Chương 1: HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP........................................41.1. VỐN CỦA DOANH NGHIỆP............................................................................41.1.1. Khái niệm về vốn của doanh nghiệp ........................................................41.1.2. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp .........................................................71.1.3. Phân loại vốn.............................................................................................91.2. CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP.....................111.2.1. Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu..................................................121.2.2. Các hình thức huy động vốn nợ ...............................................................141.3. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP ............................................................................231.3.1. Nhóm yếu tố chủ quan .............................................................................231.3.1.1. Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp......................231.3.1.2. Năng lực hoạt động của doanh nghiệp ..............................................261.3.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ..........................................261.3.2. Nhóm yếu tố khách quan .........................................................................261.3.2.1. Chính sách kinh tế vĩ mô...................................................................261.3.2.2. Sự phát triển của thị trường tài chính................................................281.3.2.3. Sự tác động của kinh tế thế giới ........................................................30Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI TRONG THỜI GIAN QUA........................................................................................................322.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ VIỆT NHẬT.............322.1.1. Lịch sủ hình thành và phát triển2.1.2. Bộ máy tổ chức của Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi..342.1.3. Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty TNHH Cơ khí Việt Nhật ................................................................................................382.1.3.1. Đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Cơ khí
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1.1 Khái niệm về vốn của doanh nghiệp 4
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp 7
1.1.3 Phân loại vốn 9
1.2 CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 11
1.2.1 Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu 12
1.2.2 Các hình thức huy động vốn nợ 14
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 23
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan 23
1.3.1.1 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp 23
1.3.1.2 Năng lực hoạt động của doanh nghiệp 26
1.3.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 26
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan 26
1.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô 26
1.3.2.2 Sự phát triển của thị trường tài chính 28
1.3.2.3 Sự tác động của kinh tế thế giới 30
Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI TRONG THỜI GIAN QUA 32
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ VIỆT NHẬT 32
2.1.1 Lịch sủ hình thành và phát triển 2.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi 34 2.1.3 Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của Công ty TNHH Cơ khí Việt Nhật 38
Trang 22.1.3.1 Đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Cơ khí
Việt Nhật 38
2.1.3.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty 40
2.1.3.3 Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty TNHH Cơ khí Việt Nhật trong giai đoạn 2004 - 2007 43
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY TNHH CƠ KHÍ VIỆT NHẬT 47
2.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu 47
2.2.2 Huy động vốn nợ 49
2.3.2 Nguyên nhân của tình trạng huy động vốn ở Công ty TNHH Cơ khí Việt Nhật 54
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI 55
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI VÀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN 55
3.1.1 Đánh giá các điều kiện đối với hoạt động của công ty trong thời gian tới .55
3.1.1.1 Các thuận lợi 55
3.1.1.2 Các khó khăn 56
3.1.2 Chiến lược huy động vốn đầu tư của Công ty giai đoạn 2008 - 2012 58
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI 60
3.2.1 Các giải pháp huy động vốn chủ sở hữu 61
3.2.1.1 Giải pháp tăng vốn góp của các thành viên 62
3.2.1.2 Tăng vốn chủ sở hữu từ lợi nhuận của doanh nghiệp 63
3.2.2 Các giải pháp tăng nguồn vốn vay 64
3.2.2.1 Vay ngân hàng thương mại 64
3.2.2.2 Phát hành trái phiếu 68
3.2.2.3 Huy động vốn vay từ nội bộ công ty 69
Trang 33.2.2.4 Thuê tài chính 703.2.2.5 Vay từ các nguồn khác, theo các chương trình của chính phủ, các
quỹ chuyên biệt 723.2.3 Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả 73
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI 75
3.3.1 Các kiến nghị đối với Nhà nước 753.3.2 Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể cho thực hiện hình thức tín dụng
thuê mua 78
KẾT LUẬN 79
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Việc chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO là một bướcngoặt quan trọng đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam Sân chơimới mở ra trước mắt các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội đầy triển vọngnhưng đồng thời, đó cũng là những thử thách vô cùng to lớn bởi cơ hội của họ cũngđược chia đều cho các doanh nghiệp nước ngoài
Hội nhập kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn không ngừng đổi mới
để đáp ứng kịp thời những biến đổi đa dạng của nhu cầu thị trường, từ đó mà tồntại được trong môi trường cạnh tranh đầy gay gắt Một thực tế đáng buồn củanhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là sức cạnh tranh kém do công nghệ sảnxuất lạc hậu Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là nguồn vốn tự có của cácdoanh nghiệp hạn hẹp, trong khi nhiều công cụ và hình thức huy động vốn trongnền kinh tế thị trường để đổi mới thiết bị công nghệ chưa được các doanh nghiệp
sử dụng triệt để và hiệu quả Khả năng tự chủ về tài chính cao đồng nghĩa vớiviệc cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp cũng lớn hơn
Chính vì vậy, việc tăng cường huy động vốn ở các doanh nghiệp là một vấn đềcần được quan tâm hàng đầu Để làm được điều này, phải xem xét tới rất nhiều yếu
tố Mỗi một yếu tố có vai trò và mức độ ảnh hưởng khác nhau tới doanh nghiệp,lĩnh vực hoạt động, mục tiêu khi thành lập,
Trong số đó, vốn được xem là một điều kiện cần và đủ để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Khả năng tự chủ về tài
chính cao đồng nghĩa với việc cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp cũng lớn hơn.Qua quá trình học tập ở trường, tìm hiểu thực tế ở công ty Cổ phần thương mại
và dịch vụ Kim Lợi em đã chọn đề tài nghiên cứu :”giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi” để làm báo
cáo tốt nghiệp
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tiếp cận kế thừa có chọn lọc những thôngtin luận điểm, ý kiến của các chuyên gia trên sách báo tạp chí kết hợp với tình hìnhthực tế ở công ty, chuyên đề đi vào phân tích điểm mạnh điểm, điểm yếu của công
ty cũng như cơ hội, thách thức của môi trường kinh doanh để từ đó tìm ra nhữngđịnh hướng và giải pháp cụ thể Do phạm vi đề tài nghiên cứu rộng, trong khuônkhổ báo cáo tốt nghiệp chỉ tập trung vào những khâu những điểm quan trọng trongquá trình hoạt động của công ty
Trang 5Kết cấu của báo cáo gồm 3 phần cơ bản
Chương 1: Huy động vốn của Doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của Công ty Cổ phần thương mại và dịch vị Kim Lợi
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Công ty Cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ:Đặng Anh Tuấn
và các cơ chú, anh chị trong công ty đã nhiệt tình giúp đỡ em thực hiện đề tài này
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2011
SV THỰC TẬP NGUYỄN NGỌC LINH TCA-K39-ĐHKTQD
Trang 6Chương 1
HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm về vốn của doanh nghiệp
Nói đến kinh doanh là phải nói đến vốn.Vốn là một thuật ngữ rất phổ thông
mà mọi người đều nghe nói tới.Tuy nhiên để hiểu được một cách tương dối chínhxác về vốn thì cũng không phải điều đơn giản Từ trước tới nay có rất nhiều quanniệm khác nhau về vốn xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau Một cáchchung nhất có thể hiểu vốn là tất cả các nguồn lực các yếu tố có thể phục vụ cho quátrình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Theo nghĩa hẹp thì "Vốn của doanh nghiệp là các quĩ tiền, vốn mà các doanh nghiệp dựng vào quá trình sản xuất kinh doanh của mình Vốn thực chất là một
số tiền mà các doanh nghiệp ứng ra trước một chu kỳ sản xuất kinh doanh và nó phải được thu hồi đầy đủ(bảo toàn về giá trị) sau mỗi chu kỳ sản xuất, kinh doanh."
Một số đặc trưng cơ bản của vốn là:
Thứ nhất, vốn phải được đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là
vốn phải được biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và vô hình của doanh nghiệp
Thứ hai, vốn phải được vận đông sinh lời đạt được mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp
Thứ ba, vốn phải được tích tụ tập trung độn một lượng nhất định,có như vậy
mới phát huy được tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Thứ tư, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô
chủ không ai quản lý
Thứ năm, vốn phải được quan niệm như một loại hàng hoá đặc biệt, có thể
mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường
Thứ sáu, Vốn luôn vận động chuyển hoá hình thức trong quá trình kinh doanh
Đối với mỗi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thìtrước hết phải nắm vững khái niệm và các đặc trưng cơ bản của vốn.Trong khuânkhổ đề tài nghiên cứu này chỉ xem xét vốn trên giác độ là biểu hiện bằng tiền củatoàn bộ tài sản của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Hoạt động của công ty đòi hỏi phải có vốn, đầu tiên là nó giúp cho hoạt động
Trang 7kinh doanh được thực hiện (xảy ra hoạt động), sau đó là duy trì hoạt động và xâydựng kế hoạch kinh doanh cụ thể và chắc chắn Khi vốn phát triển, nó sẽ giúp doanhnghiệp mở rộng được sản xuất về cả chiều rộng và chiều sâu, qua đó lại tác độngngược lại làm tăng lượng vốn sẵn có của doanh nghiệp Trong kinh doanh vốn làcông cụ cần thiết hàng đầu để doanh nghiệp thực hiện ý định kinh doanh của mình.Rất nhiều người đã không thể tham gia kinh doanh vì không đủ vốn Nói cách khác
nó là "chiếc rìu" của ông tiều phu Do đó doanh nghiệp phải tổ chức huy động, sửdụng vốn sao cho có hiệu quả cao nhất, muốn vậy phải xem xét, cân nhắc phươngthức huy động vốn, cơ cấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn vay thấp nhất và làmgia tăng lợi ích của vốn chủ sở hữu Nền kinh tế thị trường với chính sách phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế
tự bỏ vốn đầu tư Vốn trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu, là điều kiện tiên quyếtcủa mọi quá trình đầu tư sản xuất, kinh doanh
Vốn kinh doanh là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho sản xuất kinhdoanh tức là mục đích tích luỹ chứ không phải là mục đích tiêu dùng như một sốquỹ tiền tệ khác trong doanh nghiệp Vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra hoạtđộng sản xuất kinh doanh Sau khi ứng ra, vốn được sử dụng vào kinh doanh và saumột chu kỳ hoạt động phải được thu về để đáp ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động sau.Vốn kinh doanh không thể bị tiêu mất đi, mất vốn đối với doanh nghiệp đồng nghĩavới nguy cơ phá sản
Đầu tư vốn của doanh nghiệp
Là quá trình sử dụng vốn của doanh nghiệp vào quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận Trong quá trình đầu tư vốn của doanhnghiệp, có thể chia hai loại:
- Đầu tư vào trong nội bộ của các doanh nghiệp: đầu tư vào các yếu tố tronghoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ví dụ như đầu tư để muasắm tài sản cố định, nguyên- nhiên vật liệu, trả lương cho công nhân viên
- Đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp Chủ yếu các doanh nghiệp dựng vốn củamình để góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp khác hay đầu tư trên thị trườngchứng khoán
Dự đầu tư bên trong hay ngoài doanh nghiệp thì đều nhằm mục tiêu hướng tớilợi nhuận, tối đa hoá giá trị vốn của chủ sở hữu Các doanh nghiệp căn cứ vào một
số yếu tố cơ bản sau để đầu tư vốn:
+ Căn cứ vào khả năng sinh lời của dự án đầu tư và thời gian thu hồi vốn đầu tư
Trang 8+ Căn cứ vào số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ được sản xuất ra và khả năngtiêu thụ của sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường.
+ Các doanh nghiệp phải căn cứ vào sự lựa chọn công nghệ trong quá trìnhđầu tư
+ Các doanh nghiệp phải xác định được nguồn tài trợ cho vốn kinh doanh của mình.+ Căn cứ vào mô hình tổ chức và quản lý dự án đầu tư
1.1.3 Phân loại vốn
Căn cứ vào các tiêu thức khác nhau có thể chia vốn thành các loại sau
- Phân loại căn cứ vào tính chất sở hữu của vốn: vốn của doanh nghiệp chia
làm 2 loại:
Vốn của chủ sở hữu (vốn tự có của doanh nghiệp):
Là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đó Nó có thể là dochủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ xung từ lợi nhuận và từ các quĩ của doanh nghiệp, vốntài trợ của Nhà nước (nếu có) Nó được sử dụng 1 cách lâu dài mà không phải camkết thanh toán, gồm có vốn kinh doanh và các quỹ của doanh nghiệp
Cần phân biệt vốn điều lệ và vốn pháp định Vốn pháp định là số lượng vốn tổithiểu mà một doanh nghiệp cần phải có khi nó hình thành, hoạt động và do phápluật quy định
Tóm lại, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là vốn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp.
Vốn vay:
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanhnghiệp có nhiệm vụ phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế như: ngân hàng thươngmại, tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế khác, tiền vay từ phát hành trái phiếu, cáckhoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho cán bộ công nhân viên
Một doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả, với mức sinh lời cao và đảmbảo khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thì ngoài nguồn chủ sở hữu, nóphải vay vốn trên thị trường để hình thành vốn của mình Trong nền kinh tế thị trư-ờng, vốn vay của doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với vốnchủ sở hữu Đây là nguồn vốn cung cấp chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của đơn
vị Nguồn này có thể được hình thành bằng một số biện pháp sau: nguồn vốn vay từcác tổ chức tín dụng, các ngân hàng, từ việc phát hành trái phiều công ty, từ nguồntín dụng thương mại, tín dụng thuê mua, hoặc có thể từ một số nguồn vốn vay khác
- Phân loại theo tính chất luân chuyển của vốn thì vốn của doanh nghiệp có
Trang 9thể được chia ra làm 2 loại:
Vốn cố định: Vốn cố định là giá trị biểu hiện bằng tiền của tổng tài sản cố
định (TSCĐ) trong doanh nghiệp Tài sản cố định thuộc loại tài sản có giá trị lớn và
có thời gian sử dụng lâu dài Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
Đặc trưng của tài sản cố định là không thay đổi hình thái vật chất sau mỗi chu
kỳ sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, giá trị của nó giảm dần do có hao mòn Có hailoại hao mòn tài sản cố định là hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình Để chốnghao mòn cần phải trích quỹ khấu hao nhằm bù đắp cho hao mòn tài sản cố định Tấtnhiên nó không trăng khít với số tiền tài sản thực tế bị hao mòn (có thể lớn hoặc nhỏhơn) Tài sản cố định bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình Trong đó, TSCĐhữu hình: Là những tài sản có hình thái, vật chất (như nhà cửa, vật kiến trúc, máymóc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị, dụng cụ quản lý ) vàTSCĐ vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện những lượnggiá trị lớn mà doanh nghiệp đã đầu tư, liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh (nhưQuyền sử dụng đất, Chi phí thành lập doanh nghiệp, Chi phí về bằng phát minhsáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, nhãn hiệu thương mại )
Vốn lưu động: Vốn lưu động là lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về
các đối tượng lao động của doanh nghiệp Nói dưới góc độ tài sản thì vốn lưu độngđược sử dụng để chỉ những tài sản lưu động Đó là những tài sản ngắn hạn thườngxuyên luôn chuyển trong quá trình kinh doanh
Trong bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp thì tài sản lưu động của nó chủyếu được thể hiện ở các bộ phận là tiền mặt, các chứng khoán có thanh khoản cao,khoản phải thu và dự trữ tồn kho Giá trị các loại tài sản lưu động của doanh nghiệpkinh doanh thương mại thường chiếm tỷ lệ lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản Quản trị
và sử dụng hợp lý các loại tài sản lưu động có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hoànthành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp
Vốn cố định và lưu động là hai loại vốn tồn tại song song trong quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuỳ từng loại hình kinh doanh mà tỷ lệ giữa 2loại vốn này là khác nhau
Việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn trên đây có tác dụng giúp chocác doanh nghiệp một mặt tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn hiện có,mặt khác có thể đa dạng hoá các kênh huy động vốn
1.2 CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
Việc huy động vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác
Trang 10động bởi nhiều yếu tố Về cơ bản như đã xem xét ở trên thì vốn của doanh nghiệp khixem xét theo tính chất sở hữu thì có thể chia làm 2 và tương ứng như vậy là có 2 nhómhình thức huy động vốn cho doanh nghiệp theo tiêu chí này.
1.2.1 Các hình thức huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu ban đầu, như đã nói ở trên được hình thành từ việc đóng gópcủa các nhà đầu tư Tuy nhiên, khi chạm tới ngưỡng tăng trưởng chín muồi thì vốnchủ sở hữu ban đầu không đủ đáp ứng cho các hoạt động tài chính, để tiếp tục pháttriển, doanh nghiệp thường tiến hành các hoạt động đầu tư chiến lược mở rộng đáng
kể năng lực sản xuất hoặc bước sang lĩnh vực hoạt động mới và đi cùng với nó làviệc huy động thêm vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm các nguồn sau:
- Vốn điều lệ của các doanh nghiệp: được hình thành từ nguồn nào thì nó tuỳ
thuộc vào hình thức sở hữu của các doanh nghiệp
+ Nếu doanh nghiệp nhà nước: thì nguồn hình thành là ngân sách nhà nước.+ Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu cổ phần: thì nguồn hình thành do cổ đông,người mua cổ phiếu, cổ phần
+ Nếu doanh nghiệp của tư nhân: do tư nhân bỏ ra
- Vốn từ việc phát hành cổ phiếu:
Cổ phiếu là một giấy chứng nhận việc đầu tư vốn vào công ty cổ phần vàquyền được nhận một phần lợi nhuận từ công ty cổ phần ấy, quyền được chia tài sản
từ công ty cổ phần ấy
Có hai loại cổ phiếu:
+ Cổ phiếu có ghi tên: ghi rõ họ tên của chủ sở hữu Nó không được tự do
chuyển nhượng, mua bán Nó chỉ có thể được chuyển nhượng trong điều kiện được
sự đồng ý của hội đồng quản trị của công ty cổ phần đó Nó dành cho các nhà sánglập viên của công ty cổ phần Đây là hình thức pháp luật ràng buộc các người sánglập viên với công ty cổ phần đó
+ Cổ phiếu không ghi tên(vô danh): trên cổ phiếu không ghi rõ họ tên của ai.
Nó được tự do chuyển nhượng mua bán Người nào cầm cổ phiếu là người đó cóquyền chia tài sản Người ta chia hai loại:
Các cổ phiếu ưu đãi(đặc quyền): trong cổ phiếu ghi rõ về thu nhập mà cổphiếu đó được hưởng(có tính chất cố định) Ví dụ: 6%/năm Tuy nhiên cổ đôngcũng không được hưởng một số quyền kiểm soát doanh nghiệp(như bầu cử hội đồngquản trị, ban kiểm soát )
Các cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu mà thu nhập của nó(lợi tức cổ
Trang 11phiếu) lên hay xuống tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Đây là loại cổ phiếu có rủi ro cao nhất.
- Các quỹ được tạo nên trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
+ Quỹ dữ trữ: thông thường được trích trên lãi ròng hàng năm của các doanh
nghiệp, theo tỷ lệ phần trăm nhất định với mục tiêu để bổ sung và làm tăng thêmvốn điều lệ của các doanh nghiệp Quỹ được trích lập thường xuyên, nhưng đượcđưa vào vốn điều lệ, việc đưa vào bao nhiêu do các cơ quan chức năng của cácdoanh nghiệp đó quyết định
+ Quỹ dữ trữ đặc biệt: được trích lập theo tỷ lệ nào đó trên cơ sở lãi ròng hàng
năm của các doanh nghiệp Mục đích để trang trải rủi ro trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp
+ Các quỹ khác: coi như vốn tự có của các doanh nghiệp Ví dụ: quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao, quỹ đầu tư phát triển
Ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không chịu sự kiểm soát củacác chủ nợ, không phụ thuộc vào khả năng vay của doanh nghiệp Nguồn này cũngđược nhà nước khuyến khích (như giảm thuế cho phần lợi nhuận tái đầu tư) Tuynhiên việc sử dụng nguồn này cũng có một số bất lợi như: vốn chủ sở hữu của cácdoanh nghiệp thường nhỏ, không đủ để chi cho các dự án đầu tư lớn
1.2.2 Các hình thức huy động vốn nợ
- Nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, các ngân hàng:
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọngnhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đều gắnliền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó cóviệc cung ứng các nguồn vốn
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụngtín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thươngtrường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảmbảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất – kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo
có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có ưu điểm nhưng tồn tại song song là nhữnghạn chế nhất định:
- Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương
Trang 12mại cần đáp ứng những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Doanhnghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêucầu Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ xin vay vốn trước khi quyết định cho doanhnghiệp vay hoặc từ chối.
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung cácngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay vốn phải có các bảo đảm tiền vay, phổbiến nhất là tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiềutrường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện vay, kể cả nhữngthủ tục pháp lý về giấy tờ Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cậnnguồn vốn tín dụng ngân hàng
- Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi đã vay vốn của ngân hàng thì doanhnghiệp phải chấp nhận chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sửdụng vốn vay Nói chung, sự kiểm soát này không gay khó khăn lớn nhưng trongmột số trường hợp, nó dặt doanh nghiệp vào thế bị động
- Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suấtvốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời
kỳ Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí sử dụng vốnlớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kỳ ở nước ta, lãi suấtvay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh do đó không tạo điều kiện cho các doanhnghiệp đầu tư mở rộng sản xuất – kinh doanh
- Phát hành trái phiếu công ty:
Trái phiếu công ty là công cụ nợ dài hạn được một doanh nghiệp phát hành đểhuy động vốn của tổ chức cá nhân trong nền kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu vốn sảnxuất kinh doanh Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựachọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và tìnhhình trên thị trường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì nó có liên quan đến chiphí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trướckhi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại tráiphiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành những loạitrái phiếu doanh nghiệp như sau:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụngnhiều nhất, tức là phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suấtđược ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Việc
Trang 13thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ Để huy động vốn theophương thức này, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu, nó phụ thuộc vào:+ Lãi suất của trái phiếu: Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tươngquan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt là phải tính đến sự cạnh tranhvới trái phiếu của các công ty khác và trái phiếu Chính phủ Tuy nhiên, một ràngbuộc khác là chi phí lãi vay mà công ty phải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm cácyếu tố khuyên khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất.+ Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng, không những đối vớicông ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệp phải căn
cứ vào tình hình thị trường vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý.+ Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể thuhút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tín của doanhnghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Các doanh nghiệp có uy tín và vữngmạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng để huy độngvốn
+ Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý đến mệnh giá, vì nó có thểliên quan đến sức mua của công chúng Đặc biệt, ở Việt Nam, khi phát hành tráiphiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức mệnh giá vừa phải để nhiều người cóthể mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho trái phiếu trên thị trường
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi: Loại trái phiếu này có lãi suất biến động theo
sự biến động của thị trường vốn Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãisuất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loạitrái phiếu này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao động của lãi suấtthực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một lãi suất thỏa đáng khi so sánh vớitình hình thị trường Vì vậy, một số người ưa thích trái phiếu thả nổi Tuy nhiên,nhược điểm của loại trái phiếu này là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chiphí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính.Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thôngbáo các lần điều chỉnh lãi suất
- Trái phiếu có thể thu hồi: Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hànhnhững trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thờigian nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khi phát hành để ngườimua trái phiếu được biết Doanh nghiệp phải quy định rõ về thời hạn và giá cả khidoanh nghiệp mua lại trái phiếu Thông thường, người ta quy định thời hạn tối thiểu
Trang 14mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi Ưu điểm của loại trái phiếu này là có thể sử dụngnhư một cách điều chỉnh lượng vốn hoạt động Khi không cần thiết, doanh nghiệp
có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loại này bằng một nguồn tàichính khác thông qua việc mua lại các trái phiếu đó
- Chứng khoán có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu có thể chuyển đổithành một lượng nhất định các cổ phiếu phổ thông (đối với công ty cổ phần).Trái phiếu này cho phép người sở hữu có thể chuyển nợ phải thu thành vốn góp
cổ phần, khi đó người có trái phiếu có quyền nhận cổ tức và mọi quyền lợi như
cổ đông khác Việc huy động vốn bằng hình thức này có ưu điểm là tạo ra sự gắn
bó giữa người mua trái phiếu với doanh nghiệp Ngoài ra, do hấp dẫn hơn, hìnhthức này có thể huy động được nguồn vốn có chi phí thấp hươn các hình thứckhác đồng thời đa dạng hóa các công cụ huy động vốn
- Một số loại trái phiếu khác: Doanh nghiệp có thể lựa chọn một số loại tráiphiếu khác như: Trái phiếu có đảm bảo (là trái phiếu được bảo đảm bằng tài sản củacông ty) hoặc trái phiếu không co bảo đảm (là loại trái phiếu không được bảo đảmbằng một tài sản cụ thể nào), trái phiếu trả một lần và trái phiếu trả nhiều đợt
Có thể nói, huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu công ty có ưu điểm làtiết kiệm được chi phí đầu tư, kiềm chế được lạm phát (do không làm tăng lượngtiền cung ứng cho lưu thông, chỉ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn lượng tiền sẵn cótrong lưu thông), chủ động khai thác trực tiếp nguồn vốn có sẵn và tiềm năng củacác tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế Nếu tận dụng được những ưu điểm này thiđây chính là phương thức tối ưu và khả thi cho giải pháp về vốn dài hạn của doanhnghiệp trong nước, đồng thời có lợi cho toàn cảnh của nền kinh tế quốc dân
Giữa cổ phiếu và trái phiếu công ty có một số điểm giống và khác nhau cănbản như sau:
- Khi các công ty phát hành cổ phiếu thì công ty đó tập trung được nguồnvốn chủ sở hữu Khi các công ty phát hành trái phiếu ra thị trường thì công ty đótăng thêm nguồn vốn đi vay của mình Đồng thời khi phát hành cổ phiếu công ty
cổ phần không có trách nhiệm hoàn trả tiền cho người mua cổ phần, còn khi pháthành trái phiếu thì phải hoàn trả lại tiền(bao gồm cả gốc và lãi)
- Người mua cổ phiếu của công ty họ có quyền làm chủ sở hữu của công ty,cho nên họ có quyền tham gia quản lý và điều hành công ty cổ phần Người muatrái phiếu là chủ nợ của công ty và không có quyền tham gia quản lý và điều hànhcông ty
Trang 15- Những người mua cổ phiếu của công ty thì phần thu nhập chủ yếu phụ thuộcvào hiệu quả, chất lượng hoạt động của công ty Người mua trái phiếu công ty, thunhập của họ phụ thuộc vào lãi suất ngân hàng
- Nguồn vốn tín dụng thương mại:
Đây là khoản mua chịu từ người cung cấp hoặc ứng trước của khách hàng màdoanh nghiệp tạm thời chiếm dụng Tín dụng thương mại luôn luôn đi kèm với mộtluồng hàng hoá cụ thể, gắn với quan hệ thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của
cơ chế thanh toán, chính sách tín dụng khách hàng doanh nghiệp được hưởng Khốilượng vốn doanh nghiệp huy động từ hình thức này lớn nhỏ tuỳ thuộc vào tính chấtcác hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khoản tín dụng này thường
có thời gian ngắn từ một đến ba tháng nhưng nó đáp ứng phần nào lượng vốn củadoanh nghiệp tại một thời điểm nhất định
- Nguồn vốn tín dụng thuê mua:
Tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc chothuê máy móc thiết bị, các động sản và bất động sản khác Người cho thuê (chủ sỡhữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sử dụng tài sản) được sửdụng trong một thời gian nhất định và người thuê phải trả cho chủ sở hữu tài sảnmột khoản tiền thuê tương xứng với quyền sử dụng Hình thức thuê mua giúp doanhnghiệp tránh được những sai lầm khi tự đi vay và tự tìm mua sắm thiết bị vì cáccông ty thuê mua không chỉ đơn thuần thay thế tín dụng ngân hàng mà còn cung cấpcác dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp mua sắm và thuê thiết bị như: chuyển giao côngnghệ, đào tạo công nhân kỹ thuật và bảo hành, bảo trì, tư vấn hợp lý hóa sản xuất vàhiện đại hóa hệ thông trang thiết bị kỹ thuật Thuê tài chính là một hình thức tài trợtín dụng thông qua cho thuê các loại tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện vậnchuyển là nhu cầu mà các doanh nghiệp, các nhà đầu tư mong muốn để đổi mớimáy móc, thiết bị, hiện đại hóa công nghệ sản xuất kinh doanh Đặc trưng củaphương thức này là đơn vị cho thuê là chủ sở hữu tài sản sẽ chuyển giao tài sản chongười thuê, tức là người sử dụng tài sản được quyền sử dụng và hưởng những lợiích kinh tế mang lại từ các tài sản đó trong một thời gian nhất định Người thuê cónghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyềnhưởng dụng Điều này cũng nói lên việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tàichính không đòi hỏi sự đảm bảo tài sản có trước, tạo cho doanh nghiệp tiếp cận hìnhthức tín dụng mới, vừa giải tỏa được áp lực về tài sản đảm bảo nếu phải vay từ ngânhàng Ngoài ra, các công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản của doanh nghiệp
Trang 16và cho thuê lại tài sản đó nếu doanh nghiệp thiếu vốn lưu động do đó tập trung vốn
để đầu tư mua sắm tài sản cố định Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản để sửdụng, vừa có vốn để kinh doanh
Tín dụng thuê mua có hai phương thức giao dịch chủ yếu là thuê hoạt động vàthuê tài chính
- Thuê hoạt động (Operating Lease).
Thuê hoạt động hoàn toàn phù hợp đối với những hoạt động có tính chất thời
vụ Hình thức thuê hoạt động được coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản
đi thuê không được phản ánh trong sổ sách kế toán của người thuê, số tiền thuê trảtheo hợp đồng được ghi như một chi phí bình thường khác
Thuê hoạt động có hai đặc trưng chính:
- Thời hạn thuê thường rất ngắn so với toàn bộ thời gian tồn tại hữu ích của tàisản, điều kiện chấm dứt hợp đồng chỉ cần báo trước trong một thời gian ngắn
- Người thuê chỉ phải trả tiền thuê theo thỏa thuận, người cho thuê phải chịumọi chi phí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì, bảo hiểm, thuế tài sản cùngvới mọi rủi ro về hao mòn vô hình của tài sản
- Thuê tài chính (Finance Lease)
Thuê tài chính là một phương thức tài trợ tín dụng trung hay dài hạn theo hợpđồng Theo phương thức này, người cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà ngườimua cần và đã thương lượng từ trước các điều kiện mua lại tài sản từ người chothuê Trong nhiều trường hợp, một công ty bán ngay tài sản của mình cho ngườithuê rồi thuê lại Trong hợp đồng thuê tài chính thì thời hạn thuê tài sản của bênthuê phải chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản và hiện giá thuần của toàn bộcác khoản tiền thuê phải đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắtđầu hợp đồng
Thông thường hết giai đoạn thuê tài chính người cho thuê thường ủy quyềncho người thuê làm đại lý bán tài sản Nếu người thuê quản lý sử dụng tài sản tốt thìgiá trị thực tế của tài sản có thể lớn hơn nhiều so với giá tiền còn lại dự kiến tronghợp đồng, họ có thể mua lại và cũng có thể bán được giá cao hơn họ sẽ được hưởngphần chênh lệch
Trong hợp đồng thuê tài chính, các loại chi phí bảo dưỡng, vận hành, phí bảohiểm, thuế tài sản cũng như những chi phí rủi ro khác đối với tài sản do bên thuêphải chịu cũng như tương tự của công ty mua sắm.Cũng vì lý do đó các khoản tiềnthuê mà người cho thuê nhận được coi là giá trị thừa của tài sản nên hình thức thuê
Trang 17này cũng được gọi là thuê mua thuần.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau Tức là
nguồn vốn mà các doanh nghiệp góp vốn theo phương thức cùng hợp tác kinhdoanh, cùng chia sẻ rủi ro nếu có và cùng phân chia lợi nhuận
- Nguồn vốn ODA (Official development assistance).
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nướcngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thứctài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODF (Officialdevelopment finance) – Tài trợ phát triển chính thức) nào khác
Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốnvay tương đối lớn, bao giờ ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố
hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Yếu tố không hoàn lại (thành tố hỗ trợ) của từng khoản vay được xác định dựavào các yếu tố lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong cácnăm và tỷ suất chiết khấu
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm cácđiều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyểngiao vốn và thị trường ) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệtthòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không,việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế.Điều này còn hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còncần có nghệ thuật thỏa thuận, để vừa có thể nhận vốn, vừa đảm bảo được các mụctiêu có tính nguyên tắc
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan
1.3.1.1 Chi phí sử dụng vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Chi phí vốn: là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợinhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào được dự án hoặc doanh nghiệp đểgiữ không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu Các nhà đầu tư chỉ chấpnhận cấp vốn cho doanh nghiệp khi họ được trả một khoản lãi xứng đáng Thôngthường, người cho vay luôn mong muốn một lãi suất cao, ngược lại, doanhnghiệp đi vay muốn trả lãi thấp, vì vậy, lãi suất vay vốn và lãi suất cân bằng tại
đó người cho vay và người đi vay đều chấp nhận được
Trang 18Cơ cấu vốn: Một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiếm khi chỉ sửdụng một nguồn vốn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình ngay cảkhi đó là nguồn có chi phí thấp hơn các nguồn khác Nguồn vốn của một doanhnghiệp được chia thành: Nguồn vốn tự có (vốn chủ sỡ hữu) và vốn vay.
Để thiết lập một cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp, các nhà quản trị tài chínhcần xem xét bốn nhân tố chủ yếu sau:
- Rủi ro kinh doanh: Là một trong những nhân tố có tác động đến việc lựachọn nguồn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Rủi ro đề cập đến ở đây là rủi
ro cố hữu trong lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp khi không sử dụng nợ vay.Như vậy, đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có rủi ro kinh doanhlớn thì vay nợ nhiều khi không phải là giải pháp tối ưu Nói cách khác, rủi ro kinhdoanh càng lớn, tỷ lệ tối ưu càng thấp
- Chính sách thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chi phí của
nợ vay thông qua điều tiết phần tiết kiệm nhờ thuế Thuế suất cao sẽ khuyến khíchdoanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ thuế tăng lên, vì khi đó, phần lãivay phải trả sẽ được tính vào chi phí hợp lý trước khi tính thuế thu nhập doanhnghiệp
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Các nhà quản lý tài chính biết rằng,tài trợ vốn vững chắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hoạtđộng có hiệu quả Họ cũng biết rằng khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nềnkinh tế hoặc khi một doanh nghiệp đang trải qua khó khăn trong hoạt động, những nhàđầu tư muốn tăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lànhmạnh Như vậy, nhu cầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởng quantrọng đối với mục tiêu cơ cấu vốn
- Tính quyết đoán của nhà quản lý: Chính là sự lựa chọn giữa hai quan điểm:Sẵn sàng sử dụng nhiều nợ hơn bất chấp mức đọ rủi ro cao nhằm thu lợi nhuận cao
và sử dụng vốn chủ sở hữu chấp nhận mức lợi nhuận thấp nhưng an toàn
Rõ ràng là, chi phí vốn và cơ cấu vốn có ảnh hưởng trực tiếp một cách mạnh
mẽ tới việc huy động vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ huy động nguồn vốnnào, với quy mô là bao nhiêu không chỉ phụ thuộc vào chi phí phải trả cho nguồnvốn đó mà còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã đặt ra
1.3.1.2 Năng lực hoạt động của doanh nghiệp
Nhìn chung, một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, tình hình tài chính lànhmạnh luôn dễ dàng được các tổ chức tín dụng, ngân hàng cho vay vì khả năng hoàn
Trang 19trả nợ cao Vì vậy, năng lực kinh doanh tốt là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đếnkhả năng huy động vốn của doanh nghiệp.
1.3.1.3 Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế, nó phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanhđạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụngvốn cao đỗng nghĩa với việc doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao Trong nềnkinh tế thị trường, đây là một yếu tố quyết định khả năng mở rộng sản suất kinhdoanh của doanh nghiệp theo chiều rộng lẫn chiều sâu Nói cách khác, khi phân chiavốn vào các mục đích sử dụng một cách hợp lý và được bảo toàn, doanh nghiệp cóthể tiết kiệm được vốn và tránh được lãng phí, nâng cao uy tín đồng thời tăng khảnăng huy động vốn của doanh nghiệp
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.2.1 Chính sách kinh tế vĩ mô
Là một chủ thể của nền kinh tế, mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt làhoạt động huy động vốn luôn chịu ảnh hưởng bởi chính sách kinh tế vĩ mô của từngquốc gia
Điều quan trọng ở đây là các doanh nghiệp cần quan tâm dự đoán và thườngxuyên cập nhật các chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước trong mỗithời kỳ vì các chính sách này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến khả năng huy độngvốn, đặc biệt khi thị trường tài chính phát triển Chẳng hạn, chính sách tiền tệ thắtchặt luôn gây khó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng do lãi suất cho vaycao, thủ tục vay vốn chặt chẽ hơn Tương tự như vậy, chính sách khuyến khích hayhạn chế phát triển đối với một ngành nghề cũng sẽ cũng tạo điều kiện hoặc hạn chếkhả năng huy động vốn của các doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề đó Có thể kểtới những nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của doanhnghiệp:
- Lãi suất ngân hàng là yếu tố đầu tiên mà mọi doanh nghiệp phải cân nhắckhi lựa chọn nguồn vốn cho kế hoạch tài trợ của mình Đây là yếu tố ảnh hưởng đếnchi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải tính toán hiệu quảđầu tư, cân đối và lựa chọn nguồn tài trợ phù hợp giữa vay ngân hàng hay phát hànhtrái phiếu
- Thu nhập dân cư cũng là một nhân tố tác động đến khả năng huy động vốncủa doanh nghiệp Thu nhập dân cư ở mức cao đồng nghĩa với khả năng tích lũy
Trang 20cao, tiết kiệm lớn dẫn đến đầu tư lớn và lượng vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế tănglên Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách dễdàng hơn thông qua các công cụ của thị trường vốn như cổ phiếu, trái phiếu hoặccác công cụ có thể chuyển đổi, đặc biệt là ở những nước có thị trường tài chính pháttriển.
- Lạm phát là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp Lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, Ngân hàng Trung ương có xuhướng thắt chặt tiền tệ còn người dân thì có tâm lý rút vốn để đầu cơ tích trữ nhữngtài sản ít bị ảnh hưởng như vàng, bất động sản, làm giảm lượng vốn xã hội dànhcho đầu tư sản xuất kinh doanh Mặt khác, lạm phát cao cũng dẫn tới lãi suất huyđộng cao hơn , lãi suất cho vay cao hơn để duy trì một lãi suất thực dương và gâykhó khăn cho doanh nghiệp khi vay vốn
- Lãi suất trên thị trường tài chính, tiền tệ quốc tế: Trong một nền kinh tế mở.lãi suất có ảnh hưởng tới dòng chảy của vốn vì vốn luôn có xu hướng di chuyển vềnhững thị trường có lãi suất cao
- Thuế là chính sách cơ bản của Nhà nước nhằm phân phối lại thu nhập củanền kinh tế, huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển Chính sách thuế cóảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp Ví dụ, nếu thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bằng nguồn vốnvay, thuế suất thuế thu nhập cá nhân cao sẽ khuyến khích cổ đông sử dụng cổ tứcđược chia để tái đầu tư hơn là sử dụng cho chi tiêu Đối với các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, chính sách ưu đãi về thuế đã và đang thu hút lượng vốn đầu
tư trực tiếp (FDI) của nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặcđầu tư 100%vốnnước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng cơ hội này sể huy động vốnđầu tư thông qua hình thức liên doanh, liên kết, hợp đồng hợp tác kinh doanh
1.3.2.2 Sự phát triển của thị trường tài chính
Hiện nay, nguồn vốn dài hạn của ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp cònrất hạn chế vì nguồn huy động của ngân hàng phần lớn là tiết kiệm ngắn hạn và tiềngửi trên tài khoản thanh toán, không thể sử dụng toàn bộ để cho vay dài hạn Giảipháp cho các doanh nghiệp là tìm kiếm vốn đầu tư dài hạn thông qua thị trường tàichính với hai hình thức cơ bản là phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Thị trường tài chính, với chức năng là cầu nối giữa cung và cầu vốn trong nềnkinh tế, có ảnh hưởng lớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp:
- Thị trường chứng khoán: Các doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp tại thị
Trang 21trường sơ cấp thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành Quy mô và thời gian huyđộng phụ thuộc vào hiệu quả của dự án, uy tín của doanh nghiệp phát hành và tổchức bảo lãnh phát hành cũng như sự phát triển của thị trường chứng khoán
- Thị trường tiền tệ: Thị trường vốn là nơi diễn ra việc mua bán các công cụvay nợ ngắn hạn như tín phiếu, thương phiếu, hối phiếu, Mặc dù thị trường tiền tệ
có mức giao động giá nhỏ, ít rủi ro nhưng nguồn vốn huy động thường nhỏ và ngắnhạn Thị trường tài chính Việt Nam nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng chưaphát triển một cách hoàn thiện, các tổ chức trung gian tài chính chưa đủ tiềm lực đểđáp ứng nhu cầu vốn trung hạn và vốn dài hạn mà hoạt động tài trợ ngắn hạn cũngchưa phát huy hết hiệu quả Đối với Việt Nam hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn làkênh dẫn vốn chính trong nền kinh tế khi mà thị trường chứng khoán mặc dù đãhình thành nhưng chưa phát huy được vai trò tạo ra các hình thức đầu tư, chưa mởrộng các kênh chu chuyển vốn trung và dài hạn để tạo cơ hội huy động nguồn lực xãhội cho đầu tư phát triển sản xuất Vì vậy, khả năng huy động vốn của các doanhnghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là đối với những doanh nghiệp cần huy động vốncho những dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng cơ bản, có quy mô lớn và thời gianthu hồi vốn kéo dài
1.3.2.3 Sự tác động của kinh tế thế giới
- Sự tác động của toàn cầu hóa và việc Việt nam gia nhập WTO:
Việc toàn cầu hóa mở ra cho các doanh nghiệp Việt nam một cơ hội lớn đểhuy động vốn trên thị trường quốc tế Niêm yết tại thị trường chứng khoán quốc tếđem lại những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn quốc tế, tăngtính thanh khoản của giao dịch, mở rộng cơ sở cổ đông, đồng thời, quảng bá hìnhảnh ra khỏi biên giới quốc gia, đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế về quản trịcông ty và tính minh bạch Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam, việc huy động vốn theohình thức này gặp một số trở ngại nhất định từ phía cơ quan quản lý và cả doanhnghiệp Về phía cơ quan quản lý, nguồn lực quản lý, cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhucầu kết nối giám sát chung và cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện là những khó khăn chủyếu Đối với doanh nghiệp, khó khăn trong việc đáp ứng tiêu chuẩn niêm yết về tàichính, công bố thông tin cũng như chi phí và nguồn lực để duy trì niêm yết tại haithị trường là những rào cản lớn để tiếp cận kênh vốn này Tìm hiểu và hướng đếnthị trường vốn quốc tế là một cách làm đang được nhiều doanh nghiệp Việt Namquan tâm Hơn nữa, kể từ khi trở thành thành viên đầy đủ của WTO vào tháng1/2007 là một trong những yếu tố khuyến khích Việt Nam nhận được luồng vốn
Trang 22chảy vào lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài và như vậy đem lại nhiều cơ hội hơntrong việc huy động vốn cho các doanh nghiệp trong nước Những công ty niêm yếtmới trên thị trường đã thúc đẩy quá trình cổ phần hoá đi nhanh hơn Một số công tynhà nước lớn đã được cổ phần hóa xong làm cho thị trường mở rộng không chỉ vềlượng mà cả về chất.
- Ảnh hưởng của biến động các thị trường tài chính trên thế giới:
Trong thời đại ngày nay, thị trường tài chính trong nước có mối liên quan cực
kỳ mật thiết với thị trường tài chính tài chính quốc tế Thị trường trong nước vànước ngoài đã thông thương với nhau ở mức độ nhất định, và vì vậy ví dụ như khiCục dự trữ liên bang của Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất USD thì cũng sẽ cũng ảnhhưởng đến lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay và việc huy động vốn nói chung ởViệt Nam Tương tự như vậy, với các thay đổi về giá của các nguyên liêụ chiếnlược như dầu mỏ, vàng cũng ngược lại tác động đến lãi suất cũng như khả nănghuy động vốn tại Việt nam
Trang 23Chương 2
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ KIM LỢI TRONG THỜI GIAN
Năm 1999 là năm đánh dấu bước chuyển mình về cơ bản của Công ty cổ phầnthương mại và dịch vụ Kim Lợi khi phía Việt Nam mua lại cổ phần của các đối tácNhật Bản và nắm đa số trong công ty Hướng kinh doanh của công ty là phục vụ cáckhách hàng trong nước, vì các kênh phân phối sản phẩm ra nước ngoài đã bị mấtcùng với việc rút ra khỏi công ty của các đối tác Nhật Bản
Kể từ năm 2004, sau một thời gian dài liên tục tăng trưởng về doanh thu và sản
Trang 24lượng, Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi đã lấy lại được thương hiệucủa mình trên thị trường và bắt đầu quay trở lại con đường xuất khẩu Vì chỉ có xuấtkhẩu mới có thể tạo được lượng đơn hàng lớn, hàng loạt và giúp công ty ổn địnhđược chất lượng, sản lượng lớn và có lãi.
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợi
Bộ máy tổ chức của công ty được xây dựng như theo bảng ở dưới đây
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của công ty
Nguồn: Sổ tay chất lượng (ISO 9001-2000) của công ty
Cơ cấu tổ bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Kim Lợibao gồm:
Khối văn phòng Công ty:
- Ban Giám đốc: Gồm 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc
Giám đốc Công ty là người được HĐQT Công ty bổ nhiệm, giao nhiệm vụ
HĐQTGiám đốc
P HC-Tổng hợp
P Kinh doanh
Trang 25quản lý, điều hành Công ty, là người có thầm quyền cao nhất chịu trách nhiệm vềmọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo đúng pháp luật Giám đốccông ty đồng thời phụ trách phòng Kinh doanh (mua và bán hàng), phòng Tổng hợp(Hành chính, kế toán, nhân sự)
Phó Giám đốc Kỹ thuật chịu trách nhiệm quản lý mảng kỹ thuật, thiết kế, giámsát chất lượng
Phó Giám đốc sản xuất phụ trách xưởng sản xuất, bộ phận cơ điện- bảo dưỡng
- Các phòng ban nghiệp vụ chức năng: Các phòng này nhiệm vụ giúp lãnhđạo Công ty triển khai, giám sát tình hình hoạt động của toàn Công ty, đảm bảo chomọi hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển ổn định, bao gồm:
+ Phòng Tổng hợp (Hành chính, kế toán, nhân sự): Thực hiện đồng thời cáccông việc quản lý hành chính, công văn giấy tờ và quản lý các công việc nhằm bảođảm hoạt động nội bộ được trơn tru Các công việc như quản lý xe ôtô, căng-tin,bảo vệ cũng thuộc phòng này
- Phần công việc kế toán-tài chính: Hạch toán kế toán công tác tài chính củaCông ty theo chế độ nhà nước hiện hành, thiết lập và quản lý hệ thống kế toán củacông ty,xây dựng kế hoạch thu chi tài chính hàng năm, kế hoạch sử dụng các nguồnvốn để đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh
- Phần công việc tổ chức-đào tạo: đảm bảo cung ứng cho công ty nguồnnhân lực, xây dựng các kế hoạch quản lý nguồn nhân lực (đào tạo mới và đào tạolại), đảm bảo quyền lợi cho người lao động theo đúng các chế độ chính sách củaNhà nước
+ Phòng Kinh doanh: gồm có các mảng công việc mua hàng, bán hàng, kếhoạch và xuất nhập khẩu:
- Mảng công việc mua hàng: tổ chức các hoạt động để thực hiện việc muahàng cho công ty từ việc lập kế hoạch mua hàng, tìm kiếm nhà cung cấp, lấy cácbáo giá, so sánh và lựa chọn nhà cung cấp, tiến hành làm hợp đồng và theo dõi chotới khi nhận hàng Thực hiện các công việc quản lý, lưu kho và cấp phát vật tư
- Phần công việc bán hàng: tổ chức các hoạt động marketing, tìm kiếm kháchhàng tiềm năng và duy trì các khách hàng hiện tại Tính toán chào giá bán hàng theo
Trang 26từng sản phẩm, đàm phán lập hợp đồng với khách hàng Theo dõi việc thực hiệnhợp đồng cho tới khi hoàn tất giao hàng cho khách hàng Thu thập các ý kiến phảnhồi và thực hiện các hoạt động chăm sóc khách hàng sau khi bán hàng.
- Kế hoạch tổng hợp: Dựa trên các yêu cầu đa dạng của từng khách hàng vàviệc tự dự báo để lập nên các kế hoạch sản xuất, bán hàng theo năm, quý tháng Tổchức công tác điều độ sản xuất theo tháng, tuần Đồng thời thu nhận thông tin, tổnghợp và phân tích để đưa ra các dự báo tiếp theo
- Xuất nhập khẩu: thực hiện các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để làm các thủtục xuất, nhập khẩu hàng hoá và vật tư Đồng thời tổ chức việc vận tải sản phẩm,vật tư trong nội địa
+ Phòng kỹ thuật: Chịu trách nhiệm về các vấn đề kỹ thuật chuyên ngành,thiết kế và theo dõi việc hoàn thành sản phẩm các sản phẩm mới Theo dõi và đảmbảo việc thực hiện đúng các công đoạn sản xuất tại xưởng Xây dựng kế hoạch ápdụng tiến bộ công nghệ và các sáng kiến cải tiến kỹ thuật vào hoạt động sản xuấtcủa Công ty
- Một chức năng khác nữa của phòng Kỹ thuật là thực hiện các dịch vụ tưvấn thiết kế, chủ yếu phục vụ cho các công trình xây dựng có thiết kế từ Nhật Bản.+ Xưởng sản xuất: Là nơi thực hiện các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩmcho công ty Sơ đồ công nghệ của công ty là như sau: