Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ kinh tế đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng.. Đối với tỉnh Bắc Giang cũng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ NHƢ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Địa Lý - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã dạy bảo tận tình trong quá trình tác giả học tập, nghiên cứu khoa học
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo hướng dẫn khoa học - TS Vũ Như Vân, người đã tận tình chỉ bảo, động viên để tác giả hoàn thành bản luận văn này
Để thực hiện luận văn, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Giang, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Bắc Giang, Sở Tài nguyên và Môi trường UBND tỉnh Bắc Giang, Ban quản lí các KCN tỉnh Bắc Giang Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè và những người thân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận văn này
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 1
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 3
3.1 Mục tiêu 3
3.2 Nhiệm vụ 3
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
5.1 Các quan điểm nghiên cứu 4
5.2 Các phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp chính của đề tài 5
7 Cấu trúc của luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ 7
1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế 7
1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế 8
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế 9
1.1.4 Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế 12
1.1.4.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh 12
Trang 51.1.4.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber 13
1.1.4.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố 14
1.1.4.4 Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller 14
1.1.4.5 Lí thuyết cực phát triển 15
1.1.4.6 Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế……… 16
1.2.1 Các hình thức chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam 16
1.2.1.1 Hành lang kinh tế 16
1.2.1.2 Khu kinh tế 18
1.2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm 20
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp 20
1.2.3 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 22
1.2.4 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ 23
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố 23
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ BẮC GIANG 27
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 27
2.1.1 Vị trí địa lí 27
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 29
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 34
2.1.4 Đánh giá chung 41
2.2 Hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang 43
2.2.1 Khái quát chung sự phát triển kinh tế Bắc Giang 43
2.2.2 Tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang 45
Tiểu kết chương 2 79
Trang 6Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH
THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG ĐẾN NĂM 2020 80
3.1 Quan điểm và mục tiêu định hướng phát triển 80
3.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế 80
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 89
3.2.1 Thu hút vốn đầu tư và huy động vốn 89
3.2.2 Nâng cao trình độ người lao động và nguồn nhân lực 90
3.2.3 Thực hiện đổi mới cơ chế chính sách 91
3.2.4 Tập trung xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng hiện đại 91
3.2.5 Phát triển khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và tích cực bảo vệ môi trường 92
3.2.6 Đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các tỉnh, thành phố trong cả nước 94
3.2.7 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH - HĐH, đa dạng hóa 96
3.2.8 Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 97
3.3.9 Mô hình hành lang phát triển đột phá: Một trục + hai nhánh 98
Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
Kết luận 103
Kiến nghị 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7EU : Liên minh Châu Âu PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam 17
Bảng 1.2 Các Khu kinh tế của Việt Nam 19
Bảng 1.3 Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007 22
Bảng 2.1 Dự kiến khai thác khoáng sản 33
Bảng 2.2 Gia tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2005 - 2010 34
Bảng 2 3 Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế 40
Bảng 2.4 Giá trị sản xuất của ngành trồng trọt theo giá thực tế phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 - 2010 47
Bảng 2.5 Đàn gia súc, gia cầm phân theo thành phố và các huyện năm 2010 48
Bảng 2.6 Tình hình hoạt động kinh tế hộ gia đình Bắc Giang 2003 - 2009 50
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu so sánh giữa hai tiểu vùng năm 2010 56
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất các ngành công nghiệp phân theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 58
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp chính của Bắc Giang theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 60
Bảng 2.10 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá cố định 1994 phân theo huyện giai đoạn 2000 - 2010 61
Bảng 2.11 Giá trị và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành dịch vụ theo giá thực tế giai đoạn 2000 - 2010 67
Bảng 2.12 Cơ cấu bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 68
Bảng 2.13 Danh thu và cơ cấu doanh thu vận tải, bốc xếp phân theo thành phần kinh tế và theo ngành hoạt động 70
Bảng 2.14 Tổng hợp và so sánh một số chỉ tiêu tự nhiên, kinh tế, xã hội của các tiểu vùng 75
Bảng 3.1 Tổng hợp dự kiến nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp thời kỳ 2011-2020 95
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả chỉ số PCI của Bắc Giang, 2007-2010 97
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010 28
Hình 2.2 Tăng trưởng kinh tế Bắc Giang qua các năm 43
Hình 2.3 GDP/người của Bắc Giang giai đoạn 2000 - 2010 44
Hinh 2.4 Cơ cấu GDP phân theo các ngành kinh tế 2000 - 2010 45
Hình 2.5 Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành nông-lâm-ngư nghiệp của Bắc Giang (theo giá cố định 1994) 2000 - 2010 46
Hình 2.6 Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng của Bắc Giang (theo giá thực tế) giai đoạn 2000 - 2010 57
Hình 2.7 Bản đồ kinh tế chung tỉnh Bắc Giang năm 2010 65
Hình 3.1 Lược đồ lưu vực hệ thống sông Thái Bình 92
Hình 3.2 Kết quả 9 chỉ số thành phần PCI của Bắc Giang, 2009-2010 93
Hình 3.3 Mô hình hành lang phát triển đột phá: 1 trục + 2 nhánh của tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 100
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những khái niệm cơ bản của Địa
lí học, là gạch nối giữa nhận thức lý luận và hành động thực tiễn của khoa học này Tổ chức lãnh thổ kinh tế là một trong những kế hoạch và hành động nhằm phát huy tốt nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hay mỗi vùng lãnh thổ Đây là vấn đề không mới đối với thế giới, nhưng đối với Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề từ lí luận đến thực tiễn chưa được làm rõ
và còn phải tiếp tục nghiên cứu Trong những năm gần đây, tổ chức lãnh thổ kinh tế đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được coi như một trong những công cụ quan trọng để phát triển vùng Hay nói cách khác, muốn phát triển một cách có hiệu quả thì không thể không tiến hành tổ chức lãnh thổ kinh tế một cách hợp lí Bắc Giang là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, tuy nhiên hiện nay kinh tế phát triển chậm chưa tương xứng với tiềm năng, còn nghèo so với cả nước Do vậy, việc tổ chức lãnh thổ kinh tế nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng về tự nhiên, kinh tế và xã hội để đem lại hiệu quả kinh tế cao và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững là vấn đề hết sức quan trọng và
cấp thiết Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang”
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội (KT-XH) là vấn đề không mới trên thế giới, nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học khác nhau đã dành nhiều công sức nghiên cứu vấn đề này, trong đó tiên phong là các nhà khoa học Địa
lí Từ việc nghiên cứu thực tiễn đã hình thành những lí thuyết khái quát có thể được coi là những lí luận cổ điển về tổ chức lãnh thổ kinh tế quý báu để học
Trang 11tập và áp dụng, như W.Christaller với việc hình thành các trung tâm tạo vùng; Francoi-Perroux với vấn đề phát triển các cực tăng trưởng; VonThunen với tổ chức lãnh thổ nông nghiệp theo các vành đai xung quanh các đô thị… [7/13/14 /16/17/21]
Ở Việt Nam, tổ chức lãnh thổ kinh tế là đối tượng nghiên cứu quan trọng của khoa học Địa lí từ giữa thế kỉ XX Đã có nhiều luận án, bài báo, giáo trình
về tổ chức lãnh thổ kinh tế được công bố Viện chiến lược phát triển thuộc Bộ KH&ĐT đã nghiên cứu và công bố các quy hoạch phát triển cho cả nước cũng như cho từng vùng lãnh thổ Tuy vậy, những công trình đó phạm vi nghiên cứu
có qui mô lớn, mặt khác các hình thức tổ chức sản xuất lãnh thổ cũng có nhiều thay đổi do tác động của nền kinh tế thị trường [18/28/29]
Đối với tỉnh Bắc Giang cũng có một tác giả viết về địa lí KT-XH của tỉnh, trong đó có liên quan ít nhiều đến vấn đề tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh Ví dụ: GS.TS Lê Thông đã giới thiệu tương đối cụ thể về tự
nhiên, kinh tế, xã hội của Bắc Giang trong cuốn “Địa lí các tỉnh và thành
phố Việt Nam” [16]
Năm 2000, trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự Bắc Giang đã
“Nghiên cứu và biên soạn giáo trình Địa lý Bắc Giang” dùng trong giảng dạy
và học tập Mặc dù, đã khái quát được toàn bộ các đặc điểm dân cư và
KT-XH của tỉnh, tuy nhiên đề tài vẫn chưa làm rõ được những tiềm năng cho phát triển KT-XH của tỉnh và hướng phát triển KT-XH trong những năm tới Năm 2002, Sở văn hóa thông tin Bắc Giang cùng với Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam đã biên soạn cuốn
Địa chí Bắc Giang- Tập 1 Cuốn sách đã giới thiệu một cách khá cụ thể về địa
lý và kinh tế tỉnh Bắc Giang
Trong “Báo cáo tổng hợp qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Bắc Giang thời kì 2006-2020„của UBND tỉnh Bắc Giang hay các báo
Trang 12cáo, thống kê khác của Tỉnh úy, UBND Bắc Giang, Sở NN&PTNT, Sở KH&ĐT Bắc Giang cũng nêu các vấn đề phát triển KT-XH của Bắc Giang,
và các vấn đề liên quan tổ chức lãnh thổ của các ngành kinh tế của tỉnh [1/2/ 5/8/9 /23/25]
Luận văn thạc sĩ: “Địa lí nông nghiệp tỉnh Bắc Giang„ của Lê Thị Thu
Thủy cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức lãnh thổ nông nghiệp của Bắc Giang
Luận văn thạc sĩ “kinh tế Bắc Giang thời kì công nghiệp hóa-hiện đại hóa„
của Phan Đức Tráng đã giới thiệu về sự tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang với 2 vùng riêng biệt
Tuy nhiên đối với Bắc Giang, từ trước đến nay chưa có tài liệu, báo cáo, công trình nào viết riêng, nghiên cứu sâu về cả vấn đề tổ chức lãnh thổ kinh tể của tỉnh Vì thế đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang” của tác giả đã kế thừa một phần từ các công trình nghiên cứu trên, đồng thời
bổ xung, tổng hợp nhiều số liệu, chiến lược, báo cáo, mục tiêu, để có một cái nhìn tổng quát nhất về tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu tổng hợp những vấn đề cơ bản về lí luận
và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế tỉnh Bắc Giang để phát triển nhanh và bền vững thời kì 2010 - 2020
3.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
Trang 13- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất định hướng và kiến nghị những giải pháp chủ yếu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang đến năm 2020
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Về nội dung: Tập trung nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KT Bắc Giang theo các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, và các tiểu vùng KT của tỉnh
* Về lãnh thổ: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Giang, gồm có
9 huyện và 1 thành phố (TP Bắc Giang), trong đó có 6 huyện trung du, miền núi và 1 huyện vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn
* Về thời gian: Đề tài sử dụng số liệu có trong Niên giám thống kê của Cục thống kê tỉnh Bắc Giang và các số liệu thu thập khác từ các cơ quan quản
lí nhà nước trong thời gian từ năm 2000 đến 2010, định hướng đến 2020
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm lãnh thổ: Các sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát
triển trên một không gian lãnh thổ nhất định Vấn đề là phải tìm ra sự phân hoá của các sự vật, hiện tượng và quy luật phân bố của chúng trong không gian Nghiên cứu đề tài cần dựa trên quan điểm này để phân tích sự khác biệt của các sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí, đồng thời vạch ra những mục tiêu, phương hướng sử dụng phù hợp với điều kiện của lãnh thổ
- Quan điểm hệ thống: Quán triệt quan điểm này làm cho việc phân
tích, đánh giá một lãnh thổ được khách quan, khoa học và qua đó hiểu được các mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống và giữa các hệ thống với nhau
Trang 14- Quan điểm lịch sử, viễn cảnh: Sự phát triển của một lãnh thổ kinh tế
là một quá trình xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai Qua đó có thể thấy được sự biến đổi, những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến biến đổi đó và
xu hướng phát triển trong tương lai
- Quan điểm phát triển bền vững: Quán triệt quan điểm bền vững đòi
hỏi phải đảm bảo cả về ba mặt: kinh tế (KT); xã hội và môi trường Về mặt
KT, đó là tốc độ tăng trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền KT Dưới góc
độ xã hội, phải chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng thể chế và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: Việc thu thập tài liệu phải từ
nhiều nguồn để có thể chọn lọc những tài liệu cần thiết đáp ứng được yêu cầu của công tác nghiên cứu Việc thu thập tài liệu chủ yếu từ các Ban, Ngành, cơ quan chức năng trên địa bàn Bắc Giang và các nguồn tài liệu khác trên báo chí, giáo trình…
- Phương pháp phân tích hệ thống: Thực trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế
tỉnh Bắc Giang có thể thấy được qua phân tích các mối quan hệ không gian, thời gian của các ngành cũng như các lĩnh vực KT, các mối quan hệ giữa tự nhiên và KT-XH
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Đây là những phương pháp đặc trưng của
Địa lí, được sử dụng để làm rõ hiện trạng KT, sự phân bố, các mối liên hệ lãnh thổ trong không gian, những mối liên hệ KT và những dự kiến phát triển KT
- Phương pháp thực địa: Tiến hành khảo sát thực tế ở một số huyện,
một số cơ sở sản xuất Tham khảo những ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lí có am hiểu về lĩnh vực tổ chức lãnh thổ kinh tế
6 Những đóng góp chính của đề tài
Trang 15- Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc những vấn đề liên quan nhằm làm sáng tỏ thêm về cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ kinh tế và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang Xác định rõ các thế mạnh và những hạn chế hay những lợi thế so sánh giữa tỉnh Bắc Giang với các địa phương khác
- Phân tích hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang, từ đó đánh giá những thế mạnh và những hạn chế cần khắc phục
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm phát huy những thế mạnh, đem lại hiệu quả cao trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Bắc Giang
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ kinh tế Chương 2 Các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng tổ chức lãnh thổ kinh
tế Bắc Giang
Chương 3 Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ kinh tế Bắc Giang
đến năm 2020
Trang 16Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.1.1 Khái niệm, bản chất của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau
Ở phương Tây, các nhà khoa học của các quốc gia phát triển lại tiếp cận vấn đề này với một cách gọi khác: “Tổ chức không gian kinh tế - xã hội” Khái niệm này ra đời từ cuối thế kỉ XIX, nó được xem như nghệ thuật kiến thiết và sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và có hiệu quả Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức không gian là xác định được sức chứa của lãnh thổ; tìm kiếm mối quan hệ tỉ lệ hợp lí và liên hệ chặt chẽ trong phát triển KT-XH giữa các ngành và giữa các lãnh thổ nhỏ hay tiểu vùng trong một vùng, cũng như đảm bảo mối quan hệ giữa các vùng trong một quốc gia có tính tới mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau Nhờ có sự sắp xếp có trật tự giữa các đối tượng trong lãnh thổ mà tạo ra một giá trị lớn hơn, làm cho sự phát triển hài hòa và bền vững hơn
Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian KT-XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử dụng nhiều hơn cả
Từ những quan điểm nêu trên, có thể hiểu tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng
Trang 17nhằm sử dụng một cách hợp lí các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kĩ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả KT-XH cao và nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ
1.1.2 Nguyên tắc và nội dung chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.1 Những nguyên tắc chủ yếu của tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tạo ra một trật tự hợp lí có tính tới khả năng của tài nguyên và yêu cầu của thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng
và đạt hiệu quả KT-XH cao
Khi tổ chức lãnh thổ kinh tế phải xem xét tới các nguyên tắc phân bố sức sản xuất tạo ra một trật tự cho một hệ thống, đảm bảo phát huy tốt nhất các điều kiện của lãnh thổ để lựa chọn phương án phân bố từng ngành và lĩnh vực Mặt khác tổ chức lãnh thổ kinh tế phải tính tới nhu cầu của thị trường để giảm thiểu chi phí, tối đa hiệu quả
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên và yêu cầu của thị trường nhằm đem lại lợi ích KT-XH và môi trường cho con người Thị trường có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn địa điểm phân bố cơ sở sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư và quyết định đến hiệu quả và sự thành công của tổ chức lãnh thổ
- Tổ chức lãnh thổ kinh tế phải đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương tác giữa các ngành, lĩnh vực và giữa các lãnh thổ
Tương tác là sự kết hợp và trao đổi lẫn nhau giữa các ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ này với ngành, lĩnh vực, tiểu lãnh thổ khác để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho lãnh thổ; bổ sung giữa nơi thừa cho nơi thiếu về một mặt nào đó trong một lãnh thổ, làm cho nơi thừa không lãng phí, nơi thiếu thì có điều kiện để bù đắp cái mình thiếu Đảm bảo được sự tương tác chính là điều kiện cần thiết để có được sự phát triển nhịp nhàng
Trang 18- Tổ chức lãnh thổ kinh tế đảm bảo sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ Trình độ của những người hoạch định chính sách, của những người quản lí lãnh thổ cũng như trình độ mọi mặt của địa phương phải được tính đến trong tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.2.2 Nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Ở nước ta, tiếp cận nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế theo các bước
và với những nội dung chủ yếu sau đây:
Bước 1: Kiểm kê và đánh giá các yếu tố, điều kiện của lãnh thổ và các đối tượng phải tổ chức trong phạm vi lãnh thổ được nghiên cứu
Bước 2: Đánh giá hiện trạng lãnh thổ có so sánh với những lãnh thổ tương tự, phát hiện những bất hợp lí, những xu thế có tính quy luật đối với tổ chức lãnh thổ được nghiên cứu
Bước 3: Giả định các phương án tổ chức không gian và lựa chọn phương án hiệu quả nhất
Bước 4: Tìm khả năng đáp ứng tài chính, xác định các giai đoạn phát triển lãnh thổ và kiến nghị phương án quản lí lãnh thổ
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tổ chức lãnh thổ kinh tế có hai nội dung cơ bản (theo Viện Chiến lược phát triển - Bộ KH&ĐT): (1) Dự báo
về mặt phát triển (dự báo phát triển đối với các ngành, lĩnh vực trên phạm vi lãnh thổ nghiên cứu); (2) Luận chứng các phương án tổ chức KT-XH theo lãnh thổ cấp tỉnh/thành phố [28/29]
1.1.3 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
Tổ chức lãnh thổ kinh tế chịu sự tác động đồng thời và tổng hợp các nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài lãnh thổ dự kiến được tổ chức hay tổ chức lại Sự tác động của các yếu tố đến tổ chức lãnh thổ kinh tế không giống nhau về không gian và thời gian Có những yếu tố tác động mạnh đối với tổ chức lãnh thổ kinh tế trong thời gian này, nhưng lại giảm sút vai trò trong giai đoạn khác
Trang 191.1.3.1 Các yếu tố bên trong lãnh thổ
- Vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên:
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh tế Bởi vì, sự phát triển KT trên một không gian đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và điều kiện sản xuất, những điều kiện này được coi là đầu vào của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Vị trí địa lí là nhân tố đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện kinh
tế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì yếu tố vị trí địa lí càng được đánh giá cao khi lựa chọn địa bàn để phát triển các lãnh thổ trọng điểm, các cực tăng trưởng và phát triển của mỗi lãnh thổ
Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thường được coi là yếu tố tiền đề để tổ chức lãnh thổ kinh tế Điều kiện tự nhiên, như khí hậu, thời tiết… ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của lãnh thổ và trực tiếp ảnh hưởng đến việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Dân cư và nguồn nhân lực
Dân cư và mật độ dân cư có ảnh hưởng lớn đến tổ chức lãnh thổ kinh
tế Những nơi có mật độ dân cư đông đúc sẽ có nguồn lao động dồi dào và ngược lại, những nơi dân cư thưa thớt nguồn lao động sẽ bị hạn chế
Dân cư với các phẩm chất, truyền thống sản xuất và tiêu dùng, truyền thống văn hóa ảnh hưởng tới cơ cấu sản xuất và cơ cấu tiêu dùng của lãnh thổ Khả năng sản xuất hàng hóa và ý thức mong muốn làm giàu chính đáng của dân cư sẽ là điều kiện thôi thúc sự hình thành và phát triển nền sản xuất quy
mô lớn và hiện đại
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực quyết định phương hướng phát triển cơ cấu KT nói chung và cơ cấu ngành nghề nói riêng, cũng như quyết định đến hình thức và nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế
Trang 20- Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Mạng lưới đường giao thông, hệ thống thông tin, mạng lưới cung cấp điện, nước; các trung tâm KT, các vùng sản xuất; các cơ sở thương mại, ngân hàng…ảnh hưởng rõ rệt đến việc hình thành cơ cấu KT lãnh thổ Do vậy, muốn chuyển đổi cơ cấu KT lãnh thổ hiệu quả và bền vững thì phải tạo ra những tiến bộ về chất đối với cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
- Trình độ phát triển của nền kinh tế
Trình độ phát triển KT thể hiện qua nhiều yếu tố, như: quy mô nền KT;
cơ cấu KT; trình độ của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất; khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất, trong quản lí và trong kinh doanh…Đây là những yếu tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của một lãnh thổ, bởi vì trình độ phát triển của nền KT là nhân tố chứng tỏ khả năng
về phương tiện vật chất cho tổ chức lãnh thổ và cũng có điều kiện tạo ra nhu cầu mới lớn hơn, cao hơn Mặt khác, nó là cơ sở, tiền đề và là điều kiện để tái
tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Môi trường chính sách
Chính sách kinh tế và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự tiến
bộ hay không tiến bộ của một lãnh thổ Hay nói cách khác, chính sách kinh tế
và cơ chế quản lí của Nhà nước có thể tạo ra sự thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một lãnh thổ
Trang 211.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài lãnh thổ
Trong cơ chế kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, thì các yếu tố bên ngoài tác động đến sự phát triển hay việc tổ chức kinh tế ở một lãnh thổ là rất mạnh mẽ, trong đó phải kể đến các nhóm yếu tố sau:
- Nhóm các yếu tố về chủ trương, đường lối phát triển của Nhà nước,
các chiến lược phát triển KT-XH quốc gia, các quy hoạch phát triển vùng, ngành Đây là nhóm yếu tố căn bản tác động đến việc hình thành và phát triển
cơ cấu lãnh thổ Nó tạo ra sự thống nhất của nền kinh tế trong cái đơn lẻ của mỗi vùng lãnh thổ
- Nhóm các yếu tố về thị trường và các mối liên hệ kinh tế liên vùng:
Bất kì một lãnh thổ cụ thể nào không thể tách khỏi mối quan hệ với các lãnh thổ khác, nhất là đối với các lãnh thổ lân cận trên nhiều phương diện Thông qua nhu cầu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các vùng khác, những quan hệ về dùng chung mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, những quan hệ nguyên liệu - sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ… mà tác động đến tổ chức lãnh thổ kinh tế
- Nhóm yếu tố về nguồn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài:
Các dòng vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài cũng ảnh hưởng ngày càng rõ rệt, đặc biệt đối với các quốc gia, các vùng lãnh thổ kém phát triển, nó
đã góp phần làm thay đổi hình thức, nội dung của tổ chức lãnh thổ kinh tế Sự thu hút nguồn vốn và công nghệ phụ thuốc rất nhiều vào cơ chế chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế
1.1.4 Khái quát về các lí thuyết tổ chức lãnh thổ kinh tế
1.1.4.1 Lí thuyết tăng trưởng nội sinh và ngoại sinh
- Lí thuyết tăng trưởng nội sinh: Trên cơ sở các kết quả quan sát thực
nghiệm, G.B.Fisher (1939) và C.Clark (1940) đưa ra thuyết tăng trưởng nội sinh Thuyết này nhấn mạnh đến năng lực sản xuất bên trong của vùng, khả
Trang 22năng “cung” của các yếu tố đầu vào, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động và công nghệ để xác định năng lực sản xuất của lãnh thổ Bên cạnh đó, thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng đầu tư là cấu phần cơ bản trong tổng
“cầu” và là động lực cơ bản của tăng trưởng vùng, vì đầu tư sẽ làm phát sinh lợi nhuận mới, tăng năng lực sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng vùng
- Lí thuyết tăng trưởng ngoại sinh hay lí thuyết dựa vào xuất khẩu để
phát triển vùng Theo thuyết này, tăng trưởng vùng chịu ảnh hưởng rất lớn
của mức cầu bên ngoài, muốn nâng cao tiềm lực kinh tế của vùng thì cần phải thu hút được các luồng tiền từ bên ngoài vào Để làm được điều đó thì hiệu quả nhất là gia tăng xuất khẩu
1.1.4.2 Lí thuyết định vị công nghiệp của A.Weber
Lí thuyết này đưa ra mô hình không gian phân bố công nghiệp (CN) trên cơ sở nguyên tắc cực tiểu hóa chi phí và cực đại hóa lợi nhuận Lí thuyết này ra đời đã giải thích CN tập trung vào một địa điểm nhất định là do ba lí
do, đó là: hướng theo vận tải (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực với chi phí vận tải thấp nhất); hướng theo lao động (nghĩa là các
xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực có giá nhân công rẻ) và tích tụ (nghĩa là các xí nghiệp CN phân bố hướng đến các khu vực đã tập trung nhiều
xí nghiệp CN)
Cùng với lí thuyết định vị công nghiệp của mình, A.Weber cũng đã phân tích các ưu điểm và hạn chế của việc tập trung các doanh nghiệp tại một
địa điểm mà trong ngôn ngữ kinh tế học hiện đại chúng được gọi là các “lợi
ích ngoại ứng” và “chi phí ngoại ứng” của vùng lãnh thổ trong phạm vi
quyết định đầu tư Các lợi ích ngoại ứng xuất hiện khi các doanh nghiệp có thể chia sẻ gánh nặng chi phí vì sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng và có thể hỗ trợ lẫn nhau trong hoạt động thực hiện chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất, làm tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, sử dụng tiết
Trang 23kiệm các nguồn nguyên liệu và năng lượng Bên cạnh đó, chi phí ngoại ứng cũng có thể xuất hiện khi có sự quá tải của lãnh thổ và sự cạnh tranh, chèn ép lẫn nhau dẫn đến hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp
Như vậy, có thể nhận thấy trong điều kiện của nước ta hiện nay, nhất là đối với một tỉnh như Bắc Giang thì lí thuyết này có giá trị thực tiễn cao và có thể vận dụng vào việc phân bố và phát triển CN
1.1.4.3 Lí thuyết phát triển các vành đai nông nghiệp trong phạm vi ảnh hưởng của thành phố
V.Thunen cho rằng, thành phố (TP) trung tâm có sức hấp dẫn đối với hoạt động nông nghiệp (NN) ở xung quanh và địa tô chênh lệch là một nhân
tố then chốt dẫn đến sự phân chia lãnh thổ của quốc gia thành các vùng sử dụng đất nông nghiệp khác nhau xung quanh TP hạt nhân Ông đã phân tích
sự khác nhau về chi phí vận tải, tầm quan trọng của khoảng cách không gian
và trọng lượng sản phẩm của các hoạt động NN trong việc phân bố thành các vành đai NN xung quanh TP
1.1.4.4 Lí thuyết về các điểm trung tâm của W.Christaller
Lí thuyết này được hai nhà bác học là W.Christaller và A.Losch đưa ra năm 1933 dựa trên những ý tưởng và mô hình của V.Thunen và A.Weber cũng như những luận điểm cơ bản của Niutơn về lực hấp dẫn
Theo quan điểm của W.Christaller, TP là một trung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, bảo đảm cho chúng về các hàng hóa của trung tâm; thành phố là cực hút, là hạt nhân của sự phát triển, là đối tượng để đầu tư
có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ ảnh hưởng của vị trí trung tâm A.Losch đưa thêm vào nội dung lí thuyết của W.Christaller, ông cho rằng có một vị trí trung tâm chung, đó là TP quan trọng nhất, là đầu mối của toàn hệ thống các điểm dân cư
Lí thuyết các “điểm trung tâm” là cơ sở cho việc bố trí các điểm đô thị mới tại các vùng lãnh thổ còn trống vắng đô thị Theo nghiên cứu của các nhà
Trang 24kinh tế thì càng xa vị trí trung tâm ảnh hưởng càng giảm dần và sẽ chấm dứt tại điểm mà sự ảnh hưởng bắt đầu mạnh hơn của một trung tâm gần nhất khác
Những năm sau đó, lý thuyết này được Albert Hirshman, Myrdal, Friedman và Harry Richarson tiếp tục nghiên cứu và phát triển, trên cơ sở nhấn mạnh vai trò to lớn của CN và dịch vụ (DV) đối với sự tăng trưởng và phát triển của vùng; chính sự tập trung CN và DV ở các đô thị (các cực) giữ vai trò hạt nhân phát triển
Theo Harry Richarson và Benjamin Higgins, một cực phát triển trước hết cần được hiểu đó là tập hợp các ngành CN có khả năng tạo ra động lực tăng trưởng cho nền KT, có quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau thông qua các mối quan hệ đầu vào - đầu ra xung quanh một ngành CN dẫn đầu hay CN mũi nhọn Nhờ có những ưu thế về công nghệ hiện đại, tốc độ đổi mới sản phẩm (cả về chất lượng, mẫu mã… theo nhu cầu thị trường) và có phạm vi thị trường tiêu thụ rộng lớn, nên ngành CN này ngày càng phát triển nhanh, kéo theo các ngành liên quan đến nó tăng trưởng nhanh hơn các bộ phận khác của nền KT, tạo ra tác động lan tỏa ảnh hưởng theo cấp số nhân đến các bộ phận khác của nền KT [12]
Trang 251.1.4.6 Lí thuyết về đia - kinh tế mới của Paul Krugman
Lí thuyết điạ-kinh tế mới Nội dung mới trong thuyết Thương mại địa kinh tế mới của Paul Krugman, Giải thưởng Noben Kinh tế năm 2008 Theo đó, “thương mại nội ngành” hoàn toàn có thể là hậu quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc tính sản xuất Tại sao? Lí do chính là một
mới-số CN có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuất càng cao thì giá chi phí bình quân càng thấp Đối với loại hàng hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng sản xuất là đủ Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào đó, và quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu những loại hàng ấy, còn các quốc gia khác thì phải nhập khẩu từ họ Rất nhiều loại hàng có tính “tiết kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số hàng như vậy; mọi chi tiết khác (có thể là do tình cờ của lịch sử) đều không là quan trọng Quan trọng là cái bức tranh toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được định đoạt bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong thuyết thương mại
“cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính tiết kiệm do quy mô
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ
1.2.1 Các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế chủ yếu vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế cũng như thực tiễn ở Việt Nam trong những năm qua, có thể thấy các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế phổ biến ở nước ta hiện nay là:
Trang 26thuận lợi nên các hoạt động KT đem lại hiệu quả cao hơn Hành lang kinh tế được coi là một hiện tượng KT-XH và đây là hình thức tổ chức kinh tế theo lãnh thổ đầy triển vọng
Ở nước ta, hành lang kinh tế đã được hình thành và ngày càng có ý nghĩa trong phát triển KT-XH theo lãnh thổ, tiêu biểu là 03 tuyến hành lang kinh tế: Hà Nội - Hải Phòng; Huế - Đà Nẵng - Dung Quất và Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu Gần đây Việt Nam và Trung quốc
đã thỏa thuận phát triển “hai hành lang, một vành đai” (Hai hành lang kinh tế: Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội
- Hải Phòng; một vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ) Hiện nay các hành lang kinh tế vẫn đang tiếp tục được hình thành và phát triển trên hầu hết các tuyến trục giao thông trọng yếu
Các hành lang kinh tế được coi như các trục KT động lực, với ý nghĩa
là đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của một vùng rộng lớn Mỗi hành lang
KT hay vành đai KT kéo dài đến hàng trăm km, đi qua nhiều tỉnh, TP Các cơ
sở sản xuất và DV của mỗi tỉnh, TP là một mắt xích trong tổng thể KT của mỗi hành lang (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Các hành lang kinh tế quan trọng của Việt Nam
STT Hành lang kinh tế
(dự tính)
Dân số (nghìn người)
GDP (tỉ đồng)
Dân số (nghìn người)
GDP (tỉ đồng)
1 Hà Nội - Hải Phòng 3.770 109.500 6.670 1.500.000
2 Huế - Đà Nẵng -Dung Quất 1.562 23.400 2.400 95.000
3 Thành phố Hồ Chí Minh -
Biên Hòa - Vũng Tàu 6.100 215.000 9.500 3.400.000
Nguồn: Xử lí số liệu theo các DA quy hoạch vùng của Viện Chiến lược và Phát triển
Trang 271.2.1.2 Khu kinh tế
Khu kinh tế là một lãnh thổ xác định, được hưởng ưu đãi đặc biệt để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết tự do thương mại trên phạm vi khu vực cũng như trên quy mô toàn cầu, việc phát triển khu kinh tế cần phải được quan tâm đúng mức
Ở Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 4 khóa VIII về việc nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài khu kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn ven biển có đủ điều kiện, trên cơ sở tham khảo các mô hình khu công nghiệp, đặc khu kinh tế; trong điều kiện quốc tế mới và xu hướng chuyển đổi các đặc khu kinh tế sang hình thức các khu khai phát mới, các cơ quan chức năng cùng các tỉnh đã tiến hành nghiên cứu về mô hình “khu kinh
tế phát triển”
Trong báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển ở Việt Nam đến năm 2020, Bộ KH&ĐT cho rằng, khu kinh tế là khu vực có địa lí thuận lợi cho giao thương với các khu vực khác;
nó là một bộ phận lãnh thổ của đất nước có quy mô đất đai đủ lớn để phát triển tổng hợp KT, được Chính phủ cho phép xây dựng và phát triển, vận hành bởi khung pháp lí có tính ưu đãi, mở cửa theo các thông lệ quốc tế; ở đó
có môi trường đầu tư kinh doanh, buôn bán phù hợp với cơ chế thị trường, được hưởng quy chế ưu đãi hơn các nơi khác; ở đó giao lưu KT với nước ngoài thông thoáng, không bị hạn chế, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài; khi phát triển các khu kinh tế không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, không xâm hại đến các công trình văn hóa, di tích của đất nước
Để có một định hướng phát triển các khu kinh tế ven biển trên phạm vi
cả nước, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển đến năm 2020
Trang 28Ngoài các khu kinh tế ven biển đã nêu trên, ở nước ta còn tồn tại hai loại khu kinh tế tổng hợp nhưng tính chất tổng hợp và mức độ phức tạp ít hơn
so với khu kinh tế ven biển Đó là khu kinh tế cửa khẩu và khu kinh tế quốc phòng Khu kinh tế cửa khẩu hình thành và phát triển trên cơ sở có sự tồn tại của một cửa khẩu biên giới với một nước láng giềng và nhờ có sự phát triển của giao thương KT và khách du lịch Khu kinh tế quốc phòng do quân đội quản lí và làm nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng là chủ yếu, bộ đội cùng nhân dân phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Các Khu kinh tế của Việt Nam (tính đến 2/2011)
thành lập
Diện tích (ha)
4 Chân Mây - Lăng Cô Thừa Thiên Huế 05/01/2006 27.108
5 Phú Quốc - Nam An Thới Kiên Giang 14/02/2006 56.100
17 Ven biển Thái Bình Thái Bình 9/2/2011 30.583
Nguồn: http://vi.wikipedia.org
Trang 291.2.1.3 Vùng kinh tế trọng điểm
Vùng kinh tế trọng điểm là vùng hội tụ đầy đủ nhất các điều kiện phát triển và có ý nghĩa quyết định đối với nền KT của cả nước Nó được đặc trưng bằng một số đặc điểm chủ yếu sau: (i) Bao gồm phạm vi của nhiều tỉnh, TP và ranh giới có thể thay đổi theo thời gian tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển KT-XH của đất nước; (ii) Hội tụ đầy đủ các thế mạnh, tập trung tiềm lực kinh
tế và hấp dẫn các nhà đầu tư; (iii) Có tỉ trọng lớn trong tổng GDP của quốc gia, tạo ra tốc độ phát triển nhanh cho cả nước và có thể hỗ trợ cho các vùng khác; (iv) Có khả năng thu hút các ngành mới về CN và DV để từ đó nhân rộng ra toàn quốc
Cho đến nay, trên lãnh thổ nước ta đã hình thành 04 vùng kinh tế trọng điểm: Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (gồm Thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh); Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (gồm: Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định); Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang) và Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long (gồm TP Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang và Cà Mau)
1.2.2 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp được hiểu là: “Hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng hợp lí nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường”
Có nhiều hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp, phụ thuộc vào quan niệm và quy mô lãnh thổ của mội quốc gia Trên cơ sở tổng quan các hình thức của một số nước trên thế giới và gắn với thực tiễn của nước ta, nhất là sau khi đất nước bước vào công cuộc Đổi mới, các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của nước ta gồm có:
Trang 30* Khu công nghiệp tập trung
Khu công nghiệp (KCN) tập trung là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các DV cho sản xuất CN, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập
Thực tế, ở Việt Nam trong những năm qua, KCN tập trung là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp phổ biến và mang lại hiệu quả
KT cao, là động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất nước
* Khu công nghệ cao
Khu công nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp công nghệ kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo và các DV liên quan; có ranh giới xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Như vậy, có thể nói, khu công nghệ cao là trường hợp đặc biệt của khu công nghiệp tập trung
Ở nước ta, việc hình thành khu công nghệ cao với mục đích là thu hút công nghệ cao của nước ngoài, tiếp nhận chuyển giao công nghệ cao, đồng hóa, sáng tạo, kinh doanh và phát triển công nghệ cao Đây chính là bước đi tắt, nhằm tránh sự tụt hậu về công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đang triển khai xây dựng hai khu công nghệ cao, đó là: Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và Khu công nghệ cao Hòa Lạc
* Cụm công nghiệp
Cụm công nghiệp (CCN) là một lãnh thổ có ranh giới ước lệ, nhưng được xác định bởi văn bản pháp lí, với quy mô nhỏ hơn KCN và được bố trí tập trung một số cơ sở CN thuần túy CCN là một kết hợp sản xuất - lãnh thổ mang tính chất tổng hợp CCN thường gắn với lãnh thổ cấp huyện, là hạt nhân
để thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn ở cấp quận/huyện
Trang 31* Điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp là một lãnh thổ không lớn, có ranh giới ước lệ và được xác định bởi một văn bản pháp lí, có quy mô nhỏ hơn CCN, trên đó có một điểm dân cư với một xí nghiệp công nghiệp Nó cũng có thể là một nhóm không lớn các xí nghiệp công nghiệp nằm trong phạm vi của một điểm dân
cư Nói cách khác, thực chất điểm công nghiệp là một hình thức đồng nhất với điểm dân cư có xí nghiệp công nghiệp Ở nước ta, điểm công nghiệp thường gắn với địa bàn xã hoặc liên xã
1.2.3 Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Ở Việt Nam, hình thức tổ chức lãnh thổ trong NN hiện nay phổ biến là khu nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên môn hóa cây trồng gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp)
* Khu nông nghiệp công nghệ cao
Khu nông nghiệp công nghệ cao là một lãnh thổ xác định, tuy không qúa lớn về diện tích, nhưng áp dụng kĩ thuật canh tác hiện đại với công nghệ cao Tuy nhiên, loại hình khu NN công nghệ cao ở nước ta hiện nay chưa phát triển mạnh, nhưng đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở ven các TP lớn
Bảng 1.3 Các khu nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, năm 2007
STT Khu NNCNC Địa điểm
Diện tích canh tác (ha)
Hướng chuyên môn hóa
1 TP Hồ Chí Minh H Củ Chi 100 Rau cao cấp
2 T Lâm Đồng H Đức Trọng 300 Rau, hoa xuất khẩu
4 TP Hải Phòng H Cát Hải 150 Rau, quả xuất khẩu
Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 32* Vùng trồng cây chuyên môn hóa gắn với công nghiệp chế biến (tổ hợp nông - công nghiệp)
Đây là hình thức tổ chức theo lãnh thổ trong sản xuất NN mà nước ta
đã và đang phát triển và đạt hiệu quả KT cao Việc hình thành nhiều khu vực cây trồng gắn với công nghiệp chế biến thành một thể tổ hợp nông - công nghiệp Trong lâm nghiệp ở nước ta hiện nay cũng có hình thức tổ chức lãnh thổ rất có hiệu quả giống như tổ hợp nông - công nghiệp mà chúng ta gọi là tổ hợp lâm - công nghiệp, tức là gắn vùng rừng nguyên liệu với xí nghiệp chế biến nhằm mang lại hiệu quả KT cao Tiêu biểu của hình thức này là tổ hợp lâm - công nghiệp chế tạo giấy, tổ hợp lâm - công nghiệp chế tạo gỗ…
1.2.4 Tổ chức lãnh thổ dịch vụ
- Đối với ngành du lịch, các hình thức tổ chức lãnh thổ rất phong phú
và từ thấp đến cao là: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch
- Đối với hoạt động thương mại, thì hệ thống mạng lưới bán lẻ, mạng lưới chợ; hoạt động xuất nhập khẩu là những biểu hiện cụ thể
- Đối với lĩnh vực giao thông vận tải thì tổ chức lãnh thổ được thể hiện cụ thể qua mạng lưới đường giao thông và đầu mối giao thông
1.2.5 Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh/thành phố
Trong hệ thống phân vùng KT - hành chính Việt Nam hiện nay chấp nhận rộng rãi hệ thống các cấp kế hoạch và dự báo vĩ mô, gồm: Trung ương/tỉnh - TP/huyện - thị xã/xã - phường - thị trấn Trong đó cấp tỉnh/TP được coi là mắt xích quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển vùng
Tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh được coi là cấp thực thi chính sách, đồng thời được quyền ban hành một số chính sách phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của địa phương Theo tinh thần đó, Viện Chiến lược phát
Trang 33triển - Bộ KH&ĐT có hướng dẫn cụ thể bằng hàng loạt bảng biểu cũng như chỉ dẫn cụ thể để triên khai việc lập qui hoach KT-XH dài hạn thời kì đến năm 2015 và tầm nhìn 2020
Theo nội dung hướng dẫn nghiên cứu lập qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh/TP trực thuộc trung ương (phục vụ công tác lập qui hoạch thể phát triển KT-XH thời kì 2005 - 2020), cấp tỉnh/TP trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) phải đạt yêu cầu về nội dung gồm: Phân tích, dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước và các yếu tố phát triển khác đối với quá trình phát triển KT-XH của tỉnh; Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KT-XH tỉnh; Nghiên cứu phương hướng phát triển KT-XH tỉnh đến năm
2010 bao gồm: xác định quan điểm, mục đích và mục tiêu phát triên; các giải pháp chủ yếu về cơ cấu KT, phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực và các sản phẩm chủ lực, phương hướng phát triển theo lãnh thổ, các chương trình phát triển, các dự án (DA) đầu tư Đề xuất cơ chế chính sách phát triển chủ yếu
Cùng với yêu cầu chung nói trên, các tỉnh/TP đều phải thực hiện đồng
bộ cách tính toán xử lí số liệu thống nhất theo hệ thống bảng biểu nghiên cứu lập qui hoạch thống nhất (21 bảng biểu)
Theo hướng dẫn nói trên hầu hết 63 tỉnh/TP đã hoàn thành việc lập qui hạch tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2010 Tiến xa hơn nữa, đại bộ phận các huyện/thị xã cùng hoàn thành lập qui hoach tổng thể phát triển KT-XH đến năm 2020
Triển khai các bản qui hoạch trong cuộc sống, bộ mặt KT-XH các tỉnh/TP đã có bước tiến đáng kể Bộ mặt KT tỉnh/TP thể hiện rõ nét hơn hẳn
KT vùng Phải chăng vì vậy, mà có ý kiến cho rằng ở việt Nam có nền KT tỉnh mà chưa có nền KT vùng Tuy nhiên, bước đầu đã xuất hiện một số bất cập: cơ cấu KT các tỉnh đơn điệu, thiếu bản sắc, có biểu hiện phân tán, dẫn tới đầu tư dàn trải, kém hiệu quả
Trang 34Tình hình nói trên cũng đúng với tỉnh Bắc Giang Sở KH&ĐT Bắc Giang đã hoàn thành qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH thời kì đến năm
2020 Trong đó xác định cơ cấu kinh tế, đầu tư, qui hoạch hai vùng phát triển phía Đông và phía Tây lấy quốc lộ 1 (QL 1) với TP Bắc Giang là tuyến phát triển động lực
Tuy nhiên, bộc lộ một số mặt yếu kém rõ rệt về năng lực cạnh tranh kinh tế câp tỉnh (PCI), năng lực hội nhập quốc tế (PCII), vấn đề môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường lưu vực sông, không rõ nét về định hình không gian hành lanh phát triển động lực theo QL 1 cũng như hành lanh nhánh triển theo QL 37 và QL 31 Do đó cơ cấu kinh tế chậm chyển dịch nhiều chỉ số phát triển như PCI, HĐI chỉ quanh quẩn trung bình khá, chưa có những bước tiến bứt phá như mong đợi
Nói tóm lại việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh bắc Giang vẫn
là vấn đề mở cần quan tâm làm rõ về lí luận cũng như thực tiễn
Trang 35Tiểu kết chương 1
Thuật ngữ tổ chức lãnh thổ hay tổ chức không gian bắt nguồn từ cơ sở
lí thuyết kinh tế của Adam Smith và Ricardo, từ các công trình nghiên cứu của G.Thunen, A.Weber, W.Christaller… sau đó được phát triển về lí luận và được ứng dụng vào thực tiễn từ giữa thế kỉ XIX Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực này, các nước trên thế giới sử dụng những thuật ngữ không giống nhau Ở Việt Nam, nhiều ý kiến cho rằng tổ chức lãnh thổ và tổ chức không gian KT-
XH được xem là như nhau và thuật ngữ tổ chức lãnh thổ được sử dụng nhiều hơn cả
Trong tranh luận về vai trò cấp tỉnh trong tổ chức lãnh thổ kinh tế đất nước cũng có ý kiến khác nhau Một số cho rằng, cấp tỉnh quan trọng hơn là cấp vùng Vấn đề là trong thực tiễn, cấp tỉnh là cấp hành chính - kinh tế có bộ máy quản lí điều hành trong hệ thống 4 cấp kinh tế - hành chính của nhà nước ta: Trung ương ↔ Tỉnh/TP ↔ Huyện ↔ Xã/Phường
Về khái niệm, bản chất, nguyên tắc, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ kinh tế trong đó cũng chú ý đến các bước tiếp cận tổ chức lãnh thổ kinh tế của Việt Nam; khái quát một số lí thuyết về tổ chức lãnh thổ kinh tế quan trọng được vận dụng từ trước đến nay
Kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn được vận dụng các lí luận trên vào tổ chức lãnh thổ kinh tế cấp tỉnh, cụ thể là Bắc Giang phù hợp nhất để đạt được sự phát triển tối ưu cho từng khu vực lãnh thổ, từng ngành công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, xây dựng các định hướng, các giải pháp phát triển, chú trọng các giải pháp đột phá
Trang 36Chương 2
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC
LÃNH THỔ KINH TẾ BẮC GIANG
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỔ CHỨC LÃNH THỔ KINH TẾ TỈNH BẮC GIANG
2.1.1 Vị trí địa lí
Bắc Giang nằm ở toạ độ địa lí từ 21007’ đến 21037’ vĩ độ Bắc; từ
105053’ đến 107002’ kinh độ Đông; là tỉnh miền núi có vị trí nằm chuyển tiếp giữa các tỉnh phía Đông Bắc với các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và TP
Hà Nội, diện tích tự nhiên 3.827,38 km2; phía Nam giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, phía Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ninh
và phía Tây giáp tỉnh Thái Nguyên và TP Hà Nội Đến nay, tỉnh Bắc Giang
có 9 huyện và 1 TP (TP Bắc Giang), trong đó có 6 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn
So với các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Giang có vị trí địa lí tương đối thuận lợi do có một số trục đường giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ) quan trọng của Quốc gia chạy qua TP Bắc Giang cách TP Hà Nội 50km tính theo đường ô tô, nằm trên QL 1A và đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn lên cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng, nơi giao lưu buôn bán sầm uất hiện nay, là điều kiện quan trọng khi hành lang kinh tế Nam Ninh (Trung Quốc) - Lạng Sơn -
Hà Nội - Hải Phòng đi vào hoạt động để phát triển sản xuất hàng hoá và giao lưu kinh tế trong nước và quốc tế QL 31 từ TP Bắc Giang đi các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Đình Lập gặp QL 4A (Lạng Sơn) đi ra cảng Mũi Chùa, Tiên Yên và nối với cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh) QL 279 từ Hạ Mi (Sơn Động) đến Tân Sơn (Lục Ngạn) nối với QL 1A QL 37 từ Lục Nam đi Hòn Suy sang thị trấn Sao Đỏ (Hải Dương) gặp QL 18 có thể về cảng Hải Phòng hay ra cảng nước sâu Cái Lân (Quảng Ninh)
Trang 37Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang năm 2010
Trang 38Tuyến đường sắt Lưu Xá - Kép - Hạ Long nối Thái Nguyên với Quảng Ninh, đi qua các huyện Yên Thế, Lạng Giang và Lục Nam Đường sông (có sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam) với tổng chiều dài qua tỉnh là 347km, trong đó chiều dài đang khai thác là 189km, tàu thuyền có thể
đi lại được quanh năm, đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển KT
Ngoài ra, Bắc Giang cách không xa các trung tâm công nghiệp, đô thị lớn cuả “Tam giác kinh tế phát triển”: Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, nơi tập trung tiềm lực khoa học kỹ thuật của cả nước (với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu của Trung ương), nơi tập trung đầu mối kinh
tế đối ngoại, giao lưu kinh tế, khoa học, công nghệ, thu hút đầu tư của cả nước, nơi tập trung đông dân cư, với tốc độ đô thị hoá nhanh sẽ là thị trường tiêu thụ lớn về nông sản hàng hoá và các hàng tiêu dùng khác (Hình 2.1)
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
300 - 400m, độ dốc trung bình từ 20 - 300 thuận lợi cho phát triển cây ăn quả, đặc biệt là trồng vải, cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc
2.1.2.2 Điều kiện thời tiết khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông bắc Việt Nam, Bắc Giang một năm có 4 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm,
Trang 39mùa xuân và mùa thu khí hậu ôn hoà Nhiệt độ bình quân năm khoảng 23 -
240C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 15 - 160C, tháng nóng nhất là tháng 7 có nhiệt độ khoảng 29 - 300C Độ ẩm không khí trung bình trên 80% Lượng mưa: 1000 - 1500 mm/năm Lượng mưa trung bình những năm gần đây của Bắc Giang có xu thế giảm dần Biến động về số giờ nắng trong các năm là không nhiều (1392,4 giờ - năm 2006; 1496,4 giờ - năm 2009; 1247 giờ năm 2010) Chế độ chiếu sáng tương đối thuận lợi cho cây trồng phát triển Bắc Giang chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam về mùa hè
và gió mùa Đông Bắc về mùa đông Ngoài ra, Bắc Giang còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng (không nhiều) về mùa hè và gió mùa Đông Bắc khô lạnh có năm có sương muối về mùa đông
2.1.2.3 Tài nguyên đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ lập địa trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có các loại đất chính sau: Đất Feralit trên núi trung bình: Diện tích 200 ha, chiếm 0,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở độ cao > 700m thuộc 2 dãy An Châu, Yên Tử Đất Feralit mùn trên núi thấp: Diện tích 28.530 ha, chiếm 7,5% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá sa thạch: Diện tích 76.400 ha chiếm 20% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở huyện Lục Nam, Sơn Động Đất Feralit vùng đồi phát triển trên đá phiến thạch sét Diện tích 83.910 ha, chiếm 22% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang Đất phù sa cổ: Diện tích 8.880 ha, chiếm 2,3% diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở hạ lưu sông Lục Nam và các huyện vùng trung du Đất thung lũng dốc tụ: Diện tích 8.170 ha, chiếm 2,1% diện tích tự nhiên Phân bố ở ven các sông, suối chính trong tỉnh Đất Feralit biến đổi do trồng lúa: Diện tích 176.110 ha, chiếm 46% diện tích tự nhiên Phân bố tập trung ở các huyện Việt Yên, Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang Đây là đối tượng chủ yếu để canh tác nông nghiệp
Trang 40Nhìn chung, đất đai của tỉnh được hình thành chủ yếu trên các loại đá
mẹ sa thạch, phiến thạch và phù sa cổ Có tầng đất trung bình, đất nghèo dinh dưỡng, nhiều nơi khô cằn, khả năng giữ nước kém
Tiềm năng đất của tỉnh còn khá lớn, riêng đất chưa sử dụng có khả năng sản xuất nông - lâm nghiệp là trên 40 ngàn ha và gần 10 ngàn ha vườn gia đình có thể cải tạo thành vườn có giá trị kinh tế Hiện nay, hệ số sử dụng đất còn thấp, nhất là các huyện miền núi, có thể nâng hệ số sử dụng đất lên Năng suất cây trồng, vật nuôi cũng còn tiềm ẩn khá, nếu áp dụng đưa giống mới vào sản xuất, chế độ canh tác hợp lí thì sẽ đưa được năng suất lên ít nhất
là 1,3 - 1,4 lần so với năng suất hiện nay
2.1.2.4 Tài nguyên nước và thủy văn
Trên lãnh thổ Bắc Giang có mật độ sông ngòi tương đối dày đặc trong
đó có 3 con sông lớn chảy qua (sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam) với tổng chiều dài là 347 km, lưu lượng lớn (7,5 triệu m3/năm) và có nước quanh năm Với hệ thống ao, hồ, đầm rải đều trên địa bàn của tỉnh, tổng lượng dòng chảy 3 sông lớn chảy qua tỉnh là những bể chứa nước quan trọng cho nền kinh
tế và nước sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra, mạch nước ngầm có ở nhiều nơi, tuỳ theo địa hình ở từng khu vực mà có độ nông sâu khác nhau, với trữ lượng
dự báo trên 900 nghìn m3/ngày đêm trong đó trữ lượng tĩnh gần 300 nghìn
m3/ngày đêm, nước mưa là 1.200 - 1.700 mm/năm
Các hồ, sông chính đã tạo cho hệ thống thuỷ lợi, đáp ứng đủ nước tưới phát triển nông nghiệp và nước sinh hoạt Về thuỷ điện có hồ Cấm Sơn kết hợp cung cấp nước cho nông nghiệp và phát điện
2.1.2.5 Tài nguyên rừng
Đến nay Bắc Giang có khoảng hơn 130.000 ha đất lâm nghiệp đã có rừng và gần 30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp Rừng của Bắc Giang có vị trí quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, môi