1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam

134 944 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT 1 CLCS Chất lượng cuộc sống 2 KT – XH Kinh tế - xã hội 3 HDI Chỉ số phát t

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ

Người hướng dẫn khoa học: TS DƯƠNG QUỲNH PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Vũ Bích Hạnh

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới TS Dương Quỳnh Phương - Người đã hướng dẫn tận tình, đầy tâm huyết trong cả quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn của tôi ngày hôm nay

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy cô làm công tác quản lý ở Khoa sau Đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại trường

Xin cảm ơn tới các cơ quan ban ngành đã cung cấp cho tôi những tư liệu bổ ích để tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Và cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân, bạn

bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện

đề tài này

Tác giả luận văn

Vũ Bích Hạnh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ, cụm từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các bản đồ, hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục tiêu 4

3.2 Nhiệm vụ 4

4 Giới hạn nghiên cứu 5

5 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Các quan điểm nghiên cứu 5

5.2 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 9

1.1 Cơ sở lý luận 9

1.1.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống (CLCS) 9

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLCS 12

1.1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI) 12

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.2.2 Chỉ số về thu nhập 15

1.1.2.3 Chỉ số về sức khoẻ (tuổi thọ trung bình) 17

1.1.2.4 Chỉ số về giáo dục 19

1.1.2.5 Một số chỉ tiêu khác 20

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Tổng quan về CLCS của dân cư trên thế giới 24

1.2.2 CLCS của dân cư Việt Nam 29

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ VÙNG ĐÔNG BẮC 36

2.1 Khái quát về vùng Đông Bắc 36

2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 36

2.1.2 Đặc điểm về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 39

2.1.3 Đặc điểm về dân cư - xã hội 47

2.1.4 Về cơ sở hạ tầng 54

2.1.5 Sự phát triển kinh tế 56

2.1.6 Thị trường và vốn đầu tư 59

2.1.7 Đường lối, chính sách 60

2.2 Thực trạng CLCS dân cư vùng Đông Bắc 61

2.2.1 Chỉ số thu nhập trong HDI 61

2.2.2 Chỉ số giáo dục trong HDI 67

2.2.3 Chỉ số tuổi thọ trong HDI 70

2.2.4 Thực trạng CLCS qua chỉ số HDI 72

2.2.5 Một số chỉ tiêu khác 81

2.2.5.1 Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI) và chỉ số phát triển giới (GDI) 81

2.2.5.2 Tỷ lệ nghèo đói và mức thu nhập 83

2.2.5.3 Giáo dục 87

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.2.5.4 Y tế 89

2.2.5.5 Nhà ở 93

2.2.5.6 Điều kiện sinh hoạt của hộ dân cư 95

2.2.6 Đánh giá chung về CLCS của dân cư vùng Đông Bắc 97

Tiểu kết chương 2 99

Chương 3 CÁC ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO CLCS CHO DÂN CƯ VÙNG ĐÔNG BẮC 100

3.1 Các định hướng về việc cải thiện và nâng cao CLCS cho dân cư 100

3.1.1 Các định hướng chung 100

3.1.2 Các mục tiêu cụ thể 103

3.2 Các giải pháp để nâng cao CLCS cho dân cư vùng Đông Bắc 107

3.2.1 Giải pháp về kinh tế, xoá đói, giảm nghèo 107

3.2.2 Giải pháp về giáo dục - đào tạo 108

3.2.3 Giải pháp để nâng cao tuổi thọ, sức khoẻ 110

3.2.4 Phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tăng cường giao lưu, nâng cao đời sống văn hoá cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc 111

3.2.5 Xây dựng các dự án, chương trình phát triển bền vững cho vùng Đông Bắc 112

Tiểu kết chương 3 115

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

PHỤ LỤC 120

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

1 CLCS Chất lượng cuộc sống

2 KT – XH Kinh tế - xã hội

3 HDI Chỉ số phát triển con người

4 GDI Chỉ số phát triển giới

5 GEM Số đo quyền lực theo giới

6 HPI Chỉ số nghèo khổ tổng hợp

7 UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc

8 GDP Tổng sản phẩm quốc dân

9 GDP/người Thu nhập bình quân đầu người

10 PPP-USD Phương pháp sức mua tương đương tính theo đô la Mỹ

11 VNĐ Việt Nam đồng

12 GD – ĐT Giáo dục – đào tạo

13 TDMNPB Trung du miền núi phía Bắc

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tóm tắt các báo cáo phát triển con người từ 1990 - 2010 25

Bảng 1.2 Chỉ số HDI của một số quốc gia trên thế giới giai đoạn 1990 - 2009 27

Bảng 1.3 Chỉ số HDI theo vùng miền và các nhóm nước năm 2008 28

Bảng 1.4 Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 30

Bảng 1.5 Chỉ số HDI của một số quốc gia, báo cáo năm 2007 - 2008 32

Bảng 1.6 HDI và thứ hạng HDI theo vùng năm 2004 33

Bảng 1.7 HDI của một số địa phương trên cả nước năm 2004 34

Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 năm 2000 và 2009 42

Bảng 2.2 Quy mô và tỉ lệ dân số vùng Đông Bắc, giai đoạn 2000 - 2009 47

Bảng 2.3 GDP và GDP/người vùng Đông Bắc giai đoạn 1995 - 2009 57

Bảng 2.4 Chỉ số về thu nhập của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 1999 & 2009 63

Bảng 2.5 Chỉ số giáo dục các tỉnh vùng Đông Bắc 1999 - 2009 68

Bảng 2.6 Chỉ số tuổi thọ các tỉnh vùng Đông Bắc 1999 - 2009 71

Bảng 2.7 HDI và các chỉ tiêu thành phần của cả nước, các vùng giai đoạn 1999 - 2009 72

Bảng 2.8 HDI và các chỉ tiêu thành phần của các tỉnh vùng Đông Bắc giai đoạn 1999 - 2009 75

Bảng 2.9 Tổng hợp điểm đánh giá HDI vùng Đông Bắc - 2009 77

Bảng 2.10 Chỉ số HPI và GDI của cả nước và các vùng giai đoạn 1999 - 2004 81

Bảng 2.11 Thực trạng nghèo của các vùng trên cả nước giai đoạn 2006 - 2008 84

Bảng 2.12 Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật 87

Bảng 2.13 Một số chỉ tiêu về y tế của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 89

Bảng 2.14 Tỷ suất sinh, tử của các tỉnh Đông Bắc năm 2009 91

Bảng 2.15 Chỉ tiêu về nhà ở của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 93

Bảng 2.16 Một số chỉ tiêu về điều kiện sinh hoạt của hộ dân cư năm 2009 96

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

Bản đồ hành chính vùng Đông Bắc 37 Bản đồ phân bố dân cư vùng Đông Bắc 50 Bản đồ thể hiện sự phân hoá CLCS qua chỉ số HDI! 79

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS 10 Hình 1.2 Mô hình HDI và các chỉ số thành phần 13 Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu sử dụng các nhóm đất vùng Đông Bắc năm

2000 và 2009 42 Hình 2.2 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân theo ngành của vùng

Đông Bắc giai đoạn 2000 - 2009 58 Hình 2.3 Biểu đồ chỉ số thu nhập (IGDP) các tỉnh vùng Đông Bắc năm

1999 & 2009 66 Hình 2.4 Biểu đồ tỷ lệ hộ nghèo phân theo các tỉnh vùng Đông Bắc năm

2006 & 2008 85 Hình 2.5 Biểu đồ thu nhập bình quân đầu người/tháng của các tỉnh vùng

Đông Bắc năm 2008 86

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Chất lượng cuộc sống (CLCS) của con người đã và đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm, vì CLCS phản ánh rõ nét trình độ văn minh của mỗi quốc gia Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, trên thế giới đang có những biến động to lớn: xu thế quốc tế hoá, khu vực hoá nền kinh tế, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng phát triển mạnh… đã và đang làm cho nền kinh tế thế giới có những tăng trưởng đáng kể, đồng thời CLCS dân cư cũng không ngừng được nâng lên Tuy nhiên, trên thực tế thì mức sống của dân cư các quốc gia trên thế giới có sự phân hóa rất rõ nét và khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo ngày càng lớn Ở những nước có nền kinh tế phát triển thì CLCS của dân cư rất cao Ngược lại, ở các nước đang phát triển, nhất là một số quốc gia ở Châu Phi thì CLCS còn thấp và luôn luôn phải đối mặt với sự đói nghèo Do đó, việc đấu tranh nhằm nâng cao CLCS của con người nói chung và CLCS cho người dân nghèo nói riêng nhằm làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo đã và đang được nhiều người biết đến tại hầu hết các quốc gia, trên nhiều diễn đàn quốc tế và khu vực

Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề CLCS với tư cách là một khái niệm khoa học đã được quan tâm trong thời gian gần đây khi chúng ta thực hiện chính

sách kinh tế mới Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh “Con người là trung tâm của sự phát triển, là mục tiêu và cũng là động lực của sự phát triển”

Do đó, nâng cao CLCS cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần và vật chất cho nhân dân là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước

Đông Bắc là một trong hai tiểu vùng của Trung du miền núi Bắc Bộ - cái nôi căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến và là nơi ghi dấu những năm tháng lịch sử hào hùng của dân tộc Trong những năm gần đây, cùng với sự

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước thì CLCS của dân

cư vùng Đông Bắc cũng đang từng bước đạt được những kết quả đáng khích

lệ Tuy nhiên, vẫn có sự phân hoá, chênh lệch đáng kể về CLCS giữa các tỉnh trong vùng; giữa vùng với cả nước Trước sự tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phân hoá ấy lại càng trở nên sâu sắc Do vậy, việc nâng cao CLCS của nhân dân trong vùng đã trở thành một trong những mục tiêu phấn đấu phát triển KT - XH hàng năm của các tỉnh vùng Đông Bắc nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng và góp phần vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước

Thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc ra sao và làm thế nào để nâng cao CLCS cho nhân dân các dân tộc trong vùng? Đó là vấn đề vừa có tính

lý luận đối với Địa lý học vừa có tính thực tiễn cao, góp phần làm phong phú thêm những định hướng và giải pháp phát triển bền vững cho vùng trong thời

gian tới Vì những lý do trên tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng Đông Bắc Việt Nam"

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Sự gia tăng dân số chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ trước đã gây ra nhiều vấn đề áp lực đối với sự phát triển và cải thiện CLCS Bên cạnh việc gia tăng dân số, sự khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã làm cho CLCS của con người cũng bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực

Trước những vấn đề đó, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và CLCS như R.C.Sharma, Wiliam Bell, M.Un Hat và nhiều tác giả khác Trong đó, công trình nghiên cứu của

R.C.Sharma về "Dân số - Tài nguyên - Môi trường và CLCS" được coi là

"cuốn kim chỉ nam" về giáo dục dân số và CLCS Năm 1990, Liên Hiệp Quốc

cũng đã đưa ra chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) dựa trên những chỉ tiêu về thu nhập, sức khoẻ, tri thức và được coi như là một khía cạnh quan

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trọng để phản ánh CLCS Cho đến nay, các số liệu và tình hình CLCS dân cư vẫn thường xuyên được cập nhật qua các báo cáo phát triển con người hàng năm đồng thời thông qua đó người ta có thể so sánh được trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức sống của dân cư các nước trên thế giới

Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả rất quan tâm đến vấn đề này như GS.TS Tống Văn Đường, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ… Trong những năm qua đã có những công trình nghiên cứu về CLCS ở tầm

vĩ mô như cuốn "Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001" của

Trung tâm Khoa học - Xã hội và Nhân văn Quốc gia; NXB Chính trị Quốc

gia, Hà Nội 2001, được coi là "Báo cáo đầu tiên của Việt Nam do chính người

Việt Nam viết đã đề cập một cách hệ thống, tương đối toàn diện và sâu sắc các vấn đề cơ bản nhất về phát triển con người Việt Nam hiện nay" Lần đầu

tiên cuốn sách đã đưa ra các chỉ số cơ bản về phát triển con người ở Việt Nam như: HDI, HPI, GDI… của 61 tỉnh thành trong cả nước Cũng theo hướng này, năm 2006, một công trình nữa về Báo cáo Phát triển con người Việt Nam

(giai đoạn 1999 - 2004) đã ra đời với tiêu đề “Những thay đổi và xu hướng chủ yếu”, trong đó làm rõ nhiều vấn đề về phương hướng và giải pháp phát

triển con người Việt Nam thời kỳ phát triển và hội nhập Trong những năm gần đây cũng xuất hiện nhiều báo cáo và các kết quả nghiên cứu về chỉ số

phát triển con người như: “Con người và phát triển con người ở Hoà Bình:

Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” (2007) của PGS.TS Hồ Sĩ Quý,

“Nghiên cứu chỉ số phát triển con người - HDI của Việt Nam” (2008) do

PGS.TS Đặng Quốc Bảo làm chủ biên hay đề tài KH&CN cấp Bộ “Chỉ số

phát triển con người ở tỉnh Thái Nguyên” (2009) của Th.S Vũ Vân Anh,…

Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo đã có một số đề tài nghiên cứu về CLCS dân cư của các địa phương, tỉnh thành trong cả nước Đó là luận án tiến

sĩ địa lý của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (2004) về thành phố Hải Phòng,

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cũng như một vài luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây tại khoa Địa lý - trường ĐHSP Hà Nội về CLCS các tỉnh Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên,…

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về CLCS ở các vùng trên phạm vi cả nước hầu như còn rất ít Gần đây nhất, năm 2010 PGS.TS Phạm

Thành Nghị mới xuất bản cuốn sách “Phát triển con người vùng Tây Bắc”

nhằm đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp cải thiện CLCS của người dân vùng Tây Bắc Đây là một hướng nghiên cứu rất sát với thực tế và mang tính lý luận cao Do vậy, việc lựa chọn vấn đề CLCS của dân cư vùng Đông Bắc, chúng tôi cũng mong muốn sẽ góp một phần công sức nhỏ bé của mình để làm phong phú và sâu sắc thêm về lý luận

và thực tiễn của vấn đề có tính toàn cầu này

3 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu

Vận dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận về địa lý dân cư và CLCS vào địa bàn vùng Đông Bắc nhằm phân tích thực trạng và sự phân hoá về CLCS Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao CLCS cho nhân dân các dân tộc sống trong vùng

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hoá những quan niệm về CLCS

- Phân tích những chỉ tiêu cơ bản phản ánh CLCS của dân cư

- Phân tích thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc, so sánh với các vùng khác trong cả nước và làm rõ sự phân hoá CLCS giữa các tỉnh trong khu vực

- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao CLCS của nhân dân trong thời gian tới

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

- Trong khuôn khổ của đề tài này, tôi chủ yếu tập trung đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc thông qua các chỉ tiêu cơ bản đó là: GDP bình quân trên đầu người (GDP/người), tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn và đánh giá một cách tổng quát thông qua chỉ số phát triển con người HDI cùng một số chỉ tiêu bổ sung

- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu: vùng Đông Bắc

- Thời gian nghiên cứu: từ 1999 => 2009

5 CÁC QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

* Quan điểm hệ thống

Quan điểm hệ thống đảm bảo tính logic của vấn đề Địa lý của một vùng, một địa phương (tỉnh, huyện) là một hệ thống Nghiên cứu về CLCS của dân cư vùng Đông Bắc, chúng ta cần phải đặt nó trong một hệ thống nhất định để tìm ra được những mối quan hệ tác động qua lại với nhau và tác động đến CLCS Từ những lý luận chung vận dụng vào từng đối tượng cụ thể, thông qua thực tiễn đó vừa làm sáng tỏ, sâu sắc thêm cho lý luận, định hướng

và nêu ra các giải pháp phát triển CLCS của dân cư trong toàn vùng

* Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Mỗi đối tượng địa lý đều tồn tại và phát triển trên một lãnh thổ nhất định Tìm ra sự phân hóa của các sự vật, hiện tượng chính là một nhiệm vụ của khoa học địa lý Vận dụng quan điểm này để tìm hiểu các cấu trúc bên trong và động lực phát triển của CLCS dân cư vùng Đông Bắc Đây là quan điểm cơ bản nhất mang tính chất địa lý, đánh giá một vấn đề phải được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, ở không gian lãnh thổ cụ thể

Bên cạnh đó, sự phân hoá lãnh thổ về CLCS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu Nghiên cứu những khác biệt trên nhằm phát hiện các

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mối quan hệ hữu cơ trong một tổng thể hoặc đã được phân hoá, hoặc đang trong quá trình phân hoá sang một thể thống nhất đa dạng Dựa trên sự khác biệt về CLCS giữa các khu vực trong lãnh thổ nghiên cứu để từ đó tìm ra các giải pháp phát triển riêng cho từng khu vực

* Quan điểm sinh thái

Quan điểm sinh thái có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý địa phương và được ứng dụng ngày càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của

tự nhiên, mối quan hệ tác động qua lại giữa tự nhiên và con người, đặc biệt giữa con người với việc sử dụng, khai thác, phá huỷ và tái tạo hệ địa lý tự nhiên Con người được coi là chủ thể của hoạt động sản xuất và tiêu dùng, tác động đến hệ thống môi trường nhằm đạt được hiệu quả nhất định trong các hệ địa sinh thái khác nhau Vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu chất lượng môi trường sống của dân cư trong vùng hiện nay ra sao, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm giải quyết vấn đề này

* Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mỗi một hiện tượng địa lý đều có quá trình phát sinh, phát triển mà trong đó sự hoạt động của con người qua từng phương thức sản xuất đóng vai trò quan trọng Nghiên cứu CLCS của dân cư vùng Đông Bắc phải đặt trong một khoảng giới hạn nhất định về không gian, thời gian với những xu hướng phát triển từ quá khứ - hiện tại để đi đến tương lai và đều có mối quan hệ nhân - quả diễn ra trong những chu trình khép kín Bởi vậy, khi xem xét, phân tích CLCS của dân cư vùng Đông Bắc ở hiện tại thì đồng thời phải xem xét cả giai đoạn quá khứ và dự đoán chiều hướng phát triển tương lai sẽ ra sao

* Quan điểm phát triển bền vững

Khi nghiên cứu bất cứ một yếu tố KT - XH nào cũng phải xem xét trong mối quan hệ phát triển bền vững với các yếu tố khác (kinh tế - xã hội - môi trường) thì mới đem lại hiệu quả lâu bền Trên cơ sở đánh giá tổng hợp

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mối quan hệ giữa Tự nhiên - Kinh tế - Xã hội và Môi trường, phải luôn đặt sự phát triển con người là trung tâm, là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế - xã hội

Trong quá trình nghiên cứu các quan điểm trên được vận dụng kết hợp

và hỗ trợ với nhau để giúp cho đề tài không bị phiến diện một chiều mà sẽ đem lại kết quả có độ tin cậy cao

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích - tổng hợp nguồn tài liệu

Phương pháp này sử dụng kết quả của việc thu thập tài liệu, quan sát thực tế, xử lý thông tin qua hệ thống phân tích - tổng hợp, kết hợp giữa nội suy và ngoại suy Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Niên giám thống kê các năm của Tổng cục Thống kê, Cục thống kê các tỉnh, Một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, Chiến lược phát triển KT - XH trong giai đoạn hiện nay, Báo cáo tổng hợp tình hình KT-

XH của UBND các tỉnh Các tài liệu có tính chất lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư Ngoài ra còn cập nhật các thông tin từ báo chí, mạng internet… Qua đó, tiến hành xử lý, phân tích, tổng hợp nguồn tài liệu để làm rõ vấn đề, làm cơ sở minh chứng cho quá trình nghiên cứu và so sánh Từ các nguồn tài liệu thô thu thập được cần phải xử lý thành tài liệu tinh để từ đó rút ra những thông tin chính xác đánh giá về CLCS của dân cư vùng Đông Bắc Trong việc

xử lý tài liệu, tôi đã thực hiện nhất quán 2 nguyên tắc cơ bản là: Thống nhất

về nguồn tài liệu; Các số liệu thu thập được quy nạp về cùng thời gian nhất định Số liệu sau khi thu thập được sẽ tiến hành lập bảng số liệu phục vụ yêu cầu của đề tài Những số liệu còn thiếu, phải được sưu tầm bổ sung từ các nguồn khác có thể được, nếu không có thì phải sử dụng đến phương pháp ngoại suy

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

* Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này chủ yếu tham khảo ý kiến của các chuyên gia có trình

độ chuyên môn sâu về vấn đề nghiên cứu Thông qua tiếp xúc, trao đổi… để tìm ra các giải pháp tối ưu cho vấn đề còn đang vướng mắc

* Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp bản đồ, biểu đồ được

sử dụng trong các khâu như: phân tích, xử lý số liệu, biên tập bản đồ, lựa chọn các phương pháp biểu hiện, so sánh, đối chiếu để thấy rõ thực trạng CLCS của dân cư vùng Đông Bắc Đồng thời thông qua sự hỗ trợ của phần mềm Mapinfor để thể hiện sự phân hoá về chất lượng cuộc sống dân cư theo không gian địa lý

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Tổng quan có chọn lọc về cơ sở lý luận và thực tiễn chất lượng cuộc sống con người nói chung từ đó vận dụng vào địa bàn nghiên cứu cụ thể là vùng Đông Bắc để nêu bật được bức tranh chất lượng cuộc sống dân cư trong vùng Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống của đại bộ phận cư dân, góp phần ổn định kinh tế - xã hội của vùng

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về CLCS dân cư

- Chương 2: Thực trạng CLCS dân cư vùng Đông Bắc

- Chương 3: Các định hướng và giải pháp cơ bản để nâng cao CLCS cho dân cư vùng Đông Bắc

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống (CLCS)

Chất lượng cuộc sống là một khái niệm mang tính tổng hợp có nội dung rất phong phú liên quan đến mọi mặt của đời sống con người Nó thể hiện trong những nhu cầu được thoả mãn về vật chất cũng như tinh thần của

cá nhân, cộng đồng và toàn thể xã hội CLCS phụ thuộc vào khả năng đáp ứng ngày càng tốt hơn một cách bền vững và ổn định những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (có sức khoẻ, có việc làm, có thu nhập đầy đủ, có điều kiện ăn mặc - ở - đi lại - học tập và giao tiếp tốt), được sống trong một môi trường an toàn, sạch sẽ, trong một xã hội trật tự và lành mạnh Đây là một khái niệm động, phát triển từ thấp lên cao phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, chế độ chính trị, quan niệm về văn hoá truyền thống của mỗi quốc gia, dân tộc ở từng giai đoạn phát triển của hình thái xã hội

Trong tài liệu “Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số”, các tác giả

dự án VIE/94/P01 đã đưa ra khái niệm về CLCS như sau: “CLCS là điều kiện sống được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi giải trí cho nhu cầu của con người Điều kiện này làm cho con người

dễ dàng đạt được sự hạnh phúc, an toàn gia đình, khoẻ mạnh về thể chất

và tinh thần”

CLCS có quan hệ qua lại với nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên, sự phát triển dân số, hệ thống chính trị xã hội, lối sống, các giá trị văn hoá, tôn giáo và trình độ phát triển KT - XH Mỗi nhân tố lại có nhiều bộ phận hợp thành, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đồng thời tác động lên CLCS

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS

Quá trình phát triển

Tốc độ gia tăng

Sự di dân Cơ cấu

Các động lực dân số

Hệ thống XH

H thống chính trị

Giá trị tôn giáo

Văn hoá Lối sống

HT Chính trị & xã hội

GDP/người

Mức sống

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đồng thời, CLCS cũng phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái mà trong đó con người tồn tại và phát triển Theo Wiliam Bell, CLCS được đặc trưng bởi 12 điểm:

(1) Sự an toàn

(2) Sung túc về kinh tế

(3) Công bằng theo pháp luật

(4) An ninh quốc gia

(5) Được bảo hiểm lúc già và ốm đau

(6) Hạnh phúc về tinh thần

(7) Tích cực tham gia vào đời sống xã hội

(8) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở và nghỉ ngơi

(9) Đời sống văn hoá được nâng cao

(10) Có quyền tự do công dân

(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật tốt (giao thông, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế )

(12) Chất lượng môi trường sống đảm bảo

Như vậy, CLCS phản ánh sự đáp ứng những nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người, mức đáp ứng càng cao thì cuộc sống của con người càng được đảm bảo CLCS cao chính là đặc trưng cơ bản của một xã hội văn minh, có trình độ phát triển về mọi mặt Khái niệm CLCS rất rộng và phức tạp bởi nó

có nhiều khía cạnh và nhiều yếu tố tác động tới Dưới góc độ địa lý KT - XH

có 3 chỉ tiêu quan trọng đó là: tuổi thọ trung bình, giáo dục và GDP/người Tuy nhiên, ở những nước có chế độ chính trị và trình độ kinh tế khác nhau thì quan niệm về CLCS có nhiều điểm khác nhau và mỗi nước lại có những hệ thống chỉ tiêu riêng để phản ánh CLCS phù hợp với điều kiện của từng nước Bởi vậy những điều cơ bản nêu trên chỉ là nội dung chính để được nhiều người chấp nhận

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLCS

Để đo lường kết quả những thành tựu phát triển con người và đánh giá chất lượng cuộc sống con người được nâng lên hay giảm đi, Báo cáo phát triển con người năm 1990 và các Báo cáo tiếp theo của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã đưa ra một loạt các chỉ số Trong đó, chỉ số được coi là tổng hợp nhất được đưa ra từ năm 1990 (và được điều chỉnh lại năm 1999) là chỉ số phát triển con người - HDI (Human Development Index) dựa trên hệ thống chỉ tiêu thống kê của hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngoài ra cũng có một số chỉ tiêu khác được bổ sung để làm rõ hơn các khía cạnh đời sống con người trên toàn thế giới

1.1.2.1 Chỉ số phát triển con người (HDI)

Chỉ số phát triển con người (HDI) đã được chương trình phát triển con người của Liên Hiệp Quốc triển khai tính toán từ lần đầu tiên vào năm 1990

do một nhóm chuyên gia kinh tế về phát triển nghiên cứu đề xuất dưới sự chỉ đạo của ông Mahbub ul Haq - người đặt nền móng cho HDI - nguyên là Bộ trưởng Bộ kế hoạch và tài chính của Pakixtan, sau đó làm cố vấn đặc biệt cho ban quản trị của UNDP Ông đã thể hiện lòng mong mỏi của mình về chỉ số

HDI: “Chúng ta cần có một thước đo cùng mức độ thô sơ như GNP - chỉ có

một con số - nhưng là một thước đo không che giấu các khía cạnh của đời sống con người” Ông hy vọng HDI là một thước đo cần thiết giúp cho các

nhà quản lý và nhân dân cùng quan tâm đến một số khía cạnh cơ bản trong số phận của họ và của cộng đồng mà họ là thành viên

HDI là một chỉ số tổng hợp về phát triển con người trên các phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập; 3 chỉ tiêu thành phần phản ánh ở khía cạnh sau:

- Một cuộc sống dài lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc mới sinh (năm) (I tuổi thọ)

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Kiến thức giáo dục đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ từ 15 tuổi trở lên (%) với trọng số 2/3 và tỉ lệ nhập học tổng hợp các cấp giáo dục tiểu học, trung học và đại học của cư dân tuổi từ 6 - 24 so với dân số trong độ tuổi (%) với trọng số 1/3 => (I giáo dục)

- Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người, được quy đổi theo sức mua tương đương (PPP - USD) tính bằng đô la Mỹ (I thu nhập)

Hình 1.2: Mô hình HDI và các chỉ số thành phần

Nguồn:[3]

Tổng hợp 3 chỉ tiêu trên tạo thành chỉ số phát triển con người:

HDI = 1/3 (I tuổi thọ + I giáo dục + I thu nhập )

HDI gắn liền với lý thuyết phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, có thể nói đây là một hệ tiêu chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển bền

HDI

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

vững trong giai đoạn hiện nay Để tính được chỉ số HDI, cần phải tính từng chỉ số cho 3 phương diện thành phần Quy tắc chung để tính các chỉ số này là

sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa (còn gọi là các giới hạn đích hay các giá trị biên) cho từng chỉ số và áp dụng theo công thức sau:

Giá trị thực - Giá trị tối thiểu Chỉ số thành phần = –––––––––––––––––––––––––––––

Giá trị tối đa - Giá trị tối thiểu

Chỉ số HDI tính được là giá trị trung bình của các chỉ số thành phần

Các giá trị biên để tính chỉ số HDI

Văn phòng Báo cáo phát triển con người của UNDP đã qui định các giá trị biên của các thành phần về tuổi thọ, tri thức và thu nhập để tính được HDI như sau:

Chỉ tiêu thành phần Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu

Một số đặc điểm của HDI:

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Vì đây là thước đo tổng hợp cho sự phát triển nên HDI được sử dụng để làm công cụ quản lý và đề ra các chính sách Trên cơ sở tính toán HDI và các chỉ số thành phần, người ta có thể dễ dàng phát hiện những khía cạnh non yếu

để từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao đời sống cho người dân Với HDI việc đánh giá thành tựu phát triển trở nên toàn diện hơn và phản ánh chân thực hơn tính mục tiêu của nó Thông qua HDI các quốc gia còn lựa chọn và xác định chính sách phát triển Ví dụ ở nước ta, GDP thấp, HDI cao vậy bên cạnh các chính sách phát triển xã hội phải ưu tiên tăng trưởng; còn các nước GDP cao, HDI thấp thì phải đẩy mạnh chính sách xã hội

Trong Báo cáo phát triển con người năm 2006 với chủ đề “Không chỉ

là sự khan hiếm quyền lực, nghèo đói và cuộc khủng hoảng nước sạch toàn cầu” đã công bố:

- Tuổi thọ trung bình từ lúc sinh của người dân Việt Nam là 70,8 tuổi, xếp vị trí thứ 83/177 nước;

- Tỷ lệ người lớn biết chữ là 90,3%, đứng vị trí thứ 56/128 nước được xếp hạng;

1.1.2.2 Chỉ số về thu nhập

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP - Gross Dometic Product): Là tổng

sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra, ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm

GDP thường được sử dụng để phân tích cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, trình độ phát triển và mức sống của con người

- Tổng thu nhập quốc gia (GNI - Gross National Income): Là tổng

sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của một quốc gia, ở một thời điểm nhất định thường là một năm

GNI = GDP + nguồn thu nhập từ nước ngoài - nguồn thu nhập phải

chuyển cho nước ngoài

(thu nhập từ nước ngoài do có vốn đầu tư ra nước ngoài hoặc nguồn thu do người lao động từ nước ngoài gửi về; thu nhập phải chuyển cho nước ngoài

do vốn đầu tư của họ vào trong nước)

GNI là thước đo tổng hợp lớn nhất của thu nhập quốc dân, nó chỉ rõ chủ sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải đã làm ra

- GDP và GNI bình quân đầu người (GDP/người, GNI/người):

Để so sánh mức sống của dân cư ở các nước khác nhau, người ta thường dùng các chỉ số GDP/người và GNI/người Hai chỉ số này được tính bằng GDP (hoặc GNI) chia cho tổng số dân ở một thời điểm nhất định Chỉ số thu nhập theo đầu người phản ánh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia

và được coi là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cuộc sống

Trên thế giới, GDP và GDP/người của mỗi nước (tiền nội tệ) được quy đổi sang USD quốc tế theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) Tỷ giá PPP cho phép so sánh chuẩn về mức giá thực tế giữa các nước

* Phương pháp sức mua tương đương (PPP-Purchasing power parity):

do nhà thống kê học người Mỹ R.C Geary đề xuất PPP là giá của một mặt

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hàng trong nước tính bằng tiền nội tệ so với giá của mặt hàng tương tự ở nước ngoài biểu thị bằng ngoại tệ (thường tính bằng USD) PPP phản ánh thu nhập được điều chỉnh theo mặt bằng giá quốc tế và dùng để so sánh mức sống dân

cư bình quân giữa các quốc gia và là cơ sở xác định mức đóng góp của các nước thành viên trong các tổ chức quốc tế

Theo Ngân hàng thế giới (WB - World Bank), các nước được phân chia thu nhập thành những nhóm như sau:

- Nhóm nước có thu nhập cao: là những nước có chỉ tiêu GDP/người (quy đổi theo PPP) đạt trên 8.955 USD

- Nhóm nước có thu nhập trung bình: là những nước có chỉ tiêu GDP/người (theo PPP) từ 725 USD - 8955 USD

- Nhóm nước có thu nhập thấp: là những nước có chỉ tiêu GDP/người (theo PPP) từ 725 USD trở xuống

Ở Việt Nam, chỉ tiêu thu nhập được coi là quan trọng trong việc đánh giá tình trạng đói nghèo và hoạch định chính sách xoá đói giảm nghèo của nhà nước Thu nhập thường được tính bằng tiền Tuy nhiên, trong điều kiện giá cả không ổn định và có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, địa phương thì người ta cũng có thể dùng hình thức hiện vật phổ biến là quy ra gạo Đây cũng là sự tính toán truyền thống của nông dân nước ta Hơn nữa, đối với người nghèo nói chung và người nông dân nói riêng, chỉ tiêu sản lượng gạo bình quân có ý nghĩa thiết yếu bởi nhu cầu đầu tiên của người nghèo là có đủ gạo ăn

1.1.2.3 Chỉ số về sức khoẻ (tuổi thọ trung bình)

- Sức khoẻ: là không có bệnh tật, không yếu đuối Đó là một trạng thái của con người thoải mái về thể chất, trí tuệ và xã hội (nghĩa là thể chất tốt, trí tuệ phát triển, xã hội lành mạnh)

Sức khoẻ là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con người, là điều kiện quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, là tương lai của mỗi dân tộc

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Tuổi thọ trung bình (hay còn gọi là triển vọng sống - Life expectancy):

là số năm trung bình mà một người mới sinh có khả năng sống được trong suốt cuộc đời

Triển vọng sống trung bình có liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào mức chết của dân cư Nếu mức chết, đặc biệt là mức chết của trẻ em càng cao thì triển vọng sống trung bình càng thấp và ngược lại Vì vậy, triển vọng sống trung bình là chỉ tiêu quan trọng của tái sản xuất dân số - một trong những chỉ tiêu cơ bản đánh giá mức độ tử vong của dân cư

Căn cứ vào tuổi thọ trung bình ta có thể đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhập, điều kiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mỗi nước, mỗi vùng và mỗi địa phương Đặc biệt chỉ số tuổi thọ trung bình có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ tử vong, nhất là tỷ lệ tử vong ở trẻ em Thông thường những nước có tuổi thọ trung bình của người dân cao thì tỷ lệ tử vong ở trẻ

em thấp và ngược lại, nước có tỷ lệ tử vong trẻ em cao thì tuổi thọ trung bình thấp hơn

Tuổi thọ trung bình thay đổi rất rõ nét trong từng giai đoạn của lịch sử

xã hội loài người Vào thời nguyên thuỷ, tuổi thọ bình quân của mỗi người chỉ vào khoảng 18 - 20 năm; đến thời kỳ phong kiến là 21 năm; thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản là 34 năm Đến năm 1990 là 61 năm và năm 2005 là 67 năm Hiện nay, tuổi thọ trung bình trên toàn thế giới là 69 tuổi

Tuổi thọ trung bình luôn có sự phân hoá sâu sắc giữa các nhóm nước Những nước có nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân trên đầu người cao, mức sống tốt thường có tuổi thọ trung bình cao hơn các nước đang phát triển

và kém phát triển Ví dụ: Nhật Bản có tuổi thọ trung bình là 81 tuổi, Xingapo

là 79 tuổi, Hàn Quốc là 76 tuổi… trong khi đó một số nước ở Đông và Tây Phi tuổi thọ trung bình rất thấp chỉ khoảng 47 tuổi, thấp hơn so với mức trung bình của toàn thế giới

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Việt Nam là một trường hợp ngoại lệ, tuy vẫn thuộc nhóm các nước có thu nhập thấp dưới 1000 USD/người nhưng lại có tuổi thọ trung bình ngang bằng với các nước có thu nhập đầu người lớn hơn 6000 USD (năm 2008 tuổi thọ trung bình của người dân nước ta là 72 tuổi) Đây là kết quả mà Đảng và Nhà nước ta trong suốt thời gian dài luôn quan tâm, chăm lo tới phúc lợi xã hội và sức khoẻ đời sống nhân dân, coi sự phát triển của con người là mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược phát triển đất nước

1.1.2.4 Chỉ số về giáo dục

Chỉ số về giáo dục là một trong 3 thành phần cơ bản phản ánh sự phát triển của con người Nó bao gồm tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học tổng hợp các cấp hoặc số năm đi học ở trường Thông qua các chỉ số này chúng ta có thể đánh giá được trình độ văn hoá, mức độ phát triển của xã hội cũng như CLCS của nhân dân mỗi nước trên thế giới

- Tỷ lệ người lớn biết chữ (theo UNDP): là tỷ lệ phần trăm (%) số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết (và hiểu được những câu ngắn, đơn giản trong cuộc sống hàng ngày của họ) so với tổng số dân

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cao, tỷ lệ biết chữ thường rất cao xấp xỉ 100%, tỷ lệ nhập học tổng hợp trên 80% và có số năm đi học trung bình là 10,6 năm (ở khu vực Bắc Mỹ là 12,4 năm, cộng đồng Châu Âu là 11,1 năm) Ngoài ra, ở hầu hết các nước số năm

đi học của nữ đều ít hơn nam giới, nhưng với các nước kém phát triển và đang phát triển thì sự chênh lệch này còn lớn hơn

Bên cạnh các chỉ số nêu trên, người ta còn quan tâm đến tỷ lệ mù chữ - tức là tỷ lệ% số người không biết chữ trong tổng số dân ở một độ tuổi nhất định

Tỷ lệ mù chữ không chỉ do đói nghèo mà còn do chính sách xã hội của từng nước Chính vì vậy, có nhiều nước thu nhập chưa cao như Cu Ba, Việt Nam

tỷ lệ người biết chữ lại cao hơn một số nước có thu nhập cao (khoảng 93% số người trên 15 tuổi biết chữ, chỉ còn khoảng 7% số người mù chữ) Theo Báo cáo thế giới toàn cảnh năm 2003 của RAMSES thì chỉ số phổ cập giáo dục của Việt Nam là 97%, xếp hàng các quốc gia có tỷ lệ học vấn khá cao, trong khi mức thu nhập GDP/người của chúng ta vẫn ở mức thấp

Giáo dục là một trong những chỉ tiêu cơ bản phản ánh CLCS, trình độ học vấn, mức độ phát triển xã hội cũng như trình độ văn minh của mỗi dân tộc Bởi trong thời đại hiện nay, muốn tiếp cận được với những thành tựu mới của khoa học công nghệ và đáp ứng được những nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường thì điều đầu tiên phải tính đến là trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghề nghiệp của người lao động trên cơ sở một nền giáo dục toàn dân, toàn diện Do đó, nếu như nền kinh tế còn thấp kém cộng với sức ép gia tăng dân số quá nhanh sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tình hình giáo dục cả về chất lượng lẫn số lượng

1.1.2.5 Một số chỉ tiêu khác

Đến nay, HDI vẫn là một chỉ tiêu tốt nhất được dùng để đánh giá CLCS

và sự phát triển con người của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ Tuy nhiên đời sống xã hội con người vô cùng phức tạp, đan xen nhiều chiều, nhiều khía

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

cạnh khác nhau do đó HDI cũng cần được sử dụng với nhiều thước đo bổ sung để đánh giá CLCS một cách đầy đủ và chính xác hơn Trong các báo cáo phát triển con người hàng năm còn có thêm các chỉ số như GDI, GEM, HPI…

- Chỉ số phát triển giới (GDI - Gender Development Index) và số đo quyền lực theo giới (GEM - Gender Empowerment Measure):

Liên quan đến khía cạnh công bằng trong phát triển, sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới là điều rất đáng được quan tâm Tại hầu hết các quốc gia, phụ nữ thường bị thiệt thòi hơn so với nam giới trong việc tiếp cận các cơ hội và nâng cao năng lực phát triển Họ thường có ít quyền lực hơn, được hưởng thụ ít hơn các lợi ích phát triển so với những cống hiến của họ Nhiều hoạt động của phụ nữ có vai trò to lớn trong phát triển con người, trong quá trình tái sản xuất xã hội như việc nuôi dạy con cái, chăm sóc người già, người

ốm đau, làm các công việc nội trợ trong gia đình… Tuy nhiên, những công việc này thường không được đánh giá, đo lường đúng đắn và không được trả công Vì vậy, thúc đẩy bình đẳng đòi hỏi trước hết phải quan tâm đến sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa phụ nữ và nam giới Để đánh giá thành tựu đạt được trong vấn đề này, người ta sử dụng chỉ số phát triển giới (GDI) và số đo quyền lực theo giới (GEM)

GDI cũng phản ánh các yếu tố cơ bản của phát triển con người như sức khoẻ, giáo dục, thu nhập nhưng gắn chúng với sự bất bình đẳng giữa phụ nữ

và nam giới Nói khác đi, GDI chính là HDI bị chiết khấu theo mức độ bất bình đẳng về giới tính Mức độ bất bình đẳng càng cao thì mức độ chênh lệch giữa HDI và GDI càng lớn Trong khi GDI phản ánh việc mở rộng năng lực giữa phụ nữ và nam giới thì GEM lại chú ý mức độ tham gia theo giới đối với các quá trình của đời sống kinh tế, chính trị GEM cho thấy tiến độ đạt được trong việc nâng cao địa vị của người phụ nữ trong tiến trình phát triển

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Chỉ số nghèo khổ tổng hợp HPI (Human Poverty Index): đo lường

sự thiếu hụt trong 3 mặt cốt yếu của cuộc sống như đã phản ánh trong HDI gồm: sự sống lâu, trình độ giáo dục, mức sống khá giả Cụ thể đó là:

+ Xác suất người dân khi sinh ra không sống được đến 40 tuổi

+ Tỷ lệ người lớn không biết chữ

+ Tỷ lệ dân số không được tiếp cận nguồn nước đảm bảo vệ sinh và tỷ

lệ trẻ em (0 - 5 tuổi) thiếu cân, suy dinh dưỡng so với tuổi

Tính HPI đơn giản hơn tính HDI vì các chỉ số được sử dụng để xác định tình trạng đói nghèo đã được chuẩn hoá từ 0 đến 100% nên không phải thao tác phức tạp

Ngoài ra, khi đánh giá CLCS con người ở các cấp đơn vị thấp hơn như huyện thị, xã phường… còn cần đến các chỉ tiêu mở rộng một cách cụ thể và chi tiết để làm rõ hơn sự phân hoá giữa các địa phương như:

- Số Calo bình quân đầu người (calo/người): Là số calo (năng lượng)

tiêu dùng hàng ngày của một người để duy trì sự sống và làm việc một cách bình thường Đây được coi là một chỉ số rất tốt phản ảnh mức độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu cho con người Theo tổ chức lương thực thế giới (FAO), mức calo tối thiểu cho một người trong một ngày là 2.100 calo

- Nhà ở: cũng là một nhu cầu quan trọng đứng sau nhu cầu về lương

thực thực phẩm của con người Nơi ở của con người có xu hướng biến đổi theo trình độ văn minh của loài người Thuở sơ khai con người sống không cố định (du cư) rồi dần tiến tới sống ở một nơi tương đối cố định (định cư)

Nơi ở của con người được quyết định bởi nhiều yếu tố: thức ăn, nguồn sống, mật độ dân, khí hậu… Ngày nay nhờ khoa học hiện đại con người có thể khai phá ở khắp mọi nơi trên hành tinh và bước đầu đã có những hoạt động trong không gian vũ trụ ngoài trái đất Như vậy, đỉnh cao của nhu cầu nhà ở phụ thuộc vào tư tưởng, xu hướng tôn giáo và trình độ văn minh, quan niệm… của con người ở từng thời đại Nói chung, con người từ xưa đến nay

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

đều có ý thức chung là phải chăm lo cái ăn hàng đầu, đến nơi ở rồi mới quan tâm đến những yếu tố khác Do dân số phát triển quá nhanh nên tình trạng thiếu nhà ở ngày càng cao nhất là ở các vùng đô thị Bởi vậy, vấn đề nhà ở cũng là một trong những bài toán khó hiện nay đối với người dân, nhất là những người dân nghèo

- Dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ

con người và có liên quan đến CLCS Việc cải thiện điều kiện y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến động lực dân số, nó làm giảm tỷ lệ tử vong (đặc biệt là tỷ

lệ tử vong ở trẻ sơ sinh) và khi tỷ lệ tử giảm sẽ có khả năng khuyến khích người dân hạn chế sinh đẻ Những chi phí dành cho việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ còn làm tăng nguồn lực về mặt số lượng trong tương lai bằng việc kéo dài độ tuổi lao động

Giữa sức khoẻ và sự phát triển kinh tế có một mối quan hệ hai chiều Bản thân sự phát triển kinh tế góp phần cải thiện sức khoẻ, thực trạng sức khoẻ của mỗi người lại có liên quan tới mức thu nhập của cá nhân và của toàn

xã hội Mối tương quan này còn thể hiện qua các chương trình bảo vệ sức khoẻ cho dân cư nhằm thực hiện mục đích phát triển KT - XH, nâng cao CLCS cho nhân dân mỗi nước Môi trường sống được đảm bảo sẽ làm giảm bệnh tật, tăng tuổi thọ và thúc đẩy sự phát triển

Ở các nước đang phát triển, có thu nhập thấp, tình hình vệ sinh môi trường chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, nạn ô nhiễm gia tăng làm giảm chất lượng sống của con người và làm cho tuổi thọ trung bình giảm Bên cạnh

đó các dịch vụ y tế thường quá ít và phân bố không đồng đều Những khoản chi phí cho dịch vụ y tế thấp hơn nhiều so với những nước phát triển; các bác

sĩ giỏi và mạng lưới bệnh viện lại chủ yếu ở các thành phố lớn, còn các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa rất ít thậm chí là không có

Trên đây là một số chỉ tiêu bổ sung cần thiết cho việc đánh giá CLCS con người của các quốc gia, vùng miền trên thế giới Tuy nhiên, trong khuôn

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khổ giới hạn của đề tài với phạm vi nghiên cứu là vùng Đông Bắc - một tiểu vùng của Trung du miền núi phía Bắc với đầy đủ tính chất đa dạng và phức tạp cả về tự nhiên lẫn KT - XH việc thu thập số liệu liên quan gặp rất nhiều khó khăn và đôi khi không nhất quán về độ chính xác; mặt khác do trình độ, kinh nghiệm và hạn chế về thời gian nên việc nghiên cứu CLCS con người của vùng chủ yếu tập trung vào việc đánh giá thông qua chỉ số HDI và các chỉ

số thành phần trong giai đoạn 10 năm từ 1999 đến 2009

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Tổng quan về CLCS của dân cƣ trên thế giới

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, CLCS của người dân cư trên thế giới không ngừng được nâng lên Để đánh giá thực trạng mức sống của người dân trên thế giới và có cái nhìn toàn cảnh về sự phát triển con người, từ năm 1990 cho đến nay hàng năm UNDP thường xuyên cho ra đời các Báo cáo phát triển con người (HDR

- Human Development Report) Do nhu cầu sử dụng càng cao, báo cáo phát triển con người từ những hoạt động mang tính toàn cầu sau này đã phát triển sâu rộng xuống các cấp khu vực, cấp quốc gia và thậm chí cấp lãnh thổ hẹp của một quốc gia

Nhìn chung, những số liệu tổng hợp phản ánh CLCS con người thông qua chỉ số HDI từ thập kỉ 90 của thế kỷ XX đến nay đã có những tiến bộ vượt bậc Các chỉ số về tuổi thọ trung bình, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học các cấp và GDP bình quân đầu người đều có sự tăng lên Điều này chứng tỏ rằng CLCS con người trên toàn thế giới ngày càng được quan tâm, coi trọng

và phát triển

Cho tới nay, hàng năm trên thế giới có khoảng 250 báo cáo phát triển con người toàn cầu (HDR), báo cáo phát triển con người khu vực (RHDR - Regional Human Development Report) và các báo cáo phát triển con người quốc gia (NHDR - National Human Development Report)

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 1.1 Tóm tắt các báo cáo phát triển con người từ 1990 - 2010

1990 Đây là ấn phẩm đầu tiên, do đó ngoài mục tiêu tính toán và phân tích thực tiễn

phát triển con người trên thế giới và ở các nước còn có mục đích thăm dò dư luận và sự phản ứng của xã hội

1991 Tập trung vào vấn đề đầu tư kinh phí cho sự nghiệp phát triển con người

1992 Nhấn mạnh tới những lĩnh vực có tính toàn cầu quyết định phần nhiều tới sự

phát triển con người

1993 Quan tâm và nhấn mạnh chủ yếu tới sự tham gia của con người vào quá trình

phát triển

1994 Đề cập đến vấn đề an ninh con người

1995 Đề cập đến vấn đề giới trong phát triển con người

1996 Đề cập sâu sắc tới vấn đề tăng trưởng kinh tế, trong báo cáo người ta khẳng định

rằng tăng trưởng kinh tế là chìa khoá của sự phát triển và duy trì sự phát triển

1997 Nhằm vào việc xoá đói giảm nghèo của người dân trên thế giới

1998 Đề cập tới vấn đề phát triển con người gắn với tiêu dùng

1999 Đề cập tới toàn cầu hoá và diện mạo của con người

2000 Quan tâm tới sự phát triển và quyền con người Coi quyền con người là một

phần đích ngắm của quá trình phát triển

2001 Phát triển con người và công nghệ mới là chủ đề chính của báo cáo Công nghệ

mới phải gắn lợi ích toàn cầu với lợi ích mỗi quốc gia Công nghệ mới phải gắn với phát triển con người

2002 Phát triển con người và việc làm sâu sắc thêm quá trình dân chủ hoá trong một

thế giới phân rẽ

2003 Đề cập tới bất bình đẳng trong xã hội, lời kêu gọi sự công bằng và sự chia sẻ

của cộng đồng

2004 Đề cập tới vấn đề tự do văn hoá và quyền tự do văn hoá của các nước trên thế

giới ngày nay Tự do văn hoá cần được coi là một quyền cơ bản của con người

2005 Báo cáo nêu một chương trình hành động - Cam kết phát triển thiên niên kỉ -

Thực hiện các mục tiêu thiên niên kỉ

2006 Tiêu đề chính “Không chỉ là sự khan hiếm: Quyền lực, đói nghèo và cuộc khủng

hoảng nước sạch toàn cầu”

2007 Chủ đề chính “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu”

2008 Tiếp tục bàn về vấn đề chống lại những biến đổi khí hậu và các giải pháp khắc

phục Những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cuộc sống của con người

2009 Báo cáo nhìn lại quá trình di cư của con người: ai đi đâu, khi nào, tại sao rồi

phân tích các tác động của việc di cư đối với người di cư, gia đình của họ, nơi

họ ra đi và nơi họ đến

2010 Với tiêu đề “Của cải thực sự của quốc gia: con đường đi đến phát triển con

người”, báo cáo đã có cái nhìn tổng quát nhất về xu hướng phát triển con người trong suốt 40 năm qua (kể từ 1970)

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người hàng năm của UNDP)

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tuỳ theo những vấn đề bức xúc của nhân loại hay khu vực, các quốc gia mà các báo cáo hàng năm đều gắn với những chủ đề có tính thiết thực, với những định hướng phát triển ưu tiên rõ rệt, thể hiện trong các công cụ hữu hiệu như chỉ số HDI, GDI, HPI… nhằm cải thiện và từng bước nâng cao hơn CLCS con người và môi trường sống

* Theo thời gian, CLCS của các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng

Năm 2009, trong số 128 nước cung cấp số liệu để xây dựng chỉ số HDI nhằm đánh giá CLCS của con người của các quốc gia trên thế giới đã được xếp thành 4 bậc từ cao xuống thấp như sau:

- Các nước có chỉ số HDI rất cao (từ 0,900 => 1,000): trong đó có 38 nước được xếp hạng với giá trị từ 0,900 đến 0,971

- Các nước có chỉ số HDI cao (từ 0,800 => 0,900): có 45 nước được xếp hạng HDI cao với giá trị từ 0,803 đến 0,895

- Các nước có chỉ số HDI trung bình (từ 0,500 => 0,800): có 75 nước được xếp vào hạng trung bình với các giá trị từ 0,511 đến 0,798 trong đó có Việt Nam

- Các nước có chỉ số HDI thấp (từ 0,000 => 0,500): có 24 nước có chỉ

số HDI ở mức thấp từ 0,340 đến 0,500 Rất nhiều nước đã bị tụt hạng do đại dịch HIV/AIDS hoặc do nền kinh tế bị suy thoái, đình trệ và chủ yếu là các nước ở Nam Xahara

Thông qua chỉ số HDI cho thấy quốc gia nào có thu nhập cao, có chính sách giáo dục và chăm sóc sức khoẻ dân cư thích đáng thì vị trí thứ hạng HDI

sẽ cao Một số nước có thu nhập cao, nhưng không quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khoẻ dân cư thì thứ hạng HDI sẽ giảm đi Một số quốc gia khác, trong đó có Việt Nam, tuy mức thu nhập thấp nhưng nhờ có chính sách quan tâm đúng đắn của Đảng và Nhà nước đến y tế, giáo dục nên chỉ số HDI dần tăng lên

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 1.2 Chỉ số HDI của một số quốc gia trên thế giới

giai đoạn 1990 - 2009 Xếp hạng

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người hàng năm của UNDP)

* CLCS dân cư có sự khác biệt giữa các châu lục và các khu vực trên thế giới, đồng thời có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm nước phát triển, đang phát triển và các nước nghèo

CLCS của dân cư các quốc gia trên thế giới không giống nhau, những nước có nền kinh tế phát triển thì có mức sống tốt và chỉ số HDI cũng rất cao thường đạt từ 0,901 trở lên; những nước đang phát triển chỉ số HDI đạt khoảng 0,690 còn những nước nghèo HDI chỉ đạt khoảng 0,444

Sự chênh lệch này chủ yếu là do chỉ số GDP bình quân đầu người trực tiếp ảnh hưởng quyết định Để nâng cao mức sống và chỉ số HDI của các

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nước nghèo cần phải có những chính sách ưu tiên phát triển kinh tế và có sự

hỗ trợ của cộng đồng các nước có nền kinh tế phát triển mạnh Chỉ khi làm được điều đó thì các nước nghèo trên thế giới mới tiến bộ và rút ngắn bớt khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo như hiện nay

Bảng 1.3 Chỉ số HDI theo vùng miền và các nhóm nước năm 2008

STT Vùng miền hoặc các nhóm nước HDI Mức cao

3 Trung - Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập 0,814

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người UNDP 2008)

Dẫn đầu về CLCS trên thế giới hiện nay là các quốc gia ở Châu Âu, Châu Úc, Châu Á, điển hình là Ai-xơ-len, Na Uy, Ca-na-da… còn những quốc gia có mức sống thấp vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực Châu Phi như Nigiêria, Ma-li, CH Trung Phi, Êtiôpia… CLCS của người dân các nước phía

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Nam Xahara diễn ra khá trì trệ, người ta đã đưa ra kết quả so sánh người dân sống ở Na Uy giàu gấp 40 lần và sống lâu gấp đôi so với người dân ở Nigiêria Khu vực này được coi là nghèo nhất thế giới với 2/3 trong tổng số 40 triệu người bị nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu, khiến tuổi thọ trung bình người dân nơi đây rơi xuống mức thấp nhất thế giới Theo thống kê thì tuổi thọ trung bình của người dân Xoadilen chỉ có 31,3 tuổi còn Nam Phi là 47 tuổi, tính trung bình cả Châu Phi là 55 tuổi trong khi tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới là ở Nhật Bản đạt 82,2 tuổi Như vậy có thể thấy rằng sự chênh lệch trong mức sống dân cư giữa các khu vực, các nhóm nước trên thế giới chủ yếu là do chỉ số kinh tế quyết định ảnh hưởng Những nước có nền kinh tế phát triển cao, thu nhập tốt sẽ có điều kiện học tập và chăm sóc sức khoẻ tốt hơn các nước nghèo Bên cạnh đó còn do các yếu tố về tự nhiên và các nhân tố xã hội khác chi phối

1.2.2 CLCS của dân cƣ Việt Nam

Nhờ các chính sách của Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm tới sự phát triển của con người Việt Nam, trong những năm qua các chỉ số phát triển con người của chúng ta đã có sự tiến bộ rõ rệt, CLCS của người dân không ngừng được nâng cao, thu nhập tăng lên và người dân có nhiều cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục một cách toàn diện

* CLCS của dân cư không ngừng tăng lên qua các năm

Điều này được phản ánh rõ nét nhất thông qua chỉ số HDI và thứ bậc xếp hạng trên toàn thế giới Trong khoảng thời gian 10 năm (từ 1994-2004), chỉ số HDI đã tăng lên từ 0,539 => 0,691; đặc biệt năm 2007 HDI đạt 0,733 xếp hạng 105/177quốc gia

Trong số 174 nước, vị trí của Việt Nam cũng thay đổi từ 120 (năm

1995, hơn 54 nước) lên vị trí 108 (năm 2000, hơn 66 nước) và xếp thứ 112 (năm 2004, hơn 65 nước) Gần đây nhất, năm 2009 chúng ta xếp hạng 116/182 quốc gia Tuy đây chưa phải là những thứ hạng cao, nhưng điều đáng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nói là chỉ số HDI của Việt Nam cũng đã liên tục tăng lên kể từ năm 1990 trở lại đây

Bảng 1.4 Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009

Năm

Giá trị chỉ số tuổi thọ

Giá trị chỉ số giáo dục

Giá trị chỉ số GDP

Chỉ số tổng hợp HDI

Thứ hạng HDI/thế giới

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người hàng năm của UNDP.)

Trên thực tế, nước ta có quy mô dân số cao nhưng các chỉ số về phát triển con người vẫn còn rất khiêm tốn Điểm mạnh của nước ta là tỷ lệ dân biết chữ và tuổi thọ trung bình khá cao nhưng thứ hạng HDI so với các nước

Ngày đăng: 17/09/2014, 18:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Vân Anh (chủ nhiệm đề tài) (2010), Nghiên cứu và đánh giá chỉ số phát triển con người - HDI ở tỉnh Thái Nguyên, Báo cáo tổng kết đề tài KH & CN cấp Bộ, Trường ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và đánh giá chỉ số phát triển con người - HDI ở tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Vũ Vân Anh (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2010
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2009), Báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở 1 - 4 - 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng điều tra dân số và nhà ở 1 - 4 - 2009
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Năm: 2009
3. PGS.TS Đặng Quốc Bảo (chủ biên) (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người - HDI của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số phát triển con người - HDI của Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Đặng Quốc Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2001, 2006, 2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Hà Thuý Lan (2005), Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư huyện Phổ Yên, Luận văn tốt nghiệp Địa lý học, ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích chất lượng cuộc sống dân cư huyện Phổ Yên
Tác giả: Hà Thuý Lan
Năm: 2005
6. PGS.TS Phạm Thành Nghị (chủ biên) (2010), Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người vùng Tây Bắc nước ta
Tác giả: PGS.TS Phạm Thành Nghị (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
7. TS. Dương Quỳnh Phương (2010), Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững , Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên vì mục tiêu phát triển bền vững
Tác giả: TS. Dương Quỳnh Phương
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2010
9. PGS.TS Hồ Sĩ Quý (chủ biên) (2007), Con người và phát triển con người ở Hoà Bình - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và phát triển con người ở Hoà Bình - Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS Hồ Sĩ Quý (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
10. R.C Sharma (1990), Dân số - Tài nguyên - Môi trường và Chất lượng cuộc sống, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số - Tài nguyên - Môi trường và Chất lượng cuộc sống
Tác giả: R.C Sharma
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
11. GS.TS Lê Thông (chủ biên) (2004), Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam
Tác giả: GS.TS Lê Thông (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
12. GS.TS Lê Thông (chủ biên) (2005), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập 2
Tác giả: GS.TS Lê Thông (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2005
13. PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2004), Địa lý kinh tế - xã hội đại cương, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
14. PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2009), Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các vùng kinh tế Việt Nam
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2009
15. Phạm Thu Thuỷ (2004), Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ Địa lý học, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Phạm Thu Thuỷ
Năm: 2004
16. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010), Báo cáo tổng điều tra dân số lao động, nhà ở và việc làm năm 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng điều tra dân số lao động, nhà ở và việc làm năm 2009
Tác giả: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
17. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2001), Niên giám thống kê 2000, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2000
Tác giả: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
18. Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010), Niên giám thống kê 2009, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2009
Tác giả: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
19. Trung tâm KHXN&NV Quốc gia (2001), Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001: “Đổi mới và sự nghiệp phát triển con người”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001: “Đổi mới và sự nghiệp phát triển con người”
Tác giả: Trung tâm KHXN&NV Quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. UB Dân số, gia đình và trẻ em (2007), Tổng quan các kết quả nghiên cứu về chất lượng dân số Việt Nam đến năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan các kết quả nghiên cứu về chất lượng dân số Việt Nam đến năm 2006
Tác giả: UB Dân số, gia đình và trẻ em
Năm: 2007
22. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Phát triển con người Việt Nam 1999 - 2004: “Những thay đổi và xu hướng chủ yếu”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.23. Một số trang Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người Việt Nam 1999 - 2004: “Những thay đổi và xu hướng chủ yếu”
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS (Trang 20)
Hình 1.2: Mô hình HDI và các chỉ số thành phần - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Hình 1.2 Mô hình HDI và các chỉ số thành phần (Trang 23)
Bảng 1.1. Tóm tắt các báo cáo phát triển con người từ 1990 - 2010 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.1. Tóm tắt các báo cáo phát triển con người từ 1990 - 2010 (Trang 35)
Bảng 1.2. Chỉ số HDI của một số quốc gia trên thế giới  giai đoạn 1990 - 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.2. Chỉ số HDI của một số quốc gia trên thế giới giai đoạn 1990 - 2009 (Trang 37)
Bảng 1.3. Chỉ số HDI theo vùng miền và các nhóm nước năm 2008 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.3. Chỉ số HDI theo vùng miền và các nhóm nước năm 2008 (Trang 38)
Bảng 1.4. Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.4. Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2009 (Trang 40)
Bảng 1.5. Chỉ số HDI của một số quốc gia, báo cáo năm 2007 - 2008 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.5. Chỉ số HDI của một số quốc gia, báo cáo năm 2007 - 2008 (Trang 42)
Bảng 1.6. HDI và thứ hạng HDI theo vùng năm 2004 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.6. HDI và thứ hạng HDI theo vùng năm 2004 (Trang 43)
Bảng 1.7. HDI của một số địa phương trên cả nước năm 2004 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 1.7. HDI của một số địa phương trên cả nước năm 2004 (Trang 44)
Bảng 2.1. Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính các tỉnh  vùng Đông Bắc năm 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 2.1. Diện tích, dân số, mật độ dân số và đơn vị hành chính các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2009 (Trang 49)
Hình 2.1. Biểu đồ cơ cấu sử dụng các nhóm đất vùng Đông Bắc  năm 2000 và 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Hình 2.1. Biểu đồ cơ cấu sử dụng các nhóm đất vùng Đông Bắc năm 2000 và 2009 (Trang 52)
Hình  văn  hoá  nghệ  thuật  (như  hát  sli,  hát  lượn,  hát  xoan  ghẹo,…  múa  xoè,  múa khèn, múa chuông…), gắn với các nhạc cụ đặc trưng (như khèn, kèn lá,  sáo dọc..) - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
nh văn hoá nghệ thuật (như hát sli, hát lượn, hát xoan ghẹo,… múa xoè, múa khèn, múa chuông…), gắn với các nhạc cụ đặc trưng (như khèn, kèn lá, sáo dọc..) (Trang 57)
Bảng 2.3. GDP và GDP/người vùng Đông Bắc giai đoạn 1995 - 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 2.3. GDP và GDP/người vùng Đông Bắc giai đoạn 1995 - 2009 (Trang 67)
Hình 2.2. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân theo ngành   của vùng Đông Bắc giai đoạn 2000 - 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Hình 2.2. Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân theo ngành của vùng Đông Bắc giai đoạn 2000 - 2009 (Trang 68)
Bảng 2.4. Chỉ số về thu nhập của các tỉnh vùng Đông Bắc  năm 1999 & 2009 - nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư vùng đông bắc việt nam
Bảng 2.4. Chỉ số về thu nhập của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 1999 & 2009 (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w