và 58 bến khách ngang sông
Đi qua địa bàn Hà Nội có 90 km đường sắt, 5 ga chính (Hàng Cỏ, GiápBát, Văn Điển, Gia Lâm, Yên Viên) và một số ga phụ; có 5 tuyến đường sắt nốivào Hà Nội cộng với đường sắt vành đai trở thành một vòng khép kín Hà Nộiđang phối hợp với Bộ Giao thông vận tải triển khai các dự án đường sắt trên caovới các tuyến Yên Viên - Ngọc Hồi, Nhổn - Ga Hà Nội, Cát Linh - Hà Đông
Thành phố có các sân bay: Nội Bài (bay dịch vụ), Gia Lâm (bay dịch
vụ kết hợp quân sự) và các sân bay quân sự: Bạch Mai, Hoà Lạc, Miếu Môn.Trong đó, sân bay Nội Bài là sân bay quốc tế được đầu tư ở quy mô lớn, cóvai trò rất quan trọng phục vụ phát triển kinh tế du lịch
Hà Nội hiện có 73 tuyến xe buýt, với 1.200 xe hoạt động; 464 tuyến xekhách liên tỉnh cùng 6 bến xe liên tỉnh (Giáp Bát, Nước Ngầm, Lương Yên,
Mỹ Đình, Hà Đông, Xuân Mai); 104 doanh nghiệp taxi với trên 9.000 xe Khuvực nội thành có trên 150 điểm trông giữ xe công cộng với diện tích 272.370
m2, công suất phục vụ trên 9,5 triệu lượt xe/năm
Mạng lưới cấp điện: Hiện tại, Hà Nội được cung cấp điện chủ yếu từ
các nhà máy điện Hòa Bình, Phả Lại thông qua hệ thống điện miền Bắc vàtrạm 500 kV Thường Tín Tổng điện năng tiêu thụ của thành phố năm 2010 là6,24 tỷ kWh, bình quân đạt 1.074 kWh/người
Trang 29Thông tin và truyền thông: Trên địa bàn Hà Nội, mạng thông tin phát triển
nhanh, với nhiều loại hình, dịch vụ đa dạng tạo nên một thị trường sôi động vàphong phú Đến cuối năm 2010, Hà Nội có 2.568.000 thuê bao điện thoại cố định,mật độ 38,8 máy/100 dân; 17 triệu thuê bao di động, mật độ 256,9 máy/100 dân;trên 1.780.000 thuê bao ADSL, đại lý Internet Mạng lưới bưu cục, dịch vụ bưuchính phát triển ngày càng đa dạng, tiện lợi, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của dukhách và người dân, với khoảng 345 điểm phục vụ, 372 điểm bưu điện văn hóa xã
Thứ tư, về tài nguyên du lịch tự nhiên.
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hệ thống tài nguyên du lịch tự
nhiên của Hà Nội được bổ sung đáng kể Tiêu biểu có: Khu vực vùng núi Ba
Vì với các khu tham quan, nghỉ dưỡng nổi tiếng như: Khu bảo tồn thiên nhiên
Vườn Quốc gia Ba Vì, Ao Vua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Thác Đa, Thiên
Sơn - Suối Ngà, rừng nguyên sinh Bằng Tạ, vườn cò Ngọc Nhị… Khu vực
vùng núi Nương Ngái - Hương Sơn: cấu tạo chủ yếu bằng đá vôi với gần trăm
hòn núi, hình dáng độc đáo (như núi Trượng, núi Sư Tử, núi Hàm Long, núiTrống, núi Chiêng, núi Gà, núi Yên Ngựa ) và nhiều hang động đẹp (nhưhang Dơi, hang Rắn, động Hương Tích, Linh Sơn, Bồng Lai, Tiên Cảnh,Ngọc Long…) Ngoài ra, Hà Nội còn nhiều dãy núi có phong cảnh đẹp giàutiềm năng khai thác du lịch như khu vực núi Sóc, núi Thầy, núi Tử Trầm
Hồ nước ở Hà Nội cũng là một điểm nhấn để phát triển kinh tế du lịch.Mỗi hồ có vẻ đẹp và truyền thống lịch sử riêng biệt, làm nên một phần hồnvía Thăng Long ngàn tuổi Những hồ nổi tiếng đã đi vào văn thơ như: hồGươm, hồ Tây, hồ Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, Giảng Võ Khu vực ngoại thành có nhiều hồ nước lớn nhiều tiềm năng phát triển kinh tế
du lịch như: hồ Đồng Mô, hồ Quan Sơn, hồ Suối Hai…
Không gian nông nghiệp (với vành đai cây chuyên canh ở các huyệnThanh Trì, Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín; vành đai trồng hoacảnh có truyền thống lâu đời tại các huyện Từ Liêm, Đông Anh, Mê Linh) vừasản xuất các sản phẩm nông nghiệp phục vụ đô thị, vừa là cảnh quan tự nhiên và
Trang 30nhân văn, đang dần trở thành những sản phẩm du lịch “xanh” độc đáo của HàNội với các loại hình du lịch nông thôn, du lịch trang trại, du lịch cộng đồng…
Thứ năm, về tài nguyên du lịch nhân văn.
Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, “Thăng Long - Hà Nội là nơi hội tụ vàlắng đọng những giá trị tinh túy của nền văn minh Đại Việt trong sự giao thoa
và kết tinh những giá trị nhân văn lớn của khu vực châu Á” [57, tr.32] Quathời gian, bề dày văn hóa - lịch sử của Hà Nội đã tạo nên một hệ thống giá trịnhân văn vô giá Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn - lợi thế sosánh quan trọng để Hà Nội phát triển bền vững kinh tế du lịch
Đến Hà Nội, du khách có thể hiểu sâu sắc về đất nước và con người ViệtNam thông qua các di tích lịch sử - văn hóa Tính đến nay, Hà Nội có 5.175 ditích lịch sử - văn hóa trong đó 1.050 di tích được xếp hạng cấp quốc gia (chiếmgần 20%), mật độ cao nhất cả nước Riêng số di tích đang được khai thác phục
vụ hoạt động du lịch có mật độ 23,3 di tích/100 km2 (mật độ trung bình cả nướcchỉ 2,2 di tích/100 km2) Hà Nội nổi tiếng với Văn Miếu - Quốc Tử Giám,trường đại học đầu tiên của Việt Nam (xây dựng từ năm 1070), cùng nhiều ditích lịch sử kiến trúc độc đáo, linh thiêng như chùa Trấn Quốc, chùa Quán Sứ,đền Ngọc Sơn, đền Quán Thánh, phủ Tây Hồ, thành Cổ Loa, đền Phù Đổng Phố cổ Hà Nội, một khu vực đô thị lâu đời của Hà Nội, là điểm đến hấp dẫn chonhững ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Khu di tích HoàngThành Thăng Long - với chiều dài liên tục suốt hơn 13 thế kỷ - là di sản có liên
hệ trực tiếp với nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử dân tộc (được Tổ chức Giáodục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản vănhóa thế giới ngày 31/7/2010) cũng đang là một địa điểm có tiềm năng phát triển
du lịch đặc biệt Hà Nội còn có những di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệpChủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhà văn hoá lớn của thế giới Chỉ ở Hà Nội mới cóhàng loạt các bảo tàng quốc gia như: Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng,Bảo tàng Dân tộc học Đây là những kho tư liệu cô đọng, súc tích giúp dukhách hiểu về đất nước và con người Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng
Trang 31Vùng đất cổ Hà Tây cũ, trải qua hàng nghìn năm lịch sử đã để lại một khotàng di tích lịch sử - văn hoá đồ sộ và quý giá với 351 di tích quốc gia, đặc biệt có
12 di tích cổ tự nổi tiếng, được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp vào loại quantrọng như: chùa Hương, chùa Thầy, chùa Mía, chùa Đậu, chùa Bối Khê, chùa TrămGian, chùa Tây Phương và các ngôi đình Tây Đằng, Chu Quyến, Thuỵ Phiêu, ĐạiPhùng, Hoàng Xá, khu di tích K9 - nơi lưu giữ thi hài Bác Hồ trong chiến tranh…
Thăng Long - Hà Nội còn là vùng đất tập trung nhiều lễ hội nổi tiếng.Mỗi lễ hội như một viện bảo tàng sống mang đậm bản sắc văn hoá truyềnthống, tạo ra sức lôi cuốn đặc biệt, khác lạ đối với du khách, như: Lễ hội Gióng(được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loạingày 16/11/2010); Lễ hội chùa Hương; Lễ hội Đống Đa; Lễ hội đền Cổ Loa;
Lễ hội Phù Đổng; Lễ hội đền Hai Bà Trưng; Lễ hội chùa Thầy; Hội làng LệMật; Hội làng Triều Khúc; Hội thổi cơm thi Thị Cấm Ngoài ra, Hà Nội còn
có hơn bốn trăm lễ hội nhỏ khác ở nhiều địa phương nội, ngoại thành
Theo thống kê, hiện nay Hà Nội có 1.350 làng nghề, trong đó có 198 làngnghề truyền thống được công nhận và cấp bằng danh hiệu Khu trung tâm Phố
cổ là nơi tập trung chính các phố nghề có giá trị về khai thác du lịch Các làngnghề ở khu vực phụ cận ngoại ô Hà Nội lại có những nét đặc sắc riêng biệt nhưđúc đồng Ngũ Xã, gốm sứ Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, nón Chuông, khảm traiChuyên Mỹ, mây tre đan Phú Vinh, mộc Chàng Sơn, tạc tượng Sơn Đồng… đềuđược coi là những tiềm năng du lịch nhân văn quý giá, nhiều nơi đã trở thànhđiểm đến hấp dẫn trong các tour du lịch, được nhiều du khách biết đến
Là trung tâm văn hóa của cả miền Bắc từ nhiều thế kỷ, đến Hà Nội dukhách có thể được thưởng thức những món ăn truyền thống, món quà ngon củariêng Hà Nội Các món ngon Hà Nội đặc biệt hấp dẫn thực khách có thể kể đếnlà: cốm làng Vòng, chả cá Lã Vọng, phở Hà Nội, bánh tôm Hồ Tây, bánh cuốnThanh Trì, nem chua làng Vẽ, bánh dày Quán Gánh, giò chả Ước Lễ
Hà Nội còn là nơi nuôi dưỡng, phát triển các loại hình văn hoá truyềnthống như ca trù (được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần
Trang 32được bảo vệ khẩn cấp ngày 1/10/2009), tuồng, chèo, múa rối nước… cùng nhiều
cơ sở hoạt động văn hoá văn nghệ, rạp chiếu phim, sân khấu, nhà hát Văn học
Hà Nội cũng rất phong phú, từ văn học truyền miệng, văn học chữ Hán, chữNôm đến chữ Quốc ngữ Các truyền thuyết, truyện kể dân gian đến ca dao, tụcngữ đều mang những nét rất Hà Nội, thanh lịch và tinh tuý Đây là những tư liệuquý cho những du khách, học giả có nhu cầu quan tâm, nghiên cứu
Đánh giá chung: Tài nguyên du lịch Hà Nội khá đa dạng, phong phú cả
về tự nhiên và nhân văn Giá trị nổi trội và cơ bản là tài nguyên du lịch nhân văntrên nền 1000 năm văn hiến với điểm nhấn là khu trung tâm Hoàng ThànhThăng Long, đồng thời tiềm năng du lịch sinh thái cũng là một thế mạnh của HàNội với khu bảo tồn thiên nhiên Vườn Quốc gia Ba Vì, thắng cảnh Hương Sơn Đây là lợi thế so sánh quan trọng để kinh tế du lịch Hà Nội phát triển bền vững
* Vị trí của ngành Du lịch trong chiến lược, quy hoạch phát triển kinh
tế du lịch bền vững Thủ đô Hà Nội
Hà Nội là một trong 2 Trung tâm du lịch quan trọng nhất của cả nước
Du lịch Hà Nội có vị trí quan trọng trong Chiến lược phát triển du lịch và Quyhoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến2030; đồng thời cũng là một trong 5 Trung tâm du lịch quan trọng của cả nước
và là Trung tâm du lịch của khu vực phía Bắc, là cầu nối giữa du lịch các tỉnhBắc Bộ với du lịch cả nước, giữa Du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế
Với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên du lịch phong phú cả về tự nhiên
và nhân văn, cơ sở kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, xã hội tốt, du lịch Hà Nội ngàycàng có vị trí quan trọng trong các chính sách phát triển của Đảng và Nhànước nói chung và của Thủ đô nói riêng Nghị quyết về phát triển du lịchThủ đô Hà Nội xác định đến năm 2020 và những năm tiếp theo: Xây dựng
Hà Nội thực sự là một Trung tâm du lịch của cả nước và khu vực, thực hiệnchức năng cầu nối giữa Thủ đô với các tỉnh, thành phố trong cả nước vàquốc tế Đến năm 2030, trở thành thành phố dịch vụ du lịch cao cấp, điểmđến du lịch được ưa chuộng trên thế giới Phát triển một cách tương xứng
Trang 33các loại hình du lịch văn hoá; du lịch hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sựkiện; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng; du lịch cộng đồng
1.2.2 Thành tựu và hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch bền vững ở thành phố Hà Nội
* Thành tựu
Một là, hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch của ngành Du
lịch Hà Nội thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực; cho đến nay Hà Nội đã,đang trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều du khách trong và ngoài nước vớinhiều thị trường giàu tiềm năng, lượng khách đến Hà Nội có tốc độ gia tăng cao
Trong thời gian qua, hình ảnh của Thủ đô Hà Nội - Thành phố du lịchhấp dẫn, an toàn, thân thiện đã được tuyên truyền sâu rộng, đậm nét tới đôngđảo bạn bè, du khách trong nước và quốc tế Các sản phẩm du lịch độc đáođậm chất văn hóa truyền thống của Thủ đô đã được quảng bá rộng rãi tới dukhách Ngành Du lịch đã tổ chức thành công nhiều sự kiện như: Hội nghị lầnthứ 7 Hội đồng Xúc tiến du lịch Châu Á tháng 10/2008; tham gia Diễn đàn
Du lịch ASEAN 2009 và Hội chợ du lịch Travex tại Hà Nội tháng 01/2009; tổchức thành công Năm Du lịch quốc gia 2010 với 2 sự kiện lớn là: Liên hoan
Du lịch quốc tế Thăng Long - Hà Nội 2010, Liên hoan Ẩm thực Hà Thành.Các hoạt động hợp tác quốc tế cũng thu được kết quả tích cực: Hợp tác du lịch với
cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch của 7 quốc gia, 28 đại sứ quán, 4 tỉnh (thànhphố) nước ngoài, Tổ chức Du lịch Thế giới, Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái BìnhDương và Hội đồng Xúc tiến Du lịch Châu Á Phối hợp liên kết phát triển du lịchVân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), Luông-phra-băng (Lào), Tây Ban Nha,Nhật, Hàn Quốc, Pháp Phối hợp triển khai có hiệu quả bước đầu hoạt động dulịch trong chương trình hợp tác Hành lang kinh tế Đông Tây giữa Hà Nội, HảiPhòng, Quảng Ninh, Lào Cai với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc)…
Với vị trí là một trong hai Trung tâm du lịch lớn nhất cả nước, thời gianqua lượng khách du lịch đến Hà Nội có tốc độ phát triển nhanh: năm 2000đón 3,79 triệu lượt khách; năm 2005 đón 8,06 triệu lượt khách (trong đó có
Trang 341,25 triệu lượt khách quốc tế) tăng 2,13 lần so với năm 2000; năm 2010 đón12,3 triệu lượt khách du lịch (khách quốc tế đạt 1,7 triệu lượt) Giai đoạn
2000 - 2010, mức gia tăng lượng khách tới Hà Nội là 12,5%, trong đó kháchquốc tế tăng 11,8% và khách nội địa tăng 12,6%; chiếm khoảng 15 - 16% thịphần khách trong tổng lượng khách đi lại giữa các địa phương trong toànquốc và chiếm trung bình 42 - 45% tổng lượng khách nội địa đến với toànvùng đồng bằng sông Hồng [Phụ lục 8] Lượng khách quốc tế đến Hà Nộithuộc 162 quốc tịch với các thị trường trọng điểm là Trung Quốc, Đông Bắc
Á, Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc… 10 thị trường khách quốc tế (Trung Quốc, Pháp,
Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan và Singapore)chiếm tỷ trọng gần 80% tổng số khách quốc tế đến Hà Nội năm 2010 Mứcchi tiêu bình quân của khách du lịch tương đối cao, trong đó khách quốc tế là92,0USD/ngày và khách nội địa là 48,73USD/ngày
Hai là, hoạt động kinh tế du lịch đã tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngân
sách thành phố với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, góp phần quan trọngvào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng tích cực
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, thu nhập từ hoạt động dulịch có mức tăng trưởng cao, tương đối ổn định Tăng trưởng trung bình giai đoạn
2000 - 2010 đạt 24,6%/năm: năm 2000 thu nhập du lịch đạt 2.988 tỷ, năm 2005đạt 11.552 tỷ (tăng 208% so với năm 2004), năm 2008 đạt 23.800 tỷ đồng và năm
2010 đạt 27.000 tỷ đồng Giá trị tăng thêm (GDP) của ngành du lịch Thủ đô giaiđoạn 2000 - 2010 có bước phát triển vượt bậc: năm 2000 đạt 2.092 tỷ đồng, năm
2005 đạt 7.855 tỷ đồng, năm 2008 đạt 15.700 tỷ đồng, năm 2010 đạt 17.550 tỷđồng; tỷ trọng trung bình chiếm hơn 9%/năm trong GDP toàn thành phố; tốc độtăng trưởng trung bình 23,7%/năm Với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động dulịch đã thúc đẩy cơ cấu kinh tế ngành của Hà Nội có sự dịch chuyển nhanh theohướng tích cực Năm 2010 tỷ trọng ngành nông nghiệp chỉ còn 5,8%, ngành côngnghiệp - xây dựng chiếm 41,8%, khu vực dịch vụ đóng góp 52,4% trong cơ cấukinh tế thành phố và là ngành có tỷ trọng cao nhất với tốc độ tăng trưởng trungbình đạt 10,3%/năm (giai đoạn 2001 - 2010) [Phụ lục 4]
Trang 35Ba là, hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thật
phục vụ du lịch được ngành Du lịch Hà Nội quan tâm đúng mức, góp phần tíchcực vào xây dựng cảnh quan thành phố, bộ mặt các khu, điểm du lịch ngày mộtkhang trang hơn, thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham quan
Giai đoạn 2001 - 2008 Hà Nội đầu tư 579,746 tỷ đồng triển khai xây dựng
2 tuyến đường từ quốc lộ 3 vào cửa Tây, cửa Nam, bãi đỗ xe khu di tích Cổ Loa;nâng cấp hạ tầng kỹ thuật múa rối nước Đào Thục; xây dựng đường giao thôngkhu du lịch văn hóa nghỉ ngơi cuối tuần khu vực đền Sóc; đường Cầu Hội -Hương Sơn; đường hai bờ suối Yến; đường vào và đường nội bộ khu du lịch hồSuối Hai; đường khu du lịch hồ Đồng Mô; đường từ quốc lộ 21 vào Đồi Cấm;đường vào khu du lịch chùa Thầy; hạ tầng du lịch khu vực chùa Tây Phương;đường nối Vườn Quốc gia Ba Vì - Ao Vua và một số công trình đường vào làngnghề du lịch Vạn Phúc, Đa Sỹ, Phú Vinh, Nhị Khê, Chuyên Mỹ Hiện nay,ngành Du lịch đang triển khai 7 dự án đầu tư hạ tầng du lịch: Xây dựng đường từquốc lộ 35 vào ranh giới dự án Khu du lịch Sóc Sơn; cải tạo đường từ chợ Sa(Cổ Loa) đi chợ Tó, huyện Đông Anh; cảng Du lịch Bát Tràng; đường nối khu
du lịch thắng cảnh Hương Sơn đến khu du lịch Tam Chúc - Khả Phong (HàNam); xây dựng hạ tầng du lịch khu vực đền Hai Bà Trưng (huyện Phúc Thọ);
mở rộng và hoàn thiện hạ tầng du lịch khu vực bến Trò (huyện Mỹ Đức)
Thành phố cũng tập trung xây dựng các khu, điểm vui chơi giải trí mới,tạo những điểm du lịch cuối tuần ấn tượng cho khách du lịch nội địa như: AoVua, Khoang Xanh - Suối Tiên, Tản Đà, hệ thống cáp treo Thiên Trù - HươngTích; khu du lịch sinh thái rừng Bằng Tạ; khu suối khoáng Tản Lĩnh; khu vuichơi giải trí hồ Tây, Thiên Đường Bảo Sơn; đưa vào hoạt động sân golf VânTrì (Đông Anh), Đồng Mô (Sơn Tây), Hà Nội (Sóc Sơn)
Hà Nội rất chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở lưu trú chất lượng cao: Giaiđoạn 2006 - 2010, tập trung đầu tư mạnh vào các khách sạn 3-5 sao, đến nay đã có
41 khách sạn được xếp hạng 3-5 sao với hơn 7.600 buồng lưu trú Hiện tại, HàNội có 1.751 cơ sở lưu trú phục vụ du lịch với hơn 25.532 buồng trong đó có 222
Trang 36cơ sở đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn các hạng sao theo qui định, chiếm 46,0%(11.746 buồng), trong đó khách sạn 5 sao là 3.841 buồng (11 khách sạn, bằng4,95% của cả nước), 4 sao với 1.655 buồng (10 khách sạn), số còn lại là từ 1 saođến 3 sao Công suất sử dụng buồng phòng khá cao, trung bình đạt từ 55-60%,riêng năm 2010 đạt 61% (trong đó, các khách sạn cao cấp bình quân đạt 55-65%).Ngoài ra, các cơ sở dịch vụ ăn uống, ẩm thực, mua sắm, bán hàng lưu niệm, vuichơi giải trí, văn hoá thể thao cũng phát triển khá mạnh [Phụ lục 11, 12]
Bốn là, kinh tế du lịch Hà Nội phát triển đã góp phần quan trọng vào giải
quyết việc làm, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho nhân dân địa phương
Hiệu quả kinh tế - xã hội lớn nhất mà du lịch Hà Nội mang lại là nguồnthu nhập ổn định, công cụ xóa đói nghèo cho dân cư địa phương, mở rộng vàthúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào việc cung ứng các sản phẩm, dịch vụ
du lịch, phát triển các mô hình kinh doanh nhỏ không đòi hỏi quá nhiều kỹnăng và vốn đầu tư, phù hợp với điều kiện kinh tế của dân cư bản địa với cáchình thức như: nhà trọ, nhà nghỉ, quán ăn, quầy bán hàng lưu niệm… Sự thamgia đó đã góp phần cung ứng nguồn nhân lực quan trọng cho các cơ sở kinhdoanh du lịch Với vốn hiểu biết về văn hóa, đặc điểm lịch sử, tự nhiên khu
du lịch, họ chính là những hướng dẫn viên và tình nguyện viên du lịch tíchcực Quá trình tham gia vào hoạt động du lịch, đã đem lại cho người dânnhiều lợi ích, giúp nâng cao trình độ hiểu biết, họ có ý thức hơn về cơ hội việclàm, cơ hội kinh doanh cùng nguồn thu nhập mà kinh tế du lịch đem lại
Theo số liệu thống kê, năm 2000 Hà Nội có 12.100 lao động trực tiếptrong ngành du lịch; đến năm 2005 là 28.370 lao động; năm 2008 có 42.900lao động và năm 2010 có 51.118 người [Phụ lục 13] Tốc độ tăng trưởngtrung bình lao động giai đoạn 2000 - 2010 là 15,5% Điều đó đã khẳng địnhngành Du lịch có vai trò quan trọng trong tạo việc làm và cải thiện thu nhậpcho người dân Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ một cách
hệ thống trong ngành Du lịch Hà Nội tương đối cao (chiếm 70%) Hà Nộithường xuyên tổ chức bồi dưỡng kiến thức quản lý du lịch cho các cán bộ phụ
Trang 37trách du lịch, lãnh đạo các địa phương trọng điểm du lịch, cán bộ quản lýdoanh nghiệp du lịch, cán bộ quản lý các quận huyện; bồi dưỡng kiến thứcvăn hoá du lịch cho 5.000 lượt cán bộ, đảng viên và nhân dân các địa phương
ở những nơi du lịch trọng điểm: Hương Sơn, Sài Sơn, Thạch Xá, Đường Lâm,Vạn Phúc và 10 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng du lịch cho hàng nghìn laođộng ngành du lịch (khoảng 300 lái xe xích lô, 1000 hướng dẫn viên du lịch,
3000 nhân viên quản lý, buồng, bàn, bar, bếp cho khách sạn…)
Năm là, vấn đề bảo vệ, xây dựng cảnh quan môi trường du lịch được
Hà Nội quan tâm thường xuyên trong quá trình phát triển
Ngành Du lịch Hà Nội đã chú trọng nghiên cứu, khảo sát thị trường,đầu tư những sản phẩm du lịch “xanh” thân thiện môi trường, hình thành vànhđai, khu du lịch sinh thái nghỉ cuối tuần ở khu vực Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn,ven sông Hồng, sông Đáy; kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp với du lịchsinh thái tại Ba Vì, Đông Anh; chạy thử nghiệm 12 xe điện tham quan qua 28tuyến phố cổ, nhằm hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, đảm bảo môitrường trong sạch, tạo ấn tượng mới lạ, đáp ứng nhu cầu của du khách
Nội dung bảo vệ môi trường đã được đưa vào quy hoạch, đề án phát triển
du lịch; vào bài giảng trong các chương trình đào tạo nhân viên, hướng dẫn viên,lái xe… Cán bộ của Ngành thường xuyên được cử đi tham gia các hội thảo,khóa đào tạo về môi trường du lịch và phát triển du lịch bền vững do Tổng cục
Du lịch tổ chức Triển khai học tập, quán triệt nội dung bảo vệ môi trường trongcác hội nghị phổ biến Luật Du lịch và các Nghị định liên quan Tham gia xâydựng tiêu chí khách sạn “xanh”, cấp chứng nhận cho các khách sạn thân thiệnvới môi trường Hàng năm, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đều hỗ trợ lắp đặtcác thùng rác (nhựa hoặc inox) trên các tuyến du lịch chính bảo đảm nhu cầuchứa rác của các khu, điểm du lịch Nhiều khách sạn, đặc biệt là khách sạn 3 saotrở lên có nhiều biện pháp tiết kiệm điện, nước và tham gia bảo vệ môi trường
Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc xây dựngtiêu chí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở lưu trú, khu du lịch Thường xuyên
Trang 38cập nhật và thông báo cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn cácthông tin về thực trạng môi trường Hà Nội, các địa điểm cung ứng dịch vụ thânthiện với môi trường; đôn đốc, nhắc nhở kịp thời các khách sạn, điểm tham quan
du lịch thực hiện chưa tốt việc bảo vệ môi trường Phối hợp với Sở Công thương,
Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng và các quận, huyện kiểm tra vệ sinh an toànthực phẩm; quy định không sử dụng hóa chất độc hại, thực phẩm không an toàntrong các cơ sở kinh doanh du lịch, chủ động trong phòng chống dịch bệnh
Sáu là, các vấn đề văn hóa - xã hội, giữ gìn trật tự - an toàn xã hội thường
xuyên được quan tâm giải quyết trong phát triển kinh tế du lịch
Hướng đến phát triển kinh tế du lịch bền vững, ngành Du lịch đã chútrọng bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống bằng việc tạo thêm nhiềusản phẩm du lịch mới như phục chế tôn tạo các di tích lịch sử: Văn Miếu - Quốc
Tử Giám, Thành cổ Hà Nội, đền Quán Thánh, đền Voi Phục, Thành Cổ Loa, đềnGióng, đền Sóc, đền Hai Bà Trưng (Mê Linh), đền Trung, đền Hạ, đền Thượng(Ba Vì), chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trầm, chùa Mía, làng
cổ Đường Lâm Xây dựng tuyến phố ẩm thực Tống Duy Tân với các món ăntruyền thống đặc trưng của Hà Nội và vùng đồng bằng Bắc Bộ (hoạt động năm2000); phố đi bộ Hàng Đào - Hàng Đường - Đồng Xuân và chợ đêm Đồng Xuân(từ năm 2003) Thành phố đã cải tạo và nâng cấp một số làng nghề, làng cổ kếthợp với sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ nghệ tạo thành các điểm du lịchhấp dẫn phục vụ khách du lịch như: Làng nghề Bát Tràng (gốm sứ), Đào Thục(múa rối nước), Vạn Phúc (lụa), Phú Vinh (mây tre đan), Chuyên Mỹ (khảmtrai), Vân Nội (trồng rau sạch), Đường Lâm, Đông Ngạc (điểm du lịch cộngđồng, du lịch làng quê); du lịch văn hóa cộng đồng gắn với các giá trị văn hóatruyền thống của các làng quê Hà Nội như làng Việt cổ Đường Lâm (Sơn Tây)
và làng họa sĩ Cổ Đô (Ba Vì) bước đầu thu được kết quả tốt; các tour du lịch
“Hành trình qua các kinh đô Việt cổ”, du lịch võ thuật, du lịch “home stay”…tạo ra trải nghiệm khác lạ cho du khách Nhiều công trình trọng điểm chào mừng
kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, có ý nghĩa chính trị, văn hóa và tính
Trang 39nhân văn sâu sắc được hoàn thành thu hút khách du lịch như: Bảo tàng Hà Nội,Tượng đài Thánh Gióng, Tượng đài Bác Hồ - Bác Tôn…
Trong những năm qua, toàn ngành Du lịch đã chủ động tham gia cáchoạt động xã hội, góp phần tích cực trong giải quyết các vấn đề văn hóa - xãhội bức xúc Phối hợp chặt chẽ với ngành Văn hóa, Thông tin và Truyền thông
và các Sở, Ban, ngành, địa phương liên quan gắn kết các hoạt động văn hóa, lễhội, thể thao với sự kiện du lịch; việc khôi phục và tổ chức các lễ hội dân gian
đã dần đi vào nền nếp và lành mạnh, phát huy được thuần phong mỹ tục Cáccấp chính quyền cũng như ngành Du lịch thường xuyên tổ chức các chươngtrình tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng, giữ gìn nếp sống văn hoá,phong tục truyền thống người Hà Nội, góp phần làm tăng giá trị thương hiệu du
lịch Hà Nội Chủ động đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội bằng việc phối hợp
chặt chẽ với cơ quan Công an, cơ quan Quân sự địa phương, Sở Y tế, Trungtâm phòng chống AIDS Hà Nội, Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội… triểnkhai nhiều chương trình phòng chống tệ nạn xã hội, HIV/AIDS trong kinhdoanh các dịch vụ du lịch; duy trì có nề nếp các hoạt động bảo vệ an ninh chínhtrị, giữ gìn trật tự - an toàn xã hội trên địa bàn các khu, điểm du lịch, không đểxảy ra các điểm nóng bức xúc về an ninh chính trị, trật tự - an toàn xã hội, gópphần xây dựng môi trường du lịch trong sạch, lành mạnh và an toàn
Ngoài ra, công tác xã hội được Ngành rất quan tâm: Theo báo cáo của SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch từ năm 2000 đến nay, toàn Ngành đã xây dựngđược 5 nhà tình nghĩa cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình thươngbinh, liệt sỹ; nhận phụng dưỡng hàng chục Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; đónggóp ủng hộ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt hơn 1 tỷ đồng cùng nhiều quần áo, thuốcmen; tích cực tham gia chương trình quốc gia về xóa đói, giảm nghèo
Trang 40Phần lớn các khu, điểm du lịch của Hà Nội hiện đang ở trong giaiđoạn đầu tư, xây dựng; điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng chưa đồng bộ, cònthiếu nhiều cơ sở lưu trú chất lượng cao nên thời gian lưu trú của du khách.Bình quân chỉ đạt 2,5 ngày/khách đối với khách quốc tế và 1,8 ngày/kháchđối với khách nội địa giai đoạn 2005 - 2009 Tỉ trọng, cơ cấu chi tiêu củakhách không cân đối, khách du lịch chủ yếu tập trung cho dịch vụ lưu trú.Mức tăng chi tiêu của khách quốc tế thấp, bình quân chỉ tăng 3,33%/nămgiai đoạn 2001 - 2009 [Phụ lục 7].
Sản phẩm du lịch của Hà Nội còn đơn điệu, chưa thực sự phong phú, hấpdẫn, còn thiếu những sản phẩm đặc sắc có sức cạnh tranh cao, những khu vuichơi giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần quy mô lớn, trung tâm thương mại mangtầm cỡ quốc gia mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế đủ sức hấp dẫn để kéo dài thờigian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách Các sản phẩm chủ yếu mới chỉtập trung ở việc tham quan di tích lịch sử - văn hoá, hội thảo, hội nghị, thươngmại Dịch vụ du lịch còn thiếu về số lượng, đơn điệu về thể loại, chất lượngthì hạn chế, các dịch vụ hỗ trợ du lịch chưa đa dạng và thuận tiện cho du khách
Quy mô hệ thống cơ sở lưu trú của Hà Nội còn nhỏ lẻ: bình quân 15phòng/1 cơ sở lưu trú, thiếu các khách sạn có qui mô lớn (trên 350-500 phòng)nên chưa đáp ứng đủ nhu cầu lưu trú của khách du lịch, đặc biệt vào nhữngmùa cao điểm, các ngày lễ, các sự kiện lớn được tổ chức tại Hà Nội Theo tínhtoán, năm 2010 mức thiếu hụt về cơ sở lưu trú của Hà Nội khoảng 3.100 buồnghạng 3-5 sao Ngoài ra, giá phòng cao cấp của khách sạn ở Hà Nội được coi làkhá cao so với các nước trong khu vực, thậm trí còn hiện tượng các khách sạnlừa giá du khách nước ngoài
Hệ thống nhà hàng, cơ sở dịch vụ ẩm thực của Hà Nội phát triển còn thiếuquy hoạch, vị trí phân tán, tự phát, qui mô nhỏ lẻ, tính chuyên nghiệp chưa cao,thiếu nhiều điều kiện cần thiết như bãi đỗ xe, không gian cảnh quan; vệ sinh môitrường tại một số cơ sở dịch vụ chưa được kiểm soát Việc xây dựng thí điểmmột số điểm dịch vụ ăn uống, phố ẩm thực Tống Duy Tân nhằm giới thiệu văn