Đại hội Đảng lần thứ XI, trong mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011-2015 cũng nêu rõ: “nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân,…”.Nghiên cứu và nâng cao CLCS cho
Trang 1Trương Quốc Chánh
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƯ TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2Trương Quốc Chánh
NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƯ TỈNH TIỀN GIANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác Các bảng biểu, số liệu được xử lí, tính toán dựa trên nguồn số liệu từ các cơ quan thống kê trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và của Việt Nam Các nguồn tài liệu được trích dẫn đầy đủ và trung thực
Tác giả luận văn
Trương Quốc Chánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, làm luận văn với tên đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Tiền Giang” Đến nay, luận văn đã hoàn thành Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc đến:
- TS Phạm Thị Xuân Thọ, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình
- Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy các môn học của lớp Cao học Địa lí K25 – Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp nhiều kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học
- Ban Giám hiệu, Khoa Địa lí, Phòng Sau Đại học của Trường Đại học Sư phạm
TP HCM đã tạo cho tôi một môi trường học tập và nghiên cứu tốt nhất
- Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Bộ môn Khoa học xã hội cùng với các đồng nghiệp của Trường Văn hóa II – Bộ Công an đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm TP HCM
- Các cơ quan, ban, ngành chức năng của tỉnh Tiền Giang: Cục Thống kê, Sở Y
tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Xây dựng, Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, Công ty Điện lực Tiền Giang,….đã tư vấn, cung cấp số liệu, tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Các bạn học viên lớp Cao học Địa lí K25 của Trường Đại học Sư phạm TP HCM đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
- Gia đình và những người thân với tình cảm đặc biệt đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Trương Quốc Chánh
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các bản đồ
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC S ỐNG DÂN CƯ 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Khái quát chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam 20
1.2.2 Khái quát chất lượng cuộc sống dân cư vùng ĐBSCL 30
Tiểu kết Chương 1 40
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH TI ỀN GIANG 42
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang 42
2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 42
2.1.2 Nhân tố kinh tế - xã hội 43
2.1.3 Nhân tố tự nhiên 60
2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Tiền Giang 72
2.2.1 Về kinh tế 72
2.2.2 Về giáo dục 74
2.2.3 Về y tế và chăm sóc sức khỏe 84
2.2.4 Về hưởng thụ phúc lợi 92
2.3 Đánh giá tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Tiền Giang 100
2.3.1 So với vùng ĐBSCL và cả nước 100
Trang 6Tiểu kết Chương 2 107
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CU ỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH TIỀN GIANG ĐẾN NĂM 2030 108
3.1 Định hướng nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đến năm 2030 108
3.1.1 Cơ sở của định hướng 108
3.1.2 Định hướng nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đến năm 2030 114
3.2 Giải pháp nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đến năm 2030 119
3.2.1 Giải pháp về kinh tế 119
3.2.2 Giải pháp về giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực 123
3.2.3 Giải pháp về y tế và chăm sóc sức khỏe 126
3.2.4 Giải pháp về hưởng thụ phúc lợi 128
3.2.5 Một số giải pháp khác 131
Tiểu kết Chương 3 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
DANH M ỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LU ẬN VĂN 136
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 137
PH Ụ LỤC
Trang 7STT Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 8Bảng 1.1 Các giá trị biên để tính HDI từ năm 2010 đến nay 15Bảng 1.2 Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 20Bảng 1.3 GDP, GDP/người của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 (giá thực tế) 21Bảng 1.4 TNBQĐN/tháng phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng
của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 (giá thực tế) 22Bảng 1.5 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015 23Bảng 1.6 Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi của Việt Nam năm 2006
và năm 2014 24Bảng 1.7 Chi tiêu trung bình của hộ gia đình cho giáo dục và đào tạo trên
1 học sinh của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012 26Bảng 1.8 Tuổi thọ trung bình phân theo vùng của Việt Nam giai đoạn
2005 – 2014 26Bảng 1.9 Một số chỉ tiêu y tế của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 27Bảng 1.10 Diện tích ở bình quân đầu người chia theo thành thị, nông thôn và
theo vùng của Việt Nam năm 2009 và năm 2014 28Bảng 1.11 Tỉ lệ hộ sử dụng lưới điện thắp sáng phân theo thành thị, nông thôn
của Việt Nam năm 2009 và năm 2014 29Bảng 1.12 Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi của vùng ĐBSCL năm
2006 và năm 2014 33Bảng 1.13 Số lượng giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy và giáo viên, sinh
viên đại học, cao đẳng của vùng ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2014 34Bảng 1.14 Các chỉ tiêu về giường bệnh và bác sĩ ngành y trực thuộc Sở y tế của
vùng ĐBSCL giai đoạn 2006 – 2014 36Bảng 1.15 Một số chỉ tiêu CLCS dân cư vùng ĐBSCL năm 2014 39Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số, số đơn vị hành chính của tỉnh Tiền
Giang năm 2015 43Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu dân số Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2015 43Bảng 2.3 GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của Tiền Giang giai đoạn
2005 – 2015 46
Trang 9nghiệp của Tiền Giang năm 2005 và năm 2015 (giá thực tế) 48Bảng 2.5 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của Tiền
Giang năm 2005 và năm 2015 (giá thực tế) 48Bảng 2.6 Trị giá hàng hóa xuất khẩu và nhập nhập khẩu của Tiền Giang giai
đoạn 2005 – 2015 (giá thực tế) 51Bảng 2.7 Số lượt khách, số ngày khách và doanh thu du lịch của Tiền Giang
giai đoạn 2005 – 2015 (giá thực tế) 52Bảng 2.8 Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện phân theo nguồn vốn ở Tiền Giang giai
đoạn 2005 – 2015 (giá thực tế) 58Bảng 2.9 Thu nhập bình quân đầu người/tháng của Tiền Giang, ĐBSCL và cả
nước giai đoạn 2005 - 2014 73Bảng 2.10 Tỉ lệ hộ hộ nghèo ở Tiền Giang giai đoạn 2005 - 2015 73Bảng 2.11 Số hộ nghèo và tỉ lệ hộ nghèo phân theo địa phương ở Tiền Giang
năm 2015 74Bảng 2.12 Một số chỉ tiêu giáo dục mần non của Tiền Giang qua các năm học 75Bảng 2.13 Số học sinh mầm non/1 giáo viên phân theo địa phương ở Tiền
Giang năm học 2015 - 2016 76
Bảng 2.14 Một số chỉ tiêu giáo dục phổ thông ở Tiền Giang qua các năm học 77Bảng 2.15 Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi của tỉnh Tiền Giang qua
các năm học 79Bảng 2.16 Tỉ lệ học sinh THPT/tổng số học sinh phân theo địa phương ở Tiền
Giang năm học 2015 - 2016 80Bảng 2.17 Chi tiêu giáo dục đào tạo bình quân 1 người đi học trong 12 tháng
của Tiền Giang giai đoạn 2006 – 2014 82Bảng 2.18 Một số chỉ tiêu về số cơ sở y tế, số giường bệnh và số cán bộ y tế
tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2015 84Bảng 2.19 So sánh một số chỉ tiêu về mạng lưới y tế và CSSK tỉnh Tiền Giang
với vùng ĐBSCL và cả nước năm 2014 85
Trang 10của tỉnh Tiền Giang năm 2015 86Bảng 2.21 Tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin,
tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng và tỉ lệ xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế phân theo địa phương ở Tiền Giang năm 2015 88Bảng 2.22 Tổng số căn nhà, số lượng và tỉ lệ nhà kiên cố phân theo địa phương
của Tiền Giang năm 2014 93Bảng 2.23 Tỉ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt của Tiền Giang giai đoạn
2006 - 2015 94Bảng 2.24 Tỉ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt và sản lượng điện tiêu thụ bình quân
đầu người phân theo địa phương của Tiền Giang năm 2015 95Bảng 2.25 Số lượng và tỉ lệ trạm cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt tiêu chuẩn
nước sinh hoạt phân theo địa phương của Tiền Giang năm 2015 96Bảng 2.26 Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh và hố xí hợp vệ sinh
của Tiền Giang giai đoạn 2006 - 2014 97Bảng 2.27 Tỉ lệ hộ có sử dụng các tiện nghi sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Tiền
Giang giai đoạn 2006 - 2014 98Bảng 2.28 Số lượng và tỉ lệ hộ dân cư đạt chuẩn văn hóa phân theo địa phương
của Tiền Giang năm 2010 và năm 2015 99Bảng 2.29 So sánh một số chỉ tiêu CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang với vùng
ĐBSCL và cả nước năm 2014 100Bảng 2.30 Xác định mức và điểm cho từng chỉ tiêu đánh giá CLCS dân cư Tiền
Giang theo cấp địa phương (huyện/TX/TP) năm 2015 102Bảng 2.31 Đánh giá CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang theo cấp địa phương
(huyện/TX/TP) năm 2015 (*)
103Bảng 3.1 Định hướng một số chỉ tiêu CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đến
năm 2030 119
Trang 11Biểu đồ 1.1 Chi tiêu cho giáo dục/1 học sinh/tháng của Việt Nam giai đoạn
2002 – 2012 25Biểu đồ 1.2 Tuổi thọ trung bình và tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi của vùng
ĐBSCL giai đoạn 2005 – 2014 35Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế theo ngành của Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2015
(giá thực tế) 47Biểu đồ 2.2 Tổng mức bán lẻ hàng hóa của Tiền Giang giai đoạn 2005 – 2015
(giá thực tế) 50Biểu đồ 2.3 GDP bình quân đầu người của Tiền Giang và cả nước giai đoạn
2005 - 2015 72Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT của Tiền Giang qua các năm học 79Biểu đồ 2.5 Chi tiêu giáo dục từ ngân sách của tỉnh Tiền Giang giai đoạn
2005 – 2015 81Biểu đồ 2.6 Chi tiêu y tế từ ngân sách của tỉnh Tiền Giang giai đoạn
2005 - 2015 90Biểu đồ 2.7 Tỉ lệ hộ có nhà ở chia theo loại nhà của tỉnh Tiền Giang giai đoạn
2006 – 2014 92
Trang 12Trang
1 Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang năm 2015 41
2 Bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang 71
3 Bản đồ giáo dục tỉnh Tiền Giang năm 2015 83
4 Bản đồ y tế và chăm sóc sức khỏe tỉnh Tiền Giang năm 2015 91
5 Bản đồ tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Tiền Giang năm 2015 104
Trang 13
M Ở ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Xã hội loài người hiện nay ngày càng phát triển, hiện đại Con người ngày càng chú trọng hơn vào giải quyết các nhu cầu cho bản thân để hướng đến một cuộc sống lâu dài và hạnh phúc, đó là việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) Ở bất kì nơi nào chúng ta cũng có thể thấy nhu cầu của con người rất khác nhau và con người luôn
có xu hướng đòi hỏi được đáp ứng nhu cầu cao hơn CLCS luôn có sự chênh lệch và khác nhau theo không gian, theo thời gian và giữa các nhóm dân cư Nâng cao CLCS luôn là mục tiêu vươn tới của mọi cá nhân và quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, nâng cao CLCS cho người dân luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng định:
“Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần
của nhân dân ” Đại hội Đảng lần thứ XI, trong mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm (2011-2015) cũng nêu rõ: “nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân,…”.Nghiên cứu và nâng cao CLCS cho người dân là phù hợp với chủ trương và
mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra
Tiền Giang – một tỉnh phía Nam của đất nước, nằm ở vùng ĐBSCL, thuộc vùng KTTĐ phía nam Vị trí địa lí cùng với các điều kiện về tự nhiên và kinh tế-xã hội rất thuận lợi cho phát triển kinh tế và nâng cao CLCS dân cư Trong những năm qua, các
chỉ tiêu để đánh giá CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đang ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, so với tiềm năng của tỉnh thì chưa tương xứng, và nếu so với nhiều địa phương khác trong tỉnh cũng chỉ ở mức trung bình
Với mong muốn được góp phần xây dựng tỉnh Tiền Giang – nơi tác giả đang
sống và công tác ngày càng giàu đẹp đồng thời đóng góp vào sự phát triển chung của
đất nước Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Nghiên c ứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh
Ti ền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp
Trang 142 M ục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn nghiên cứu
2.1 M ục tiêu
- Phân tích thực trạng CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang
- Đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang
2.2 Nhi ệm vụ
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về CLCS dân cư
- Trình bày và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư Tiền Giang
- Phân tích thực trạng CLCS dân cư Tiền Giang từ 2005 đến năm 2015
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang
2.3 Gi ới hạn nghiên cứu đề tài
- Về nội dung: những tiêu chí cơ bản để đánh giá CLCS (kinh tế, y tế và CSSK, giáo dục, hưởng thụ phúc lợi)
- Về thời gian: từ năm 2005 đến năm 2015, định hướng đến năm 2030
- Về không gian: tỉnh Tiền Giang có sự phân hóa theo cấp huyện thị
- Dưới góc độ địa lí học
3 L ịch sử nghiên cứu
Trên thế giới: đã có một số tác giả nghiên cứu đến cuộc sống dân cư như:
R.C.Sharma với tác phẩm: “Dân số - tài nguyên – môi trường – chất lượng cuộc sống” năm 1998 đã nghiên cứu CLCS dân cư trong mối quan hệ với phát triển dân số
ở mỗi quốc gia Theo ông, CLCS là sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân
Năm 1990, tổ chức UNDP của Liên hiệp quốc đã đưa ra chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) dựa trên những chỉ tiêu về thu nhập, sức khỏe, tri thức và được coi là
ba mặt cơ bản phản ánh CLCS Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận
mới, có tính hệ thống hơn, đã coi: “phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh và xứng đáng với con người ” Điều này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn
của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững Những nghiên cứu này đã đề cập đến các khái niệm, chỉ tiêu và thực trạng các vấn đề về dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển, CLCS Đây là những tiền đề lí luận và thực tiễn của
Trang 15nhiều công trình nghiên cứu về CLCS của dân cư ở nước ta
Ở Việt Nam, từ những năm cuối thế kỉ XX đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học có liên quan đến CLCS như: “các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” của Nguyễn Quán (1995), “Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998”, “Mức sống trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Việt Nam, 2001” của tập thể các tác giả Đỗ Thiên
Kính, Phùng Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc, Nguyễn Bùi Linh, Bùi Thái Quyên, Hoàng Văn Kình, Lê Thị Thanh Loan, Nguyễn Phong Các công trình này đã phân tích các vấn đề
có liên quan đến CLCS dân cư như thu nhập của người dân, trình độ dân trí, chất lượng y tế, giáo dục và thông qua đó đã khẳng định về sự cải thiện CLCS của các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1993 – 1998
Công trình nghiên cứu: “Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 – Đổi mới
và sự nghiệp phát triển con người” của một tập thể gồm hơn 30 nhà khoa học do
Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội) thực hiện đã tổng quan toàn bộ sự phát triển con người năm 2001, trong đó có lưu tâm tới HDI theo vùng và tỉnh, thành phố
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như: “Con người và phát triển con người’’ (Nxb Giáo dục năm 2007) của PGS.TS Hồ Sĩ Quý, Viện Thông tin
KHXH – Viện KHXH Việt Nam với những nghiên cứu mang tính triết học chuyên sâu
đã cập nhật những tri thức mới nhất của thế giới về con người, phát triển con người, trong đó có CLCS con người
Một số công trình khác cũng đề cập tới CLCS dân cư trong mối quan hệ dân số -
phát triển bền vững như “Dân số và phát triển” (2001) của GS Tống Văn Đường chủ
biên; “Dân số và phát triển kinh tế - xã hội” của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ; “Dân số
và phát triển bền vững ở Việt Nam” (2004) do TS Nguyễn Thiện Trưởng chủ biên –
Nxb Chính trị quốc gia
Đã có nhiều đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến CLCS dân cư của
từng địa phương như: “Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư thành phố Hải phòng”
- luận án tiến sĩ Địa lí (2004) của Nguyễn Thị Kim Thoa; “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Long An”- luận văn thạc sĩ Địa lí học (2013) của Đỗ Thành Anh
Trang 16Trường; “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định”- luận văn thạc sĩ
Địa lí học (2015) của Nguyễn Đức Tôn,
Những công trình nghiên cứu trên là nguồn tư liệu quí để tác giả tham khảo và
thực hiện nghiên cứu của mình thuận lợi hơn
Ở Tiền Giang cho tới thời điểm hiện tại, CLCS dân cư mới chỉ được đề cập một phần, thường có trong các báo cáo chuyên đề, báo cảo tổng kết của các Sở dưới góc độ kinh tế, chuyên ngành riêng biệt
Việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Tiền Giang dưới góc độ địa lí học là chưa có đề tài, chưa có bài viết nào tổng hợp
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Nghiên cứu CLCS trong mối quan hệ của nhiều yếu tố tự nhiên, KT – XH vì
những yếu tố tự nhiên, KT – XH có tác động lớn đến CLCS dân cư Luận văn chú
trọng phân tích sự tổng hợp của các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS người dân tỉnh Tiền Giang Mặt khác cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện
để từ đó đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển KT - XH một cách
có hiệu quả
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Việc nghiên cứu CLCS dân cư phải được xem xét theo quan điểm hệ thống bởi
Tiền Giang là một trong 13 tỉnh, thành phố của vùng ĐBSCL, là một phân hệ trong hệ
thống KT - XH của vùng ĐBSCL Bản thân CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang lại bao gồm
những phân hệ con cấp thấp hơn Các hệ thống các cấp thấp có mối quan hệ với nhau, khi nghiên cứu cần tìm hiểu sự tác động qua lại trong một hệ thống và giữa các hệ
thống với nhau
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
CLCS mang tính lịch sử, CLCS dân cư được phân tích trong hoàn cảnh cụ thể ở
tỉnh Tiền Giang và qua các giai đoạn phát triển nhất định Quan điểm lịch sử nhằm phát hiện sự biến đổi theo thời gian của các chỉ tiêu CLCS, giải thích nguyên nhân
biến động ở hiện tại và tương lai
Trang 174.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Khi nghiên cứu bất cứ một vấn đề KT - XH nào cũng phải xem xét trong mối quan hệ phát triển bền vững Theo quan điểm này, các yếu tố về dân số, kinh tế, tài nguyên, môi trường có liên quan chặt chẽ tới CLCS CLCS được nâng cao đồng nghĩa với việc nâng cao và duy trì chất lượng môi trường sống hay nói cách khác là cân bằng tự nhiên Ngược lại, tài nguyên môi trường suy thoái phản ánh thực trạng CLCS thấp kém của mỗi vùng
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Nghiên cứu CLCS trong thời gian dài là vấn đề phức tạp và mang tính đa chiều, liên quan đến nhiều khía cạnh Vì vậy, tất cả các số liệu thống kê về nhân tố tự nhiên
và KT - XH nói chung từ cấp tỉnh đến cấp huyện của Tiền Giang là những thông tin dữ
liệu đầu vào phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Để phục vụ cho việc nghiên cứu đạt
hiệu quả cao thì các số liệu cần được hệ thống hóa khoa học để tránh những thiếu sót Nguồn dữ liệu được thu thập bao gồm từ nhiều nguồn khác nhau như: Số liệu qua các tài liệu báo cáo và các sổ sách lưu trữ tại các cơ quan hữu quan, từ các niên giám
thống kê, thống kê qua các số liệu tham khảo từ thực địa, qua các kết quả điều tra
4.2.2 Phương pháp toán thống kê
Trên cơ sở các số liệu thống kê đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, tác
giả sử dụng phương pháp thống kê toán học như những công cụ để tính toán các chỉ số thành phần của CLCS, cho điểm các chỉ tiêu và đánh giá điểm tổng hợp chung về CLCS theo toàn tỉnh và từng huyện, thành phố
4.2.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trên cơ sở những nguồn tài liệu đã thu thập được, trong quá trình nghiên cứu
phải so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm làm nổi bật đối tượng cần nghiên cứu và đưa ra
những đánh giá chính xác CLCS dân cư là một khái niệm phức tạp, các tư liệu sử
dụng được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau Do vậy, phải phân tích để tìm ra được
bản chất, so sánh các kết quả tổng hợp để rút ra những kết luận xác đáng về CLCS dân
cư tỉnh Tiền Giang
Trang 184.2.4 Phương pháp thực địa
Là phương pháp quan trọng của những người nghiên cứu địa lí Ngoài những tài
liệu thu thập được, tác giả cần có khảo sát thực tế tại những địa bàn cụ thể Ngoài ra,
việc khảo sát trên một số nhóm đối tượng là những căn cứ quan trọng để đi đến kết
luận của đề tài Kết quả điều tra là một trong những căn cứ để xây dựng các giải pháp
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này thực hiện bằng việc tham khảo ý kiến các chuyên gia có năng
lực trong từng lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, y tế Thông qua tiếp xúc, trao đổi, tham
khảo ý kiến của các nhà khoa học để có thêm những nhận định chính xác về CLCS
4.2.6 Phương pháp bản đồ và GIS
Đây là phương pháp đặc trưng của Địa lí Phương pháp này cho phép cụ thể hóa các đối tượng theo không gian và xây dựng hệ thống bản đồ có liên quan đến CLCS dân cư
4.2.7 Phương pháp cân đối
Khi phát triển kinh tế, xã hội và các dịch vụ xã hội,… cần đảm bảo sự phát triển trong mối quan hệ cân đối, hài hòa
5 Đóng góp của luận văn
- Kế thừa, bổ sung và cập nhật cơ sở lí luận và thực tiễn về CLCS
- Làm rõ được những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang
- Phân tích được thực trạng CLCS dân cư Tiền Giang theo các chỉ tiêu lựa chọn
- Đưa ra được một số giải pháp, kiến nghị nhằm cải thiện và nâng cao CLCS của người dân trong tỉnh Tiền Giang
6 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, các bản đồ,
bảng số liệu và biểu đồ, nội dung luận văn được trình bày trong ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về CLCS dân cư
- Chương 2: Thực trạng CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang
- Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao CLCS dân cư tỉnh Tiền Giang đến năm 2030
Trang 19C hương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các k hái niệm có liên quan
1.1.1.1 Chất lượng cuộc sống
• Chất lượng
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông năm 2007 của tác giả Trương Văn Hùng thì
“Chất lượng là giá trị về mặt lợi ích”
Theo GS.TS Nguyễn Quang Toản chất lượng được hiểu là “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” [29]
Theo tiêu chuẩn ISO 9000: 2000: "Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan" [39]
Như vậy, có thể hiểu chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản
của sự vật (sự việc).…đáp ứng sự thỏa mãn các nhu cầu, làm cho sự vật (sự việc) này
phân biệt với sự vật (sự việc) khác
• Dân cư
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông năm 2007 của tác giả Trương Văn Hùng thì
“ Dân cư là dân ở một vùng, một xứ nào”
Dân cư là tập hợp tất cả những người đang cư trú trên một địa bàn lãnh thổ nhất định một cách tự nhiên qua lịch sử và phát triển không ngừng, có thể có những mối quan hệ nhất định với nhau, như quan hệ họ hàng, quan hệ bạn bè, quan hệ kinh tế,… Tuỳ điều kiện của môi trường tự nhiên và KT - XH mà dân cư các lãnh thổ khác nhau
có thể giống hoặc khác nhau một phần hay toàn phần Khi nói đến dân cư ta hay đề cập đến các chỉ tiêu: quy mô, cơ cấu, học vấn, kinh tế, sức khỏe, giáo dục,…
• Chất lượng cuộc sống
CLCS là một khái niệm xuất hiện sớm với nội hàm rộng lớn Theo thời gian, trình độ phát triển, nhận thức về văn hóa xã hội của mỗi cá nhân, địa phương, mỗi dân tộc mà có cách hiểu khác nhau
Trang 20Trong tác phẩm nổi tiếng: “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” của R.C.Sharma – Nhà dân số học người Ấn Độ (1990), ông cho rằng: “Chất lượng cuộc sống là cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, CLCS là sự cảm giác được hài lòng với những gì
mà con người có được Nó như cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” [12] Theo quan niệm này có thể nhận thấy chỉ tiêu mức sống của mỗi cá nhân,
gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên CLCS Quan niệm của ông đã được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận
Với William Bell, ông lại gắn quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, sinh thái Theo ông, CLCS thể hiện cụ thể ở 12 đặc trưng sau đây: “An toàn; sung túc về kinh tế; công bằng theo pháp luật; an ninh quốc gia; bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; hạnh phúc tinh thần; sự tham gia vào đời sống xã hội; bình đẳng
về giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi; chất lượng đời sống văn hóa; quyền tự do công dân; chất lượng môi trường kĩ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, ); chất lượng môi trường sống” [39] Trong đó, ông đã nhấn mạnh nội dung “an toàn” và khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn trong môi trường
tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh
Theo dự án VIE/94/P01: “Chất lượng cuộc sống là điều kiện sống được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi, giải trí cho nhu cầu của con người Điều này làm cho con người dễ dàng đạt được sự hạnh phúc, an toàn gia đình, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần” [39]
Theo PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ: “Chất lượng cuộc sống là khả năng đáp ứng các nhu cầu của con người trong xã hội, nhu cầu ấy thể hiện qua yếu tố vật chất, tinh thần và trí tuệ của con người trong mối quan hệ tổng hòa giữa dân số, tài nguyên và môi trường” [39]
Từ sự phân tích trên, theo quan niệm của tác giả: CLCS là khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng tăng của con người để đạt đến sự thỏa mãn trong cuộc sống, không chỉ hiện tại mà còn đảm bảo cả trong tương lai
Trang 211.1.1.2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng thu nhập quốc gia (GNI)
- Tổng sản phẩm quốc nội – GDP (Gross domestic product) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia (không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài) ở một thời điểm nhất định, thường là một năm GDP không bao gồm phần khấu trừ đối với phần khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm, xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên [39]
Hiện nay, GDP được sử dụng phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới để đánh giá, so sánh các nền kinh tế Dựa vào GDP có thể phân tích cơ cấu kinh tế, đánh giá được nguồn lực của quốc gia, địa phương và từ đó dự báo tốc độ tăng trưởng, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế
- Tổng thu nhập quốc gia – GNI (Gross national income) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của một quốc gia, ở một thời điểm nhất định, thường là một năm GNI = GDP + nguồn thu nhập từ nước ngoài – nguồn thu nhập phải chuyển cho nước ngoài) [39]
GNI được coi là thước đo tổng hợp lớn nhất của thu nhập quốc dân bởi vì GNI xác định rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải đã làm ra
- Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người (GDP/người) là tỉ số giữa tổng sản phẩm quốc nội so với tổng số dân trong cùng một thời điểm, thường là 1 năm Chỉ
số GDP/người được sử dụng để so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia, các địa phương trong một quốc gia GDP/người là một trong 3 chỉ tiêu để đánh giá thành tựu phát triển con người qua chỉ số phát triển con người (HDI) Bên cạnh chỉ số GDP/người là chỉ số GNI/người (tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người), chỉ số GNI/người cũng đang dần được sử dụng phổ biến vì nó đánh giá chính xác mức sống của dân cư
Trên toàn thế giới, GDP và GNI của mỗi nước được quy đổi sang đồng tiền quốc
tế là USD theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) Tỉ giá PPP cho phép so sánh chuẩn về mức giá thực tế giữa các nước
- Sức mua tương đương – PPP (Purchasing power parity) là giá của một mặt hàng trong nước tính bằng tiền nội tệ so với giá của mặt hàng tương tự ở nước ngoài
Trang 22biểu thị bằng ngoại tệ (thường tính bằng USD) [39]
PPP sẽ điều chỉnh thu nhập theo mặt bằng giá quốc tế và là cơ sở để so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia cũng như xác định mức đóng góp của các nước thành viên trong các tổ chức quốc tế
1.1.2 Các n hân tố ảnh hưởng tới chất chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
Có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển KT - XH nói chung và CLCS dân cư nói riêng Tạo ra những lợi thế hay hạn chế cho việc huy động các nguồn lực, tạo ra các mối liên hệ sản xuất, trao đổi sản phẩm, tiếp thu khoa học – công nghệ, mở rộng quan hệ kinh tế, trao đổi, tiếp cận giữa các địa phương Trong xu thế hội nhập, vị trí địa lí được đánh giá cao, có thể thu hút đầu tư, tạo đà tăng trưởng và phát triển, tạo điều kiện nâng cao CLCS dân cư
1.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
• Dân cư, nguồn lao động, dân tộc
Con người vừa là chủ thể của quá trình sản xuất tạo ra của cải phục vụ nhu cầu
sản xuất và tiêu dùng (lực lượng lao động), lại vừa là đối tượng tiêu thụ sản phẩm (thị
trường tiêu thụ)
Dưới góc độ lực lượng sản xuất, lực lượng lao động có ảnh hưởng quan trọng đến phát triển sản xuất ở từng lãnh thổ nhất định Quy mô và gia tăng dân số, phân bố dân cư, chất lượng dân cư và chất lượng lao động ảnh hưởng tới CLCS
Dưới góc độ thị trường tiêu thụ, quy mô và cơ cấu dân số, truyền thống và tập quán tiêu dùng tác động trực tiếp, quy định đầu ra sản phẩm, ảnh hưởng mức thu nhập, mức sống dân cư
- Quy mô và gia tăng dân số:
+ Quy mô dân số: dân số đông sẽ gây ra khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của xã hội, vốn đầu tư cho sản xuất ngày càng thấp
từ đó gây áp lực đối với việc nâng cao CLCS dân cư Ngược lại, dân số ít sẽ gây ra sự khan hiếm về nguồn lực lao động, đây vốn là động lực chính cho sự phát triển Chất lượng dân số hay chất lượng nguồn lao động cũng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng
Trang 23lớn đến CLCS dân cư, là yếu tố quyết định đến trình độ sản xuất và sự phát triển KT -
XH của lãnh thổ Chất lượng lao động tỉ lệ thuận với CLCS dân cư
+ Gia tăng dân số: Bao gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học, trong đó gia tăng tự nhiên có tác động hơn cả đến với CLCS dân cư Trong phạm vi của một quốc gia nếu tỉ lệ này vượt quá 3%/năm thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nâng cao CLCS dân cư, do khối lượng của cải làm ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân số Tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều làm nảy sinh vấn đề mất cân đối cơ cấu dân số, từ đó ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao CLCS dân cư của địa phương, của quốc gia
- Cơ cấu dân số và phân bố dân cư:
+ Cơ cấu dân số: cơ cấu dân số trẻ làm nảy sinh nhiều vấn đề về nâng cao CLCS dân cư như tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm, thu nhập thấp, suy dinh dưỡng và tỉ lệ tử vong trẻ em cao do thiếu điều kiện về y tế, CSSK, nạn thất học do thiếu điều kiện giáo dục,….Ngược lại, cơ cấu dân số già sẽ dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực, gây sức ép cho vấn đề an sinh xã hội,….Bên cạnh đó, nếu tỉ lệ người phụ thuộc chiếm tỉ lệ cao, Nhà nước sẽ tốn nhiều chi phí đầu tư để đáp ứng các nhu cầu như: hệ thống giáo dục, y tế và CSSK, các dịch vụ khác, khi đó nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng ngày càng giảm, ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao CLCS dân cư
+ Phân bố dân cư: Những nơi có điều kiện thuận lợi cả về tự nhiên, KT – XH thường là nơi tập trung dân cư đông đúc, đồng thời CLCS dân cư ở mức cao Ngược lại, những nơi có điều kiện ít thuận lợi cũng là nơi dân số thưa thớt, CLCS dân cư cũng thấp hơn
- Nguồn lao động: Là bộ phận năng động nhất của dân cư tạo ra của cải vật chất
cho xã hội, là cơ sở để nâng cao CLCS dân cư Trong thời kì hội nhập, trình độ hay chất lượng nguồn lao động là yếu tố cơ bản để đánh giá hiệu quả nguồn lao động Nguồn lao động chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về thể lực và trí lực, cả về khả năng lao động Nguồn lao động chất lượng cao sẽ rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, đẩy nhanh sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, tạo ra năng suất lao động xã hội cao, tăng thu nhập, cải thiện CLCS
Trang 24- Dân tộc: Đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc có ảnh hưởng
đến CLCS Trong phạm vi của một lãnh thổ, các dân tộc sinh sống ở những vùng đồng bằng, nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, cơ sở hạ tầng, trình độ hiểu biết, tiếp thu khoa học kĩ thuật cao nên có CLCS ở mức tương đối cao Ngược lại các dân tộc thiểu số thường sinh sống ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng núi, trình độ nhận thức, hiểu biết và tiếp thu khoa học kĩ thuật hạn chế nên CLCS thấp hơn
• Trìn h độ phát triển của nền kinh tế
Là yếu tố quyết định đối với hoạt động sản xuất vật chất, bao gồm quy mô nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu kinh tế,….Nếu trình độ phát triển kinh tế ở mức cao sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập của người dân và nâng cao CLCS Từ đó, tạo tiền đề cho người dân tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ giáo dục, y tế, CSSK,….Do đó trong chính sách phát triển KT - XH của từng quốc gia, để
nâng cao CLCS dân cư trước hết phải đẩy mạnh phát triển kinh tế
• Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
- Cơ sở hạ tầng: gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống cấp điện, nước, xử
lí chất thải, thông tin liên lạc,…có ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành và phát triển
KT - XH, tạo khả năng hấp dẫn đầu tư, mức độ tập trung sản xuất, hiệu quả khai thác lãnh thổ ảnh hưởng đến CLCS Mặc khác cơ sở hạ tầng còn ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS dân cư thông qua việc đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng về điện, nước, thông tin liên lạc,….của người dân
- Cơ sở vật chất kĩ thuật: là nền tảng cho phát triển KT - XH Nơi nào có cơ sở vật chất kĩ thuật tốt (các trạm giống, thú y, hệ thống thủy nông, hệ thống kho chứa, dịch vụ cung ứng nguyên liệu, ) thì nền kinh tế sẽ đạt hiệu quả cao, CLCS được cải thiện và ngược lại
• Khoa học, công nghệ
- Công nghệ là biện pháp để con người thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Công nghệ phát triển sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng lượng của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng cao của con người, góp phần nâng cao CLCS dân cư
Trang 25- Những tiến bộ khoa học công nghệ sẽ tạo ra những thành quả lao động mang tính đột phá, nhảy vọt, đẩy nhanh việc tăng năng suất lao động, từ đó tăng thu nhập góp phần cải thiện CLCS dân cư
• Đường lối chính sách
- Đường lối chính sách bao gồm chiến lược phát triển KT - XH, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ; các chính sách, đường lối phát triển các lĩnh vực khác nhau của xã hội trong từng giai đoạn của Nhà nước và của từng địa phương (chính sách trợ giúp về vốn, chính sách mở cửa hội nhập, chính sách thu hút đầu tư, chính sách giảm nghèo, chính sách ưu tiên phát triển các ngành kinh tế,…) Đường lối chính sách có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đáng kể đến CLCS dân cư
• Các nhân tố khác
- Vốn: vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, nó không chỉ là nhân tố quan trọng và cấp thiết đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển Vốn vừa là phương thức vừa là điều kiện để thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế, vốn tạo ra khả năng huy động, sử dụng và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển KT - XH, tác động trực tiếp tới thu nhập của người dân, cải thiện mức sống cho người dân
- Thể chế chính trị: Thể chế chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng quyết định tới an ninh và ổn định xã hội, do đó cũng tác động đến CLCS người dân CLCS dân cư chỉ có thể được đảm bảo khi đất nước hòa bình, xã hội ổn định
1.1.2.3 Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Là nhân tố cơ bản để xây dựng và phát triển KT - XH của một quốc gia, một vùng lãnh thổ nhất định Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu
tố như địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản, biển,.…
Nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là điều kiện thường xuyên, cần thiết, tạo khả năng cho quá trình sản xuất, là tài sản quý báu của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến CLCS dân cư ở các khía cạnh như: điều kiện cư trú của người dân, chất lượng môi trường sống, khả năng khai thác các tài nguyên làm nguồn
Trang 26sống cho con người,… Tuy nhiên, đây không phải là nhân tố quyết định tới việc nâng cao CLCS dân cư
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.3.1 Chỉ số phát triển con người - HDI
HDI (Human development index) là thước đo tổng hợp về sự phát triển KT -
XH của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua GDP bình quân đầu người); tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện
qua tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh) của con người
Theo UNDP “HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển con người, phản ánh
mức độ đạt được những khát vọng chung của họ, đó là sức khỏe dồi dào, có tri thức và
có thu nhập cao” [26]
Như vậy, HDI bao gồm 3 khía cạnh: sức khỏe, tri thức và thu nhập HDI nhận
giá trị từ 0 đến 1 HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển con người càng cao,
trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp
Cách tính HDI từ năm 2010
HDI vẫn đo thành tựu của mỗi quốc gia trên 3 phương diện nhưng có sự thay đổi ở một vài chỉ số thành phần cũng như của các giá trị biên
- Một cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh vẫn đo bằng tuổi thọ trung bình nhưng có
sự thay đổi giá trị biên
- Kiến thức dân cư (giáo dục): thay đổi chỉ số thành phần và giá trị biên
+ Thay tỉ lệ người lớn biết chữ (%) bằng số năm đi học trung bình (năm)
+ Thay tỉ lệ nhập học các cấp (%) bằng số năm đi học kì vọng (năm)
- Mức sống của con người đo bằng tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người và điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương đương (PPP), tính bằng đô la
Mĩ (USD) (trước đây sử dụng GDP để tính)
Các giá trị biên (tối đa (max) và tối thiểu (min)) của các chỉ tiêu liên quan để tính HDI có sự thay đổi như sau:
Trang 27Bảng 1.1 Các giá trị biên để tính HDI từ năm 2010 đến nay [38]
Chỉ tiêu Đơn vị tính Giá trị tối đa
(max)
Giá trị tối thiểu (min)
Công thức tính như sau:
- Cách tính chỉ số thu nhập (kí hiệu là HDI1):
1
ln(thùc tÕ) - ln(min)HDI =
ln(max) - ln(min)
- Cách tính chỉ số giáo dục (HDI2):
Lmin-Lmax
minLL
x LDI
Tmax - Tmin (T - tuổi thọ trung bình)
- Tổng hợp 3 chỉ số thành phần sẽ được chỉ số HDI theo công thức tính trung bình nhân (thay vì trung bình cộng như trước đây) như sau:
3
3 2
1 HDI HDI HDI
Trang 28+ Thấp: HDI từ 0,000 đến 0,487
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLCS dân cư trong nghiên cứu đề tài
• V ề kinh tế
- GDP/người và thu nhập bình quân đầu người
+ GDP/người của nước ta có thể tính bằng tiền nội địa (VNĐ) hoặc bằng USD theo tỉ giá hối đoái thực tế GDP/người ở nước ta được tính cho cả nước và đến cấp tỉnh, thành phố tương đương Thông qua chỉ số này có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân qua các năm và giữa các địa phương
+ Thu nhập bình quân đầu người: là mức trả công lao động mà người lao động nhận được trong thời gian nhất định (tháng hoặc năm) và được tính bằng VNĐ/tháng
hoặc VNĐ/năm [39]
+ Thu nhập bình quân của hộ gia đình: là toàn bộ tiền và giá trị hiện vật mà hộ
và thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), gồm: Thu từ tiền công, tiền lương; thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); thu từ ngành nghề phi nông nghiệp; các nguồn
thu khác [39]
Thu nhập bình quân phản ánh trình độ phát triển KT - XH và mức sống của dân
cư trong mỗi quốc gia, địa phương Đây là căn cứ quan trọng để đưa ra chuẩn nghèo
- Nghèo, c huẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo
+ Quan niệm nghèo: Đói nghèo không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng), mà còn có
sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế,….Người nghèo phải là người sống dưới mức chuẩn thấp nhất có thể chấp nhận được trong một thời gian và địa điểm cho trước Nghèo đói thường có 2 dạng: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con
người (nghèo tương đối) [39]
+ Tỉ lệ hộ nghèo: là tỉ lệ phần trăm giữa số người hoặc số hộ có mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số
hộ được nghiên cứu
+ Chuẩn nghèo: Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu
Trang 29người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo Những người hoặc hộ có TNBQĐN thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo [39]
Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm: được xác định bằng giá trị của một rổ hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là 2100 kcal
Chuẩn nghèo chung: được xác định bằng chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm cộng với mức chi tối thiểu cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm, gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hóa giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc,…
• Về giáo dục
Giáo dục là thước đo trình độ dân trí, phản ánh mức độ phát triển của mỗi quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục, đây là chỉ tiêu cơ bản thể hiện CLCS dân
cư Trên thế giới, nhiều quốc gia đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao CLCS dân cư
- Tỉ lệ người lớn biết chữ: là tỉ lệ phần trăm số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc,
hiểu và biết viết (phải hiểu được một câu ngắn, đơn giản về cuộc sống hàng ngày của
họ) so với tổng số dân
- Tỉ lệ nhập học tổng hợp: là tỉ lệ phần trăm số học sinh ở tất cả các bậc học (từ tiểu học đến THPT) so với tổng số người trong độ tuổi đi học
- Tỉ lệ học sinh THPT/tổng số học sinh: là tỉ lệ phần trăm giữa số học sinh bậc
THPT so với tổng số học sinh Chỉ số này phản ánh chất lượng giáo dục của địa
phương và liên quan chặt chẽ đến mức thu nhập, mức sống của dân cư
- Chi tiêu cho giáo dục/1 học sinh phổ thông: là tương quan giữa tổng ngân
sách dành cho giáo dục so với tổng số học sinh đi học trong cùng một thời điểm
- Số học sinh trung bình/1 giáo viên: là tỉ số giữa tổng số học sinh so với tổng
số giáo viên ở cùng thời điểm
- Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT: là tỉ lệ phần trăm số học sinh tốt nghiệp THPT
so với tống số học sinh ở cùng thời điểm
Trang 30• Về y tế và chăm sóc sức khỏe
Y tế và CSSK có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tuổi thọ người dân, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao CLCS dân cư Các hoạt động y tế còn có tác động đến tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên, tỉ số giới tính, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế, gián tiếp ảnh hưởng đến CLCS dân cư
- Tuổi thọ trung bình (hay còn gọi là triển vọng sống): là số năm bình quân của
một người mới sinh ra có khả năng sống được trong suốt cuộc đời Tuổi thọ trung bình được thống kê theo cả nước, từng vùng và từng tỉnh Căn cứ vào tuổi thọ trung bình, người ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống, điều kiện giáo dục, mức thu nhập, điều kiện bảo vệ và CSSK ở các nước, các địa phương Tuổi thọ trung bình chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình tử vong trẻ em
- Số cán bộ y tế, số giường bệnh/1 vạn dân: là tương quan giữa số cán bộ y tế
và số giường bệnh so với số dân trong cùng một thời điểm Số cán bộ y tế (bao gồm
bác sĩ, y sĩ, y tá) Chỉ tiêu quan trọng là số bác sĩ/1 vạn dân
- Chi tiêu y tế/1 người dân: là tương quan giữa ngân sách dành cho y tế so với
số dân trong cùng một thời điểm Chỉ tiêu này phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển kinh tế và chính sách xã hội của địa phương
- Tỉ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin: là tỉ lệ phần
trăm số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin theo Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia so với tống số trẻ em dưới 1 tuổi ở cùng thời điểm
- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: là tỉ lệ phần trăm số trẻ em dưới 5
tuổi bị suy dinh dưỡng so với tổng số trẻ em dưới 5 tuổi ở cùng thời điểm
- Tỉ lệ xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế: là tỉ lệ phần trăm số
xã/phường/thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế so với tổng số xã/phường/thị trấn ở cùng thời điểm
• Về hưởng thụ phúc lợi
- Về điều kiện nhà ở: Nhà ở có vai trò quan trọng trong việc ổn định cuộc sống,
góp phần nâng cao CLCS dân cư Khi đánh giá điều kiện nhà ở, người ta thường căn
cứ vào hai chỉ tiêu là diện tích nhà ở và chất lượng nhà ở Diện tích nhà ở thường được
Trang 31đo bằng m2/người, chất lượng nhà ở được xác định bằng tính chất kiên cố của ngôi nhà Hiện nay, trong các cuộc điều tra về nhà ở tại Việt Nam, chất lượng nhà ở thường
được chia thành 4 loại: kiên cố, bán kiên cố, thiếu kiên cố và nhà tạm
- Về sử dụng điện: Nhu cầu và khả năng sử dụng điện phản ánh trình độ phát
triển KT - XH và mức sống của người dân Đây cũng là yếu tố quan trọng tạo nên CLCS dân cư trong thời đại ngày nay Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sử dụng điện là:
tỉ lệ các xã có điện, tỉ lệ hộ dùng điện lưới quốc gia, số kwh điện tiêu thụ tính bình quân theo tháng hoặc theo năm
- Về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường: Sử dụng nước sạch luôn là một
nhu cầu bức thiết và cơ bản của con người, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà vấn đề môi trường luôn đặt lên vị trí hàng đầu Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện nước sạch có ảnh hưởng tới CLCS dân cư là tỉ lệ người dân được sử dụng nguồn nước sạch
và nước hợp vệ sinh bao gồm: nguồn nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn
lộ thiên đã qua xử lí Nước sạch nông thôn cũng là một trong những tiêu chí đánh giá CLCS dân cư, tỉ lệ các trạm cấp nước nông thôn đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước sạch vùng nông thôn
Khi đời sống con người ngày càng nâng cao thì vấn đề vệ sinh môi trường càng được chú trọng, các chỉ tiêu liên quan đến vệ sinh môi trường để đánh giá CLCS dân
cư như: tỉ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh tự hoại và bán tự hoại, tỉ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom,
- Về sử dụng các tiện nghi sinh hoạt: Tiện nghi sinh hoạt là bộ phận không thể
thiếu trong đời sống người dân Dựa vào các tiện nghi sinh hoạt được sử dụng hàng ngày có thể đánh giá được CLCS của hộ gia đình, của người dân CLCS càng cao, tiện nghi sinh hoạt càng đa dạng, hiện đại và ngược lại Các tiện nghi sinh hoạt được dùng
để đánh giá mức sống ở nước ta bao gồm: ti vi, máy vi tính, kết nối internet, điện thoại
cố định và điện thoại di động, tủ lạnh, máy giặt, bình tắm nóng lạnh, điều hòa nhiệt độ,
xe máy, ô tô
Trang 321.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam
Từ năm 1986, nước ta bước vào thời kỉ Đổi mới, trải qua 30 năm thực hiện chủ trương, đường lối Đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền KT - XH nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng, dần khởi sắc Nước ta đã chuyển từ nền kinh tế bao cấp lạc hậu với nông nghiệp là chính sang nền kinh tế thị trường hiện đại với vai trò của công nghiệp và dịch vụ ngày càng lớn Các mặt của đời sống xã hội dần ổn định và tiến bộ, hội nhập khu vực và thế giới CLCS của dân cư Việt Nam đã được nâng lên đáng kể và ngày càng cải thiện
1.2.1.1 Về chỉ số phát triển con người - HDI
Theo báo cáo phát triển con người của UNDP, có thể thấy chỉ số HDI của Việt Nam tăng lên đáng kể về giá trị và thứ hạng, tuy nhiên giữa các giai đoạn tăng nhanh, chậm khác nhau Thứ bậc tăng lên chủ yếu do hai chỉ tiêu giáo dục và y tế CSSK, còn chỉ số GDP/người hoặc GNI/người vẫn ở mức thấp Do đó, thứ bậc về HDI của Việt
Nam luôn cao hơn thứ bậc GDP/người hoặc GNI/người
Bảng 1.2 Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 [39]
Chỉ số 0,704(*) 0,728(*) 0,593(**) 0,638(**) 0,666(**)Xếp hạng 108/177 107/177 128/187 121/187 116/188
(*) Chỉ số HDI theo cách tính trước năm 2010
(**) Chỉ số HDI theo cách tính mới từ năm 2010
Năm 2014, xếp hạng HDI của Việt Nam là 116/188, tăng 12 bậc so với năm
2011, thuộc nhóm nước có HDI trung bình Trong khu vực Đông Nam Á, chỉ số HDI của nước ta đứng thứ 7/11 quốc gia (trên Myanma, Lào, Campuchia và Đông Timo), ở Châu Á đứng thứ 34/48 quốc gia và vùng lãnh thổ
1.2.1.2 Về kinh tế
• GDP và GDP bình quân đầu người
GDP và GDP/người của Việt Nam ngày càng tăng Từ năm 2005 đến năm
2014, GDP của nước ta đã tăng liên tục qua các năm Nếu như năm 2010, quy mô
Trang 33GDP của nước ta chỉ là 914 nghìn tỉ đồng (giá thực tế) thì đến năm 2014 đã tăng lên đến 3937,9 nghìn tỉ đồng (giá thực tế), tăng 4,3 lần GDP/người cũng tăng khá nhanh
từ 11,093 triệu đồng năm 2005 (tương ứng là 700 USD) lên đến 43,402 triệu đồng (tương ứng là 2052 USD) năm 2014
Bảng 1.3 GDP, GDP/người của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 (giá thực tế) [39]
GDP (nghìn tỉ đồng) 914,0 1246,8 2157,8 3245,4 3584,3 3937,9 GDP/người Triệu đồng 11,093 14,804 24,822 36,559 39,954 43,402
Giữa các địa phương của Việt Nam, GDP và GDP/người cũng có sự khác biệt
và khoảng cách chênh lệch này còn khá lớn Sự chênh lệch này dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội (năm 2014, GDP của cả nước là 43,4 triệu đồng thì ở TP Hồ Chí Minh: 106,8 triệu đồng, Bắc Ninh: 95,1 triệu đồng, Bà Rịa – Vũng Tàu: 230,0
triệu đồng, Hà Nội: 72,5 triệu đồng, ) [39]
Giữa các vùng kinh tế của nước ta, với tiềm lực kinh tế mạnh thì Đông Nam Bộ
là vùng có GDP/người cao nhất cả nước với 85,7 triệu đồng năm 2013, cao gấp hơn 2 lần so với cả nước Vùng TDMN phía Bắc thì chỉ có 25,7 triệu đồng năm 2013
• Thu nhập bình quân đầu người
Ở Việt Nam, chỉ tiêu TNBQĐN có ý nghĩa quan trọng vì đây là mức hưởng thụ thật sự của cá nhân và hộ gia đình TNBQĐN được tính bằng tiền theo tháng hoặc theo năm TNBQĐN đã được cải thiện rõ rệt, song còn có sự chênh lệch lớn giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn
Trang 34Bảng 1.4 TNBQĐN/tháng phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2014 (giá thực tế) [32], [33]
TNBQĐN theo tháng ở nước ta tăng tương đối nhanh, tăng 4,15 lần, từ 636 nghìn đồng lên 2640 nghìn đồng trong giai đoạn từ năm 2006 – 2014 Khu vực thành thị luôn cao hơn khu vực nông thôn: gấp 2,1 lần vào năm 2006 và 1,9 lần vào năm
2014
TNBQĐN theo tháng có sự khác biệt giữa các vùng của nước ta Các vùng luôn
có chỉ số TNBQĐN theo tháng cao hơn mức trung bình của cả nước là ĐBSH (3278 nghìn đồng năm 2014) và Đông Nam Bộ (4124 nghìn đồng năm 2014); thấp nhất hiện nay là vùng TDMN phía Bắc với 1613 nghìn đồng (năm 2014)
TNBQĐN theo tháng của nước ta năm 2014 đạt 2640 nghìn đồng, bao gồm các nguồn thu từ tiền lương, tiền công (46,9%); từ nông – lâm – thủy sản (18,3%); từ phi nông nghiệp (22,4%) và từ các nguồn thu khác (12,4%)
• Tỉ lệ hộ nghèo
Căn cứ vào TNBQĐN, Thủ tướng Chính phủ đã xác định và ban hành chuẩn nghèo quốc gia Chuẩn nghèo được quy định cũng thường xuyên thay đổi theo mặt bằng thu nhập quốc gia Chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006 – 2010 và giai đoạn 2011 –
2015 như sau:
Trang 35Bảng 1.5 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015 [24], [29]
(VNĐ/ tháng)
2011- 2015 (VNĐ/ tháng)
Căn cứ vào chuẩn nghèo được quy định, các cơ quan thống kê đã xác định tỉ lệ
hộ nghèo ở nước ta qua từng năm Cụ thể giai đoạn 2006 – 2014, tỉ lệ hộ nghèo trên phạm vi cả nước ta có xu hướng giảm xuống, từ 15,5% xuống còn 8,4%, giảm 7,1%
Tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn luôn cao hơn thành thị, năm 2014 tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn là 10,8% và tương ứng ở thành thị là 3,0% Giữa các vùng của nước ta, tỉ lệ hộ nghèo cũng có sự chênh lệch lớn, Đông Nam Bộ là vùng có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất (1,0% năm 2014), TDMN phía Bắc là vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất (18,4% năm
lệ người lớn biết chữ của cả nước đạt 94,7%, chỉ còn 5,3% dân số Việt Nam (tương
đương 4,9 triệu người) trong độ tuổi 15 trở lên, không biết đọc và viết
Tỉ lệ người lớn biết chữ luôn có sự chênh lệch theo giới tính, giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn, giữa các vùng kinh tế của nước ta Tỉ lệ người lớn biết chữ ở nam giới luôn cao hơn nữ giới, năm 2014 tỉ lệ người lớn biết chữ của nam giới
là 96,4%, nữ giới đạt 93,0% Giữa thành thị và thôn thì tỉ lệ người lớn biết chữ thành thị luôn cao hơn nông thôn, năm 2014 thành thị đạt 97,5%, nông thôn là 93,3% Tỉ lệ người lớn biết chữ đạt mức cao nhất tại ĐBSH (98,1%, năm 2014), vùng có mức cao thứ 2 là Đông Nam Bộ (97,2%, năm 2014) và thấp nhất là các vùng TDMN phía Bắc (89,0% năm 2014) (Phụ lục 2)
Việt Nam đã thể hiện quyết tâm trong việc đẩy mạnh các hoạt động nâng cao
Trang 36nhận thức về tầm quan trọng của việc biết chữ ở những vùng kém phát triển, cùng với những hoạt động do Nhà nước đề ra nhằm hoàn toàn xóa bỏ nạn mù chữ, nâng cao tỉ lệ người lớn biết chữ Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 692/QĐ-TTg ngày 4/5/2013 về “đề án xóa mù chữ đến năm 2020” với mục tiêu đến năm 2020 xóa
mù chữ cho 1200000 người thuộc độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi, nâng tỉ lệ người lớn biết chữ đạt 98% Trong đó, tỉ lệ người lớn biết chữ ở 14 tỉnh có điều kiện KT - XH khó khăn đạt 94%; xóa mù chữ cho 300000 người dân tộc thiểu số, nâng tỉ lệ người dân tộc thiểu số biết chữ đạt 90%
• Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi
Tính đến đầu năm học 2013 – 2014, cả nước có gần 19,5 triệu học sinh đến trường, bao gồm: 4,1 triệu trẻ em học mầm non, 7,3 triệu học sinh cấp tiểu học, hơn 5 triệu học sinh cấp THCS và gần 3 triệu học sinh cấp THPT
Bảng 1.6 Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi của Việt Nam năm 2006 và năm 2014 [30], [31]
(Đơn vị: %)
Năm Tiểu học Tỉ lệ đi học chung THCS THPT Tiểu học Tỉ lệ đi học đúng tuổi THCS THPT
Trong giai đoạn 2006 – 2014, tỉ lệ đi học chung ở tất cả các cấp học có
xu hướng giảm xuống, ngược lại tỉ lệ đi học đúng tuổi có xu hướng tăng lên Xu hướng này phản ánh được kết quả của quá trình phổ cập giáo dục trong những năm qua, đồng thời thể hiện được trình độ và ý thức của người dân khi cho con mình đi học
Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi có sự phân hóa rõ rệt theo thành thị và nông thôn, thành thị cao hơn nông thôn trừ trường hợp tỉ lệ đi học chung ở cấp tiểu
học Tỉ lệ đi học chung và tỉ lệ đi học đúng tuổi có sự phân hóa theo vùng, ĐBSH có tỉ
lệ cao nhất (trừ trường hợp tỉ lệ đi học chung cấp tiểu học), thấp nhất là ĐBSCL (đặc biệt là cấp THCS và THPT) Yếu tố lịch sử truyền thống, trình độ phát triển KT - XH
khác nhau giữa các vùng là nguyên nhân chính tạo nên sự khác biệt trên (Phụ lục 3)
Trang 37• Chi tiêu cho giáo dục/1 học sinh
Ngân sách nhà nước cho giáo dục tăng 1,5 lần từ năm 2008 sang năm 2012 Nhà nước đã đề ra mục tiêu tăng chi tiêu ngân sách cho giáo dục lên tới 20% tổng chi ngân sách nhà nước vào năm 2020
Biểu đồ 1.1 Chi tiêu cho giáo dục/1 học sinh/tháng của Việt Nam
giai đoạn 2002 – 2012 [30]
Chi tiêu cho giáo dục/học sinh/tháng liên tục tăng lên Từ năm 2002 đến năm
2012, chi tiêu cho giáo dục/học sinh/tháng tăng từ 204 nghìn đồng lên đến 1068 nghìn đồng, tăng hơn 5,2 lần, chiếm 5,9% trong chi tiêu cho đời sống
Song song với việc Nhà nước tăng các khoản chi cho giáo dục, chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục cũng tăng cao và liên tục trong giai đoạn 2002 - 2012 Mức chi cho giáo dục tính trên 1 học sinh tăng hơn 6 lần từ năm 2002 đến năm 2012 Mức tăng này không chỉ là kết quả của việc CLCS được nâng cao mà còn bởi nhận thức ngày càng cao của xã hội về tầm quan trọng của việc đầu tư cho giáo dục Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại khoảng cách lớn trong chi tiêu cho giáo dục giữa khu vực thành thị và nông thôn Mặc dù khoảng cách này đã được thu hẹp vào năm 2012, nhưng chi tiêu của các
hộ thành thị vẫn gấp 2 lần chi tiêu của các hộ nông thôn Sự khác biệt này cho thấy sự chênh lệch trong khả năng đầu tư về giáo dục cho trẻ em cũng như khoảng cách lớn trong chất lượng giáo dục giữa khu vực thành thị và nông thôn
Trang 38Bảng 1.7 Chi tiêu trung bình của hộ gia đình cho giáo dục và đào tạo trên 1 học sinh c ủa Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012 [17]
(Đơn vị: Nghìn đồng)
Thành thị 1255,0 1537,0 2096,0 3088,0 5253,2 6352,4 Nông thôn 433,0 602,0 894,0 1354,0 2063,8 3090,6
Đồng bằng sông Cửu Long 73,4 73,4 73,8 74,4 74,6
Từ năm 2005 đến năm 2014, tuổi thọ trung bình của cả nước tăng liên tục, từ 72,2 tuổi lên 73,2 tuổi Tuy nhiên có thể thấy tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam gần đây tăng chậm, trong vòng 10 năm tăng được 1,0 tuổi Đông Nam Bộ, ĐBSH
và ĐBSCL là những vùng có tuổi thọ trung bình cao hơn tuổi thọ trung bình của cả nước Năm 2014, Đông Nam Bộ là vùng có tuổi thọ trung bình cao nhất nước với 75,9 tuổi, Tây Nguyên là vùng có tuổi thọ trung bình thấp nhất với 69,5 tuổi
Trang 39• Chỉ tiêu y tế
Ở nước ta, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với những thành tựu
về phát triển kinh tế, y tế và khoa học công nghệ nên các chương trình quốc gia về CSSK đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới mọi tầng lớp nhân dân ở
cả nông thôn và thành thị Mạng lưới y tế đã phát triển rộng khắp, số lượng giường bệnh, cán bộ y tế ngày càng tăng Tuy nhiên do điều kiện khách quan hạn chế (dân số còn tăng nhanh, mức thu nhập thấp ) nên mặc dù hệ thống y tế phát triển nhưng theo đánh giá chung vẫn còn ở mức độ thấp so với khu vực và thế giới
Từ năm 2005 đến năm 2014, số bác sĩ/1 vạn dân và số giường bệnh/1 vạn dân của Việt Nam đều tăng lên; số bác sĩ/1 vạn dân tăng từ 6,2 người lên đến 7,9 người; số giường bệnh/1 vạn dân tăng từ 17,7 giường lên đến 26,3 giường, tăng 8,6 giường
Bảng 1.9 Một số chỉ tiêu y tế của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2014 [32], [33]
Số bác sĩ/1 vạn dân (người) 6,2 6,7 7,1 7,3 7,9
Số giường bệnh/1 vạn dân (giường) 17,7 19,5 22,0 24,9 26,3 Xét về chi tiêu y tế và CSSK bình quân đầu người ở nước ta cũng có sự thay đổi theo hướng tích cực Điều này cho thấy các dịch vụ y tế, TNBQĐN ngày càng cải thiện nên người dân được CSSK tốt hơn Từ năm 2008 – 2012, chi tiêu y tế và CSSK bình quân đầu người ở nước ta tăng từ 540 nghìn đồng lên đến 936 nghìn đồng, tăng 1,7 lần Giữa các vùng ở nước ta thì Đông Nam Bộ, ĐBSH và ĐBSCL là 3 vùng có mức chi tiêu y tế và CSSK bình quân đầu người cao hơn mức trung bình của cả nước (năm 2012: Đông Nam Bộ là 984 nghìn đồng, ĐBSH là 1164 nghìn đồng, ĐBSCL là
1008 nghìn đồng), TDMN phía Bắc là vùng có mức chi tiêu y tế và CSSK bình quân
đầu người thấp nhất với 684 nghìn đồng trong năm 2012 (Phụ lục 4)
1.2.1.5 Về hưởng thụ phúc lợi
• Vấn đề nhà ở
Theo kết quả chủ yếu Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 01/4/2014 thì trong những hộ có nhà ở, số hộ có nhà kiên cố chiếm 46,6%, nhà bán kiên cố chiếm 43,7%, nhà thiếu kiên cố chiếm 5,9% và nhà đơn sơ là 3,7% So với kết quả Tổng điều
Trang 40tra dân số và nhà ở 2009, tỉ trọng số hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố tăng lên đáng kể, (cho cả hai nhóm chiếm 90,3%, tăng 6,1%) Đặc biệt là nhóm loại nhà đơn sơ giảm đáng kể (giảm 4,1%) so với năm 2009 Có sự khác biệt khá rõ về loại nhà chia theo vùng Vùng ĐBSH có tỷ trọng hộ có nhà kiên cố cao nhất (90,2%), còn ĐBSCL là thấp nhất (7,6%) Ngược lại, tỷ trọng hộ có nhà đơn sơ của ĐBSCL là cao nhất
(11,1%) và của ĐBSH là thấp nhất (0,1%)
- Diện tích nhà ở: Số liệu từ năm 1999 đến nay chỉ ra một xu hướng rất rõ ràng rằng tỉ trọng hộ sống trong những ngôi nhà có diện tích lớn ngày càng tăng, cụ thể tỉ trọng ngôi nhà/căn hộ có diện tích sử dụng từ 60 m2 trở lên tăng từ 24,2% năm 1999 lên 54,3% năm 2009 và tiếp tục tăng lên 62,4% năm 2014 Tuy nhiên, tỉ trọng hộ sống trong những ngôi nhà có diện tích sử dụng chật hẹp (dưới 15 m2) cũng tăng, cho thấy
tình trạng phân hóa giàu nghèo về lĩnh vực nhà ở ngày càng lớn (Phụ lục 5)
Bảng 1.10 Diện tích ở bình quân đầu người chia theo thành thị, nông thôn và theo vùng của Việt Nam năm 2009 và năm 2014 [31]
và DHNTB
Tây Nguyên
Đông Nam
5 năm con số này đã lên đến 20,6 m2; trong đó thành thị tăng từ 19,2 m2 lên đến 23,0
m2, nông thôn tăng từ 15,7 m2
lên 19,5 m2 Đây là một thành công lớn trong nỗ lực thực hiện chiến lược phát triển nhà ở của Chính phủ nhằm tăng diện tích ở bình quân đầu người Tuy nhiên mức tăng này có sự khác nhau giữa các vùng: TDMN phía Bắc tăng thấp nhất gần 3%; ĐBSH có mức tăng mạnh nhất với 6%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải NTB, Tây Nguyên có mức tăng giống nhau gần 4%; Đông Nam Bộ và ĐBSCL có mức tăng giống nhau khoảng 3%