Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được cải thiện.. Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM MINH TUÂN
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƯ TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 1999 - 2009
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM MINH TUÂN
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƯ TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 1999 - 2009
Chuyên ngành: Địa lý học
Mã số: 60.31.95
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VIỆT TIẾN
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả đề tài xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Việt Tiến đã trực tiếp hướng dẫn về khoa học và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu, hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí, Khoa sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Địa lý kinh tế - xã hội, Khoa Địa lý đã động viên, chỉ dẫn, đóng góp ý kiến và tạo những điều kiện thuận lợi
Nhân dịp này, xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các cơ quan, ban, ngành của tỉnh Bắc Giang: UBND tỉnh, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và xã hội, Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Sở nông nghiệp, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường tỉnh, Công an tỉnh, Công ty Điện lực Bắc Giang… đã giúp đỡ nhiệt tình trong việc cung cấp tư liệu, số liệu
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Giang và các đồng nghiệp Văn phòng Sở và các phòng, ban Sở GD&ĐT đã tạo những điều kiện hết sức thuận lợi, luôn khích lệ và động viên tác giả
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2011
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Minh Tuân
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Các chữ viết tắt trong luận văn iii
Danh mục các bảng iv
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 7
1.1.2 Các tiêu chí và thước đo phản ánh CLCS 8
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Chất lượng cuộc sống của dân cư Viêt Nam 14
1.2.2 Chất lượng cuộc sống của dân cư vùng Trung du miền núi phía Bắc 19
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 1999 - 2009 23
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang 23
2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ 23
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 25
2.1.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 31
2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang 46
2.2.1 Chỉ số phát triển con người 46
Trang 62.2.2 Các chỉ tiêu khác: sử dụng nước sạch, điện sinh hoạt và nhà ở
của người dân 68
2.3 Đánh giá tổng quan về chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang 74
2.3.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang 74 2.3.2 Đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang 76
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2015 VÀ TẦM NHÌN TỚI 2020 80
3.1 Định hướng 80
3.1.1 Cơ sở định hướng 80
3.1.2 Các mục tiêu 81
3.2 Những giải pháp cụ thể về nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang 85
3.2.1 Giải pháp về chính sách 85
3.2.2 Giải pháp về kinh tế 85
3.2.3 Giải pháp về y tế - giáo dục - xã hội 88
3.2.4 Giải pháp về môi trường, an ninh trật tự an toàn xã hội 93
3.2.5 Giải pháp về hạ tầng 93
3.2.6 Một số giải pháp khác 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
CN - XD - DV Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo
HDI Chỉ số phát triển con người
N - L - NN Nông - Lâm - Ngư nghiệp
TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc
TTGDTX - DN Trung tâm giáo dục thường xuyên - dạy nghề
UNDP Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Việt Nam trong so sánh với thế giới 15
Bảng 1.2 Xếp hạng một số quốc gia về phát triển con người năm 2005 (trong số 177 quốc gia) 15
Bảng 1.3 Thành tựu phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2005 16
Bảng: 1.4 Thành tựu phát triển con người của các vùng đất nước năm 2006 20
Bảng: 1.5 Thành tựu phát triển con người của các tỉnh TDMNPB so với cả nước năm 2006 21
Bảng 2.1 Các đơn vị hành chính tỉnh Bắc Giang đến hết năm 2009 24
Bảng 2.2 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Bắc Giang năm 1999 và 2009 29 Bảng 2.3 Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên giai đoạn 1999 - 2009 32
Bảng 2.4 Dân số trung bình phân theo giới tính giai đoạn 1999 - 2009 33
Bảng 2.5 Nguồn lao động và cơ cấu nguồn lao động theo khu vực kinh tế 34
Bảng 2.6 Diện tích, dân số và mật độ dân số các huyện, thành phố năm 2009 35
Bảng 2.7 Tăng trưởng GDP và GDP/ người tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1999 - 2009 46
Bảng 2.8 Cơ cấu thu nhập bình quân một nhân khẩu 1 tháng chia theo các khoản thu qua khảo sát một số năm (từ 2002 - 2008) 48
Bảng 2.9 Thu nhập bình quân một nhân khẩu một tháng của nhóm thu nhập thấp nhất và nhóm thu nhập cao nhất của tỉnh Bắc Giang qua một số năm (từ 2002 - 2008) 49
Bảng 2.10 Chi tiêu đời sống bình quân một nhân khẩu một tháng chia theo 5 nhóm thu nhập của tỉnh Bắc Giang năm 2008 50
Bảng 2.11 Thu nhập bình quân đầu người các huyện, thành phố tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1999 - 2009 51
Bảng 2.12 Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Bắc Giang phân theo các huyện, thành phố giai đoạn 2001 - 2009 53
Trang 9Bảng 2.13 Số trường, lớp và học sinh mẫu giáo qua các năm học giai đoạn
1999 - 2009 56Bảng 2.14 Tổng số trường, lớp, giáo viên và học sinh phổ thông của tỉnh
Bắc Giang giai đoạn 1999 - 2009 57Bảng 2.15 Số học sinh phổ thông/1 giáo viên qua các năm học giai đoạn
1999 - 2009 58Bảng 2.16 Giáo viên, học sinh phổ thông phân theo thành phố và các
huyện (Số liệu giữa năm học 2009 - 2010) 61Bảng 2.17 Chi giáo dục, đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng
qua chia theo thành thị nông thôn, giới tính 63Bảng 2.18 Mạng lưới y tế tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1999 - 2009 64Bảng 2.19 Số cán bộ y tế, số giường bệnh/10.000 dân theo huyện, thành
phố tỉnh Bắc Giang năm 2009 65Biểu 2.20 Tuổi thọ bình quân tỉnh Bắc Giang phân theo các huyện, thành
phố năm 2009 67Bảng 2.21 Số người nghiện ma túy ở tỉnh Bắc Giang các năm 1999 - 2010 68Bảng 2.22 Nguồn nước ăn, uống của các hộ dân trong tỉnh 2005 - 2009 69Bảng 2.23 Mức tiêu thụ điện sinh hoạt bình quân/đầu người phân theo
huyện, thành phố Bắc Giang năm 2009 71Bảng 2.24 Tỷ lệ hộ dân cư phân theo loại nhà của tỉnh năm 1999 và
năm 2009 (%) 72
Bảng 2.25 Điều kiện nhà ở của các hộ dân cư phân theo huyện, thành phố
năm 2009 73Bảng 2.26 Xác định mức và điểm cho từng chỉ tiêu 75Bảng 2.27 Đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang năm 2009 76
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang 25 Hình 2.2: Biều đồ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Bắc
Giang năm 1999 và 2009 36Hình 2.3: Biểu đồ GDP và GDP/ bình quân đầu người của tỉnh Bắc
Giang giai đoạn 1999 - 2009 47Hình 2.4: Biểu đồ GDP/bình quân người tỉnh Bắc Giang so với một số
tỉnh vùng TDMNPB năm 2010 47Hình 2.5: Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo của Bắc Giang phân theo các huyện,
thành phố năm 2009 53Hình 2.6: Biểu đồ tỷ lệ hộ dân được dùng nước sạch phân theo huyện,
thành phố tỉnh Bắc Giang năm 2009 70Hình 2.7: Biểu đồ đánh giá tổng hợp chất lượng cuộng sống dân cư tỉnh
Bắc Giang năm 2009 77Hình 2.8 Bản đồ đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang năm 2009 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển xã hội và cũng
là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới hướng tới Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của tất cả các nước trên thế giới Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010 đã khẳng định: “Phát triển con người phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam” Bắc Giang
là một tỉnh Trung du - miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn thì vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống có ý nghĩa quan trọng
Trong những năm qua tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được cải thiện Tuy nhiên, chỉ số phát triển con người của Bắc Giang còn thấp, thu nhập bình quân đầu người năm 2009 mới đạt 9.926.000 đồng, chỉ bằng 51,4% mức bình quân của cả nước Vậy thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư của tỉnh Bắc Giang như thế nào? Làm sao để có thể từng bước cải thiện đời sống dân cư tỉnh Bắc Giang ngày càng cao hơn, theo kịp các tỉnh khác trong khu vực Trung du miền núi phía Bắc và cả nước Đó chính là điều băn khoăn, trăn trở của các cấp chính quyền, các ban ngành và của người dân trong tỉnh
Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập và nghiên cứu vào một vấn đề cụ thể tại địa phương mình sinh sống, tôi đã
chọn đề tài: “Nghiên cứu chất lƣợng cuộc sống dân cƣ tỉnh Bắc Giang giai đoạn
1999 - 2009” để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
dân cư đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
2 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư vào nghiên cứu hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang giai đoạn từ 1999 - 2009, cũng như sự phân hóa của nó theo các huyện, thành phố; trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang đến 2015 và định hướng đến năm 2020
Trang 122.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những vấn đề lí luận và thực tiễn về CLCS
- Phân tích những chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng sống, những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá thực trạng CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang giai đoạn 1999 - 2009
- Nêu những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
2.3 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Đề tài tập trung phân tích một số chỉ tiêu cơ bản về CLCS như: Thu nhập bình quân trên người, thực trạng hộ nghèo, giáo dục và đào tạo, y tế và chăm sóc sức khỏe cùng các điều kiện sống khác về: nhà ở, tình hình sử dụng điện, nước sạch của người dân…
- Giới hạn về lãnh thổ: Nghiên cứu địa bàn tỉnh Bắc Giang bao gồm 9 huyện
và chất lượng cuộc sống” (Poplutation, resources, environment and quality of life), năm 1988 đã đặt vấn đề nghiên cứu CLCS dân cư trong mối tương tác với quá trình phát triển dân cư ở mỗi quốc gia Theo ông, CLCS là sự đáp ứng đầy đủ các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân Nghiên cứu của Wiliam Bell đã mở rộng toàn diện hơn, như gắn CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, sinh thái…Năm 1990, tổ chức UNDP của Liên hiệp quốc đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá về phát triển con người, trong đó chú trọng tới CLCS; Hệ chỉ tiêu
này được tổng hợp thành Chỉ số phát triển con người (Human Developmen
Trang 13Index - HDI) Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ
thống về phát triển con người, đã coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến cuộc sống trường thọ, khoẻ mạnh, có ý nghĩa và
xứng đáng với con người Điều này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ
hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững
Ở Việt Nam nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề này một cách khai quát chung như PGS.TS Nguyễn Đình Cử, GS.TS Tống Văn Đường, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ…
Gần đây là báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2001, năm 2006 là một công trình quan trọng, được nhóm các nhà nghiên cứu Việt Nam tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc chuyên ngành khác nhau
về lĩnh vực phát triển con người ở Việt Nam
Ngoài ra, thông tin từ các cuộc điều tra lớn về mức sống dân cư Việt Nam qua các năm 1993, 1998, 2002, 2004, 2006, 2008; điều tra về nhà ở và cơ sở hạ tầng… đã cho ta thấy sự quan tâm ở tầm vĩ mô của Nhà nước về khía cạnh khác nhau, liên quan đến CLCS dân cư Báo cáo đã tổng quan toàn bộ sự phát triển con người năm 2006, trong đó xếp hạng HDI đến các vùng miền và các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã có một số nghiên cứu về lĩnh vực này
Đó là luận án tiến sỹ Địa lí của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (năm 2004) về thành phố Hải Phòng cũng như một vài luận văn cao học trong những năm gần đây tại khoa địa lí trường đại học sư phạm Hà Nội về các tỉnh, thành: Hà Nội, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Nam Định, Thái Nguyên…
Hiện nay việc nghiên cứu CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang trong một giai đoạn
cụ thể chưa có người nghiên cứu
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm
- Quan điểm hệ thống
Bắc Giang là một trong 63 tỉnh thành phố của Việt Nam Vì vậy, trong quá
Trang 14trình nghiên cứu CLCS dân cư cần đặt Bắc Giang trong một hệ thống lớn hơn trong phạm vi cả nước Bản thân CLCS dân cư Bắc Giang là một hệ thống bao gồm nhiều
hệ thống con, đó là CLCS dân cư theo các huyện Các hệ thống có mối quan hệ tương tác mật thiết với nhau, vì vậy khi nghiên cứu không chỉ tìm hiểu sự tác động qua lại trong một hệ thống mà còn giữa các hệ thống với nhau để đánh giá chính xác vấn đề cần nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các chỉ tiêu nghiên cứu CLCS có mối quan hệ tác động qua lại với nhau và chịu tác động của nhiều yếu tố: tự nhiên, kinh tế, dân số, tài nguyên môi trường, phương hướng sản xuất Các yếu tố đó có sự khác nhau ở từng huyện, thành phố, mang những nét đặc thù riêng Vì vậy, khi nghiên cứu CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang phải tìm hiểu trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ, qua đó làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để phân tích và đánh giá thực trạng CLCS của dân cư tỉnh Bắc Giang chính xác hơn Đồng thời, cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thành phố để đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách có hiệu quả trong thời gian tới vì nó gắn liền với CLCS của dân cư
- Quan điểm lịch sử
CLCS dân cư là yếu tố động, nó thay đổi và phát triển trong từng giai đoạn, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Trên quan điểm lịch sử sẽ thấy được những biến đổi sâu sắc của chúng, từ đó phân tích, đánh giá chúng trong từng giai đoạn phát triển của
xã hội và từ đó làm rõ nguyên nhân của sự thay đổi
- Quan điểm phát triển bền vững
Trên quan điểm phát triển bền vững, tài nguyên môi trường và CLCS dân cư
có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau Môi trường sống ảnh hưởng trực tiếp tới CLCS dân cư, đặc biệt là sức khỏe và tuổi thọ của dân cư vì vậy khi nghiên cứu chúng ta cần xem môi trường là bộ phận của CLCS dân cư
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu: CLCS là một khái niệm rộng Các chỉ tiêu
đánh giá liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực khác nhau trong xã hội Trong quá trình
Trang 15nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến đề tài
từ nhiều cơ quan ban ngành khác nhau của Bắc Giang: UBND tỉnh, Cục thống kê, Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Sở GD - ĐT, Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và xã hội, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp, Công an tỉnh, Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường tỉnh, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Công ty điện lực, Công ty nước, Thư viện tỉnh, Thư viện trường ĐHSP Hà Nội, Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên Trên cơ sở các tài liệu đó, chúng tôi tiến hành các phương pháp nghiên cứu như nghi chép, tổng hợp, thống kê, xử lí tài liệu
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu thống kê: Dựa trên các số
liệu, tài liệu đã thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh chúng theo không gian và thời gian trên phạm vi từng huyện, thành phố cũng như toàn tỉnh đề phù hợp với yêu cầu của đề tài, sau đó rút ra kết luận để đánh giá thực trạng CLCS của dân cư trong giai đoạn 1999 - 2009
- Phương pháp thực địa: Để bổ sung những chỗ thiếu của các phương pháp trên,
tác giả đã đi nghiên cứu thực địa như quan sát, chụp ảnh, sưu tầm tài liệu để có đánh giá khách quan về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Bản đồ là công cụ quan trọng trong nghiên
cứu Địa lý Trước hết các bản đồ được sử dụng như những tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu được thực hiện trực quan bằng các bản đồ, biểu đồ thông qua các phần mềm ứng dụng trong nghiên cứu Địa lý
5 Những đóng góp chính của luận văn
- Đã tổng quan được hệ thống chỉ tiêu đánh giá CLCS của dân cư và vận dụng chúng vào việc nghiên cưu vấn đề này ở tỉnh Bắc Giang
- Đã làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư ở tỉnh Bắc Giang, phát hiện được những thế mạnh và hạn chế cần khắc phục
- Đã phân tích được CLCS dân cư ở địa bàn nghiên cứu dựa trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu được lựa chọn
- Đã đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang
Trang 166 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn CLCS dân cư
Chương 2 Thực trạng CLCS dân cư tỉnh Bắc Giang
Chương 3 Định hướng và những giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư tỉnh
Bắc Giang đến năm 2015 và tầm nhìn tới năm 2020
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Vấn đề chất lượng cuộc sống và nâng cao CLCS cho con người là vấn đề được cả thế giới quan tâm, là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người và là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam CLCS được hiểu như một khái niệm khoa học đã được rất nhiều tác giả quan tâm và được đề cập trong nhiều tác phẩm
Có rất nhiều lý thuyết khác nhau về CLCS tùy thuộc vào trình độ phát triển, các quan niệm về văn hóa xã hội, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng
Trong các tác phẩm của các nhà kinh tế chính trị cổ điển như C.Mác, A.Smith, D.Ricardo… ta thấy các giá trị về nâng cao CLCS của con người như là một mục đích trong việc tạo thuận lợi, giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú Tuy nhiên, những lý luận này mới chỉ tồn tại ở dạng sơ khai, tiềm ẩn trong các khái niệm kinh tế chính trị học Trong tác phẩm nổi tiếng: “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” của R.C.Sharma thì CLCS là một khái niệm phức tạp, đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội Ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống.”[11].Định nghĩa này của ông đã được chấp nhận rộng rãi trên khắp thế giới Theo đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS
Trong xã hội hiện đại, khái niệm CLCS thường đồng nhất với khái niệm thoải mái tối ưu Trong đó mối quan tâm chính của việc nâng cao CLCS là tạo ra
Trang 18một trạng thái thoải mái về mặt vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được Hơn nữa, sự thoải mái đó không có sự phân biệt mức độ giữa các tầng lớp người có
sự ngăn cách bởi sự sang hèn, hay địa vị trong xã hội [18]
Để định lượng khái niệm CLCS, một số quốc gia đã xây dựng những chỉ tiêu phản ánh những nội dung cốt lõi của CLCS đó là an toàn, ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, việc làm Từ đó đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá CLCS Như vậy, có thể hiểu CLCS là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội, trước hết là những nhu cầu vật chất cơ bản, tối thiểu của con người Nó chính là “Điều kiện sống được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi giải trí cho nhu cầu của con người Điều kiện này dễ làm cho con người đạt được hạnh phúc, an toàn gia đình, khỏe mạnh về vật chất và tinh thần” Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là một cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ Đồng thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng Như vậy, có thể thấy rằng, phát triển con người không những cần làm cho kinh tế, giáo dục, y tế phát triển, môi trường tự nhiên trong lành mà còn phải đẩy lùi tội phạm và các tệ nạn xã hội, tạo sự lành mạnh trong xã hội
Như vậy, CLCS là sự thể hiện về vật chất, tinh thần và trí tuệ của con người trong mối quan hệ tổng hòa giữa dân số, tài nguyên và môi trường Chất lượng cuộc sống càng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn trong việc phát triển
cá nhân và trong hưởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần mà xã hội đã tạo ra để đạt đến một cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài
1.1.2 Các tiêu chí và thước đo phản ánh CLCS
1.1.2.1 HDI, một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh CLCS
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số so
sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác
Trang 19của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia Chỉ số này được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbubul Haq vào năm 1990 [25] Liên Hiệp Quốc dùng chỉ số HDI (Human Devolopment Index) để đánh giá và so sánh trình độ phát triển của các nước trên mặt bằng thống nhất Chỉ số này là một trong những chỉ tiêu tổng hợp nhất phản ánh sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, là một trong những chỉ tiêu so sánh quốc tế quan trọng Chỉ số HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển
của con người trên phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập
Chỉ số HDI cho thấy, quốc gia nào có thu nhập cao, có chính sách giáo dục
và chăm sóc sức khoẻ dân cư tốt thì vị trí HDI sẽ cao Một số nước có thu nhập cao, nhưng không quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khoẻ thì vị trí HDI sẽ giảm
a GDP và GDP bình quân đầu người
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bởi cả dân sự và phi dân sự, không phân biệt do trong hay người nước ngoài tạo ra GDP không bao gồm phần khấu trừ đối với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm và xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên [18].GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người; ở Việt Nam được tính bằng USD/người (để so sánh quốc tế) hoặc bằng Việt Nam đồng (để so sánh với các tỉnh với nhau) Thông qua chỉ tiêu này người ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân trong từng nước, hoặc so sánh giữa các địa phương
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình: thu nhập bình quân đầu người
là toàn bộ tiền và giá trị hiện vật mà hộ và thành viên của hộ nhận được trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
- Thu từ công nghiệp và xây dựng
- Thu khác
Trang 20b Giáo dục
Chỉ số về giáo dục được làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS của dân
cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ nhập học chung các cấp (từ tiểu học đến đại học) Tỷ lệ người lớn biết chữ là tỷ lệ phần trăm số người từ 15 tuổi biết đọc và viết, nhưng phải hiểu được một câu ngắn, đơn giản về cuộc sống hàng ngày của họ [2] Tỷ lệ người lờn biết chữ có liên quan nhiều đến các chỉ số thu nhập và mức sống của từng cộng đồng và từng quốc gia
Tỷ lệ nhập học các cấp học được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa số học sinh trong độ tuổi cấp học đang đi học so với tổng số người trong độ tuổi cấp học Chỉ tiêu này chỉ ra số trẻ em ở độ tuổi cấp tiểu học được đến trường Tỷ lệ nhập học đúng tuổi chỉ tính cho số trẻ em có tuổi chính thức phải đến trường theo quy định của ngành giáo dục mỗi nước (Tỷ lệ nhập học chung cấp tiểu học thì bao gồm cả trẻ
em ở mọi lứa tuổi nhập học cấp tiểu học)
c Y tế, chăm sóc sức khỏe và tuổi thọ trung bình
Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của con người và liên quan chặt chẽ tới CLCS Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực
cả trong hiện tại lẫn tương lai Người lao động có sức khoẻ tốt có thể mang lại kết quả lao động với năng suất cao nhở sức khoẻ dẻo dai, bền bỉ và khả năng tập trung khi đang làm việc Việc nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ tốt cho trẻ em phát triển thành những người lớn khoẻ về thể chất lành mạnh về tinh thần và chi phí dành cho việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ còn làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng trong tương lai bằng việc kéo dài tuổi lao động, đồng thời làm tăng tuổi thọ trung bình của mỗi người
Tuổi thọ bình quân là số năm bình quân của một người mới sinh ra có khả năng sống được Căn cứ vào tuổi thọ bình quân, người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống, mức thu nhập, điều kiện bảo về sức khoẻ ở các nước khác nhau Tuổi thọ bình quân chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình trẻ em tử vong
d Các chỉ tiêu khác
- Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: Vấn đề sử dụng năng lượng điện trong sinh
hoạt cũng là yếu tố quan trong tạo ra CLCS trong thời kỳ hiện đại ngày nay Trong các
Trang 21tài liệu thống kê có thể thấy các chỉ tiêu sau đây phản ánh điều kiện sử dụng điện: tỉ lệ các xã có điện; tỉ lệ số hộ dùng điện, số KW/h tiêu thụ tính bình quân một người/tháng
- Sử dụng nước sạch:Sử dụng nước sạch luôn là một nhu cầu bức thiết và cơ bản của con người Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS dân cư
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện nước sạch có ảnh hưởng tới CLCS là xét từ chỉ số tỷ lệ người dân được sử dụng nguồn nước sạch, nước hợp vệ sinh (bao gồm nguồn nước máy, nước ngầm), nước khai thác từ nguồn lộ thiên đã qua xử lý
- Điều kiện nhà ở: Khi đánh giá điều kiện nhà ở của người ta thường căn cứ
vào hai chỉ tiêu là diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở Diện tích nhà ở thường được diễn đạt bằng chỉ số m2/người Ở các nước phát triển chỉ số này thường rất cao khoảng từ 15 -20 m2
/người Trái lại, ở các nước đang phát triển thì bình quân diện tích nhà ở (nhất là khu vực thành thị) thường thấp, nhu cầu về nhà ở hết sức gay gắt
do sức ép gia tăng dân số Đi liền với chỉ tiêu về diện tích nhà ở thì chỉ tiêu về chất lượng nhà ở Trong các cuộc điều tra về nhà ở, chất lượng nhà ở thường được chia thành 3 loại: nhà ở kiên cố, nhà ở bán kiên cố và nhà tạm Cũng giống như nhu cầu
về diện tích nhà ở thì nhu cầu về chất lượng nhà ở tại các nước đang phát triển cũng tạo ra một sức ép lớn đối với chính phủ các quốc gia Điều kiện nhà ở phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là điều kiện thu nhập của dân cư
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS
1.1.3.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lí được ví như thứ tài sản vô hình Nó có ảnh hưởng nhất định đến
sự phát triển kinh tế - xã hội và qua đó đến CLCS dân cư của một quốc gia hoặc một lãnh thổ Những vị trí được coi là đắc địa như nằm ở trung tâm, trên trục đường hoặc nơi hội tụ của các tuyến giao thông, thương mại quan trọng quốc tế hoặc khu vực Tuy nhiên lợi thế kinh tế của vị trí địa lí là phạm trù lịch sử
1.1.3.2 Các yếu tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng đến CLCS như điều kiện cư trú của dân
cư, chất lượng môi trường sống và khả năng khai thác các tài nguyên làm nguồn sống cho con người Trong các yếu tố tự nhiên quan trọng nhất là tài nguyên thiên
Trang 22nhiên Đó là các thành phần của tự nhiên có khả năng được khai thác nhằm thoả mãn nhu cầu của con người Tài nguyên thiên nhiên là cở sở vật chất tự nhiên, là một trong những nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội Nó bao gồm địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản Để phát triển kinh tế - xã hội, đó là điều kiện cần, nhưng chưa đủ Thực tế chỉ ra rằng không phải cứ nước nào hoặc địa phương nào có nhiều tài nguyên thiên nhiên thì nền kinh tế đều được phát triển mạnh mẽ Một số quốc gia giàu tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản nhưng
có thể vẫn chỉ là nước nghèo, chậm phát triển Ngược lại, có quốc gia gặp không ít khó khăn về tài nguyên thiên nhiên, song vẫn là nước hàng đầu thế giới về tiềm lực kinh tế mà Nhật Bản có thể được coi là một thí dụ điển hình [17]
1.1.3.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
- Quy mô dân số của mỗi cộng đồng và quốc gia có thể tác động tới việc nâng cao CLCS của dân cư, như dân số quá đông sẽ gây khó khăn cho việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần vốn hạn chế của xã hội, dân số ít sẽ tạo ra sự khan
hiếm nguồn nhân lực về con người vốn là động lực chính để tạo ra CLCS
- Gia tăng dân số, bao gồm gia tăng tự nhiên hoặc gia tăng cơ học Trong phạm vi của một nước nếu tỷ lệ này vượt quá mức 3% năm thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nâng cao CLCS (do của cải làm ra hàng năm không đủ đáp ứng so với nhu cầu tiêu dùng của dân số, người tiêu thụ ngày càng nhiều lên) Tốc
độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều dẫn tới tình trạng mất cân đối về cơ cấu lứa tuổi, từ đó làm này sinh nhiều vấn đề về nâng cao CLCS của dân cư
Ngoài ra, phải kể đến một số yếu tố tác động tới CLCS, như tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tuổi thọ thấp hoặc tỷ lệ sinh cao
- Cơ cấu độ tuổi cũng là một trong những nhân tố tác động tới CLCS Cơ cấu dân số trẻ do tốc độ gia tăng nhanh sẽ nảy sinh nhiều vấn đề có liên quan tới việc cải thiện CLCS như tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong ở trẻ em do thiếu điều kiện chăm sóc y tế, nạn thất học do thiếu điều kiện giáo dục Ngược lại, dân số quá già sẽ dẫn tới tình trạng thiếu nguồn nhân lực, cuộc sống của những người già sẽ rơi vào khủng hoảng do thiếu sự chăm sóc
Trang 23b Các nhân tố kinh tế
- Hệ thống kinh tế, mỗi quốc gia tuỳ vào quan niệm và mục tiêu phát triển
mà có thể tự xây dựng cho mình một hệ thống kinh tế khác nhau Nếu chọn ra được
hệ thống kinh tế phù hợp để phát triển thì sẽ có tác động tích cực tới việc cải thiện
và nâng cao CLCS Ngược lại, nếu hệ thống kinh tế không phù hợp sẽ có tác động tiêu cực đến CLCS của người dân
- Mỗi quốc gia tuỳ vào điều kiện cụ thể của mình có thể đặt ra các hướng ưu tiên trong quá trình phát triển nhác nhau Có những hướng ưu tiên phát triển đúng đắn, song cũng có không ít những ưu tiên phát triển sai lầm hoặc không phù hợp Việc tạo ra các hướng ưu tiên phát triển đúng đắn hay sai lầm đều có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới CLCS của từng quốc gia
- Vốn cũng là một nguồn tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia trong tác động tới CLCS Khi nền kinh tế vận hành trong cơ chế thị trường thì yếu tố vốn
đóng vai trò vô cùng quan trọng để có thể phát triển đa dạng của nền kinh tế, từ quá trình sản xuất các sản phẩm cho tới các quá trình trao đổi và mua bán Ở các quốc gia phát triển thường có nguồn vốn lớn nên có nhiều điều kiện hơn trong xử lý và giải quyết các rủi ro làm ảnh hưởng tiêu cực tới CLCS quốc gia Ngược lại, ở một
số quốc gia chậm phát triển, thực lực kinh tế chưa đủ mạnh, nguồn vốn nghèo, thường gặp rất nhiều khó khăn khi phải đối phó với quá trình rủi ro trong quá trình phát triển, CLCS dân cư ở đó thường ít có sự đảm bảo chắc chắn khi có những rủi
ro ảnh hưởng tiêu cực nảy sinh
- Viện trợ cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Đối với các quốc gia chậm phát triển, CLCS con thấp thì nguồn viện trợ nhận được từ các nước bên ngoài là hết sức quan trọng, vì nó góp phần tạo
ra lượng vốn ban đầu giúp cho quá trình phát triển cải thiện CLCS
- Các mối quan hệ quốc tế, ở mỗi quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng, là
động lực phát phát triển xã hội Trong quá trình toàn cầu hoá cầu hiện nay, đòi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động hội nhập vào nền kinh tế, văn hoá, xã hội thế giới Trong tình hình đó, thế mạnh trong sự phát triển sẽ thuộc về quốc gia nào nếu biết tạo lập ra các mối quan hệ quốc tế Đó là cơ sở quan trọng để thúc đẩy việc cải thiện
và nâng cao CLCS trong nước Tuy nhiên, việc thiết lập các mối quan hệ quốc tế
Trang 24cũng phải đảm bảo tính nguyên tắc, tuỳ vào điều kiện cụ thể ở mỗi nước sao cho vừa đảm bảo tính quá trình hoà nhập mang lại lợi ích cho quốc gia, song cũng không làm mất đi bản sắc, thế mạnh của quốc gia đó
- Chính sách của quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS
dân cư, như:
+ Chính sách xoá đói, giảm nghèo thể hiện ở sự mở rộng cơ hội việc làm và tạo thu nhập cho nhóm người nghèo; giảm bớt nguy cơ và tăng khả năng ứng phó với rủi ro cho người nghèo; tạo việc làm và giảm thất nghiệp
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội nhằm thu hẹp sự cách biệt giữa các địa phương
+ Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môi trường thông thoáng, cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việc làm, tạo điều kiện vay vốn, đất đai, nâng cao tay nghề,
+ Chính sách mở cửa và hội nhập đã giúp người dân được hưởng lợi rõ rệt nhờ tiếp cận dễ dàng đến vật tư, thiết bị máy móc nông nghiệp và công nghiệp thông qua nhập khẩu qua đó giúp họ mở rộng tiếp thị trường và tăng thêm thu nhập cùng CLCS của mình
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chất lượng cuộc sống của dân cư Viêt Nam
1.2.1.1 GDP và GDP bình quân trên đầu người
Ở nước ta, sau quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, CLCS của dân
cư cơ bản đã được cải thiện trên tất cả các chỉ tiêu: thu nhập, giáo dục, y tế và các vấn đề
xã hội khác Sau 10 năm, kể từ năm 1999 chỉ số phát triển con người ở Việt Nam theo cách tính của UNDP đã liên tục được cải thiện Năm 1999, Việt Nam đứng thứ 110 trong
174 quốc gia trên thế giới về chỉ số HDI, đến năm2000 là thứ 108/174 quốc gia, năm
2005 là thứ 105/177 quốc gia và năm 2009 là 116/182 quốc gia
Theo Báo cáo phát triển con người năm 2007 của UNDP, Việt Nam có chỉ
số HDI = 0.733 ở mức trung bình; tuổi thọ trung bình là 73,7 tuổi, tỷ lệ người lớn biết chữ là 90,3% và GDP tính theo đầu người là 3.071 USD (tỉnh theo sức mua tương đương PPP) Thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 123, nhưng xếp hạng HDI lại là 105 trên tổng số 177 nước
Trang 25Bảng 1.1 Việt Nam trong so sánh với thế giới
Tuy nhiên, GDP bình quân trên đầu người của Việt Nam còn thấp hơn nhiều
so với các nước trong khu vực và trên thế giới mặc dù GDP bình quân trên đầu người không ngừng được nâng lên qua các năm Năm 1999, GDP bình quân đầu người đạt gần 400 USD (tính theo giá thực tế), hay 1860 USD (tính theo PPP) đến năm 2008, GDP bình quân đầu người đạt 1052 USD (tính theo giá thực tế) và 2700 USD (tính theo PPP)
Bảng 1.2 Xếp hạng một số quốc gia về phát triển con người
năm 2005 (trong số 177 quốc gia)
Quốc gia
Tuổi thọ trung bình (năm)
Tỷ lệ người lớn biết chữ (%)
Tỷ lệ nhập học (%)
GDP đầu người (PPP)
Chỉ số HDI
Xếp hạng HDI
Singapo 79,4 92,5 87,3 29,663 0,922 25 Hàn Quốc 77,9 99 96 92,029 0,921 26 Brunây 76,7 92,7 77,7 28,161 0,894 39 Malaixia 73,7 88,7 74,3 10,882 0,811 63 Thái Lan 71,5 92,6 71,2 8,677 0,781 78 Trung Quốc 72,5 90,9 69,1 6,775 0,777 81 Philippin 71 92,6 81,3 5,137 0,771 90 Việt Nam 73,7 90,3 63,9 3,073 0,733 105 Inđônêxia 69,7 90,4 68,2 3,843 0,728 107
Ấn Độ 63,7 61 63,8 3,452 0,619 128 Mianma 60,8 89,8 49,5 1,027 0,583 132
Nguồn: [1]
Trang 26Ở nước ta nhờ chính sách và sự quan tâm tới phát triển con người của Đảng
và Nhà nước, các chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là các chỉ sổ về mặt xã hội cao hơn chỉ sổ phát triển kinh tế
Bảng 1.3 Thành tựu phát triển con người của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2005
Tỷ lệ người lớn biết chữ 91,9 92,2 90,3
Nguồn: [1]
Trên thực tế GDP tính bình quân đầu người có sự phân hoá giữa các vùng và các
tỉnh ở nước ta Qua báo cáo phát triển con người Việt Nam xây dựng năm 2006, vùng
có GDP bình quân đầu người cao nhất là Đông Nam Bộ 21.799.000đ/người/năm (tính theo PPP là 6.721 USD), trong khi đó vùng thấp nhất là Tây Bắc 3.546.000đ (tính theo phương pháp PPP là 1.094 USD/người) Tỉnh có GDP bình quân đầu người cao nhất là Ba Rịa -Vũng Tàu 34.193.000đ/người/năm (tính theo PPP là 10.543 USD), trong khi đó tỉnh có GDP bình quân đầu người thấp nhất là Lai Châu 2.656.000đ (tính theo phương pháp PPP là 820 USD/người)
Báo cáo phát triển con người năm 2006 cũng cho thấy chỉ số phát triển con người có sự phân hóa giữa các tỉnh thành và được chia làm 03 nhóm:
Nhóm các tỉnh thành có chỉ số HDI ở mức phát triển cao (HDI > 0,7: có 33 tỉnh, trong đó có 10 tỉnh, thành phố xếp trong tốp đầu theo thứ tự từ 1-10: Bà Rịa -Vũng Tàu, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương, Khánh Hòa, Đồng Nai, Quảng Ninh, Hải Dương)
Nhóm các tỉnh thành có chỉ số HDI ở mức phát triển trung bình (0,6 < HDI < 0,7: có 27 tỉnh)
Nhóm các tỉnh thành có chỉ số HDI ở mức phát triển chậm (HDI < 0,6: có 4
tỉnh: Kon tum, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu) ( phụ lục 2)
Trang 271.2.1.2 Y tế, chăm sóc sức khỏe và tuổi thọ bình quân
Mức thu nhập tăng đã tạo điều kiện cải thiện các chỉ tiêu khác về sức khoẻ con người như kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ tử vong trẻ em và giảm tình trạng suy dinh dưỡng Giữa các quốc gia khác nhau cũng có chỉ số tuổi thọ bình quân khác nhau Những nước có nền kinh tế phát triển thường có tuổi thọ bình quân cao hơn các nước đang phát triển và kém phát triển (Nhật Bản tuổi thọ trung bình năm 2005
là 82,3 tuổi so 40,5 tuổi ở Zămbia và 60,8 tuổi ở Mianma và 63,7 ở Ấn Độ) [1] Việt Nam là nước có thu nhập tính theo GDP bình quân đầu người còn thấp (637 USD năm 2005 và 1064 USD năm 2009) nhưng lại có tuổi thọ trung bình khá cao, đạt 73,7 tuổi và 74,3 tuổi Có được thành tựu đó là nhờ Đảng và Nhà nước ta trong suốt thời gian qua luôn quan tâm chăm lo tới phúc lợi xã hội, thực hiện các chương trình chăm sóc
y tế nhằm cải thiện một bước CLCS của nhân dân Từ năm 1999 đến nay, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam ngày một cao hơn Năm 1999 là 68,3 tuổi, đến năm 2009 trung bình là 74,3 tuổi Tỷ lệ tử vong ở trẻ em sơ sinh Việt Nam giảm nhanh Năm 1999,
tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh là 36,7%o và giảm còn 16%o năm 2009, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm từ31,9% năm 2001 xuống 19,9% năm 2008
Số cơ sở khám chữa bệnh và bác sỹ không ngừng tăng, năm 1999 là 13.264
cơ sở đến năm 2009 tăng lên 13.450 cơ sở Bác sỹ tăng từ 37,1 nghìn bác sỹ lến 60,8 nghìn bác sỹ năm 2009, đạt tỷ lệ 7,1 bác sỹ/1 vạn dân Chi ngân sách cho y tế tăng từ 3,17% năm 2000 lên 4,03% năm 2008
Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn ở mức cao Số cơ sở y tế và số bác sỹ tăng nhưng so với sự gia tăng dân số và nhu cầu của nhân dân về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe thì chưa đáp ứng được yêu cầu; chi ngân sách cho y tế còn thấp, chiếm 4,03% trong ngân sách chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế xã hội 1.2.1.3 Giáo dục
Giáo dục là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư Trên thế giới, tình hình giáo dục cũng rất khác nhau giữa các nước Các nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ người lớn biết chữ chiếm 99%, các nước có nền kinh tế đang phát triển tỷ lệ này chiếm 76% Việt Nam là nước có nền kinh tế
Trang 28đang phát triển, song đây lại là trường hợp đặc biệt Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục là “Quốc sách hàng đầu”, chính
vì vậy giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng Hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, quy mô trường lớp tăng nhanh Năm học 1999 - 2000 cả nước có 24.012 trường phổ thông, 17.685.000 học sinh và 631,7 nghìn giáo viên đang trực tiếp giảng dạy, đến năm học 2009 - 2010 cả nước có 28.408 trường phổ thông, 818,7 nghìn giáo viên, tuy nhiên số học sinh giảm còn 14.912.000 học sinh Các trường đại học, cao đẳng tăng từ 178 trường lên 403 trường năm 2009, số sinh viên tăng gấp 2 lần, từ 899,5 nghìn sinh viên tăng lên 1.796.000 nghìn sinh viên [10] Việt Nam cũng đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phổ cập giáo dục, tỷ
lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học cao so với GDP bình quân đầu người Năm
2005, tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 90,3% [1], vượt các nước như Ấn Độ, Mianma Tuy nhiên, hệ thống giáo dục cũng còn có sự phân hóa giữa các vùng miền Trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn ở nhiều vùng miền núi và nông thôn hẻo lánh đang cản trở người dân ở đây tiếp cận giáo dục, trí thức và công nghệ Tỷ lệ người lớn biết chữ ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long thấp hơn nhiều so với bình quân chung của cả nước (92,2%) Trong đó tỉnh có tỷ lệ người lớn trưởng thành biết chữ thấp nhất là các tỉnh: Lào Cai, Sơn La, Gia Lai, Điện Biên, Lai Châu, đặc biệt là tỉnh Điện Biên, Lai Châu chỉ đạt 55,5% [3]
1.2.1.4 Các điều kiện về sử dụng điện, nước sinh hoạt, nhà ở và các điều kiện khác
Việc sử dụng điện, nước sinh hoạt, nhà ở là những nhu cầu thiết thực trong đời sống của con người Nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội và CLCS dân cư của mỗi quốc gia Nhu cầu về nhà ở được tính bằng bình quân diện tích
m2/người, chất lượng nhà ở được chia ra làm ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố
và nhà tạm Tình hình sử dụng điện, nước sạch căn cứ vào tỷ lệ % dân cư được dùng điện, nước sạch
Theo đánh giá của Tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc, mặc dù hiện nay đã bước sang đầu thế kỷ XXI, nghĩa là từ khi loài người phát hiện ra nguồn năng lượng
Trang 29điện cách đây gần 150 năm song mới chỉ có hơn 70% số dân trên thế giới được sử dụng năng lượng điện trong sinh hoạt Con số này ở các nước đang phát triển còn thấp hơn nhiều Các nước Mỹ la tinh là 65% các nước châu Á là 58%, các nước châu Phi là 43% Một số nước nghèo nhất ở châu Phi như Burundi, Buốc - ki - la
- pha - xô, Cốt - đi - voa (Bờ Biển Ngà) tỷ lệ dân được sử dụng điện sinh hoạt mới đạt khoảng từ 22% đến 28% [18]
Cùng với các điều kiện về sử dụng điện, tình hình sử dụng nước sạch, cũng
có sự phân hoá giữa các nước Các nước phát triển thường có tỷ lệ người dân được cung cấp nước sạch cao hơn các nước đang phát triển Tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch của thế giới là 83%, trong đó các nước phát triển là 98%, các nước đang phát triển là 70%, vùng cận sa mạc Sahara, châu Phi 42%[12]
Ở Việt Nam, các điều kiện về nhà ở, điện sinh hoạt, nước sạch được cải thiện đáng kể Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2008 do Tổng cục thống kê thực hiện thì 27,8% số hộ có nhà kiên cố, 59,1% có nhà bá kiên cố và 13,1% số hộ là nhà tạm So với năm 2002, nhà kiên cố tăng 10,6%, nhà tạm giảm 11,5% Khả năng cung cấp điện cho các hộ gia đình ở nước ta tăng nhanh, năm 2008 tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới cả nước là 97,6% (năm 2002 là 86,5), trong đó thành thị là 99,6% và nông thôn là 96,8% Tỷ lệ hộ dùng nguồn nước sạch chủ yếu là nước giếng làm nước sinh hoạt 57,9%, hộ sử dụng nước máy 24,1% và đặc biệt hộ sử dụng nước sông hồ làm nước sinh hoạt vẫn còn chiếm 8,2% tỷ lệ này nông thôn chiếm 10,7% [19], đây là vấn
đề cần được quan tâm trong việc nâng cao mức sống cho người dân
1.2.2 Chất lượng cuộc sống của dân cư vùng Trung du miền núi phía Bắc
Cùng với cả nước, CLCS dân cư các tỉnh TDMNPB đã được quan tâm và có những bước phát triển Theo kết quả điều tra mức sống gia đình của Tổng cục thống
kê năm 2008, thu nhập bình quân một nhân khẩu/tháng đạt 1317,6 nghìn đồng cao hơn mức trung bình cả nước (cả nước 995,2 nghìn đồng), so với năm 2002 tăng 328,2 nghìn đồng Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các điều kiện về
sử dụng điện, nước sinh hoạt, nhà ở…đều có những bước phát triển Tuy nhiên theo báo cáo phát triển con người của Việt Nam xây dựng năm 2006, GDP bình quân đầu người (PPP/USD) đạt 1.334,5 chỉ bằng 47,6% mức thu nhập bình quân của cả
Trang 30nước. Trong đó vùng Tây Bắc chỉ bằng 39% mức bình quân thu nhập của cả nước Nêu so với các vùng trong cả nước thì TDMNPB là vùng có CLCS dân cư thấp nhất đặc biệt là vùng Tây Bắc
Bảng: 1.4 Thành tựu phát triển con người của các vùng đất nước năm 2006
Vùng
Tuổi thọ bình quân trung bình (năm)
Chỉ
số
GDP bình quân đầu người (PPP/
USD)
Chỉ
số
Tỷ lệ biết chữ của người lớn (%)
Tỷ lệ đi học của người từ
6 - 24 tuổi (%)
Chỉ
số
Giá trị chỉ số phát triển con người Toàn quốc 71,9 0,78 2800 0,56 92,2 72,1 0,85 0,731
ĐB Sông Cửu Long 72,1 0,79 2239 0,52 89,8 61,5 0,88 0,702
Nguồn: [3]
Báo cáo phát triển con người của Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy, GDP bình quân trên đầu người có sự phân hóa trong 64 tỉnh thành, trong đó các tỉnh ở TDMNPB dẫn đầu là tỉnh Quảng Ninh, GDPbình quân đầu người (PPP/USD) đạt 3.250 USD/người, cao hơn mức trung bình trung của cả nước (cả nước 2.800 USD), tỉnh thấp nhất là Lai châu 820 USD, Hà Giang 888 USD, Bắc Kạn 993 USD/người Xếp hạng HDI, TDMNPB có 03 tỉnh/33 tỉnh của cả nước có chỉ số HDI ở mức phát triển cao (> 0,7) và cũng có 3 tỉnh/4 tỉnh của cả nước có chỉ số HDI ở mức phát triển chậm (< 0,6)
Trang 31Bảng: 1.5 Thành tựu phát triển con người của các tỉnh TDMNPB
so với cả nước năm 2006 Các chỉ số
Tỉnh
Tuổi thọ bình quân trung bình (năm)
Chỉ
số
GDP bình quân đầu người (PPP/
USD)
Chỉ
số
Tỷ lệ biết chữ của người lớn (%)
Tỷ lệ đi học của người từ
6 – 24 tuổi (%)
Chỉ
số
Giá trị chỉ số phát triển con người
Xếp toàn quốc
Quảng Ninh 72,1 0,78 3250 0,58 94,0 74,8 0,88 0,747 9
Thái Nguyên 70,8 0,76 1626 0,47 96,8 70,4 0,88 0,703 32
Bắc Giang 68,9 0,73 1270 0,42 95,3 75,2 0,89 0,680 46 Lạng Sơn 67,0 0,70 1670 0,47 92,5 74,3 0,86 0,678 48 Tuyên Quang 68,4 0,72 1312 0,432 89,6 79,6 0,86 0,672 49 Hòa Bình 68,8 0,73 1155 0,41 94,4 69,1 0,86 0,666 52
Trang 32chỉ tiêu chủ yếu như mức sống, thu nhập, điều kiện y tế, điều kiện về giáo dục, về các phúc lợi xã hội khác các chỉ tiêu mà sau này tổ chức UNDP của Liên Hợp Quốc đã xây dựng chỉ số phát triển con người nhằm xác định mức độ về CLCS ở từng quốc gia và đối với mối quốc gia, để đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về CLCS dân cư Dựa vào các tiêu chí cơ bản đó, mặc dù vẫn còn ở mức thu nhập thấp, song Việt Nam hiện nay được xác định là một trong những quốc gia đã đạt được CLCS dân cư ở mức trung bình trong các nước đang phát triển Đây là cơ sở
lý luận để chúng tôi xem xét CLCS dân cư hiện nay ở tỉnh Bắc Giang trong chương
2 của luận văn này
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
TỈNH BẮC GIANG GIAI ĐOẠN 1999 - 2009
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang
2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng TDMNPB, nằm ở toạ độ địa lý từ 21007’ đến
21037’ vĩ độ bắc; từ 105053’ đến 107002’ kinh độ đông; cách thủ đô Hà Nội 50 km
về phía tây, cách cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn) 110 km về phía Bắc, cách cảng Hải Phòng hơn 100 km về phía đông, Bắc Giang tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành phố khác nhau:
+ Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lạng Sơn
+ Phía tây và tây bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên
+ Phía nam và đông nam giáp Bắc Ninh, Hải Dương Quảng Ninh
So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang có vị trí địa lý tương đối thuận lợi: Có một số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ) quan trọng của Quốc gia chạy qua Thành phố Bắc Giang cách thủ đô Hà Nội 50km tính theo đường bộ, nằm trên Quốc lộ 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn lên cửa khẩu Quốc
tế Đồng Đăng, là điều kiện quan trọng khi hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng đi vào hoạt động để phát triển sản xuất hàng hoá và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế Quốc lộ 31 từ thành phố Bắc Giang đi các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Đình Lập gặp quốc lộ 4A (Lạng Sơn) đi ra cảng Mũi Chùa, Tiên Yên và nối với cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) Quốc lộ 279 từ Hạ Mi (Sơn Động) đến Tân Sơn (Lục Ngạn) nối với Quốc lộ 1A Quốc lộ 37 từ Lục Nam đi Hòn Suy sang thị trấn Sao Đỏ (Hải Dương) gặp Quốc lộ 18 có thể về cảng Hải Phòng hay ra cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh) Tuyến đường sắt Lưu Xá - Kép - Hạ Long nối Thái Nguyên với Quảng Ninh, đi qua các huyện Yên Thế, Lạng Giang và Lục Nam Đường sông (có sông Thương, sông
Trang 34Cầu và sông Lục Nam) với tổng chiều dài qua tỉnh là 347 km, trong đó chiều dài đang khai thác là 189 km, tàu thuyền có thể đi lại được quanh năm, đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn và
“Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc”, nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước (với hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu của Trung ương ), nơi tập trung đầu mối kinh tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn về nông sản hàng hoá và các hàng tiêu dùng khác
(người/km²)
Số đơn vị hành chính Thị trấn Xã
Nguồn: [ 7]
Trang 362.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1 Địa hình
Địa hình Bắc Giang gồm hai tiểu vùng: miền núi và trung du có đồng bằng xen
kẽ Vùng trung du là phần chuyển tiếp giữa vùng núi ở phía Bắc với châu thổ sông Hồng
ở phía Nam, bao gồm hai huyện: Hiệp Hoà, Việt Yên và thành phố Bắc Giang Đặc điểm chủ yếu của địa hình vùng trung du (chiếm 28% diện tích tự nhiên) là có nhiều gò đồi xen lẫn đồng bằng với độ cao trung bình 100 - 150m, độ dốc từ 10 - 150
, độ rộng hẹp tuỳ vào từng khu vực Địa hình trung du thuận lợi về phát triển cây lương thực, thực phẩm, công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thuỷ sản
Vùng miền núi bao gồm các huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Yên Dũng và Lạng Giang; trong đó, một phần các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên thế và huyện Sơn Động là vùng núi cao Đặc điểm chính của địa hình núi cao (chiếm 72% diện tích tự nhiên) là bị chia cắt mạnh, phức tạp, chênh lệnh về độ cao khá lớn, độ cao trung bình từ 300 - 400m, độ dốc trung bình từ 20 -
300 Nhiều nơi đất còn tốt, đặc biệt ở khu vực còn rừng tự nhiên Vùng có thể trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và thuỷ sản
Với đặc điểm địa hình đa dạng là điều kiện thuận lợi để tỉnh Bắc Giang phát triển một nền nông nghiệp đa dạng sinh học cao, với nhiều cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế, đáp ứng được nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của thị trường
2.1.2.2 Khí hậu
Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Đông Bắc Việt Nam, một năm có 4 mùa: Mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hoà với thời gian diễn ra ngắn Nhiệt độ trung bình năm khoảng
23 - 240C, tháng 2 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 160C, tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ trung bình khoảng 29 - 300C Độ ẩm không khí trung bình 83% Bắc Giang chịu ảnh hưởng mạnh của gió Đông Nam về mùa Hè và gió mùa Đông Bắc về mùa Đông Các số liệu diễn biến nhiệt độ không khí qua các năm của Bắc Giang cho thấy nhiệt độ trung bình của các năm ít thay đổi, số tháng có nhiệt độ không khí dưới 150C không có, số tháng có nhiệt độ trên 270C là từ 4 đến 5 tháng tuỳ vào từng
Trang 37năm (thường vào các tháng 5,6,7,8,9), các tháng còn lại nhiệt độ trung bình dao động trong khoảng từ 19 đến 240
Bắc Giang có độ ẩm cao, trung bình năm trên 80%, các tháng mùa khô (tháng 10,11,12,1,2) cũng luôn có độ ẩm không khí từ 74 - 80%, có một số tháng mùa mưa lên tới trên 85% như tháng 8, tháng 9 Lượng mưa trung bình năm cao từ 1.200 - 1.700
mm Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 5,6,7,8,9 đó là các tháng mùa mưa, dao động từ 160 - 280 mm mỗi tháng Các tháng mùa khô có lượng mưa thấp, dao động từ 1- 40 mm mỗi tháng, tập trung ở các tháng 10,11, 12, 1, 2
Biến động về số giờ nắng trong các năm là không nhiều (từ 1.590 đến 1.812 giờ) Các tháng có nhiều nắng là tháng 6,7,8,9 với số giờ nắng mỗi tháng từ 140 -
210 giờ, các tháng có số giờ nắng thấp là tháng 12,1,2,3 với số giờ nắng mỗi tháng
từ 15 - 60 giờ Nhìn chung chế độ chiếu sáng tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển quanh năm
2.1.2.3 Thủy văn
Trên lãnh thổ Bắc Giang có 3 con sông lớn chảy qua (sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam), với tổng chiều dài là 347 km, lưu lượng nước lớn và có nước quanh năm, tổng lượng dòng chảy 3 sông lớn chảy qua tỉnh khoảng 7,5 triệu m3/năm là những
bể chứa nước quan trọng cho nền kinh tế và nước sinh hoạt của nhân dân Bên cạnh đó, tỉnh còn có hệ thống ao, hồ, đầm phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang có 3 loại nước: nước mặt, nước mưa, nước ngầm, hiện đủ khả năng cung cấp nước sản xuất cho các ngành kinh tế cũng như nước sinh hoạt thường xuyên cho nhân dân trong tỉnh một cách chủ động Đây còn là cơ sở để ngành công nghiệp thuỷ điện của tỉnh phát triển, với việc xây dựng được hồ thuỷ điện Cấm Sơn và nhiều công trình thuỷ điện nhỏ quy mô gia đình Là cơ sở để tỉnh Bắc Giang phát triển ngành du lịch như: suối Mỡ, hồ Khuôn Thần, đập Cấm Sơn
2.1.2.4 Đất đai
Bắc Giang là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi nên hình thành được nhiều loại đất khác nhau, tạo được sự đa dạng và phong phú trong tài nguyên đất và được chia làm các loại:
Trang 38- Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên Đất Feralit mùn trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện tích 76.400 ha chiếm 20% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động Tầng đất mỏng, thành phần
cơ giới trung bình, đất bị xói mòn mạnh Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá phiến thạch sét Diện tích 83.910 ha, chiếm 22% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang Tầng đất
từ trung bình đến mỏng thành phần cơ giới trung bình
- Đất phù sa cổ: Diện tích 8.880 ha, chiếm 2,3% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Lục Nam và các huyện vùng trung du
- Đất thung lũng dốc tụ: Diện tích 8.170 ha, chiếm 2,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở ven các sông, suối chính trong tỉnh Tầng đất dày độ phì nhiêu cao giầu dinh dưỡng Đây là đối tượng chính để trồng cây nông nghiệp
- Đất Feralit biến đổi do trồng lúa: Diện tích 176.110 ha, chiếm 46% diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở các huyện Việt Yên, Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Đây là đối tượng chủ yếu để canh tác nông nghiệp Đất giàu dinh dưỡng tầng đất dày, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng Nhìn chung, đất đai của tỉnh được hình thành chủ yếu trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch
và phù sa cổ Có tầng đất trung bình, đất nghèo dinh dưỡng, nhiều nơi khô cằn, khả năng giữ nước kém
Hiện trạng sử dụng đất: hiện nay đất nông nghiệp có cơ cấu diện tích lớn nhất
và đang có xu hướng tăng lên từ 63,7% năm 1999 lên tới 68,8% năm 2009 Diện tích đất chưa sử dụng khá lớn (mặc dù là ít nhất), năm 1999 là 59.183 ha và đang giảm xuống còn 27.667 ha năm 2007 chiếm 7,2% tổng diện tích đất của tỉnh Từ đó cho thấy tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp là hơn 27 nghìn ha Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, nhất là các huyện miền núi, nếu có thể nâng được hệ số sử dụng đất lên sẽ cho năng suất cây trồng, vật nuôi lớn hơn Bên cạnh đó, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, có chế độ canh tác hợp lý thì sẽ đưa
Trang 39được năng suất lên ít nhất là 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người dân
Bảng 2.2 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất của tỉnh Bắc Giang
Nguồn: [7]
2.1.2.5 Tài nguyên sinh vật
Đến hết năm 2009 Bắc Giang có 156.900 ha đất lâm nghiệp đã có rừng, trong đó rừng tự nhiên là 68.000 ha, rừng trồng là 88.900 ha và có độ che phủ rừng
là 38% Hiện Bắc Giang vẫn còn gần 30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp Rừng của Bắc Giang có vị trí quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái và đời sống nhân dân
Rừng của Bắc Giang chủ yếu nằm ở đầu nguồn của các hồ chứa nước lớn, ở thượng nguồn của các con sông lớn như sông Thương, sông Lục Nam, hồ Cấm Sơn, hồ Khuôn Thần, Suối Mỡ… Giống như các địa phương khác trong cả nước, diện tích và
Trang 40chất lượng rừng của Bắc Giang đang bị suy giảm mặc dù đã và đang được trồng mới và
tu bổ nhưng do diện tích rừng bị phá hoại nhiều nên tổng diện tích rừng được phục hồi lại chưa đáng kể Điều đó làm ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành lâm nghiệp và tới môi trường sống của các loài động thực vật cũng như của con người
2.1.2.6 Tài nguyên khoáng sản
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tuy không có nhiều mỏ khoáng sản lớn nhưng lại có một số loại là nguồn nguyên liệu quan trọng để phát triển công nghiệp của tỉnh, cụ thể:
Khoáng sản nhiên liệu: Đã phát hiện được 18 mỏ trong đó có 8 mỏ đã tính
được trữ lượng, đó là than các loại với trữ lượng khoảng 114 triệu tấn, bao gồm than antraxit, than gầy, than bùn Trong đó, than antraxit có 14 mỏ tập trung tại huyện Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, với tổng trữ lượng khoảng: 107,7 triệu tấn
Khoáng sản vật liệu xây dựng: Đã phát hiện được 24 mỏ, gồm: Sét gạch ngói,
cát, cuội, sỏi, trong đó có 16 mỏ Sét được phân bố tập trung chủ yếu ở các huyện Việt Yên, Lạng Giang, Lục Nam, Yên Thế, Hiệp Hoà, Yên Dũng Với tổng trữ lượng các mỏ khoảng 360 triệu m3
và 5 mỏ chứa cát, cuội, sỏi ở 3 huyện Hiệp Hoà, Lục Nam, Việt Yên với tổng trữ lượng: cát là 4.550 nghìn m3, cuội, sỏi là 91.200 nghìn m3
Khoáng sản kim loại: Hiện toàn tỉnh có 16 mỏ và điểm quặng được xác định,
trong đó có 6 mỏ được tính trữ lượng, còn lại chủ yếu ở dạng được phát hiện và dự báo trữ lượng, các khoáng sản kim loại gồm: Kim loại đen: Quặng sắt (Yên Thế), trữ lượng khoảng 503 nghìn tấn, chất lượng quặng trung bình, hiện đang được khai thác chủ yếu phục vụ CN địa phương, hoặc cung cấp cho các cơ sở luyện gang thép; Kim loại mầu: Quặng đồng đã phát hiện được nhiều điểm khoáng hoá chứa quặng trong đó tập trung chủ yếu ở Sơn Động và Lục Ngạn, với trữ lượng dự báo khoảng 5,2 triệu tấn; quặng chì - kẽm tập trung chủ yếu ở các huyện Lạng Giang, Yên Thế, Sơn Động, Lục Nam; Kim loại hiếm: Đã phát hiện 1 điểm mỏ thủy ngân thuộc huyện Lục Nam nhưng chưa được đánh giá về trữ lượng và chất lượng; Nhóm kim loại quý: Có 4 mỏ và điểm quặng vàng, chủ yếu nằm ở các huyện Lục Ngạn, Yên Thế, tài nguyên dự báo khoảng 734 kg, chủ yếu do dân khai thác tự do nên không thống kê được trữ lượng đã khai thác