Hàm lượng protein trong các giống lúa trồng vào mùa khô cũng cao hơn giống trồngvào mùa mưa.. Protein gạo cũng gồm bốn loại, trong đó glutelin hay còn có tên riêng l
Trang 11 TỔNG QUAN SẢNPHẨM 3
1.1 Giới thiệu chung 3
1.2 Phân loại: 4
2 NGUYÊN LIỆU ĐỂ SẢN XUẤT BÚN: 4
2.1 Gạo 4
2.2 Nước: 16
3 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ 18
3.1 Qúa trình tách kim loại: 19
3.2 Quá trình ngâm 20
3.3 Nghiền: 26
3.4 Tách nước 29
3.5 Qúa trình hồ hóa: 30
3.6 Quá trình nhào bột 32
3.7 Quá trình ép tạo sợi 34
3.8 Quá trình hấp 38
3.9 Cắt tạo hình 38
3.10 Quá trình ủ 39
3.11 Quá trình sấy 40
3.12 Làm nguội 43
3.13 Bao gói 44
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thành phần hóa học của gạo 5
Bảng 2 : thành phần glucid trong gạo 5
Bảng 3: thành phần tinh bột gạo 6
Bảng 4: thành phần protein của gạo 7
Bảng 5: hàm lượng các acid amine trong hạt gạo 8
Bảng 6: Thành phần các acid béo trong gạo 9
Bảng 7: một số loại gạo dùng trong sản xuất bún 10
Bảng 8: hàm lượng amylase và protein của gạo chế biến bún 11
Bảng 9: hàm lượng các acid amin trong lúa gạo so với giá trị chuẩn( từ trứng gà) 12
Bảng 10: Chỉ tiêu cảm quan của nước 16
Bảng 11: Chỉ tiêu hóa lý của nước 17
Bảng 12: Chỉ tiêu vi sinh của nước 17
DANH MỤC HÌNH Hình 1: thiết bị tách kim loại 21
Hình 2: thiết bị ngâm 27
Hình 3: sơ đồ cấu tạo nguyên tắc hoạt động của máy nghiền dĩa 30
Hình 4: thiết bị nghiền dĩa 30
Hình 5: Thiết bị ly tâm dạng dĩa 32
Hình 6: thiết bị Jet cooker 34
Hình 7: Thiết bị nhào 36
Hình 8: Sơ đồ cấu tạo hệ thống ép đùn 39
Hình 9: thiết bị ép tạo hình bún đặt ngang 40
Hình 10: thiết bị hấp 41
Hình 11: thiết bị ủ 42
Hình 12: thiết bị sấy băng tải 44
Hình 13:thiết bị sấy và ủ 44
Hình 14: Thiết bị sấy vi sóng kết hợp sấy đối lưu 45
Hình 15: sơ đồ thiết bị làm nguội 46
Hình 16: thiết bị bao gói 47
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Bún là một sản phẩm phổ biến ở nước ta Bún thường được dùng trong những dịp đám tiệc , trong những bữa ăn hàng ngày đồng thời cũng là một thành phần trong một số món ăn đặc sản được du khách nước ngoài ưa chuộng Sợi bún trắng, tròn, mềm , được làm từ gạo, thường có một số loại như bún riêu , bún mắm,… Ngoài ra để bảo quản bún được lâu hơn Người ta thường đem bún phơi khô Khi sử dụng, đem vắt bún khô trụng với nước sôi là có thể đem đi chế biến thành những món ăn khác.
Vai trò của bún trong ẩm thực Việt Nam có thể sánh ngang với spaghetti của Ý hay một số loại bún khác của các nước trên thế giới
Ngày xưa bún chỉ được sản xuấ với quy mô nhỏ, dạng các làng nghề thủ công như làng bún Song Thằn( Bình Định) Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, ngành bún đã được nâng lên quy mô công nghiệp Bên cạnh các loại mì, phở, cháo ăn liền đã xuất hiện sản phẩm bún khô ăn liền được sản xuất công nghiệp Ngoài thị trường tiêu thụ nội địa, sản xuất bún khô ăn liền còn được xuất khẩu ra nước ngoài.
Nhìn chung các phân xưởng sản xuất bún khô thường được đặt trong các nhà máy sản xuất mì, phở, cháo ăn liền, Sự kết hợp như vậy thường mang lại hiệu quả cao về mặt kinh tế , vừa đa dạng hóa sản phẩm cho nhà máy, vừa tiết kiệm được một số chi phí như nguồn nước, giấy phép kinh doanh…
Trang 41 Tổng quan sản phẩm
1.1 Giới thiệu chung
Trong ẩm thực Việt nam, bún là một trong những loại thực phẩm quen thuộc chỉ xếp sau các món ăn dạng cơm, phở, cháo Bún là loại thực phẩm dạng sợi tròn, trắng mềm ,được làm từ tinh bột gạo tẻ, tạo sợi qua khuôn và được luộc chín trong nước sôi, có mùi chua đặc trưng Bún được dùng chung với loại nước súp, các loại thịt cá, rau và các gia vị khác Mỗi miền, mỗi vùng dân cư, thậm chí mỗi nhà hàng lại có món bún khác nhau về thành phần thực phẩm, cách chế biến, chủng loại gia vị, bí quyết nhà nghề để có tên gọi riêng, cách ăn riêng, hương vị riêng rất đặc trưng cho từng xứ sở, như bún thịt nướng, bún chả cá, bún nem, bún ốc, bún thang, bún riêu, bún mọc, bún giò heo , bún cá…
Trong thị trường hiện nay , có 2 dạng sản phẩm chính là bún tươi và bún khô Để đáp nhu cầu của người tiêu dùng Việt nam về khẩu vị, độ tiện lợi, sự ưa thích hay về phù hợp về giá cả , mặt hàng bún khô các loại đã đáp ứng đầy đủ Bún khô với nhiều loại hương vị lựa chọn không khác các loại bún tươi như nấm , bò bít tết , thịt bằm, chả cá, … làm đa dạng hóa sản phẩm
Ưu điểm của bún khô là độ ẩm thấp, thời gian bảo quản được kéo dài, có thể trữ sẵn trong nhà và sử dụng ngay khi cần, có thể xuất khẩu.
Hiện nay các mặt hàng bún có mặt ở những quán nhỏ , vỉa hè hay những nhà hàng sang trọng cao cấp , bún khô các loại được dùng để chế biến chung với nhiều món ăn , tạo nên sự hấp dẫn của ẩm thực Việt , tạo cảm giác mới mẻ cho người ăn cũng như du khách nước ngoài khi đến Việt Nam
1.2 Phân loại:
Bún tươi:
Trang 5Dựa vào cách tạo hình bún được chia làm nhiều loại với tên gọi và hình dạng khácnhau, như bún rối, bún nắm, bún vắt, bún con, … Thường có 3 loại bún chính như sau:
- Bún rối: là loại bún sau khi vớt ra được để trong thúng một cách tương đối lộnxộn không có hình thù rõ rệt Bún rối là loại tương đối phổ biến và thích hợp chonhiều món ăn đặc biệt là bún nước
- Bún vắt hay bún lá: các sợi bún được vắt thành từng dây có đường kính 4-5cm.dài 30-40cm, trải lên lá chuối tương, cuộn tròn cỡ bằng cái bánh tráng trung bình.Khi ăn các lá bún này được cắt thành từng đoạn ngắn
- Bún nắm: sợi bún được đặt lên tay , vắt cho kiệt nước, đặt xuống thành từng bánhnhỏ, bẹt, to nhỏ tùy ý Ít phổ biến hơn hai loại bún trên
Ba loại bún về cơ bản là giống nhau đều có màu ngà đục khi sống và màu trắngkhi đã luộc chín
Bún khô: dạng sợi bún đã được sấy khô thành từng vắt và được đóng gói đủlượng một lần sử dụng Dựa vào mục đích sử dụng ta có thể chia làm 2 loại:
- Bún khô sử dụng ngay: là các loại bún sau khi lấy ra khỏi bao bì, chế nước sôilà có thể dùng ngay
- Bún khô dùng chế biến: là loại bún được dùng để them vào các món ăn, trộnchung với nhiều thực phẩm khác để tăng sự đa dạng
2 Nguyên liệu để sản xuất bún:
2.1 Gạo
Họ (Family): Poaceae/Gramineae
Phân họ( Subfamily): Oryzoideae
Tộc (Tribea0: Oryzeae
Chi (Genus): Oryza
Loài ( species): Oryza Sativar L.
2.1.1 Thành phần hóa học của hạt gạo
Thành phần hạt lúa nói chung bao gồm glucid, protein, cellulose, lipid, vitamin, khoáng
vô cơ, các enzyme và nước Sự phân bố các chất dinh dưỡng trong các phần của hạt khônggiống nhau và được biểu diễn trong bảng sau :
Bảng 1 Thành phần hóa học của gạo
Trang 6Bảng 2 : thành phần glucid trong gạo
Loại glucid Nguyên
76.7-78.4 22.4 –
35.3
34.1 –52.3
34.2 –52.3
45.9
7.0 –11.4
2.4 – 3.5
74.0
23.7 –28.6
Trang 7amylose thì cơm được xem là mềm, dẻo Từ 25-30% thì cơm được xem là cứng Cácloại gạoViệt Nam có hàm lượng amylose thay đổi từ 18-45% amylose Gạo nếp có thành phần tinh bộtchủ yếu là amylopectin (xấp xỉ 100%), cơm rất dẻo và ít nở
Hạt tinh bột của lúa gạo có hình dạng đa giác đặc trưng, kích thước thay đổi từ 10µm Kích thước này nhỏ nhất trong số các hạt lương thực Nhiệt độ hồ hóa tinh bột gạo trongkhoảng 70-80oC
2-Bảng 3: thành phần tinh bột gạo
Tính chất Tinh bột gạo nếp Tinh bột gạo tẻ
Phương pháp đốt đạm để xác định hàm lượng nitơ Kjeldahl vẫn thường được dùng để xác định hàm lượng protein trong gạo Tuy nhiên hệ số chuyển đổi từ nitơ sang protein là 5,95 Hệ số này dựa trên hàm lượng nitơ trong gluten của gạo Trong gạo, hàm lượng protein khôngcao Tùy thuộc giống lúa, điều kiện canh tác mà hàm lượng protein thay đổi trong một khoảng khá rộng Theo các số liệu của viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) thì trong số 15587 giống lúa lưu giữ tại viện, hàm lượng protein thay đổi từ 4,3-18,2% Mức protein trung bình là 9,4% Thông thường thì trong khoảng 7-10%.Trong các giống lúa thì các giống Japonica có hàm lượng protein cao hơn các giống lúakhác Hàm lượng protein trong các giống lúa trồng vào mùa khô cũng cao hơn giống trồngvào mùa mưa Các giống lúa ở Việt Nam có hàm lượng protein trong khoảng từ 5,26-10% Protein gạo cũng gồm bốn loại, trong đó glutelin hay còn có tên riêng là oyzenin chiếm đa số, các protein còn lại là albumin, globulin và prolamin (oryzin) Phân bố các loại protein trong các phần khác nhau của hạt được trình bày trong bảng sau:
Trang 8Bảng 4: thành phần protein của gạo
(Oryzin)
Glutelin ( Oryzenin)
Bảng 5: hàm lượng các acid amine trong hạt gạo
Hàm lượng acid amine
Glutelin (Oryzenin)
Albumin
Globulin
Prolamin(Oryzin)
Glutelin
(Oryzen)
Trang 9aEAAS: các acid amine không thay thế bao gồm cả cysteine và tyrosine
b: trên tổng chất khô
Lipid
Trong lúa gạo, hàm lượng chất béo rất nhỏ chỉ khoảng 1,5-2,3% Lipid tồn tại dướidạng các giọt chất béo có kích thước <0,5µm trong lớp aleurone, <1 µm trong lớpsubaleurone và <0,7 µm trong phôi và các phần khác của hạt
Trong hạt thóc, lipid có thể ở các dạng các triglyceride đơn giản, acid béo tự do,glycolipid, các phosphatid và một số các lipid ñặc biệt như oryzanol, glycosylglyceride, sphingolipid, tocol,….Hàm lượng của các chất béo trong hạt thóc được trìnhbày trong bảng sau :
Trang 10lượng phôi) và cám (18,3% khối lượng cám) Acid palmitc và linoleic chiếm đa số các acidbéo của hạt thóc Hàm lượng linoleic cao (40%) làm cho dầu cám có giá trị sinh học cao.Hàm lượng các phospholipids cao cũng làm tăng giá trị sử dụng của dầu cám Tuy nhiên,hàm lượng acid béo không no nhiều nối đôi cao làm cho cám vừa tách khỏi hạt gạo rất dễbị oxy hóa tạo mùi khó chịu
Chất khoáng
Các khoáng vô cơ tập trung ở lớp vỏ hạt lúa Chất khoáng nhiều nhất trong hạt lúa là P Trong lớp vỏ trấu, chất khoáng có hàm lượng cao nhất là Si Trong phôi hạt, chất khoángcó hàm lượng cao là P, K, Mg Lượng P trong hạt lúa đa số tồn tại ở dạng phytin (83%) vàở dạng acid nucleic (13%)
Vitamin
Trong lúa gạo, thành phần vitamin gồm các loại B1, B2, B5, PP, B12, và vitamin E.Phần lớn lượng vitamin tập trung ở lớp vỏ hạt, lớp aleurone và phôi hạt Phần nội nhũ hạtchứa lượng vitamin rất ít Vitamin là thành phần dễ mất trong quá trình chế biến lúa gạo Thành phần vitamin của lúa gạo chủ yếu là nhóm B, trong đó vitamin B1 chiếm mộthàm lượng khá lớn Trong quá trình chế biến lúa gạo, các vitamin nằm trong phần cám Hàmlượng vitamin trong cám nhiều hơn trong thóc và trong gạo xát rẩt nhiều
Các thành phần khác
Trong lúa gạo có những chất dễ bay hơi NH3, H2S,các acetaldehyde đặc biệt, hợp chất2-acetyl-1-pyrroline tạo hương thơm ñặc trưng cho cơm Tuy nhiên, trong quá trình bảoquản không tốt, thành phần lipid trong gạo bị phân hủy tạo ra những mùi khó chịu như thànhcác aldehyde, hexanal, và cetone,…
2.1.2 Giống gạo sử dụng trong chế biến bún:
Một số giống gạo được sử dụng trong chế biến bún: CR203, D10, Mộc Tuyền, VN10,Khang Dân, C70, 13/2(IR17494) – được sử dụng riêng lẻ hoặc phối trộn các loại gạo vớinhau Các loại gạo này được khảo sát ở các tỉnh phía Bắc: Bắc Giang, Hà Nội , Thái Bình,Hà Tây , Nam Định
Bảng 7: một số loại gạo dùng trong sản xuất bún
quản từ thu hoạchđến chế biến
Trang 112.1.3 Chất lượng gạo sử dụng trong chế biến bún:
Chất lượng gạo chế biến được biểu hiện ở hàm lượng chất khô , tinh bột, protein vàamylase
Theo IRRI, hàm lượng amylose (% so với tinh bột) được chia làm 5 mức:
Trang 12Nhìn chung gạo chế biến bún thường có hàm lượng amylase cao(>25%), hàm lượngprotein thấp (< 9%), nhiệt độ hồ hóa trung bình, độ bền gel mềm và trung bình.
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng của hạt gạo Ngoài tinh bột ra, gạo còn có các chất dinh dưỡng khác như protein, lipid, chấtkhoáng, vitamin… gạo là một trong những loại ngũ cốc có độ sinh năng lượng khá cao Tinh bột: là nguồn chủ yếu cung cấp năng lượng Cấu trúc của tinh bột quyết định khảnăng đồng hóa tinh bột của cơ thể con người, độ đồng hóa tinh bột gạo có thể đạt được95,9%
Protein: lúa gạo tương đối tốt hơn các loại lương thực khác Tồn tại đầy đủ 20 loại acidamin trong thành phần protein, lúa gạo cung cấp 10 loại acid amin không thay thế cho cơthể con người
Mặt khác, protein lúa gạo dễ hấp thu vào cơ thể Khả năng tiêu hóa protein lúa gạotrong cơ thể là 84 - 92%, cao hơn so với các loại lương thực khác (lúa mì 81 - 90%, ngô 89
- 90%)
Tuy nhiên, lượng protein trong gạo không cao, thấp hơn các loại lương thực khác nhưlúa mì, ngô
Bảng 9: hàm lượng các acid amin trong lúa gạo so với giá trị chuẩn( từ trứng gà)
Trang 13Threonine 2.8 3.0
Đơn vị: g/16gN Nguồn : FAO
Hàm lượng lipid trong gạo cao hơn lúa mạch và lúa mì, nhưng thấp hơn hạt kê, ngô,hạt yến mạch
Lúa gạo cung cấp các vitamin nhóm B là chủ yếu Tuy nhiên, hàm lượng vitamin củalúa gạo không nhiều, thấp hơn các loại lương thực khác
So với các loại hạt khác, lúa gạo có ít cellulose hơn (trừ đại mạch) và có phần khoáng
vô cơ cao hơn
2.1.4 Tiêu chuẩn gạo làm bún
Chất lượng gạo chế biến được biểu hiện ở hàm lượng chất khô, tinh bột, protein vàamylose Hàm lượng tinh bột trong gạo chế biến dao động từ từ 57,34±2,04% đến62,46±1,66%, với biến thiên này cho thấy nhìn chung lượng bột nằm trong phạm vi xungquanh 60%
Hàm lượng amylose biến động từ 25,26±1,23% đến 27,27±1,17%
Hàm lượng protein trong các loại gạo chế biến bún rất khác nhau (trong cùng một giốngnhưng ở địa bàn khác nhau thì hàm lượng protein cũng có chênh lệch) Hàm lượng proteingạo chế biến bún biến dao động từ 7,57%±0,97% đến 10,84±0,90 Những ảnh hưởng củaprotein đến chế biến có thể do các nhóm protein khác nhau hoặc cũng có thể do thành phầncác amino acid trong protein
2.1.5 Tính chất công nghệ của tinh bột trong sản xuất bún khô:
Sự trương nở của hạt tinh bột trong nước:
Khi ngâm hạt gạo trong nước ở điều kiện nhiệt độ thường, người ta nhận thấy có sựtăng thể tích của gạo Sự tăng này gây nên bởi sự hấp thụ nước vào trong hạt gạo, làm hạtgạo trương phồng lên Hiện tượng tăng thể tích như vậy gọi là hiện tượng trương nở,hiện tượng này có thể giải thích:
Như ta đã biết hạt tinh bột ở điều kiện thường liên kết với nhau bằng liên kết hydronhư ở hai dạng nêu ở phần trên Ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của không khí bình thường,
Trang 14phần lớn tinh bột tồn tại ở dạng monohydrat (C6H10O5.H2O)n, trong đó phân tử nước liênkết với nhóm OH sơ cấp của mỗi gốc glucose Khi trong điều kiện bão hòa ẩm (ngâm trongnước) do kích thước nhỏ bé của các phân tử nước dễ dàng tấn công đến cả những nhóm OHthứ cấp kém hoạt động hơn tạo nên dạng tinh bột trihydrate (C6H10O5.3H2O) Lúc này dosự hiện diện của các phân tử nước nên kích thước hạt tinh bột tăng lên Nhờ đó làm hạt gạocũng tăng thể tích.
Tùy thuộc vào cấu trúc của các hạt tinh bột khác nhau mà khả năng trương nở trongđiều kiện bão hòa sẽ mạnh hay yếu Thông thường tinh bột giàu amylopectin sẽ trương nởmạnh hơn do liên kết hydro trong nội bộ phân tử kém bền vững hơn
Hiện tượng hồ hóa tinh bột bằng nhiệt năng:
Khi hấp thụ nước tinh bột trương nở dần, khi tăng nhiệt độ đến một giới hạn nào đó,các hạt tinh bột trương nở một cách mạnh mẽ và nhanh chóng, hình dáng các hạt tinh bột sẽthay đổi đột ngột tạo thành dạng keo dính Hiện tượng trương nở xảy ra trước tiên ở cáckhe lõm của hạt tinh bột, sau đó lan rộng cả bề mặt, làm cho thể tích của chúng tăng lênnhiều lần cho đến khi hạt tinh bột bị rách và trở thành cái túi không định hình, hoặc ngừngtăng thể tích, lúc đó tinh bột bắt đầu hồ hóa, nhiệt độ tương ứng để tinh bột hồ hóa gọi lànhiệt độ hồ hóa
Một trong những tính chất quan trọng của tinh bột có ảnh hưởng đến chất lượng và kếtcấu của nhiều sản phẩm thực phẩm là độ nhớt và độ dẻo Sau khi đã hồ hóa tinh bột mấtcác tính chất cũ Các phân tử tinh bột chứa nhiều nhóm hydroxide có khả năng liên kếtđược với nhau làm cho tinh bột tập hợp lại đồ sộ hơn, giữ nhiều phân tử nước hơn, làm tăngđộ đặc, độ dính, độ dẻo và độ nhớt, do đó các phân tử di chuyển khó khăn hơn Tính chấtnày càng thể hiện mạnh mẽ hơn ở những tinh bột giàu amylopectin
Mặt khác, tinh bột đã hồ hóa thường có một độ trong suốt nhất định Người ta nhậnthấy tinh bột của gạo nếp cho hồ trong suốt hơn tinh bột gạo tẻ Chính độ trong suốt này có
ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là làm tăng giá trị cảm quan của các sản phẩm thựcphẩm Sản phẩm bánh hỏi có nguồn nguyên liệu là gạo tẻ nên sẽ có màu trắng tạo giátrị cảm quan đặc trưng cho sản phâm, dạng tinh bột đã hồ hóa là dạng phổ biến của tinhbột được sử dụng làm thực phẩm cho người, chỉ ở dạng này tinh bột mới có khả năng đượctiêu hóa tốt trong cơ thể Do đó người ta rất chú ý nghiên cứu đến tính chất và cơ chế củanó
Ở nhiệt độ thường các phân tử nước liên kết với nhau thông qua nối hydro, do đó khảnăng hoạt động của chúng không cao Khi được đun nóng, nhiệt năng cung cấp sẽ phá vỡhàng loạt liên kết hydro ràng buộc các phân tử nước, giúp chúng tự do hoạt đông nên chúngtrở nên linh động hơn nhiều, dễ dàng tấn công vào cấu trúc micell của hạt tinh bột, gây nênsự hydro hóa, những vùng được hồ hóa đầu tiên là những vùng vô định hình của mạng lướimicell, tại đó liên kết tinh bột yếu hơn những vùng có cấu trúc tinh thể, do vậy liên kết
Trang 15hydro giữa các phân tử tinh bột ở những vùng đó dễ bị phá hủy, giúp cho hiện tượng hydrohóa dễ dàng.
Mặt khác nhiệt độ cao cũng phá hủy các liên kết hydro giữa các phân tử tinh bột giúpcho các phân tử nước dễ dàng hydrat hóa Trong quá trình hồ hóa có một số phân tử tinhbột bị hydrat hóa mạnh mẽ sẽ tách khỏi mạng lưới micell, khuyết tán vào trong môi trườngnước gây nên hiện tượng hòa tan tinh bột vào nước nóng Sự hòa tan này ảnh hường đếnchất lượng thực phẩm, vì độ hòa tan cao sẽ làm nước dùng bị đục, độ nhớt cao, ngoài ralàm mất tính cảm quan của thực phẩm
Như vậy nhiệt độ hồ hóa và khả năng hồ hóa của một loại tinh bột nào đó sẽ phụ thuộcrất lớn vào cấu trúc của mạng lưới micell trong hạt tinh bột, cấu trúc này được đặc trưngbởi hình dáng, kích thước phân tử, khối lượng phân tử, tỉ lệ giữa amylose và amylopectin,mức độ phân nhánh và chiều dài của nhánh amylopectin
Quá trình hồ hóa của gạo xảy ra ở khoảng 68-74oC, nhưng nếu gạo được nghiền nhỏtrong quy trình nghiền, tỉ lệ vô định hình trong cấu trúc tinh thể của hạt tăng lên, kết quảlà khả năng phân tán và trương nở trong nước lạnh cũng tăng lên, dẫn tới nhiệt độ hồ hóagiảm 5- 10oC, do đó nhiệt độ hồ hóa giảm xuống 63-69oC
Khả năng tạo gel:
Tinh bột gạo sau khi được hồ hóa và để nguội thì các phân tử tinh bột và nước sẽ tươngtác với nhau và sắp xếp một cách có trật tự để tạo thành gel tinh bột có cấu túc mạng 3chiều
Để tạo gel cần dung dịch tinh bột có nồng độ đậm đặc nhất định, phải được hồ hóađể chuyển tinh bột về trạng thái hòa tan và sau đó được để nguội ở trạng thái yên tĩnh.Trong gel tinh bột chỉ có duy nhất các liên kết hydro tham gia Liên kết hydro có thể nốitrực tiếp các mạch polysacharide lại với nhau, hoặc nối tiếp qua cầu phân tử nước
Vì tinh bột có chứa cả amylose và amylopectin nên trong gel tinh bột có cả vùng kết tinhvà vùng vô định hình Tham gia vào vùng kết tinh có các phân tử amylose và các đoảnmạch amylopectin kết dính với nhau Cấu trúc nhiều nhánh mà chủ yếu là nhánh bên củaphân tử amylopectin sẽ cản trở sự dàn phẳng và sự kết tinh Vùng kết tinh vừa nằm trongcác hạt đã trương nở, vừa nằm trong dung dịch giữa các hạt sẽ tạo nên độ bền và độ đànhồi của gel Phần của đại phân tử amylose và amylopectin nối vào các micell sẽ tạo cho gelchịu được một áp suất nhất định và không bị phá hủy trong một chừng mực đáng kể, độbền áp suất này do số lượng tương đối của các phân tử trong vùng vô định hình quyết định.Các tinh bột chứa amylose và cả amylopectin nên có khuynh hướng tạo gel vớiprotein Nhờ tương tác này mà khả năng giữ nước, độ cứng và độ đàn hồi của gel proteinđược tốt hơn Gel của tinh bột giàu amylose thường cứng và đàn hồi kém
Ngoài ra tinh bột còn có khả năng đồng tạo gel với protein trong gạo Nhờ tương tácnày mà độ cứng, độ đàn hồi của hệ gel cũng được tốt hơn
Hiện tượng thoái hóa tinh bột:
Trang 16Khi gel tinh bột để một thời gian dài các phân tử tinh bột sẽ co lại và bị kết tinh, nước
sẽ tách ra ở dạng tự do Quá trình đó được gọi là sự thoái hóa Quá trình này càng tăng mạnhnếu gel để ở nhiệt độ lạnh đông rồi sau đó tan giá Quá trình thoái hóa là do hình thành nhiềucầu hydro giữa các tinh bột Các phân tử amylose nên định hướng với nhau dễ dàng và tự dohơn các phân tử amylopectin Vì vậy hiện tượng thoái hóa gần như chỉ liên quan đến cácphân tử amylose là chủ yếu Có nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tốc độ thoái hóa như:nhiệt độ, pH, và sự tồn tại của các muối vô cơ Nhiệt độ càng tăng, tốc độ thoái hóa cànggiảm, bởi vì khi nhiệt độ thấp làm cho các liên kết hydro giữa các phân tử nước càng bềnhơn, ngược lại liên kết hydro giữa tinh bột và nước càng yếu hơn Độ pH của môi trườngcũng ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ thoái hóa của tinh bột Kết quả cho thấy ở pH =7 tốc độtthoái hóa đạt cực đại, độ pH lớn hay nhỏ hơn, tốc độ thoái hóa giảm đi Khi pH=2 rất ít xảy
ra hiện tượng thoái hóa Khi thêm một số muối vô cơ vào tinh bột như MgSO4 sẽ làm tăngtốc độ thoái hóa
Sự thoái hóa gồm 3 giai đoạn:
Đầu tiên các mạch được uốn thẳng lại
Tiếp đến vỏ hydrat bị mất và các hạt được định hướng
Các cầu hydro được tạo thành giữa các nhóm OH trong phân tử
sẽ được định hướng và sau đó sự đứt gãy sẽ xảy ra ở chính mạch của phân tử
Trong tinh bột, amylopectin phân nhánh và ngắn nên lực tương tác giữa các phân tử rấtyếu, nhiều đoạn mạch ngắn chập lại dế tạo ra các khuyết tật trong bó sợi nên làm cho sợitinh bột dễ bị rão và đứt Mạch amylose dài nên lực tương tác giữa các phân tử lớn, cácchuỗi khó bị đứt
Vì vậy nên khi lựa chọn nguyên liệu làm bánh hỏi ta sử dụng loại gạo có hàm lượngamylose kém
Trang 17Bảng 10: Chỉ tiêu cảm quan của nước
Bảng 11: Chỉ tiêu hóa lý của nước
Trang 18Tách kim loạiGạo
Hơi nướcNước
Lượng nước ảnh hưởng đến công nghệ bảo quản và chế biến lúa gạo Nước được xem làthành phần quan trọng của lúa Hạt lúa càng chín vàng trên cây, độ ẩm của hạt càng giảm Khihạt ở giai đoạn chín sữa, lượng nước chiếm gần 70% khối lượng hạt, khi hạt ở giai đoạn thuhoạch thì độ ẩm khoảng 16 – 28% tùy thuộc điều kiện thời tiết khi khu hoạch Lượng nướctrong hạt ở hai dạng tự do và liên kết
3 Quy trình công nghệ
Quy trình sản xuất bún từ gạo
Trang 19Làm nguộiBao gói
Bún khô
Bột gạo
Phối trộnNhàoÉp tạo hìnhHấpỦSấy lần 1Cắt tạo hìnhNước
Bún khô
Sấy lần 2Làm nguộiBao góiQuy trình sản xuất bún từ bột gạo
3.1 Qúa trình tách kim loại:
Mục đích: chuẩn bị
Trang 20Cách các tạp chất kim loại, đặc biệt là mảnh kim loại nhỏ ra khỏi gạo Quá trình sẽlàm cho các tính chất của nguyên liệu đạt yêu cầu cảu quy trình công nghệ sản xuất nhằmđảm bảo quy trình sản xuất vận hành tốt và sản phẩm thu được có chất lượng đạt yêu cầu.
Các biến đổi trong nguyên liệu:
Các biến đổi hóa học , vật lý , sinh học, hóa sinh không đáng kể
Tách kim loại ra khỏi nguyên liệu
Các yếu tố ảnh hưởngTính chất nguyên liệu, đặc biệt là tính chất bề mặt
Tính chất và trạng thái của tạp chất như kích thước, tỷ trọng …
Thiết bị:
Máy phân loại từ tính
Hình 1: thiết bị tách kim loạiĐây là dạng thiết bị làm sạch gạo sử dụng đầu dò có từ tính Theo đó trên đường di chuyểncủa nguyên liệu, người ta đặt đầu dò các loại vật liệu có từ tính – kim loại Khi trong nguyênliệu có chứa tạp chất từ tính , nó sẽ làm nhiễu từ trường, sự nhiễu loạn từ trường này sẽ đượckhuếch đại và truyền về bộ phận xử lý Khi đó xuất hiện tín hiệu báo vật liệu đã bị nhiễm tạpchất hoặc kích hoạt cho thiết bị làm sạch bằng từ hoạt động loại các tạp chất nói trên Đầu dònày cũng thường sử dụng để phát hiện các loại đá, dầu mỡ đã bị than hóa, clinke, …
Hỗn hợp gạo cần làm sạch sẽ được nhập vào từ bên trên Máy quay sẽ quay, nếutrong gạo có các chất có từ tính thì sẽ được nam châm hút và loại ra qua lỗ thông, cho đếnkhi hỗn hợp không còn từ tính nữa Gạo nguyên liệu sẽ được thoát ra tại cửa dành chonguyên liệu
3.2 Quá trình ngâm
Mục đích: chuẩn bị
Làm mềm gạo, giúp cho quá trình xay nghiền diễn ra dễ dàng hơn
Nước đi vào bên trong sẽ làm cho cấu trúc hạt gạo trở nên lỏng lẻo, hạt gạo mềmhơn , do đó làm giảm sự gãy vỡ hạt tinh bột trong quá trình nghiền
Làm sạch một phần tạp chất bên ngoài
Trang 21Hiệu suất thu được cao hơn.
Hydrat hóa các cấu tử dinh dưỡng có trong gạo như protein, glucid , lipid để dễ phântán vào dịch huyền phù sau này
Những biến đổi diễn ra trong quá trình ngâm
Vật lý
Sự khuếch tán của nước và muối vào hạt gạo
Sự tăng thể tích của hạt gạo
Hạt mềm hơn, nặng hơn,
Trước khi ngâm, bề mặt ngoài
của hạt gạo nhẵn
Sau 10 phút ngâm ở 250C, các
chất từ trong gạo khuếch tán ra
ngoài làm lộ ra các thành tế bào
Trang 22Thời gian ngâm kéo dài ( 60
phút) thì càng dễ lộ nhiều thành
tế bào hơn
Thời gian ngâm càng dài thì các
chất trong gạo sẽ khuếch tán ra
ngoài càng nhiều, bề mặt ngoài
của hạt gạo chỉ còn là thành tế
bào
- Sự khuếch tán của protein, lipid và tro của hạt gạo đi vào nước ngâm
Trước khi ngâm, màng protein
lien tục bao quanh các hạt tinh
bột
Sau 10 phút ngâm ở 250C, các
chất tan của hạt gạo khuếch tán ra
ngoài, nước khuếch tán vào trong
hạt gạo làm cho các hạt tinh bột
lớn hơn (3-9mm) và lộ ra các
protein hình cầu có kích thước 1 –
2 µm Các hạt protein kết dính với
nhau trên bề mặt hạt tinh bột và
lấp đầy khoảng trống giữa các hạt
tinh bột
Trang 23Sau 60 phút ngâm ở 250 C, màngprotein liên tục không còn thấynữa
Khi ngâm, hình dạng của hạt bộtbắt đầu hiện rõ
Các hạt bột được thấy rõ hơn sau
60 phút ngâm ở 250C
Sinh học