Một lý do nữa mà tôi rất tâm huyết mang tính học hỏi giao lưu của giới trẻ Việt Nam nữa đó là tại ngôi trường mà tôi đang theo học và sắp sửa kết thúc khóa học, các bạn sinh viên có thể
Trang 1W X
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Trang 2đã được trau dồi và tiếp thu những kiến thức và kinh nghiệm quý báu không những
từ sách vở mà còn từ cuộc sống và những hoạt động thực tế do nhà trường và Ban lãnh đạo khoa Đông Phương tổ chức cho sinh viên Đó là sự biết ơn vô cùng to lớn của sinh viên chúng em
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Nhà trường, Ban lãnh đạo khoa Đông Phương, quý Thầy Cô, bố mẹ, bạn bè,…đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện
để em có thể hoàn thành bài báo cáo nghiên cứu khoa học của mình một cách tốt nhất Đặc biệt, cho em được gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Đoàn Lê Giang, người đã dẫn dắt em từng bước trong việc nghiên cứu của mình Từ lúc ban đầu, bỡ ngỡ và mới mẻ, trải qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu gặp rất nhiều khó khăn và cho đến khi hoàn thành bài báo cáo này, Thầy đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn.cho
em Thầy vừa tạo điều kiện để em có thể vận dụng hết khả năng tư tư duy sáng tạo của mình vừa dẫn dắt em theo những hướng đi khoa học và hiệu quả Đó là tấm lòng cao quý của một người thầy
Là một sinh viên theo học nghành Nhật Bản học tại khoa Đông Phương, nghiên cứu khoa học là quá trình để em tự vận dụng kiến thức và kinh nghiệm trau dồi được từ 4 năm theo học tại trường vào bài nghiên cứu, cũng là quá trình để em
tự kiểm tra và củng cố lại kiến thức của mình Từ đó, em có thể xác định được hướng đi cần thiết cho bản thân mình Vì vậy, em cũng xin được gửi đến Nhà trường, Ban lãnh đạo khoa Đông Phương, quý Thầy Cô, lời biết ơn chân thành nhất Những người đã tạo cho em những điều kiện tốt nhất để em có thể học tập, nghiên cứu và sáng tạo bằng chính khả năng và sự cố gắng của bản thân em
Trang 3và bổ sung của quý Thầy Cô và bạn đọc!
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện đề tài Trần Thị Thu Vân
Trang 42 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2
3 MỤC TIÊU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI 4
B PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I:QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KABUKI 5
1.1 Nguồn gốc và sự ra đời của Kabuki nữ 1603-1629 5
1.1.1 Tiểu sử người sáng tạo ra Kabuki 5
1.1.2 Sáng tạo ra Kabuki 5
1.1.3 Okuni và Kabuki những năm sau đó 7
1.2 Kabuki nam bắt đầu từ năm 1653 8
1.2.1 Kabuki của các nam diễn viên trẻ 8
1.2.2 Sự hình thành Yarou kabuki 9
1.3 Kabuki thời Genroku 1673-1735 10
1.4 Kabuki sau cuộc Minh Trị Duy Tân 12
1.5 Kabuki ngày nay 12
1.6 Các soạn giả và các vở kịch nổi tiếng 14
1.6.1 Soạn giả Chikamatsu Monzaemon (1653-1724) 14
1.6.2 Soạn giả Namiki Shozo (1703-1773) 15
1.6.3 Soạn giả Namiki Gohei (1747-1804) 15
1.6.4 Soạn giả Tsuruya Nanboku (1755-1829) 16
1.6.5 Soạn giả Kawatake Mokuami (1816-1893) 17
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ CỦA KABUKI .19
2.1 Văn hóa Edo trong các vở kịch Kabuki 19
2.2 Nhân vật 23
Trang 52.5.2 Trang phục 32
CHƯƠNG III:NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU KABUKI VÀ KABUKI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NHẬT BẢN 35
3.1 Nghệ thuật sân khấu 35
3.1.1 Thiết kế sân khấu 35
3.1.1.1 Hanamichi (Hoa đạo) 35
3.1.1.2 Mawari-butai (Sân khấu xoay) 37
3.1.1.3 Seri (Cửa sập) 38
3.1.1.4 Chuunori (Bay giữa không trung) 38
3.1.1.5 Hikidougu (Xe đẩy sân khấu) 38
3.1.2 Trợ lý sân khấu 38
3.1.3 Đạo diễn sân khấu 39
3.1.4 Diễn xuất 40
3.1.5 Nhà hát 44
3.2 Kabuki trong đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản 47
C PHẦN KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 6A PHẦN DẪN LUẬN
Tôi biết đến Nhật Bản qua cái tên gọi là đất nước Phù Tang và qua các hình ảnh như: những cành hoa anh đào dịu dàng, những cô gái Nhật nổi bật trong những chiếc áo Kimono, ngọn núi Phú Sĩ oai nghiêm, xinh đẹp hay những bộ phim truyền hình hấp dẫn đầy ấn tượng Và có những giờ học lịch sử tôi cũng được nghe thầy giảng dạy về đất nước Nhật Bản với một nền văn hóa nhân văn sâu sắc Tôi biết ngoài những điều mà tôi đã nói, Nhật Bản còn có rất nhiều những đặc sắc, những đa dạng trong cái gọi là văn hóa ấy Tất cả làm cho tôi có cảm giác muốn khám phá về đất nước này Trở thành sinh viên nghành Nhật Bản học như bây giờ cũng là mong muốn lớn của tôi, nó bắt nguồn từ những động lực từ thuở nhỏ Và cho tới ngày hôm nay tôi đã có cơ hội để thực hiên được điều mà tôi đã mơ ước từ lâu Tôi đã quyết đinh tìm hiểu về nó dù là ở khía cạnh nào hay chỉ là một yếu tố nào trong cái nền văn hóa rộng lớn Vì tôi biết ở một mặt nào trong đời sống của con người cũng
có thể thể hiện lên được nét đẹp văn hóa
Một lý do nữa mà tôi rất tâm huyết mang tính học hỏi giao lưu của giới trẻ Việt Nam nữa đó là tại ngôi trường mà tôi đang theo học và sắp sửa kết thúc khóa học, các bạn sinh viên có thể tự xây dựng và hóa thân trở thành các diễn viên trong các vở nhạc kịch Kabuki của chính mình Chính vì vậy mà khi tiến hành tìm hiểu về
đề tài nhạc kịch Kabuki tôi sẽ cố gắng hoàn thiên một bài nghiên cứu hoàn chỉnh, đầy đủ và hệ thống nhằm có thể cung cấp và giúp đỡ cho chính tôi và các bạn về cách nhìn,cách cảm nhận, cách tiếp thu về môn nghệ thuật này
Cũng như du khách nước ngoài khi đặt chân đến Việt Nam, không thể bỏ qua múa rối nước, chèo, tuồng hay cải lương thì khi đặt chân đến đảo quốc Phù Tang,dù
là người ưa náo nhiệt nhất cũng ít nhất một lần tự ép mình vào nhà hát để được đắm mình trong bầu không khí của nước Nhật cổ xưa qua một loại hình nghệ thuật với tên gọi là Kabuki So với 3 loại hình nghệ thuật là: No, Kyogen và Bunraku, thì
Trang 7Kabuki ra đời muộn nhất nhưng được đánh giá là hấp dẫn và mang nhiều nét đặc trưng hơn cả Nghiên cứu Kabuki cũng chính là cách để đắm mình vào những nét đẹp cổ truyền và tinh túy của nó
Với những lý do trên, tôi đã chọn cho mình đề tài này với mong muốn hoàn thành nó bằng sự cố gắng nhất mà tôi có thể Vì vậy tôi cũng rất mong nhận được
sự giúp đỡ và cộng tác của mọi người
Trong phạm vi trường Đại học Lạc Hồng thì chưa có ai nghiên cứu về đề tài này nhưng ở phạm vi rộng lớn hơn thì đã có rất nhiều người tìm hiểu về đề tài này Tuy nhiên những nghiên cứu của họ chủ yếu là đi sâu vào tìm hiểu một mảng, một khía cạnh nào đó trong Kabuki chẳng hạn như: kịch bản, sân khấu, diễn viên, hóa trang, … Trong đề tài nghiên cứu của mình, tôi sẽ tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu một cách hệ thống, tổng quát mọi khía cạnh, mọi mặt của Kabuki mà tôi có thể
Có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về nhạc kịch Kabuki và tôi cũng được tham khảo rất nhiều về nó nhưng quả thật không chỉ với riêng tôi mà còn với rất nhiều người,Kabuki, môn nghệ thuật truyền thống nổi tiếng từ hàng thế kỉ nay vẫn luôn là điều mới mẻ Tại Nhật bản, cuốn sách nói về “đời sống” Kabuki của tác giả Shoriya Aragoro là một trong những cuốn sách bán chạy nhất Điều đó cho thấy Kabuki có một sức sống vĩnh cửu trong cuộc sống của người Nhật nhờ sự trân trọng
và gìn giữ những giá trị truyền thống dân tộc cùng những tư liệu của nhiều người
về nó
Kabuki là một loại hình văn hóa lâu đời và rất đặc sắc của Nhật Bản Kabuki được UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại vào ngày 24 tháng 11 năm 2005 Hiện nay Kabuki là loại hình kịch truyền
Trang 8thống của Nhật Bản được yêu thích nhất Chính vì vậy, đối với tôi-một sinh viên đang theo học chuyên nghành Nhật Bản học, việc quyết định nghiên cứu tìm hiểu
về loại hình văn hóa này là việc để tôi hiểu biết nhiều hơn về Kabuki và muốn giới thiệu rộng rãi đến nhiều người, nhiều đối tượng một cách hệ thống và hoàn chỉnh
Kabuki là một đề tài thuộc lĩnh vực văn hóa truyền thống là một lĩnh vực rất rộng bao gồm nhiều yếu tố mà khả năng người viết thì có hạn Vì vậy, đề tài sẽ tìm hiểu về lịch sử phát triển của kabuki, những nét đặc sắc của kabuki và kabuki trong đời sống xã hội Nhật bản
Vì thời gian có hạn, những tài liệu mà mình tìm được cũng trong tầm giới hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót về kiến thức và cách xây dựng nghiên cứu một đề tài Tuy nhiên, tôi sẽ hết sức cố gắng tìm hiểu và hoàn thiện bài nghiên cứu của mình một cách tốt nhất
Về phương pháp nghiên cứu, để hoàn thành bài viết, tôi đã sử dụng các phương pháp sau đây:
Phương pháp lịch sử: phương pháp này tạo cho bài viết một phong cách trình bày khoa học, rõ ràng cùng những sự kiện lịch sử có liên quan đến đề tài
Phương pháp phân tích-tổng hợp: dựa vào nguồn tài liệu có được từ những tác giả đi trước và nguồn tài liệu khác như: sách, báo, trang web, … bài viết thu thập, tổng hợp, phân tích và liên kết các dữ liệu lại nhằm đảm bảo tính hệ thống và hoàn chỉnh của bài viết
Đề tài đóng góp một phần nhỏ vào lịch sử các công trình nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản Đề tài tìm hiểu về môn nghệ thuật sân khấu Kabuki, môn nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản Từ những tìm hiểu của bài nghiên cứu, đề tài sẽ đưa đến
Trang 9cho người đọc những hiểu biết về giá trị văn hóa, từ đó tiếp thu và học hỏi những
tinh hoa của nhân loại, nâng tri thức của con người lên một tầm cao mới
6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Để xây dựng bài viết theo đúng mục tiêu và đảm bảo được tính khoa học cũng như là có thể dễ dàng truyền đạt đến người đọc nội dung của bài nghiên cứu một cách có hiệu quả nhất,tôi đã xây dựng cấu trúc của bài nhiên cứu theo 3 chương như sau:
KABUKI
Trong chương này, tôi sẽ nghiên cứu về nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật nhạc kịch Kabuki qua các thời kì lịch sử Qua đó làm nổi bật giá trị lịch sử lâu đời của Kabuki
Tổng hợp, phân tích các yếu tố đặc sắc trong Kabuki để làm rõ các giá trị truyền thống cũng như giá trị nghệ thuật của nó là nội dung chính của chương này
TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA NHẬT BẢN
Từ những giá trị được phân tích ở chương II, chương III sẽ tìm hiểu về tầm ảnh hưởng của Kabuki trong đời sống văn hóa Nhật Bản
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KABUKI
1.1 Nguồn gốc và sự ra đời của Kabuki nữ 1603-1629
1.1.1 Tiểu sử người sáng tạo ra Kabuki
Okuni sinh ra và lớn lên ở gần một ngôi đền có tên gọi là Izumo, nơi cha cô làm nghề thợ mộc và những người thân trong gia đình làm việc ở đó Khi lớn lên Okuni cũng vào đền làm việc với tư cách là một Miko, có nghĩa là cô gái trẻ phục
vụ trong đền thờ đạo Shinto Cô dần nổi tiếng không chỉ về múa đẹp, biểu diễn giỏi
mà còn được biết đến cả về sắc đẹp của mình nữa Theo phong tục thời kì đó, pháp
sư, miko, và những người khác làm việc trong đền luôn muốn cống hiến cho đền thờ sẽ được đi tới Kyoto để biểu diễn các điệu múa và bài hát linh thiêng phục vụ cho thần linh
Khi lên Kyoto, với những màn trình diễn xuất sắc của mình cô nổi danh với những điệu múa cách tân trong bi
ểu diễn Đó là điệu múa Nembutsu, điệu múa ngợi ca Phật A Di Đà Điệu múa này được biết đến vì vẻ đẹp có tính nhục cảm và có những ám chỉ bóng gió về tình dục Cùng với việc thể hiện điều đó trong những điệu múa và vở kịch, cô thu được rất nhiều sự chú ý và bắt đầu thu hút một lượng lớn khán giả đến xem mình biểu diễn Ngay lúc đó, cô bị gọi về lại đền thờ nhưng cô không quan tâm đến việc trở về tuy nhiên cô vẫn đều đặn gửi tiền về cho các hoạt động trong đền thờ
1.1.2 Sáng tạo ra Kabuki
Hình 1.1 Người sáng tạo ra Kabuki,
Izumo no Okuni [Nguồn hình: http://nhatban.net] [19]
Trang 11Đến khoảng năm 1603, Okuni thành lập một gánh hát ở vùng Shijougawara, sông Kamo Gánh hát tập hợp những người vô gia cư hay những kẻ có địa vị xã hội thấp, những kẻ đã bị gắn liền với cái tên Kabukimono Kabuki xuất phát từ động từ Kabuku, có nghĩa là: dựa vào hướng nào đó Mono có nghĩa là người Okuni dạy cho những người trong gánh hát cách diễn xuất, múa, hát một cách tự nhiên Và bà đặt tên cho đoàn kịch của mình là Kabuki Những buổi biểu diễn ban đầu mới của đoàn kịch chỉ có múa và hát mà không có cốt truyện chính, nội dung cụ thể Vì vậy,
nó bị một số người coi rẻ vì sự lòe loẹt, chối tai, nhưng nói một cách công bằng thì những buổi biểu diễn ấy nó cũng được tán dương vì tính công phu và cầu kì trong
vẻ đẹp hóa trang và màu sắc sặc sỡ của trang phục, sân khấu [17- trang 106]
Bản thân Okuni yêu cầu các nam diễn viên trong đoàn kịch đóng giả vai nữ và ngược lại nhưng chính cô lại đóng vai của cả hai vai nam, nữ Đặc biệt, cô nổi tiếng nhất với vai diễn Samurai và nhân vật cha sứ Trong các lần biểu diễn, có một lần trong lúc nhập vai cô gái làng chơi, Okuni đã thể hiện một cách thái quá với những hành động kì quặc khiến cho người xem phải lúng túng vì nó mang tính chất nhạy cảm Ngay lập tức, những cô gái làng chơi chuyên nghiệp thời kỳ đó liền bắt chước những hành động thái quá mà Okuni đã biểu diễn và xem cô như một thần tượng
Về sau, với sự tài trợ của Ujisato Sanzaburou, người giúp đỡ cho Okuni về phương diện tài chính cũng như nghệ thuật, những màn trình diễn của đoàn kịch đã chính thức trở thành một môn kịch có tên gọi là Kabuki Theo như cách diễn giải
của một số tài liệu thì: Kabuki được đọc theo âm Hán-Việt là ca vũ kỹ Ca có nghĩa
là hát, vũ có nghĩa là múa, kỹ có nghĩa là kỹ năng Theo đó đôi khi Kabuki cũng
được dịch là nghệ thuật múa hát Tuy nhiên nếu xét theo loại chữ phụ thuộc vào cách phát âm mà không phụ thuộc vào các ký tự cấu thành lên nó thì nó sẽ không giải thích được đúng nghĩa từ nguyên gốc Từ Kabuki cũng có thể bắt nguồn từ động từ Kabuku, có nghĩa là “tựa vào” hay là “chống vào”, “dựa vào” Nếu hiểu
Trang 12theo nghĩa của sân khấu thì nó có nghĩa là “tiên phong, đi trước” hay là “dị thường”
[7- trang 440]
Về mặt riêng tư, người ta nói rằng, Sanzaburou là người tình của Okuni, mặc
dù họ không kết hôn với nhau Sau khi Sanzaburou chết, bà vẫn tiếp tục phát triển Kabuki, tiếp tục kết hợp và phát triển giữa kịch nghệ với âm nhạc và các điệu múa
Cứ như thế, sự nổi tiếng của bà và đoàn kịch Kabuki đã lan rộng khắp nước Nhật cùng với những nghệ thuật biểu diễn do bà sáng tạo ra
1.1.3 Okuni và Kabuki những năm sau đó
Okuni lui về nghỉ hưu năm 1610, rồi từ đó lặng thinh, không thấy bà xuất hiện trên các sân khấu nữa
Có rất nhiều người và các đoàn kịch khác đã có các hoạt động bắt chước theo Kabuki Đặc biệt, ở các nhà chứa còn tổ chức các buổi biểu diễn mang tính bắt chước này để làm trò vui thích, giải trí cho những vị khách giàu có Họ cũng tiếp nhận những cô gái có khả năng múa hát và diễn xuất để họ có thể biểu diễn trên sân khấu kiêm thêm nghề gái điếm Từ những điều đó, các loại hình biểu diễn Kabuki lúc bấy giờ nhanh chóng cuốn hút những loại khán giả hủ bại, và lôi cuốn sự chú ý của rất nhiều đàn ông Những người trân trọng và yêu quý nghệ thuật Kabuki cũng như chính quyền chức sắc không vừa lòng với loại thu hút cách cảm nhận lệch lạc
về nghệ thuật Họ cảm thấy như thể phụ nữ đã làm mất đi cái phẩm giá của nghệ thuật Kabuki Cho nên đến năm 1629, phụ nữ bị cấm diễn xuất Kabuki và bất kì
một hình thức sân khấu nào khác [2-trang 134]
Nói về Okuni, có vài thuyết nói về khoảng thời gian bà qua đời, có thuyết nói rằng bà mất năm 1613, số khác lại cho rằng con số1658 mới chính xác
Năm 2003, một tượng đài được dựng lên để tôn vinh và tưởng nhớ đến công
ơn của bà, trên đường Kawabata, ở phía Bắc Shijou Ouhashi, gần bờ sông Kamo ở
Kyoto [16- trang 275]
Trang 131.2 Kabuki nam bắt đầu từ năm 1653
1.2.1 Kabuki của các nam diễn viên trẻ
Cái này vừa cấm đã mọc ra cái khác theo nhu cầu hiển nhiên của xã hội.Vì Kabuki đã quá nổi tiếng và đang rất được yêu thích, nên các nam diễn viên trẻ, gọi
là wakashu (diễn viên nam trẻ), đã tiếp nối vị trí của phụ nữ sau khi họ bị cấm biểu diễn Những nam diễn viên trẻ mặc quần áo phụ nữ và đảm nhận vai trò onnagata (nữ vai trò) Những thanh niên này có thể thay thế vai trò của phụ nữ vì nam tính trong những người thanh niên chưa trưởng thành này chưa bộc lộ rõ và họ có giọng cao hơn so với những người đàn ông trưởng thành Những nam diễn viên trẻ này đảm nhận những vai diễn có sức hấp dẫn đã trở nên phổ biến và thường được trình bày trong bối cảnh có tính chất khiêu dâm
Hình 1.2 Một cuộc hẹn hò giữa một người đàn ông và một diễn viên nam trẻ
[Nguồn hình: http://nhatban.net][19]
Cùng với sự thay đổi về vai trò giới tính của người biểu diễn còn dẫn đến sự thay đổi trong sự nhấn mạnh hiệu suất bằng cách tăng sự căng thẳng trong kịch tính giống như các bộ phim truyền hình nhằm cuốn hút sự theo dõi của khán giả hơn là
Trang 14nhấn mạnh đến kỹ thuật các điệu múa Các buổi biểu diễn của họ nói chung đều tục tĩu và các diễn viên nam đặc biệt là những diễn viên trẻ, đẹp trai cũng bắt đầu bước vào việc hành nghề mại dâm Khách hàng bao gồm cả hai đối tượng: phụ nữ và nam đồng tính Trong các buổi biểu diễn hay là sau các buổi biểu diễn có nhiều khán giả thường làm loạn lên và thường xảy ra những vụ cãi vã om sòm đôi khi biến thành
ẩu đả, nguyên nhân chính là do việc tranh giành nhau để được qua đêm với các diễn viên trẻ, đẹp trai, nổi tiếng Vì điều này chính quyền Mạc phủ đã quyết định cấm vai trò Wakashu vào năm 1652, có nghĩa là cấm các chàng trai chưa trưởng thành trở thành diễn viên Kabuki Điều này đã tạo nền móng cho sự hình thành Yarou Kabuki
1.2.2 Sự hình thành Yarou kabuki
Hình 1.3 Hai diễn viên kabuki Bando Zenji và Sawamura Yodogoro trong tranh
của Sharaku (1974)
[Nguồn hình: http://nhatban.net][29]
Song song với quyết định đó, từ năm 1653, quyết định mới ra đời quy định chỉ
có đàn ông trưởng thành thực sự mới được tham gia biểu diễn Kabuki Kabuki phát triển thành một loại hình sân khấu phức tạp và cách điệu hóa gọi là Yarou kabuki (dã lang ca vũ kỹ, đại ý là Kabuki nam) Sự biến đổi về nội dung trong phong cách
Trang 15mới này có ảnh hưởng lớn đến các nhà hát hài kịch, đặt dưới sự quản lý của Mạc phủ Vì Kyogen vào thời gian đó cũng rất nổi tiếng
Từ đó, tất cả các vai trong vở kịch Kabuki tiếp tục do đàn ông đảm trách Hình thức các diễn viên nam chuyên đóng các vai nữ, được gọi là onnagata hay oyama (có nghĩa là nữ hình)bùng nổ Những gia đình truyền thống của các onnagata bắt đầu hình thành rất nhiều và trong những năm sau này, phần lớn các onnagata chuyên nghiệp xuất thân từ những gia đình truyền thống đó
Diễn viên onnagata có thể làm cho khán giả nghĩ họ chính là phụ nữ thật vì họ trang điểm rất đậm và lối diễn, giọng nói cũng giống như là các diễn viên nữ đang đảm nhận vai trò đó vậy Onnagata xuất hiện nhiều trong các cảnh lãng mạn Các cảnh này họ thường diễn xuất chung với một diễn viên khác Những người đàn ông biết cách giấu thể hình và kích cỡ thật của mình để trông giống nữ giới như thật Họ nói bằng cái giọng the thé, lảnh lót Có lẽ đó là cái cách mà đàn ông vẫn thường nghĩ về phụ nữ nên họ đã đưa chúng vào trong lối diễn của mình
Sau hơn 250 năm từ khi có quy định cấm phụ nữ trình diễn Kabuki, diễn viên onnagata đóng vai trò chính trong các vở kịch Kabuki và trong các nhà hát Kabuki Cho đến trước khi lệnh cấm trên bị dỡ bỏ vào năm 1879, thì vai trò của phụ nữ cũng
đã trở nên không còn quan trọng nữa vì các diễn viên nam đã có được các kĩ năng diễn những vai loại này Vì loại Kabuki này thiếu sức hấp dẫn so với hai loại Kabuki thời kỳ trước về phương diện dung mạo bong sắc nên diễn viên đã tập trung sức lực nghiên cứu kỹ thuật trình diễn hòng lôi cuốn khán giả Dần dần, Kabuki đã thành hình với tư cách là một sân khấu tuồng mà vai trò của diễn xuất được đặt lên hàng đầu
1.3 Kabuki thời Genroku 1673-1735
Trong suốt thời kì Genroku (Nguyên Lộc 1688-1704), Kabuki phát triển rất hưng thịnh từ vùng kinh kỳ Kamigata cho tới Edo, trung tâm chính trị mới Thời kì này cấu trúc, nội dung của một vở kịch Kabuki đã được chính thức hóa, cũng như
sự xuất hiện của nhiều yếu tố cách điệu hóa của văn học Các loại hình nhân vật trong vở kịch thường được xác định rõ ràng Sân khấu Kabuki và Ningyou joururi,
Trang 16thể loại sân khấu múa rối sau đó được biết đến với cái tên Bunraku, trở thành mối liên kết chặt chẽ với nhau trong thời kì này và cả hai đều có ảnh hưởng đến sự phát
triển của nhau.[1-trang 397]
Trong Kabuki thời kỳ này, hai loại vai quan trọng được chú trọng phát triển
đó là: aragoto (phong cách thô ráp) do Ichikawa Danjuuro (1660-1704) khám phá
ra ở Edo, và wagoto (phong cách êm dịu) bởi diễn viên Kamigata vĩ đại và Sakata
Tojuurou (1604-1709) sáng tạo ra ở vùng Kyoto-Osaka Hai loại vai này có những đặc điểm trái ngược, khác biệt nhau Aragoto là loại vai có phong cách phô trương, mạnh mẽ, theo đó các diễn viên thường phóng đại từ ngữ, điệu bộ, thậm chí đến cả trang phục, chân cẳng và trang điểm Kịch nghệ trong Aragoto thường nhấn mạnh vào hành động Ngược lại, đặc điểm của loại vai Wagoto là thường có lời nói và điệu bộ bình thường, nhẹ nhàng và kịch tính Nội dung thường chú trọng về các bi kịch lãng mạn Tính cách của vai diễn là nhạy cảm, dễ xúc động Truyền thống của hai loại này phát triển và hoàn thiện đến ngày nay và đời nào cũng có người mang tiếp tên tuổi nối nghiệp tổ tiên
Vào giữa thế kỷ 18, Kabuki bị Bunraku thay thế chỗ đứng trên sân khấu Bunraku được biểu diễn dành cho những tầng lớp thấp hơn của xã hội Nguyên nhân một phần là do sự xuất hiện một vài nhà viết kịch Bunraku tài năng vào thời điểm đó Đó chính là những soạn giả như Chikamatsu Monzaemon và Ki no Kaion
Về mặt kết cấu vở tuồng và mô tả tâm lý con người thì Bunraku có sự tiến bộ và phát triển trước Kabuki một bước Từ lúc bị thế chỗ, không có gì nổi bật trong sự phát triển của Kabuki cho đến cuối thế kỷ đó và cho đến khi Kabuki nổi tiếng trở lại và giành lại vị thế trong lòng khán giả
Tuy rằng loại hình sân khấu Kabuki coi trọng diễn viên và kỹ thuật trình diễn được đặt lên hàng đầu nhưng dần dần nội dung, tính chất của các bản tuồng cũng được thay đổi Vì vậy cùng với thời gian, nó bộc lộ được tính kịch nghệ trong lối diễn xuất và cấu trúc vở kịch Đó là điều đáng chú ý trong lịch sử phát triển Kabuki Trước thời Meiji những bản tuồng không được sao chép, truyền bá Chúng được lưu giữ theo thời gian bằng các vở kịch diễn đi diễn lại nhiều lần và biến hóa tùy theo
Trang 17phong cách diễn xuất của diễn viên Do đó bắt đầu từ khi này, trong Kabuki, diễn
viên có vai trò quan trọng hơn cả soạn giả [13- trang 46]
1.4 Kabuki sau cuộc Minh Trị Duy Tân
Cuộc cải cách văn hóa to lớn của Nhật Bản vào năm 1868 kéo theo sự sụp đổ của Mạc phủ Tokugawa, xóa bỏ đi tầng lớp Samurai, và sự mở cửa của Nhật Bản đối với phương Tây đã giúp cho Kabuki một lần nữa hồi sinh Trong khi nền văn hóa đất nước đang vật lộn để khắc phục sự thiếu thốn nét đặc trưng và sức thu hút của mình, thì các diễn viên Kabuki cố gắng tăng cường tiếng tăm, uy tín, vai trò của Kabuki trong giới thượng lưu và ra sức hòa trộn, thích ứng giữa phong cách truyền thống với khẩu vị đương thời Cuối cùng họ cũng chứng tỏ được thành công về điều này bằng một suất diễn phục vụ Nhật Hoàng Minh Trị vào ngày 21 tháng 4 năm
1947 [12- trang 95]
Rất nhiều nhà hát Kabuki bị phá hủy do bị ném bom và bị lực lượng quân đội chiếm đóng trong thế chiến thứ II Sau chiến tranh, Kabuki lại bị ngăn cấm biểu diễn trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, đến năm 1947, lệnh cấm bị bãi bỏ và việc biểu diễn Kabuki lại được tiếp tục trở lại
1.5 Kabuki ngày nay
Thời gian từ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc là một thời gian khó khăn đối với Kabuki Bên cạnh sự tàn phá của chiến tranh phần lớn các thành phố Nhật Bản mà nó còn kéo theo xu hướng đương thời đó là từ chối những giá trị truyền thống và những tư tưởng của quá khứ Kabuki cũng không nằm ngoài xu hướng đó
Để tồn tại và tìm lại sự đón nhận của khán giả, Kabuki tự tìm cách thay đổi chính mình Những vở kịch Kabuki truyền thống trước kia được cải tiến lại mang tính chất đổi mới, hiện đại của đạo diễn Tetsuji Takechi rất được công chúng hoan nghênh vào thời điểm đó Chúng đã mang lại sự hồi sinh mạnh mẽ cho Kabuki và tình yêu của khán giả đối với Kabuki ở vùng Kansai
Cùng với công lao của những đạo diễn Kabuki tài năng, không thể không nói đến công lao của những diễn viên Kabuki trong việc gìn giữ và phát triển nó Nói
Trang 18đến các ngôi sao Kabuki, trong số những ngôi sao trẻ tuổi đã biểu diễn cùng Takechi Kabuki thì Nakamura Ganjiro III (sinh năm 1931) là diễn viên hàng đầu Ông lần đầu được biết đến với cái tên Nakamura Senjaku, và để vinh danh ông, thời
kì đó trong giới Kabuki gọi là “ Thời kỳ Senjaku” để vinh danh ông [11- trang
200]
Ngày nay, Kabuki vẫn khá được ưa chuộng – có thể nói nó là loại hình kịch truyền thống Nhật Bản được ưa chuộng nhất – và các ngôi sao Kabuki cũng thường xuất hiện với các vai diễn xuất sắc khác trên Tivi hay màn ảnh rộng Ví dụ, vai diễn Onnagata nổi tiếng có tên gọi là Bandoo Tamasaburo V đã xuất hiện trong vài vở kịch không phải là Kabuki và điện ảnh – vai mà họ đảm nhận thường là vai nữ Kabuki cũng đươc một loại hình nghệ thuật hiện đại nổi tiếng khác của Nhật Bản tham khảo đó là Anime
Mặc dù có không nhiều các nhà hát lớn ở Tokyo, Kyoto, Osaka, nhưng lại có rất nhiều các nhà hát nhỏ ở Osaka, và trên khắp đất nước Đoàn kịch Ooshika Kabuki, ở Ooshika, tỉnh Nagano, là một ví dụ Một vài đoàn kịch Kabuki đã bắt đầu giao cho phụ nữ đảm nhận các vai onnagata, và Ichikawa Kabuki-za (đoàn kịch toàn nữ) được thành lập sau chiến tranh thế giới thứ II
Sự quan tâm và yêu thích Kabuki đã lan sang cả các nước phương Tây Các đoàn kịch Kabuki thường sang Châu Âu và Châu Mỹ lưu diễn Cũng có một vài vở kịch của phương Tây đã được soạn sang cho việc biểu diễn Kabuki, chẳng hạn như các vở kịch của Shakespeare
Ngược lại, các nhà viết kịch và tiểu thuyết gia phương Tây cũng đã thử sức sáng tạo nghệ thuật với đề tài Kabuki, ví dụ như vở Hiroshima Bugi (2004) của Gerald Vizenor Nhà văn Yukio Mishima là một người có công trong việc tiên phong và phổ biến phong cách biểu diễn Kabuki theo lối hiện đại, và làm hồi sinh những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, như Noh, cho phù hợp và tồn tại với phong cách hiện đại
Trang 19Ở Australia, đoàn kịch Za Kabuki của Đại học Quốc gia Australia đã bắt đầu biểu diễn kịch từ năm 1976, đây là một đoàn biểu diễn kịch Kabuki có sự tồn tại và
phát triển lâu nhất ở bên ngoài nước Nhật [8- trang 256]
Kabuki đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể và truyền
khẩu của nhân loại vào ngày 24 tháng 01 năm 2005 [6- trang 301]
1.6 Các soạn giả và các vở kịch nổi tiếng
1.6.1 Soạn giả Chikamatsu Monzaemon (1653-1724)
Hình 1.4: Soạn giả Chikamatsu Monzaemon (1653-1724)
[Nguồn hình: http://www.erct.com]
Nhà soạn kịch nổi tiếng Chikamatsu Monzaemon, một trong những nhà soạn kịch Kabuki đầu tiên và tài năng, ông có một số tác phẩm có tầm ảnh hưởng lớn trong giới sáng tác Kabuki Vở thường được coi là tác phẩm quan trọng nhất của ông là vở Sonezaki Shinju (Tự sát vì tình ở Sonezaki), mặc dù thực chất vở này bắt nguồn từ kịch bản Bunraku Thế nhưng cũng giống như nhiều vở kịch Bunraku, nó
được sửa lại cho phù hợp với sân khấu Kabuki [2-trang 136]
Từ nó có thể làm xuất hiện nhiều bản tương tự Trong lịch sử, vở này và những vở có nội dung tương tự đã gây ra nhiều vụ tự tử phỏng theo kịch bản khiến chính phủ ban hành lệnh cấm trình diễn những vở kịch có đề tài Shinjumono (kịch
vì việc hai người yêu nhau phải tự tử) vào năm 1723 [2-trang 140]
Trang 201.6.2 Soạn giả Namiki Shozo (1703-1773)
Người đóng vai trò then chốt trong sự phục hưng của Kabuki là soạn giả Namiki Shozo (1730-1773) Ông chịu ảnh hưởng của phong cách sân khấu Jooruri-tiền Bunraku vì là ông học trò của soạn giả Jooruri nổi tiếng Namiki Sosuke (1695-1751) Ông đã biết đem cách kết cấu tình tiết phức tạp của tuồng Jooruri vào trong Kyogen của Kabuki, cũng như đã biết thay đổi cách trang trí phông cảnh sân khấu, sáng chế ra sân khấu quay vòng tròn, dùng những dụng cụ đồ sộ, công phu hơn để cảnh quay sân khấu rộng lớn thêm lên và do đó, đáp ứng được nhu cầu của ngày càng nhiều khán giả Namiki Sosuke là người soạn ra tác phẩm “Con Thuyền Ba Mươi Thạch lên đường” “Sanjikkoku Yofune no Hajimari” (Tam Thập Thạch Đăng Thủy), truyện kể về loại thuyền buôn “ba mươi thạch” (trọng tải trên 5 tấn vì 1
“thạch” hay “hộc” tương đương 180 lít) chở hành khách và hàng hóa trên sông Yodogawa ở vùng Osaka
1.6.3 Soạn giả Namiki Gohei (1747-1804)
Môn đệ của Namiki Shozo là Namiki Gohei (1747-1804) Namiki Gohei có
sở trường về Sewakyogen tức là loại Kabuki nói về nhân tình thế thái đương thời,
và ông đã thừa kế sự nghiệp của thầy Gohei trở thành soạn giả số một của vùng kinh kì nhưng đến năm Kansei (Khoan Chính) thứ 6 (1794) ông lại bỏ sang miền Đông, mang theo cả tác phong tả thực của Kabuki vùng Kyoto-Osaka sang Edo Cùng lúc, soạn giả đồng thời đại với Namiki Gohei bấy giờ là Sakurada Jisuke (1734-1806) cũng nổi tiếng với những vở tuồng mang tinh thần giải trí sắc thái nhẹ nhàng tươi mát của phong cách nghệ thuật Edo Ông là người đã kết hợp, pha trộn các loại tuồng Kabuki mà trước đây khi mỗi vở ra đời liền được sắp xếp vào một
“nhóm tuồng” cố định có tên gọi riêng chứ không có sự hòa hợp(gọi là “sekai” và vào thời Bunsei (1818-1803) người ta đã tính ra có tới trên 120 “sekai”) Cách pha trộn, hài hòa phong cách của Sakurada Jisuke I là gọi là “maizame”
Namiki Gohei có vở “Cây Ngô Đồng Cửa Chùa” (Kinmon Gosan no Kiri) do Ishikawa Goen chủ diễn, Sakurada Jisue I có “Quyển Sổ Khuyến Giaó” (Gohiiki Kanjincho), trong đó có đoạn “Sư không biết đọc kinh” thuật lại bước đường cùng
Trang 21Yoshitsune và người tùy tùng là Benkei Trong hai người họ, Yoshitsune là chủ đóng vai vị sư trẻ để mặc cho Benkei trong vai hòa thượng chửi rủa đánh đập lúc họ giả dạng làm sư để vượt qua cửa ải Thấy hoàn cảnh tội nghiệp, tướng giữ ải, tuy đoán ra ai là chủ, ai là tớ nhưng vì cảm động nên đã tảng lờ đi không biết và cho họ
đi qua ải Cả hai vở đều đáng được xếp vào kiệt tác
1.6.4 Soạn giả Tsuruya Nanboku (1755-1829)
Trong khoảng niên hiệu Bunka-Bunsei (1804-1830), cùng với những thành tựu Kabuki có được, có thể nói Kabuki đã bước vào độ tuổi chín muồi Nhà soạn giả tiêu biểu, nổi bật trong thời kì này không ai khác hơn là Tsuruya Nanboku tập danh đời thứ tư Ông sinh trưởng ở Edo và là học trò của soạn giả nồi tiếng Sakurada Jisuke Lúc chưa nổi danh, ông soạn tuồng dưới bút hiệu Katsu Hyozo trong một thời gian dài
Mặc dù chưa được biết đến nhiều nhưng ông đã đóng góp cho Kabuki nhiều cải cách độc đáo, mới lạ Ông có sở trường viết kịch về thể loại Kizewamono (sinh thế thoại vật) tức là Kabuki kyogen tả thực, sinh động nhất vì các soạn giả và diễn viên hoàn toàn dựa vào thực tế xã hội để dựng tuồng và diễn tuồng Ông mô tả vô cùng sống động, sắc nét những cảnh đời cùng cực dưới đáy xã hội phong kiến Tác phẩm tiêu biểu của ông là “Truyện kinh dị ở trên đường Tokaido, vùng Yotsuya” (Tokaido Yotsuya Kaidan), tác phẩm này được quần chúng đặc biệt tán thưởng vì tác phẩm đã ghi chép lại những gì xấu xa, tồi tệ, gian ác của xã hội và phản ánh chân tướng thời kỳ Bunka-Bunsei một cách rõ nét
Vở kịch này đã được diễn lần đầu năm Bunsei thứ 8 (năm 1825) dựa theo lời đồn đại trong dân chúng về cuộc đời người đàn bà sống ở vùng Yotsuya, tên gọi là Oiwa, ghen tuông đến phát điên mà chết, sau oan hồn trở về quấy nhiễu phá phách,
ám ảnh người chồng còn sống Vở kịch này còn có những chi tiết liên quan tới nội dung trong tác phẩm Chuujingura, trong đó miêu tả thế giới của những võ sĩ (truyện
về 47 võ sĩ phục thù cho chủ)
Trang 221.6.5 Soạn giả Kawatake Mokuami (1816-1893)
Hình 1.5: Soạn giả Kawatake Mokuami (1816-1893)
[Nguồn hình: http://en.wikipedia.org][18]
Sau khi Nanboku mất, không có soạn giả nào có đủ tầm cỡ và khả năng để nối tiếp ông, Kabuki thời Edo vì thế mà im ắng trong một thời gian khá lâu Mãi đến năm Ansei (1854-1860), cuối thời Mạc phủ chuẩn bị bước qua thời Duy Tân mới có Kawatake Mokuami, một nhân lài lỗi lạc về Kabuki xuất hiện Lúc này, bầu trời Kabuki thời Edo như được bắn một phát pháo bông cuối cùng nhưng chói sáng
[7- trang 122]
Kawatake Mokuami tên thật là Yoshimura Yoshisaburo, sinh ra và lớn lên ở vùng Edo, là đệ tử của Tsuruya Nanboku, tập danh đời thứ V, soạn giả này chuyên viết về loại tuồng xã hội (Kisewamono) Ông hợp tác với kép Ichikawa Kodanji IV,
và viết cho Kodanji diễn loại tuồng mà ông tỏ ra xuất sắc hơn cả mang tên Shiranami-mono (Shiranami mono là loại tuồng nói về bọn đạo tặc, trộm cướp) Những tác phẩm xuất sắc để đời của ông có: Sannin Kichisa Kuruwa no Hatsugai (Ba người cùng tên Kichisa xuống xóm ngày đầu năm) được viết năm 1860,
Trang 23Shiranami Gonin Otoko (Truyện năm chàng tướng cướp) được viết năm 1862 và tác phẩm còn được gọi với một cái tên bí hiểm là Aotazo shi Hana no Nishikie Sannin Kichisa có nghĩa là ba người cùng mang tên là Kachisa, một nhà sư, một cậu ấm, một cô gái, cả ba đều sống bằng nghề trộm cướp
Tác phẩm Aotazo shi Hana no Nishikie là một tác phẩm nổi tiếng nhờ các màn thứ ba và thứ năm Đó là những phân đoạn khi những nhân vật đóng vai đạo tặc Benten và Shiranami bước ra sân khấu với lối kể tự xưng danh tánh dài dòng
Sau khi Ichikawa Kodanji IV mất cùng với những chuyển biến xã hội tương ứng với sự tiếp thu ảnh hưởng phương Tây, những vở tuồng tân thời Kawatake Mokuami soạn gọi là loại “cắt tóc” (zangirimono) Ông là người đầu tiên thử phóng tác một tác phẩm nước ngoài sang Kabuki (1879) tuy nhiên cũng chỉ là vài thay đổi
bề ngoài mà ông đem đến cho Kabuki Nguyên nhân sâu xa phải chăng chính là việc hợp tác với kép Ichikawa Danjuro IX, mà nhờ đó ông đã soạn thành công những vở tuồng mang tính “sự thực lịch sử” (katsurekimono) trong đó ông gạt bỏ những hư cấu và hoang đường của loại tuồng dã sử (jidaimono) Sự biến chuyển trong phong cách sáng tác của ông là nhằm đáp ứng nhu cầu cần có của tầng lớp trí thức thời đó,
họ đang đòi hỏi một nội dung sân khấu mới lạ, không đi theo một lối mòn nào cả Tuy nhiên không thể nói là ông hoàn toàn thành công trong việc cách tân Kabuki trong lịch sử
Ông vốn có hiệu là Kawatake Shinshichi II và chỉ đổi tên thành Kawatake Mokuami, đây là một cái tên cửa Phật lúc về hưu (ông về hưu sớm) năm 1881 Cái tên này cũng được sử dụng luôn từ đó và cũng từ đó ông chuyên viết các ca-từ hay những vở Kabuki phóng tác từ tuồng Noh (gọi là loại Tsubame-mono) Kawatake Mokuami viết tất cả 360 tác phẩm đủ loại Văn ông viết theo nhịp 5/7 chữ liên kết với nhau thành đoạn dài, lời văn đẹp, âm điệu nghe lưu loát, êm tai Lối viết của ông được đặt tên là “lối hành văn Mokuami”, lối hành văn này chứa nhiều nhạc tính nên rất được khán giả rất yêu chuộng
Trang 24CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ CỦA KABUKI
2.1 Văn hóa Edo trong các vở kịch Kabuki
Vào thời kỳ Edo, Kabuki đạt tới đỉnh cao cùng với sự xuất hiện của những diễn viên nổi tiếng như Sakata Tojuro ở vùng Kamigata và Ichikawa Danjuro ở Edo Nhờ có soạn giả Chikamatsu Monzaemon mà Kabuki thời kỳ này bắt đầu phát triển như thứ kịch của quần chúng, được nhiều người ngày càng biết đến Trong giai đoạn chuyển tiếp trung tâm văn hóa Nhật Bản từ vùng Kamigata sang Edo, Namiki Gohei (1747-1808) cùng với Sakurada Jitsuke (1734-1806) đã đưa tư tưởng chủ nghĩa hiện thực xã hội theo truyền thống kết hợp với hình thứcSewamono (kịch Gia đình) vào trong các vở kịch Các vở kịch của họ đặt nền móng phát triển cho Kisewamono hiện thực (kịch sinh thế thoại vật), tức là Kabuki kyogen một tả một cách sinh động nhất tình hình hiện thực xã hội, con người, thời thế lúc bấy giờ Việc dựng tuồng cũng chủ yếu dựa vào thực tế xã hội
Hình 2.1: Vua Tokugawa Yoshinobu thời đại Edo
[Nguồn hình:http:// teenxotaku.forum-viet.net][27]
Nói đến văn hóa Edo không thể không nói đến tư tưởng Tokugawa thời kỳ này Sân khấu Kabuki thường được kết hợp quan niệm đạo đức thịnh hành trong xã
Trang 25hội Tokugawa như một cơ chế chi phối các tình tiết trong nội dung vở kịch Kabuki Chẳng hạn Injaaha (luật công bằng thưởng phạt), một quan niệm Phật giáo, với tư tưởng này thì kẻ bất lương sẽ nhận được sự diệt vong hay đức Phật từ bi sẽ ban tặng
sự giàu sang, hạnh phúc cho một phụ nữ phải chịu đựng đau khổ trong một thời
gian dài [1-trang 399]
Quan niệm Muja (tính phù du của vạn vật) cũng lấy từ triết lý Phật giáo được minh họa, chứng minh qua sự sụp đổ của lãnh đạo quân phiệt đầy quyền uy vào hồi kết của một vở kịch hay cái chết của một dòng họ kiêu căng, tàn ác như một cái kết chuyện có hậu Một số khái niệm đạo đức dựa trên truyền thống Khổng giáo nói về bổn phận trách nhiệm và phận làm con với cha mẹ, tình cảm giữa những người ruột thịt với nhau hay đơn giản là giữa con người với con người Khái niệm đạo đức này
có thể mâu thuẫn trực tiếp với khát vọng và đam mê của cá nhân, từ đó dẫn đến một loạt tình huống đầy kịch tính
Dưới đây là một vài vở kịch chứng minh cho điều đó Vở “Kinmon Gosan no Kiri” (Cây ngô đồng cửa chùa) của Namiki Gohei Vở “Gohiiki Kanjincho”(Quyển
sổ khuyến giáo) của Sakurada Jitsuke, trong đó có đoạn “Sư không biết đọc kinh” thuật lại bước đường cùng của hòa thượng Yoshitsune và người tùy tùng là Benkei Hòa thượng Yoshitsune đóng vai tùy tùng để mặc cho Benkei trong vai hòa thượng đánh đập, chửi rủa nhằm đánh lừa người giữ ải để có thể vượt qua cửa ải Vì thấy hoàn cảnh tội nghiệp nên mặc dù biết được chân tướng sự thật nhưng tướng giữ ải
đã tảng lờ đi như không biết và cho họ qua Ở cả hai vở gọi là kiệt tác này đều thấm đượm quan niệm của Phật giáo trong tư tưởng Tokugawa
Đỉnh cao văn hóa thời kỳ này là văn hóa thị dân (Chonin) Đó là nền văn hóa coi trọng những niềm hoan lạc, hưởng thụ đời sống của dân thành thị Các vở kịch Kabuki bên cạnh sự phổ biến tính chính thống Khổng giáo mới, nội dung của nó còn đề cập nhiều đến thị hiếu hoang phí của xã hội Edo, những cảm giác nhất thời của con người trong các khu ăn chơi Edo Các vở kịch phản ánh, châm biếm đời sống hiện tại bằng việc mô tả cảnh sinh hoạt, lối sống buông thả của những kẻ có tiền và kéo theo cả những thoái hóa trong nhân cách của những kẻ trộm cắp, những
Trang 26kẻ sống lệ thuộc vào đồng tiền, và bị những cái gọi là “nhất thời” làm tha hóa con
Phải nói rằng Edo là thời kỳ mà môi trường xã hội đã tạo cho các đẳng cấp bình dân những điều kiện cần thiết để có thể phát triển khả năng sáng tạo những đặc trưng của nền văn hóa bình dân, trong đó có cả những vở kịch Kabuki được coi là kiệt tác Văn hóa thị dân bắt đầu từ thời kỳ này phát triển nổi bật và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa Nhật Bản Một lối sống: trần thế, năng động, phóng đạt được chính họ đưa vào trong các tác phẩm Kabuki một cách hấp dẫn đầy sức sống Vở kịch Kabuki “Kanadehon Chuushingura” (Kho báu của trung thần) kể về câu chuyện bi hùng của 47 Ronin truy tìm kẻ sát hại chủ nhân mình, báo thù cho ông, rồi mổ bụng tự sát (seppuku) chết theo chủ nhân mình là một trong những vở kịch xuất sắc nổi tiếng cho tới cả ngày nay
Hình 2.2: Một cảnh diễn trong vở kịch Kabuki mô tả cảnh hoàng cung thời đại Edo
[Nguồn hình: http://vn.360plus.yahoo.com]
Trang 27Thời kỳ Edo gắn bó mật thiết với lịch sử Kabuki Chính sự phát triển của Ukiyo-e, tranh vẽ trên giấy chiếc, đã chứng minh điều đó Ukiyo-e được tạo ra là nhằm mục đích gắn lên hoành phi (kakemono-e) Dường như đây là sản phẩm nghệ thuật đặc biệt trong những năm cuối thế kỷ Edo Hai nghệ nhân Torii Kiyonobu và Torii Kiyomasu hoàn thiện phong cách sử dụng nét và hình dạng thô trong các bức tranh của mình Các bức tranh như thế này đặc biệt thích hợp trong các đề tài sân khấu và trường phái của họ ít lâu sau hầu như chiếm độc quyền trong các đơn đặt hàng vẽ phông nền sân khấu (kanban) và tờ chương trình có hình vẽ minh họa (ebanzoke) ở Edo Nét đẹp nhất trong tranh vẽ thuộc trường phái Torri là mô tả một
tư thế hoặc diện mạo của một nghệ sĩ Kabuki cụ thể được nhiều người biết tiếng trong khổ kakemono-e, cùng với những chú thích cung cấp rất nhiều tài liệu bằng
hình về Kabuki, trong đó nêu các quy ước sân khấu củng cố truyền thống Kabuki
[1-trang 360,361]
Hình 2.3: Một nhân vật trong vở kịch Kabuki được phác họa trên Ukiyo-e
[Nguồn hình: http://nhatngu.viet-sse.vne][28]
Trang 28có những thành công lớn Bởi lẽ họ đã thể hiện một cách xuất sắc vai trò Onnagata,
đưa nó lên thành một nghệ thuật hấp dẫn công chúng [4- trang 167]
Tất cả các nhân vật trong vở kịch Kabuki đều do diễn viên nam đảm nhận Onnagata được phân cho những nhân vật chẳng hạn như là phụ nữ nội trợ, phu nhân samurai, anh thư và phụ nữ xấu xa Nhân vật Yakagata hay các loại vai kịch tính trong Kabuki được quyết định dựa vào tính cách, độ tuổi hoặc vị trí xã hội của nhân vật Vai nam được xem là tiêu chuẩn là những người anh hùng có đạo đức tốt, tình nhân điển trai, cận thần quan chức xấu xa, samurai độc ác, hay kẻ trác táng vô liêm
sỉ [1-trang 400]
Trang 29Trong vốn tiết mục phong phú của các vở kịch Kabuki, vai diễn của nhân vật Agemaki trong Sukeroku Yukari của Edo-Zakura và Masuoka, nhân vật vú em trung thành trong Meiboku Sendai Hagi, được xem là những vai diễn khó nhất trong
lịch sử biểu diễn Kabuki [1-trang 400]
Hình 2.5: Phong cách Aragoto
[Nguồn hình: http://www.creative-arts.net][29]
Hai loại nhân vật được phát triển trong Kabuki là: Aragoto (phong cách thô ráp) và Wagoto (phong cách êm dịu) Trong đó, kịch nghệ Aragoto nhấn mạnh đến hành động, các diễn viên thường phóng đại từ từ ngữ, điệu bộ cho đến trang phục, tay chân, trang điểm Nhân vật loại này thường đảm nhận các vai anh hùng và đậm chất nam tính Còn kịch nghệ Wagoto lại có lời nói và điệu bộ bình thường Loại nhân vật này đảm nhận những vai bi kịch lãng mạn và tính cách của nhân vật là nhạy cảm, dễ xúc động Hai loại nhân vật này đến bây giờ vẫn được duy trì nhưng
có nhiều thay đổi, aragtoto đóng nhân vật nam và wagoto đóng nhân vật nữ Loại hình nhân vật của hai loại này vẫn còn truyền cho đến ngày nay và vào đời nào cũng
có người mang tiếp tên tuổi và nối nghiệp tổ tiên [ 10- trang 108]
Trang 30Hình 2.6: Phong cách Wagoto [Nguồn hình: http://www.creative-arts.net ]
Nhân vật là một trong những yếu tố chính nhất trong các vở kịch Kabuki Việc thể hiện nhân vật một cách thành công đòi hỏi người diễn viên phải nhập tâm
và cố gắng hết sức mình Từ trang phục, hóa trang, đến lời nói điệu bộ cũng cần phải được đồng nhất với nhau Việc thể hiện nhân vật bám sát nội dung, cốt truyện của vở kịch Chẳng hạn như nếu là một tác phẩm nói về bối cảnh lịch sử thì nhân vật chiếm 70% vai trò thể hiện sao cho ám chỉ được hết những điều mà vở kịch muốn nói lên
Nhân vật phải gắn liền với bối cảnh và sự kiện lịch sử đương thời trong vở kịch Và việc định rõ nhân vật phản diện hay chính diện không chỉ được phân rõ bằng hành động, lời nói mà còn qua cả hóa trang và trang phục của nhân vật như vậy người xem có thể nhận ra ngay từ đầu buổi biểu diễn Nét đặc trưng của nhà hát
Kabuki là mie (kiến đắc), theo đó diễn viên thể hiện một điệu bộ gây ấn tượng mạnh
và biểu lộ được tính cách của nhân vật Nhân vật trong Jidaimono thường tập trung vào điệu bộ của các tầng lớp võ sĩ, còn nhân vật được phản ánh trong Sewamono chủ yếu thể hiện điệu bộ của thường dân, cụ thể là thị dân và nông dân
Các động tác của nhân vật mang nhiều hình thức thiên về tâm trạng và biểu hiện được rất nhiều khía cạnh của cảm giác Hơn nữa, việc hóa trang và trang phục
Trang 31với muôn hình vạn trạng trong Kabuki có thể mô tả được đầy đủ các trạng thái cảm xúc của nhân vật
2.3 Kết cấu vở kịch
Kabuki, cũng giống như một số loại hình khác của Nhật Bản hay một số loại hình văn hóa khác trên thế giới, được biểu diễn cả ngày để phục vụ khán giả Ở các nhà hát kiểu phương Tây hiện nay, một vở kịch thường được biểu diễn trong 2-5 tiếng Còn ở Nhật Bản, người ta có thể giải trí ở khu kịch nghệ cả ngày tựa như thoát khỏi cái thế giới ngày thường Nhiều vở kịch, đặc biệt là kịch lịch sử Jidaimono, nếu có thời gian diễn ngắn thì thường phối hợp với các vở kịch khác để tạo ra một chương trình kéo dài cả ngày Các vở kịch được thông báo trước là diễn
tố chính nhất trong các quy ước này là định nghĩa về yo-hya-ku (tự phá cấp) quy
định tất cả mọi việc thực hiện theo nhịp độ chắc chắn, một vở kịch sẽ bắt đầu chậm,
Trang 32tăng tốc và kết thúc nhanh Cơ sở này do một bậc thầy viết kịch No Zeami soạn thảo, không những nó chi phối diễn xuất của diễn viên mà còn chi phối đến cả cấu trúc của các vở kịch cũng như là cấu trúc của các cảnh trong một chương trình kịch biểu diễn kéo dài cả ngày
Hầu hết trong chiều dài của mọi vở kịch đều được chia làm 5 màn, các hành
động trong màn đầu tiên tương ứng với jo, một mở đầu tốt đẹp và được làm chậm
nhằm giới thiệu đến khán giả các nhân vật và cốt truyện của một vở kịch Ba màn
sau gọi là ha, tiết tấu được đẩy nhanh hơn một chút, tình huống truyện cùng với các
sự kiện được đẩy lên cao độ đầy kịch tính Ở màn thứ 3 hoặc màn thứ 4, chất bi kịch được thể hiện theo cao trào và ở màn thứ 2 hoặc màn thứ 4 thường có một trận
đánh Màn cuối cùng gọi là kyu hầu như là rất ngắn, đưa ra một kết cục nhanh chóng và có hậu [1-trang 399]
Có nhiều vở kịch được viết riêng cho Kabuki nhưng cũng có nhiều vở kịch được chuyển thể từ các vở kịch Joururi, Kịch No, truyện dân gian hay các loại hình biểu diễn truyền thống khác dạng truyền miệng như “Truyện Heike” Ngược lại với
sự nghiêm túc, kịch tính đầy cảm xúc và có cốt truyện chặt chẽ của các vở kịch Joururi, các vở kịch viết riêng cho Kabuki nói chung có cốt truyện lỏng lẻo hơn nhiều
Một trong những điểm khác nhau chủ yếu trong triết lý giũa hai loại hình Joururi và Kabuki đó là: trong khi Joururi tập trung vào câu chuyện và người kể lại
nó thì Kabuki lại tập trung vào diễn viên Vì vậy ít người biết rằng Joururi sử dụng các con rối hay diễn xuất để thu hút sự chú ý của khán giả trong khi đó Kabuki lại hướng các vở kịch của mình đến việc thể hiện tài năng của các kịch sĩ để tạo ra sức lôi cuốn riêng Việc thêm vào hay bỏ bớt đi một vài cảnh trong chương trình quay
cả ngày để dành thời gian phục vụ cho ý thích của một diễn viên thì không phải là một chuyện lạ trong Kabuki, nó diễn ra thường xuyên trong các nhà hát Chính việc này đã làm nên tên tuổi cho cc1a diễn viên Kabuki vì họ có cơ hội thể hiện tài năng của các cá nhân mình để trình diễn tốt hơn, và nó được them vào chương trình biểu diễn cả ngày nếu như nó không làm gián đoạn cốt truyện
Trang 332.4 Lời thoại
Lời thoại sử dụng trong kịch Kabuki thay đổi từ cực kì cách điệu, phức tạp đến cực kì thực tế, đơn giản Trong các vở kịch Jidaimono nói chung thường có ngôn ngữ trang trọng, cách điệu hơn, còn trong các vở kịch Sewamono ngôn ngữ được sử dụng thường thông tục, bình dị hơn và gắn liền với đời sống sinh hoạt hằng ngày Thông thường lời thoại thường theo mẫu âm tiết là 5-7 Mẫu âm tiết này giống như mẫu âm tiết trong thơ Nhật cổ điển, nó được đọc theo nhịp đặc biệt và
tốc độ thường đồng nhất với lời thoại trong Kabuki [1-trang 400]
Thường gặp trong các vở kịch Jidaimono là Tsurane, lời nói ngân dài, mẫu nhịp điệu này được sử dụng rất hiệu quả trong nghệ thuật sân khấu Maruhon-mono, được phóng tác từ vở kịch rối Bunraku, cũng trở nên được chú ý trong giới Kabuki bởi các lời thoại nhẹ nhàng theo mẫu 5-7
Hình 2.8: Diễn viên Kabuki đang sử dụng lối kể chuyện để giới thiệu mình
[Nguồn hình: http://vanhoahoc.edu.vn]
Lời thoại của nhân vật luôn được đệm bởi tiếng nhạc của đàn shasimen, đây
là một loại nhạc cụ phổ biến trong các môn nghệ thuật sân khấu của Nhật Bản Đàn Shamisen nhanh chóng được phổ biến, và xác lập được vị trí tiêu biểu của mình cả
ở mảng âm nhạc nghệ thuật và nhạc dân tộc với vai trò như một loại nhạc cụ của Nhật Bản kể từ thời Edo trở đi Đàn được làm bằng gỗ, dây đàn được làm bằng lụa,
Trang 34cũng có thể làm bằng nylon Đàn shasimen có một vai trò quan trọng trong những buổi biểu diễn Kabuki và nó được kết hợp với lời thoại của nhân vật nhằm tăng sắc biểu cảm của lời thoại
Lời thoại và lối kể chuyện trong các vở kịch Kabuki là có sự áp dụng nhạc trong Bunraku Bên cạnh đó, lời thoại trong Kabuki cũng có sự kế thừa và học hỏi lời thoại trong nghệ thuật sân khấu kịch No Tuy nhiên lời thoại của Kabuki vẫn có
sự riêng biệt, những nét đặc sắc riêng Và khán giả trung thành với Kabuki vẫn có thể dễ dàng nhận ra được Kabuki khi lời thoại của cả ba loại hình sân khấu này vang lên và phân biệt được riêng từng loại sân khấu
Hình 2.9: Một loại đàn shasimen
[Nguồn hình: http://vnsharing.net]
Trang 352.5 Hóa trang và trang phục
2.5.1 Hóa trang
Hình 2.10: Một số dụng cụ, mỹ phẩm sử dụng trong việc hóa trang cho diễn viên
Kabuki
[Nguồn tranh: http://commons.wikimedia.org]
Hóa trang là một trong những khâu thực hiện chủ yếu của sân khấu Kabuki Công việc hóa trang là công việc mà các nghệ sĩ dù đảm nhận vai nam hay vai nữ đều phải tự mình làm, tuy nhiên cũng có thể nhờ người hỗ trợ khi hóa trang phức tạp hơn Một nghệ sĩ Kabuki được xem là một nghệ sĩ xuất sắc thì phải biết cách trang điểm sao cho phù hợp với vai diễn của mình Họ phải vẽ cho mình một khuôn mặt hoàn toàn khác phù hợp với nhân vật Đôi mắt được viền đỏ, mặt được tô trắng, đôi lông mày được vẽ lại rất sắc, mảnh và cũng được tô đỏ Có thể nói rằng đặc trưng chủ yếu trong kịch Kabuki được thể hiện qua nghệ thuật hóa trang, phục trang, múa và nhạc
Từ khi các nhân vật trong vở kịch đều do nam diễn viên đóng thì nghệ thuật hóa trang của các diễn viên được quy định những màu sắc điển hình cho mỗi nhân vật: nhân vật nam với màu đỏ tươi, màu đỏ hồng dành cho nhân vật nữ Môi của diễn viên đặc biệt được chú trọng khi hóa trang và việc trang điểm cho môi được gọi là “xẻ môi” hay là “chia môi” chứ không gọi là “đánh môi” hay “son môi” Diễn viên sau khi hóa trang với nhiều lớp mặt nạ bằng dầu thực vật thanh hương liệu,
Trang 36nhân vật nam sẽ có gương mặt màu trắng xanh, gương mặt nhân vật nữ có màu trắng toát Tóc của diễn viên được thay thế bằng một bộ tóc giả kiểu samurai, đội kín đầu cùng với nghệ thuật hóa trang xuất sắc khiến cho khán giả không thể nhận
ra được nhân vật trong vở kịch là do diễn viên nam hay nữ đóng
Hình 2.11: Một diễn viên Kabuki đang hóa trang
[ Nguồn hình : http:// commons.wikimedia.org]
Hình 2.12: Một trợ lý đang giúp diễn viên hoàn chỉnh phần hóa trang
[Nguồn hình: : http:// commons.wikimedia.org]
Trang 37Keshou, cách hóa trang của Kabuki, là một yếu tố dễ nhận thấy ngay cả đối với những người không quen thuộc lắm với loại hình nghệ thuật này Trong Kabuki,
bột gạo được dùng để làm phấn nền trắng “oshiroi” và“ kumadori”, chúng dùng để
tạo ra các đường nét gọi là các đường nét phóng đại của khuôn mặt để tạo ra hình
ảnh của thú vật hay các mặt nạ siêu nhiên khác Cách sử dụng màu của “kumadori”
là cách để thể hiện bản chất của nhân vật : màu đỏ dùng để thể hiện sự giận dữ, lòng đam mê, tinh thần của anh hùng chủ nghĩa, sự chính trực, và các tính cách chính diện khác; màu xanh hoặc màu đen dùng để ám chỉ kẻ ác, lòng ghen ghét, và các tính cách phản diện khác; màu xanh da trời đại diện cho các thế lực siêu nhiên; và
màu tím đại diện cho sự cao quý, dịu dàng [15- trang 47]
2.5.2 Trang phục
Hình 2.13: Phục trang Kabuki cho mọi đối tượng
[Nguồn hình: http://nhatban.net]
Trang 38Cầu kỳ và phức tạp không kém, trang phục cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên nét đặc biệt của môn nghệ thuật Kabuki Phục trang trong Kabuki được điển hình hóa theo đúng kimono truyền thống của Nhật Bản Việc chuẩn bị phục trang cho diễn viên đòi hỏi sự công phu và mất rất nhiều thời gian Chẳng hạn như việc thắt một chiếc đai cho bộ trang phục của diễn viên đóng vai võ sĩ samurai,
có nhiều khi một diễn viên cần phải có ít nhất hai nhân viên phục trang phụ giúp việc mặc áo và giằng đai cho khít Vì vậy có khi lúc mà diễn viên bước ra sân khấu
cũng có thể là lúc nhân viên phục trang ngã nhoài ra hậu trường vì… mệt! [1-trang
401]
Trang phục trong Kabuki là sự kết hợp giữa chiếc Kimono của người phụ nữ Nhật Bản được vẽ, thêu, hoặc in hoa văn với trang phục chiến trận của những người đàn ông cộng với những biểu tượng của một gia đình nghệ sĩ
Hình 2.14: Trang phục Kimono trong biểu diễn Kabuki
[Nguồn hình: http://nhatban.net]
Trang 40CHƯƠNG III NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU KABUKI VÀ KABUKI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN
HÓA NHẬT BẢN
3.1 Nghệ thuật sân khấu
3.1.1 Thiết kế sân khấu
Hình3.1: Cách thiết kế chung của sân khấu Kabuki
[Nguồn hình: http://www.eigotown.com]
3.1.1.1 Hanamichi (Hoa đạo)
Thiết kế sân khấu là công việc đòi hỏi về cả nghệ thuật thiết kế cũng như sự hiểu biết về Kabuki Trong thiết kế sân khấu Kabuki, có một phần đựợc thiết kế nhô
ra, huớng về phía khán giả và đuợc gọi là Hanamichi, có nghĩa là Hoa đạo Đây cũng là lối đi ra, đi vào sân khấu của diễn viên Trong những năm đầu của Kabuki, ngừơi sáng tạo ra Kabuki- Okuni-đã cùng với đoàn kịch của mình biểu diễn Kabuki trên sân khấu Hanamichi như thế này Hanamichi không những đuợc sử dụng làm