IAS 16 quy định các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH độc lập khi doanh nghiệp có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ những tài sản đó và giá trị tài có thể được xác định một c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ KHOA KINH KẾ TOÁN-TÀI CHÍNH
BÀI TẬP NHÓM
Môn: Kế toán quốc tế N02-Nhóm 7
Đề tài: Tìm hiểu IAS 16
Giảng viên:
Đỗ sông Hương
Nhóm 7:
Huế, 04/2012
Trang 2Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã hình thành các mối quan hệ quốc tế Việc gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, hiệp định thương mại Việt-Mỹ, cam kết với các tổ chức tài chính như ADB,
WB, IMF, đòi hỏi Việt Nam phải cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và được quốc tế thừa nhận Bên cạnh đó, nhu cầu về vốn,
sự toàn cầu hóa thị trường vốn rộng lớn là cần thiết nhưng chưa có một ngôn ngữ kế toán chung cho sự kết nối các thông tin tài chính Không có "ngôn ngữ chung" này thì các chuẩn mực của các quốc gia được đưa ra khác nhau
sẽ ảnh hưởng tới tính hiệu quả của thị trường thế giới và có thể làm giảm sút khả năng hợp tác tìm kiếm vốn để cạnh tranh một cách có hiệu quả Hơn nữa nếu mỗi quốc gia xây dựng riêng cho mình các chuẩn mực kế toán thì rất tốn kém trong khi nhu cầu đối với các chuẩn mực đều giống nhau giữa các quốc gia khác nhau, mặc dù nền văn hóa và những truyền thống khác có thể tác động tới quá trình xây dựng chuẩn mực ở mỗi quốc gia
Mặt khác các chuyên gia kế toán cũng ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ cho các nước khác nhau Khả năng cung cấp dịch vụ ở nước ngoài của họ và sự cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng gia tăng nếu các chuẩn mực kế toán đều thống nhất giữa các quốc gia
Với tất cả các nhân tố quốc tế và xu hướng chung hiện nay đã thúc đẩy sự thay đổi và hình thành chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Trong số đó có chuẩn mực kế toán quốc tế về tài sản cố định hữu hình-IAS 16 Để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp đều phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Tuy nhiên, doanh
nghiệp khó có thể sản xuất một sản phẩm chất lượng cao,đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế với giá thành rẻ bằng hệ thống máy móc thiết bị nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, hệ thống kho bãi bảo quản vật liệu, sản phẩm tồi tàn Nói cách khác, sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào việc máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất chế biến mà doanh nghiệp sử dụng có đáp ứng được yêu cầu mới của quá trình sản xuất kinh doanh, có theo kịp được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại hay không? Bản chất
Trang 3của tất cả các cuộc đại cách mạng công nghiệp diễn ra từ trước tới nay cũng
là tập trung giải quyết các vấn đề cơ khí hoá,điện khí hoá, tự độnng hoá các quá trình sản xuất mà thực chất là đổi mới, cải tiến và hoàn thiện hệ thống tài sản cố định (TSCĐ) trong đó chủ yếu là tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH)
I KHÁI NIỆM IAS 16 (TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH –
TSCĐHH)
Theo chuẩn mực kế toán quốc tế thì TSCĐHH trong doanh nghiệp phải là những tài sản thõa mãn những tiêu chuẩn sau: có hình thái vật chất rõ ràng;
có thời gian sử dụng hữu ích lớn hơn 1 năm; được doanh nghiệp nắm giữ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hay cho thuê; và chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp Ví dụ: nhà xưởng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển,…
1 Mục tiêu:
IAS 16 đưa ra những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc kế toán đối với TSCĐHH về sự ghi nhận ban đầu và sau ghi nhận ban đầu Nội dung trọng tâm của chuẩn mực này là: thời điểm ghi nhận tài sản, việc xác định giá trị kế toán và ghi nhận chi phí khấu hao liên quan đến tài sản đó
2 Phạm vi:
Chuẩn mực này không áp dụng cho:
* Tài sản được phân loại theo tổ chức bán theo quy định với IFRS 5
* Thăm dò và đánh giá tài sản (IFRS 6)
* Những TS có tính chất sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp(xem IAS 41) hoặc quyền khai thác khoáng sản và các mỏ khoáng sản: dầu mỏ, khí đốt
tự nhiên và tài nguyên không tái sinh tương tự
Trang 4Chuẩn mực này áp dụng đối với tài sản, nhà máy, và thiết bị được sử dụng
để phát triển hoặc duy trì tài sản cố định hữu hình và vô hình [IAS 16,3]
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH IAS 16
Quá trình hình thành và sửa đổi bổ sung của IAS 16
08/1980 Soạn thảo nội dung E18 Kế toán về nhà xưởng, máy móc, và thiết bị
trong hệ thống phương pháp giá phí
03/1982 Ban hành chuẩn mực số 16 về kế toán nhà xưởng, máy móc và thiết bị 01/01/1983 Chuẩn mực IAS 16 có hiệu lực
05/1992 Soạn thảo nội dung E43 về nhà xưởng, máy móc và thiết bị
12/1993 Sửa đổi chuẩn mực số 16 về nhà xưởng, máy móc và thiết bị, nội dung
liên quan đến khả năng so sánh của báo cáo tài chính
01/01/1995 Chuẩn mực số 16 sửa đổi năm 1993 có hiệu lực
1998 Chuẩn mực số 16 sửa đổi phù hợp với chuẩn mực số 36 về sự giảm giá
của tài sản
01/07/1999 Chuẩn mực IAS 16 sửa đổi năm 1998 có hiệu lực
18/12/2003 IASB sửa đổi chuẩn mực số 16
01/01/2005 Chuẩn mực số 16 sửa đổi năm 2003 có hiệu lực
22/05/2008 Chuẩn mực IAS 16 điều chỉnh theo quá trình sửa đổi thường niên của
IFRSs 2007
01/01/2009 Chuẩn mực IAS 16 điều chỉnh theo IFRS 5 (2008) có hiệu lực
III NHỮNG NGUYÊN TĂC KẾ TOÁN ÁP DỤNG TRONG IAS 16.
1. Ghi nhận TSCĐHH
Nhà xưởng, máy móc, thiết bị được ghi nhận là tài sản khi:
+ Thu được lợi ích kinh tế tương lai từ việc sử dụng tài sản
+ Nguyên giá của tài sản được xác định một cách chắc chắn (IAS 16.7)
* Ghi nhận theo nguyên tắc cơ sở dồn tích:
Trang 5Theo nguyên tắc này mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản (nhà xưởng, máy móc, thiết bị,…), chi phí,…phải được ghi
sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền, tương đương tiền Các chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh ban đầu, phát sinh trong kỳ để có được tài sản, trang thiết bị và chi phí phát sinh sau đó liên quan đến việc tạo ra tài sản, trang thiết bị đó
IAS 16 không quy định đơn vị đo lường để được ghi nhận - những gì cấu thành một hạng mục tài sản, nhà máy và thiết bị (IAS 16,9) Tuy nhiên, nếu chi phí được phân bổ từng phần vào tài sản, nhà máy, thiết bị và nếu chi phí phát sinh ảnh hưởng đáng kể đến tổng chi phí của tài sản đó thì phải trích khấu hao một cách riêng biệt (IAS 16,43)
IAS 16 ghi nhận rằng chi phí liên quan đến một số hạng mục tài sản, nhà máy, thiết bị có thể phân bổ đều đặn từng kỳ Giá trị ghi sổ của tài sản, nhà máy, thiết bị bao gồm chi phí phát sinh ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành tài sản và đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Giá trị ghi sổ của những bộ phận thay thế được chấm dứt ghi nhận theo quy định Chấm dứt ghi nhận của IAS 16,67-72 (IAS 16,13)
IAS 16 quy định các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH độc lập khi doanh nghiệp có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ những tài sản đó và giá trị tài có thể được xác định một cách đáng tin cậy
* Ghi nhận theo nguyên tắc hoạt động liên tục:
Nguyên tắc này khẳng định rằng doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong một tương lai gần.Khi đó máy móc, thiết bị, nhà xưởng của doanh nghiệp sẽ vận hành bình thường Trong quá trình hoạt động liên tục của một mục tài sản, nhà máy và thiết bị (ví dụ một máy bay) có thể yêu cầu có những cuộc kiểm tra lớn, thường xuyên để phát hiện lỗi (bất kể các bộ phận của mặt hàng đó được thay
Trang 6thế) Khi mỗi lần kiểm tra lớn được thực hiện, chi phí của nó được ghi vào giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản, nhà máy, và thiết bị thay thế nếu các tiêu chuẩn ghi nhận chi phí được công nhận Trong trường hợp tài sản đó đã được mua lại hoặc sử dụng thì chi phí ước tính của một kiểm tra tương tự trong tương lai có thể được dùng như một dấu hiệu của những chi phí của các thành phần kiểm tra hiện có (IAS 16,14)
2 Xác định giá trị ban đầu:
* Xác định theo nguyên tắc giá gốc:
Theo nguyên tắc này, tài sản phải được kế toán theo giá gốc, trong đó giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền mà doanh nghiệp đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lí của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể Nguyên tắc giá gốc được thực hiện khi
và chỉ khi chúng ta thực thi nguyên tắc hoạt động liên tục
Tất cả TSCĐHH đều phải ghi nhận theo nguyên giá Nguyên giá bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để đưa tài sản vào điều kiện làm việc mong muốn Nguyên giá bao gồm không chỉ gía mua mà còn gồm cả chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí lắp đặt, chi phí cho các chuyên gia kiến trúc và kỹ thuật và chi phí phá dỡ và giải hóng mặt bằng (IAS 16.16-17) Nếu việc thanh toán khi mua tài sản bị trì hoãn thì cần ghi nhận và tính toán lãi suất theo thị
trường (IAS 16.23) Nếu một tài sản được mua theo hình thức trao đổi (dù là tương tự hay không tương tự) thì nguyên giá tính theo giá hợp lí trừ trường hợp hoạt động trao đổi thiếu thông tin hỗ trợ của thị trường hoặc giá hợp lí của cả tài sản nhận về và tài sản đem đổi đều không được xác định một cách tin cậy Nếu không xác định được giá hợp lí, nguyên giá của tài sản hình thành do trao đổi tính bằng giá trị còn lại của tài sản đem đổi (IAS 16.24)
3 Xác định giá trị sau ghi nhận ban đầu:
IAS 16 cho phép sử dụng 2 phương pháp:
Trang 7* Phương pháp giá gốc (cost model):
Giá trị tài sản được xác định bằng nguyên giá trừ hao mòn lũy kế Do nguyên giá và số khấu hao luỹ kế đều là 2 chỉ tiêu đã được kế toán theo dõi và phản ánh nên việc xác định giá trị còn lại của TSCĐHH theo phương pháp này có thể đạt được một cách dễ dàng Ưu điểm của phương pháp giá gốc là đơn giản, dễ thực hiện Nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao.Giá trị còn lại xác định theo phương pháp này là phụ thuộc vào việc doanh nghiệp tính khấu hao như thế nào, cùng một TSCĐHH nhưng nếu doanh nghiệp giảm thời gian khấu hao thì tốc độ giảm giá trị còn lại sẽ tăng lên Tuy nhiên trong điều kiện doanh nghiệp hoạt động bình thường, không
có biến động gì về tổ chức, sắp xếp lại tài sản cũng như hoạt động doanh nghiệp thì phương pháp này vẫn được sử dụng phổ biến
* Phương pháp đánh giá lại (revaluation model):
Giá trị của tài sản được xác định bằng giá trị đánh giá lại, đó là giá hợp lí của tài sản vào thời điểm đánh giá lại trừ đi khấu hao lũy kế Theo phương pháp này, việc đánh giá lại cần thực hiện thường xuyên để không có sự khác biệt đáng kể giữa giá trị còn lại của tài sản và giá hợp lí của tài sản đó vào ngày lập bảng cân đối kế toán (IAS 16.31) Khi đã tiến hành đánh giá lại một
khoản mục tài sản thì tất cả các phân loại TSCĐHH có chứa khoản mục đó cũng cần phải đánh giá lại (IAS 16.36) Khi giá trị kế toán của một tài sản tăng do việc đánh giá lại, giá trị tăng cần được ghi ngay cho vốn chủ sỡ hữu của doanh nghiệp vào mục tăng do đánh giá lại Tuy nhiên giá trị tăng do đánh giá lại cần phải được hạch toán như một khoản thu nhập nếu như nó bù trừ vào phần giảm do đánh giá lại của cùng tài sản đó mà phần giảm này trước đây đã được hạch toán vào chi phí Khi giá trị kế toán của một tài sản giảm đi do việc đánh giá lại, giá trị giảm đi được hạch toán như một khoản chi phí Tuy nhiên, giá trị giảm đi do đánh giá lại cần được bù trừ vào các khoản gia tăng do đánh giá lại trong chừng mực mà giá trị giảm đó không vượt quá giá tri tăng do đánh giá lại của cùng tài sản đó (IAS 16.39-40)
Trang 8Giá trị còn lại của TSCĐHH chỉ được xác định chính xác khi bán chúng trên thị trường Tuy nhiên, TSCĐHH được đầu tư mua sắm là để sử dụng lâu dài cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nên doanh nghiệp không thể sử dụng cách này Thay vào đó, doanh nghiệp có thể sử dụng giá thị trường của một TSCĐHH tương đương với TSCĐHH đang sử dụng để đối chiếu và điều chỉnh Ưu điểm của phương pháp này là cung cấp số liệu thực tế về giá trị còn lại của TSCĐHH So sánh giá trị còn lại xác định theo phương pháp này với giá trị còn lại xác định theo phương pháp giá phí sẽ giúp doanh nghiệp có
cơ sở đánh giá và xem xét các chính sách quản lý và sử dụng TSCĐHH của mình đã phù hợp hay chưa.Nhược điểm của phương pháp này là việc xác định giá trị của tài sản tương đương với tài sản hiện có của doanh nghiệp là hông hề đơn giản; hơn nữa còn tỏ ra sự biến động liên tục số liệu về
TSCĐHH có thể gây khó khăn cho công tác quản lý và kế toán Vì thế
phương pháp này thường dược sử dụng kết hợp với phương pháp giá gốc và đặc biệt có tác dụng trong các trường hợp góp vốn, nhận vốn góp bằng
TSCĐHH, sát nhập, giải thể hay đổi hình thức sỡ hữu Giá trị còn lại của TSCĐHH chỉ được xác định chính xác khi bán chúng trên thị trường Tuy nhiên, TSCĐHH được đầu tư mua sắm là để sử dụng lâu dài cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nên doanh nghiệp không thể sử dụng cách này Thay vào đó, doanh nghiệp có thể sử dụng giá thị trường của một
TSCĐHH tương đương với TSCĐHH đang sử dụng để đối chiếu và điều chỉnh Ưu điểm của phương pháp này là cung cấp số liệu thực tế về giá trị còn lại của TSCĐHH So sánh giá trị còn lại xác định theo phương pháp này với giá trị còn lại xác định theo phương pháp giá phí sẽ giúp doanh nghiệp có
cơ sở đánh giá và xem xét các chính sách quản lý và sử dụng TSCĐHH của mình đã phù hợp hay chưa.Nhược điểm của phương pháp này là việc xác định giá trị của tài sản tương đương với tài sản hiện có của doanh nghiệp là hông hề đơn giản; hơn nữa còn tỏ ra sự biến động liên tục số liệu về
TSCĐHH có thể gây khó khăn cho công tác quản lý và kế toán Vì thế
phương pháp này thường dược sử dụng kết hợp với phương pháp giá gốc và
Trang 9đặc biệt có tác dụng trong các trường hợp góp vốn, nhận vốn góp bằng
TSCĐHH, sát nhập, giải thể hay đổi hình thức sỡ hữu doanh nghiệp
Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét , cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Như vậy, nguyên tắc thận trọng yêu cầu phải lập các khoản dự phòng nhưng
không lập quá lớn, không đánh giá cao hơn giá trị của các tàì sản và các
khoản thu nhập, không đánh giá thấp hơn giá trị các khoản nợ và chi phí, doanh thu và thu nhập được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí Như vậy, 2 nội dung dưới đây (Xử lý chênh lệch đánh giá lại tài sản và Sự giảm giá trị tài sản) cần phải đảm bảo nguyên tắc thận trọng
4 Xử lý chênh lệch đánh giá lại tài sản:
Khi việc đánh giá lại làm tăng giá trị tài sản, thì số chênh lệch giá này cần được ghi tăng khoản mục thặng dư đánh giá lại (phần nguồn vốn), trừ trường hợp chính tài sản này trước đó đã được đánh giá giảm mà số chênh lệch giảm
đó đã được ghi vào chi phí thì số đánh giá tăng lần này cần được ghi nhận là thu nhập
Khi đánh giá lại làm giảm giá trị tài sản thì số chênh lệch giá vượt quá số có thể ghi giảm vào khoản mục thặng dư đánh giá lại (là số hiện đang ghi nhận
là thặng dư đánh giá lại của cùng tài sản) cần được ghi nhận là chi phí
v Sự giảm giá trị tài sản
Khi giá trị có thể thu hồi được giảm xuống thấp hơn giá trị còn lại, thì giá trị còn lại cần được điều chỉnh giảm xuống mức giá trị có thể thu hồi được Phần điều chỉnh giảm vượt quá số hiện đang ghi trên khoản mục thặng dư đánh giá lại của chính tài sản đó, cần được ghi nhận là chi phí
Khi tình huống dẫn đến việc ghi giảm giá trị tài sản không còn hiện hữu và chắc chắn sẽ xuất hiện các điều kiện mới, cần ghi nhận một khoản dự phòng
Trang 10tăng giá tài sản (nguyên tắc thận trọng) Tuy nhiên, khoản dự phòng ghi tăng này cần được giảm trừ số khấu hao đáng lẽ đã được trích nếu trước đó không ghi giảm giá trị tài sản
Việc ghi nhận các khoản giảm giá trị tài sản được tuân thủ theo IAS 36 - Giảm giá trị tài sản
v Chênh lệch đánh giá lại tài sản thực hiện
Khi phát sinh chênh lệch đánh giá lại tài sản thực hiện, khoản chênh lệch này được kết chuyển trực tiếp vào lợi nhuận chưa phân phối Chênh lệch đánh giá lại tài sản có thể được thực hiện toàn bộ khi có nghiệp vụ ngừng hoạt động, thanh lý một tài sản hoặc được thực hiện một phần trong quá trình
sử dụng tài sản (chênh lệch giữa khấu hao trên giá trị còn lại của tài sản và khấu hao trên nguyên giá ban đầu)
5 Khấu hao:
Giá trị có thể khấu hao của một tài sản cần được phân bổ một cách có hệ thống trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của nó (IAS 16.50) Giá trị thanh
lí và thời gian sử dụng hữu ích của một tài sản cần được xem xét lại tối thiểu
là vào thời điểm kết thúc năm tài chính và nếu có bất kì sự thay đổi nào so với ước tính trước đó thì cần phải ghi nhận theo quy định của IAS 8-Chuẩn mực kế toán quốc tế về chính sách kế toán, thay đổi ước tính kế toán và sai sót (IAS 16.51) Tương tự như vậy, phương pháp tính khấu hao cũng cần được xem xét hằng năm và nếu thấy không còn phù hợp nguyên tắc doanh thu – chi phí (nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kì tạo ra doanh thu và chi phí của các kì trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kì đó) thì cần phải thay đổi phương pháp khấu hao như một sự thay đổi ước tính theo IAS 8 (IAS 16.61) Chi phí khấu hao cần phải được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh trừ khi nó đã được tính vào giá trị của tài sản khác (IAS 16.48) Việc tính khấu hao bắt đầu từ khi tài sản đưa vào sử dụng