1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa lý ngành công nghiệp dầu khí

119 715 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa Lý Ngành Công Nghiệp Dầu Khí
Người hướng dẫn GS. TS. Lê Thông
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng cơ sở lý luận chung về công nghiệp và thông qua sự phát triển của công nghiệp trọng điểm Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa đất nước, đề tài làm rõ vai trò, điều kiện, thực trạng phát triển và định hướng phát triển của ngành công nghiệp dầu khí với tư cách là một ngành công nghiệp trọng điểm.

Trang 1

MỞ ĐẦU.

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 đã nêu rõ: Ngành công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực,

quyết định sự phát triển nền kinh tế, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa

Tại diễn đàn hội thảo Quốc tế “Xây dựng và thực hiện chiến lược công nghiệp Việt Nam”, Hà Nội đầu năm 2005, giáo sư Nhật Bản Ohno đã phát biểu: “Việt Nam cần tập trung phát triển mạnh các ngành công nghiệp trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh, có thị trường, có khả năng hút vốn lớn, khuyến khích phát triển các ngành và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, quy trình công nghệ cao, tăng cường năng lực nghiên cứu phát triển công nghệ trong nước, làm chủ công nghệ hiện đại…”

Thật vậy, trong quá trình phát triển đất nước, ở mỗi giai đoạn khác nhau, Đảng và Nhà nước luôn xác định các ngành công nghiệp trọng điểm, để đề ra các cơ chế, chính sách thích hợp, nhằm tạo những đòn bẩy, phát triển kinh tế

Trong xu thế hội nhập, cả thế giới đang hòa mình vào dòng chảy lớn của nền kinh tế toàn cầu hóa Những năm đầu của thế kỷ mới, đã ghi dấu những bước phát triển quan trọng của đất nước Vị thế của Việt Nam đang ngày càng được khẳng định bằng hàng loạt các sự kiện chính trị, kinh tế quan trọng 17h ngày 07/11/2006 Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO); là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ

Trang 2

nghiệp dầu khí Việt Nam tăng tốc, khẳng định vai trò trụ cột của nền kinh tế đất nước.

Năm 2006 cũng là một năm đánh dấu một bước chuyển lớn lao của ngành dầu khí Bộ chính trị, Chính phủ đã chính thức phê duyệt Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng phát triển đến 2025 Hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành trong năm 2006 đã tiếp tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao, với tổng doanh thu đạt 168,7% kế hoạch, tăng 17,5% so với năm 2005; nộp ngân sách tăng 26,7% so với năm trước, chiếm xấp xỉ 28,5% tổng thu ngân sách Nhà nước Hoạt động hợp tác đầu tư về công nghiệp dầu khí ở trong nước và nước ngoài tiếp tục được đẩy mạnh và thu những kết quả tốt Không những thế, công tác hoàn thiện bộ máy tổ chức, đưa hoạt động của ngành vận hành theo cơ chế tập đoàn đã được thực hiện, mở

ra những yếu tố tích cực để ngành tiếp tục phát triển bền vững, hội nhập

có hiệu quả…

Có thể nói, vận hội đang “gõ cửa”, thời gian đến năm 2020 không còn nhiều Những nước được gọi là “con rồng”, “con hổ” trong khu vực

đã tìm được cho mình một mô hình phát triển phù hợp với thế mạnh của

họ Trước bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra từng ngày từng giờ, công nghiệp Việt Nam đang tìm cho mình một cách đi riêng Chúng ta đang học hỏi, tiếp thu tri thức và kinh nghiệm của các nước đi trước, đồng thời đang phát huy thế mạnh từ thực tiễn phát triển đất nước, để xây dựng một mô hình phát triển công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp trọng

điểm - có khả năng cạnh tranh, chiếm tỷ trọng đáng kể tại thị trường trong nước và quốc tế; có khả năng tạo hiệu ứng lan toả, dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác… Chỉ có như thế,

ngành công nghiệp Việt Nam mới tạo ra những điểm nhấn, những bước tiến mạnh mẽ, rút ngắn nhanh khoảng cách với các nước khác Mô hình

Trang 3

ấy sẽ tạo nên bản sắc công nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.

Xuất phát từ thực tế đó, là giáo viên Địa lý chuyên ngành KT –

XH, được sự đồng tình, ủng hộ của GS TS Lê Thông, tôi mạnh dạn lựa

chọn đề tài: Địa lý ngành công nghiệp dầu khí cho luận văn tốt nghiệp

thạc sỹ của mình, với tham vọng tìm hiểu, nghiên cứu một ngành công nghiệp trọng điểm còn rất mới, rất trẻ, rất thời sự trong xu thế hội nhập

và xa hơn nữa mong góp phần như một tài liệu tham khảo

2 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

2.1 Mục đích.

Vận dụng cơ sở lý luận chung về công nghiệp và thông qua sự phát triển của công nghiệp trọng điểm Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa đất nước, đề tài làm rõ vai trò, điều kiện, thực trạng phát triển và định hướng phát triển của ngành công nghiệp dầu khí với tư cách là một ngành công nghiệp trọng điểm

2.2 Nhiệm vụ.

- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về việc phát triển ngành công

nghiệp dầu khí với tư cách là một ngành công nghiệp trọng điểm

- Tìm hiểu vai trò, tình hình phát triển của ngành công nghiệp dầu khí trong xu thế hội nhập

- Kiểm kê, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành

- Kiểm kê, phân tích thực trạng phát triển của ngành

- Đưa ra một số định hướng và giải pháp phát triển cho ngành công nghiệp trọng điểm dầu khí

2.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài.

- Đối tượng nghiên cứu: Công nghiệp dầu khí, chủ yếu là khai thác với tư

cách là ngành công nghiệp trọng điểm

- Phạm vi nghiên cứu: Trên phạm vi cả nước

- Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào khoảng từ 1995 – 2006

Trang 4

3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu.

3.1 Quan điểm.

3.1.1.Quan điểm hệ thống - cấu trúc

Đây là hệ quan điểm quan trọng nhất trong nghiên cứu địa lý Quan điểm này đòi hỏi phải phân tích đối tượng như một hệ thống

“động” trong các mối liên hệ biện chứng giữa đối tượng với chỉnh thể

mà bản thân nó là một bộ phận cấu thành Dầu khí là lĩnh vực rất rộng, một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ phức tạp Nội dung nghiên cứu về công nghiệp dầu khí vừa đa dạng, vừa liên quan đến nhiều vấn đề có quy mô và bản chất khác nhau Vì thế trong nghiên cứu này phải được phân tích trong sự phát triển và phân bố của ngành công nghiệp, cũng như trong giai đoạn đầu của hội nhập và phát triển

3.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong một không gian (lãnh thổ) và được xác định trong một thời điểm nhất định Vì vậy, cần phải gắn đối tượng nghiên cứu với không gian mà nó đang tồn tại cũng như không gian xung quanh

Công nghiệp dầu khí được đặt trong cơ cấu kinh tế Việt Nam và

là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng của lãnh thổ Sự phát triển và phân bố của ngành dầu khí vừa có tác động và vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc đến các vùng lãnh thổ trên toàn quốc, cũng như khu vực

và thế giới

3.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Các quá trình kinh tế xã hội không ngừng vận động theo thời gian

và biến đổi trong không gian Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh cho phép cắt nghĩa được sự biến động của đối tượng trong quá khứ, hiện tại cũng như trong tương lai

Trang 5

Vì thế sự phát triển và phân bố công nghiệp dầu khí cũng phải được xem xét trong mối quan hệ với những thay đổi lịch sử và những thay đổi về thể chế, chính sách, chiến lược trong từng thời kỳ.

3.1.4.Quan điểm sinh thái.

Sự phát triển của các ngành công nghiệp dầu khí cũng như tất cả các ngành kinh tế khác đều dựa trên nền tảng của tự nhiên và tác động lại tự nhiên Ngành càng phát triển, càng tác động mạnh đến môi trường càng tác động mạnh đến môi trường tự nhiên theo cả hai hướng: tích cực và tiêu cực Phát triển ngành công nghiệp dầu khí một cách bền vững trên cơ sở khai thác tự nhiên, đồng thời phải bảo vệ tự nhiên

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu

Thu thập các tài liệu và thông tin cần thiết, liên quan đến đề tài dưới mọi dạng và mọi nguồn Đây là phương pháp quan trọng ảnh hưởng nhiều đến đề tài như: tiến trình của đề tài; độ chân thực của hiện trạng ngành công nghiệp dầu khí Trong khuôn khổ nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả đã thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau: niên giám thống kê, các báo cáo, tạp chí chuyên ngành, các chính sách công nghiệp dầu khí, các tài liệu liên quan đến ngành… và các website

3.2.2 Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp trong phòng

Đây là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học Trên cơ sở các tài liệu thu thập được (hầu hết là các thông tin, số liệu thô), tác giả tiến hành xử lý để so sánh, phân tích đánh giá và thông qua việc phân tích, đánh giá các thông tin thu thập được tác giả đưa ra các kết quả nghiên cứu theo nội dung và theo mục đích của đề tài

3.2.3 Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lý.

Sử dụng hệ thống các phần mềm thông dụng và phần mềm chuyên ngành để nhập thông tin lưu trữ, quản lý và truy xuất, xử lý

Trang 6

thông tin, hiển thị thông tin theo mục đích và nội dung nghiên cứu của

đề tài

3.2.4 Phương pháp bản đồ

Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học địa lý Bản đồ vừa là nội dung, vừa là phương tiện trong nghiên cứu khoa học địa lý nói chung và trong địa lý kinh tế - xã hội nói riêng Tác giả đã sử dụng công nghệ thông tin địa lý với chương trình Mapinfo 7.5 để thành lập 3 bản đồ và các lược đồ về ngành dầu khí

3.2.5 Phương pháp thống kê

Các số liệu thống kê địa lý và việc biểu diễn trực quan chúng,

thông qua các biểu đồ giúp ích rất lớn cho việc phân tích, nó chứng minh sự phát triển của các hoạt động của kinh tế trong đó có ngành công nghiệp dầu khí

Các bảng thống kê và biểu đồ không chỉ là phương tiện minh họa

mà thực sự là bộ phận không thể tách rời của các nghiên cứu địa lý kinh

tế – xã hội

3.2.6 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực dầu khí cũng là một phương pháp hiệu quả để giải quyết các khúc mắc trong quá trình nghiên cứu Tác giả luận văn đã tham khảo một số ý kiến của các chuyên gia trong ngành dầu khí để có thêm thông tin, hiểu biết khách quan và nhìn nhận nội dung nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau

4 Đóng góp của đề tài.

- Tổng quan, hệ thống hóa có chọn lọc cơ sở lý luận về ngành công

nghiệp trọng điểm nói chung và công nghiệp dầu khí nói riêng

- Bước đầu kiểm kê, đánh giá các điều kiện phát triển công nghiệp dầu khí nước ta, bao gồm cả các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội, phát hiện ra những thế mạnh và hạn chế của ngành

Trang 7

- Góp phần làm sáng tỏ những lợi thế, hạn chế và khái quát được

những nét cơ bản về bức tranh ngành công nghiệp dầu khí

- Đưa ra một số định hướng và giải pháp phát triển ngành nhằm

tương xứng với tiềm năng và thách thức hội nhập

5 Cấu trúc của luận văn .

Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu; nội dung; kết luận Phần nội dung bao gồm

3 chương Ngoài ra còn có một số phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo

Trang 8

Chương 1.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VỚI TƯ

CÁCH LÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM.

1.1 Khái niệm và phân loại ngành công nghiệp.

1.1.1 Khái niệm.

Công nghiệp là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân Nó tạo ra

tư liệu sản xuất, tiến hành khai thác tài nguyên và chế biến chúng thành sản phẩm phục vụ cho sản xuất và đời sống

Theo quan niệm của Liên Hợp Quốc, công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm Hoạt động công nghiệp bao gồm cả 3 loại hình: công nghiệp khai thác tài nguyên, công nghiệp chế biến và các dịch vụ sản xuất theo sau nó.

Công nghiệp có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hoá của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

1.1.2 Phân loại.

Ngành công nghiệp có nhiều cách phân loại khác nhau, dựa vào các tiêu chí như: Công dụng kinh tế của sản phẩm, tính chất công nghệ, tính chất tác động vào đối tượng lao động, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất… trong đó căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm là cách phân loại quan trọng và phổ biến nhất

1.1.2.1 Phân loại ngành công nghiệp theo công dụng kinh tế của sản phẩm.

Chia công nghiệp thành 2 bộ phận lớn nhất, bao gồm:

- Công nghiệp nặng (nhóm A), gồm có các ngành sản xuất tư liệu sản xuất bao gồm: Công nghiệp năng lượng; Công nghiệp luyện kim và chế biến kim loại; Công nghiệp cơ khí; Công nghiệp hoá chất; Công nghiệp sản xuất VLXD

Trang 9

- Công nghiệp nhẹ (nhóm B), gồm các ngành công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm phục vụ mục đích tiêu dùng trực tiếp của con người: Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

1.1.2.2 Phân loại ngành công nghiệp theo tính đồng nhất của công dụng sản phẩm hay căn cứ vào tính chất chung của nguyên liệu được sử dụng hoặc dựa vào tính chất giống nhau của các quy trình công nghệ.

Chia toàn bộ nền công nghiệp thành các nhóm ngành, bao gồm: Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp gia công kim loại; Công nghiệp chế biến gỗ; Công nghiệp sản xuất VLXD; Công nghiệp nhẹ; Công nghiệp thực phẩm

1.1.2.3 Phân loại ngành công nghiệp theo tính chất của sự tác động vào đối tượng lao động.

Chia toàn bộ nền công nghiệp nói chung thành 3 nhóm ngành, bao gồm:

- Công nghiệp khai thác bao gồm: Công nghiệp khai thác than; Công nghiệp khai thác dầu thô và khí tự nhiên; Công nghiệp khai thác quặng kim loại; Công nghiệp khai thác đá và các mỏ khác

- Công nghiệp chế biến: Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; Công nghiệp hoá chất; Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp chế tạo máy; Công nghiệp cơ khí; Công nghiệp điện tử và tin học; Công nghiệp sản xuất VLXD

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước: Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt; Công nghiệp sản xuất và phân phối nước

1.1.2.4 Tương tự với các cơ sở phân loại công nghiệp trên (mục 1.1.2.3), công nghiệp còn được chia thành 6 nhóm ngành chính, bao gồm:

- Công nghiệp khai thác: Công nghiệp khai thác than; Công nghiệp khai thác dầu thô và khí tự nhiên; Công nghiệp khai thác quặng kim loại Công nghiệp khai thác đá và các mỏ khác

Trang 10

- Công nghiệp cơ bản: Công nghiệp cơ khí; Công nghiệp luyện kim; Công nghiệp điện tử và CNTT; Công nghiệp hoá chất.

- Công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ hải sản

- Công nghiệp sản xuất hàng dệt, may, da, giầy

- Công nghiệp sản xuất VLXD

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện

1.1.2.5 Phân loại ngành công nghiệp theo mức độ tiến bộ trong quy trình sản xuất, trình độ trang thiết bị kỹ thuật cũng như giá trị sản phẩm làm ra cuối cùng.

Chia toàn bộ nền công nghiệp nói chung thành 3 nhóm ngành, bao gồm:

- Ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất:

Là những ngành công nghiệp phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và công nghệ chủ yếu là của nước ngoài Những ngành công nghiệp này dễ dàng xây dựng, nhu cầu về vốn không lớn, ít sáng tạo, giá trị gia tăng thấp nhưng có thể xuất khẩu thu được ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, tạo đà phát triển kinh tế và khai thác được các lợi thế của nguồn tài nguyên, môi trường Bao gồm: Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm; Công nghiệp sản xuất hàng dệt, may, da, giầy

- Ngành công nghiệp thế hệ thứ hai:

Đây là những ngành công nghiệp đòi hỏi công nghệ cao hơn Những ngành công nghiệp được xây dựng trên cơ sở của những ngành công nghiệp thế hệ thứ nhất, có mối liên hệ và tạo đầu vào cho ngành công nghiệp thế

hệ thứ nhất Ngành công nghiệp thế hệ thứ hai có tác động lan toả và nâng cao năng xuất lao động của nhiều ngành công nghiệp và kinh tế khác, là mục tiêu quan trọng thu hút đầu tư của nước ngoài và phát huy được lợi thế

về nguồn nhân lực có chất lượng cao Bao gồm: Công nghiệp dệt; Công nghiệp cơ khí chế tạo; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp; Công nghiệp điện tử, CNTT

- Ngành công nghiệp thế hệ thứ ba:

Trang 11

Là những ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn và công nghệ cao Các sản phẩm của các ngành công nghiệp này có nhu cầu lớn về số lượng và ngày càng cao về chất lượng khi nền công nghiệp phát triển mạnh mẽ Bao gồm: Công nghiệp hoá dầu; Công nghiệp hoá chất quy mô lớn; Công nghiệp luyện kim…

1.1.2.6 Phân loại ngành công nghiệp trên cơ sở đánh giá khả năng cạnh tranh và vai trò quan trọng của từng ngành công nghiệp theo mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển kinh tế.

Người ta chia toàn bộ nền công nghiệp nói chung thành 3 nhóm ngành, tạo ra cơ sở để xác định các ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn được ưu tiên phát triển trong giai đoạn toàn cầu hoá Chúng bao gồm:

- Nhóm ngành công nghiệp thứ nhất (nhóm ngành công nghiệp đang có lợi thế cạnh tranh), chúng bao gồm: Công nghiệp sản xuất hàng dệt, may, da, giầy; Công nghiệp nhựa; Tiểu thủ công nghiệp, đồ gỗ; Công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm

- Nhóm ngành công nghiệp thứ hai (nhóm ngành công nghiệp cơ sở hạ tầng quan trọng), chúng bao gồm: Công nghiệp thép; Công nghiệp khai thác chế biến; Công nghiệp hoá chất

- Nhóm ngành công nghiệp thứ ba (nhóm ngành công nghiệp tiềm năng), chúng bao gồm: Công nghiệp cơ khí chế tạo; Công nghiệp thiết bị điện tử, viễn thông và CNTT; Công nghiệp sản phẩm từ công nghệ mới (nano, gen, bionic )

1.2 Ngành công nghiệp trọng điểm (CNTĐ).

1.2.1 Sự cần thiết phải lựa chọn ngành công nghiệp trọng điểm.

Bất kỳ một quốc gia nào khi phát triển kinh tế luôn cần có những ngành tạo ra giá trị gia tăng cao, những ngành mà với một lượng đầu vào sẵn có, có thể tạo ra giá trị đầu ra cao nhất trong một thời gian dài Vì là dài hạn, nên các ngành được lựa chọn phải đảm bảo sự hài hòa giữa bốn yếu tố: hiệu quả, cân bằng, công bằng và sự tiến triển (cân bằng 4E) Hơn nữa, trong

Trang 12

tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế, đặc biệt trong điều kiện của nền kinh tế quốc dân còn hạn chế, ngành công nghiệp phải tìm ra những sản phẩm có ưu thế cạnh tranh để có chính sách khuyến khích phát triển phù hợp với sự đầu tư thỏa đáng mới có thể đứng vững khi hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới

Trong xu thế hội nhập, lợi thế so sánh giữa các quốc gia vô cùng quan trọng Quốc gia nào nắm được lợi thế so sánh của nước mình sẽ là quốc gia có nhiều điều kiện để giành được chiến thắng Không một ngành công nghiệp ở bất kỳ quốc gia nào lại có khả năng cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực Vậy nên, việc phải lựa chọn ngành công nghiệp trọng điểm là một yêu cầu thực tế

Ngành CNTĐ không phải là ngành bất biến, mà có thể thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau Nó biểu thị sự năng động, thích ứng trong từng hoàn cảnh, giai đoạn nhất định

Bảng 1.1: Thứ tự ưu tiên của ngành CNTĐ Việt Nam

(giai đoạn 2006 – 2010) Các ngành CNTĐ Thứ tự ưu tiên phát triển qua các giai đoạn

2001- 2006 2006 – 2010

Nguồn: Bộ Công Thương

(*) Gồm Điện tử và CNTT , Cơ khí , Hoá chất, Luyện kim.

1.2.2 Quan niệm về ngành công nghiệp trọng điểm.

Có nhiều quan niệm về ngành CNTĐ

- Quan niệm thứ nhất về ngành CNTĐ.

Ngành CNTĐ là ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong trong

cơ cấu công nghiệp, có thế mạmh lâu dài, mang lại hiệu quả kinh tế cao và

có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các ngành kinh tế khác

- Quan niệm thứ hai về ngành CNTĐ.

Trang 13

Ngành CNTĐ là ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh, chiếm

tỷ trọng lớn tại thị trường trong nước và quốc tế, có khả năng tạo hiệu ứng lan toả, dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp khác, các ngành công nghiệp phụ trợ và các ngành kinh tế khác

- Tổng hợp các quan niệm về ngành CNTĐ.

Tập hợp các quan niệm về ngành CNTĐ có thể thấy rằng: Ngành CNTĐ là ngành công nghiệp có tốc độ phát triển cao, quy mô sản xuất ngày càng phát triển, có công nghệ kỹ thuật hiện đại, có sản phẩm thâm nhập nhiều trên thị trường thế giới, đóng góp phần lớn cho ngân sách quốc gia, có khả năng sử dụng tay nghề cao của người lao động và cũng có thể dựa vào vốn đầu tư từ nước ngoài để phát triển sản xuất và ứng dụng các tiến bộ của khoa học, công nghệ hiện đại

1.2.3 Các tiêu chí xây dựng ngành công nghiệp trọng điểm.

Xác định ngành công nghiệp trọng điểm phải theo hướng khai thác triệt

để các lợi thế của nền kinh tế, nhằm chủ động tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Ngành công nghiệp trọng điểm là ngành nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội của các hoạt động đối nội và đối ngoại, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Trong quá trình xác định ngành công nghiệp trọng điểm phải tính đến yêu cầu phát triển bền vững, lâu dài, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng Các tiêu chí bao gồm:

- Là những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, sản phẩm của ngành này có vị trí chi phối nhiều ngành kinh tế quốc dân hoặc đáp ứng các nhu cầu đặc biệt thiết yếu với quốc kế dân sinh Sự phát triển của ngành này sẽ là nền tảng và thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành công nghiệp

- Là những ngành có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với các ngành khác, tạo nguồn thu nhập lớn cho ngân sách Nhà nước, do đó có vị trí quan

Trang 14

trọng thể hiện qua tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế cũng như trong nguồn thu ngân sách.

- Là những ngành khai thác các thế mạnh đặc biệt của đất nước, đi vào các mũi nhọn của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, phù hợp với xu thế thời đại Việc phát triển ngành này sẽ tạo vị thế vững chắc, có khả năng cạnh tranh cao mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho đất nước và đóng góp tích cực vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

- Là những ngành hướng vào xuất khẩu, thay thế nhập khẩu tạo sức cạnh tranh cho các sản phẩm trong nước ra thị trường thế giới

1.2.4 Đặc điểm của ngành ngành công nghiệp trọng điểm.

Ngành công nghiệp trọng điểm có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, ngành CNTĐ là những ngành có thế mạnh phát triển lâu dài Đó là các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên (than, dầu khí, thủy năng) đối với ngành công nghiệp năng lượng, nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ dồi dào, thị trường tiêu thụ đối với công nghiệp chế biến nông

- lâm – thủy sản, công nghiệp sản xuất tiêu dùng… hay các ngành có ưu thế

về kỹ thuật như: công nghiệp điện, tin học, cơ khí chế tạo, các ngành công nghiệp cơ bản như hóa chất, phân bón vật liệu xây dựng để phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Thứ hai, CNTĐ là những ngành có hiệu quả cao so với ngành khác Hiệu quả ở đây được hiểu là hiệu quả cả về mặt kinh tế và xã hội Theo quan điểm phát triển bền vững, các ngành công nghiệp trọng điểm phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường Vì thế, xem xét hiệu quả của ngành trọng điểm cần đứng trên quan điểm tăng trưởng cao, lâu bền, dài hạn

Thứ ba, các ngành công nghiệp trọng điểm có khả năng lan tỏa, tác động đến ngành kinh tế khác Đây là các ngành có điều kiện phát triển, có thị trường rộng lớn và có khả năng dẫn đầu, kéo theo sự phát triển của các ngành khác

Trang 15

Thứ tư, các ngành CNTĐ có khả năng tạo ra một thế đứng và góp phần tiến đến xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ Bên cạnh các ngành công nghiệp không thể thiếu để trang bị cho nền kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, CNTĐ phải có cả các ngành có khả năng cạnh tranh, được biết đến như một thế mạnh của đất nước.

Thứ năm, ngành CNTĐ có thể đạt tới trình độ tiên tiến hoặc vào hàng tiên tiến nhất trên thế giới trong khoảng thời gian không xa Đặc điểm này thể hiện khả năng cập nhật, chuyển giao công nghệ quốc tế, đưa ngành trọng điểm thành ngành có trình độ công nghệ, quản lý ngang với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, trong khoảng thời gian ngắn nhất so với các ngành khác

1.3 Ngành công nghiệp trọng điểm dầu khí.

1.3.1 Các quan niệm về dầu khí.

Trước hết, ngành công nghiệp dầu khí là một ngành mang tính tổng hợp và đa dạng cao Chuỗi hoạt động của công nghiệp dầu khí bao gồm:

Khâu thượng nguồn (còn gọi là khâu đầu), khâu trung nguồn (khâu giữa) và khâu hạ nguồn (khâu sau).

- Khâu thượng nguồn: bao gồm các hoạt động tìm kiến, thăm dò,

khai thác dầu khí Khâu này sử dụng tổng hợp tri thức và công nghệ của các chuyên ngành như địa chất, địa vật lý, địa hoá, khoáng sản, khoan khai thác…

- Khâu trung nguồn: bao gồm các hoạt động vận chuyển, tàng trữ dầu

khí Khâu này liên quan đến các công nghệ đường ống, tàu chứa, xe chứa, bồn chứa, cầu cảng…

- Khâu hạ nguồn: bao gồm các hoạt động xử lý, chế biến, kinh

doanh và phân phối các sản phẩm dầu khí

* Theo Luật Dầu khí 1993:

- "Dầu khí" là dầu thô, khí thiên nhiên và hydrocarbon ở thể khí, lỏng, rắn hoặc nửa rắn trong trạng thái tự nhiên, kể cả sulphur và các chất

Trang 16

tương tự khác kèm theo hydrocarbon nhưng không kể than, đá phiến sét, bitum hoặc các khoáng sản khác có thể chiết xuất được dầu

- "Dầu thô" là hydrocarbon ở thể lỏng trong trạng thái tự nhiên, asphalt, ozokerite và hydrocarbon lỏng thu được từ khí thiên nhiên bằng phương pháp ngưng tụ hoặc chiết xuất

- "Khí thiên nhiên" là toàn bộ hydrocarbon ở thể khí, khai thác từ giếng khoan, bao gồm cả khí ẩm, khí khô, khí đầu giếng khoan và khí còn lại sau khi chiết xuất hydrocarbon lỏng từ khí ẩm

- "Hoạt động dầu khí" là hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ

và khai thác dầu khí, kể cả các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt động này

- "Hợp đồng dầu khí" là văn bản ký kết giữa Tập đoàn dầu khí Việt Nam với tổ chức, cá nhân để tiến hành hoạt động dầu khí

- Khai thác Dầu - Khí: Đó là việc sử dụng các biện pháp khoa học, kĩ thuật và thiết bị thích hợp để lấy dầu và khí thiên nhiên (có khi kèm theo dầu) từ trong lòng đất Sau đó, thu gom chúng lại và sơ chế, tức là tách

chúng ra khỏi nước và các hỗn hợp rắn Các phương pháp khai thác dầu khí hiện nay là: dùng giếng khoan phun (dưới tác dụng của áp lực vỉa hay khí

nở thoát ra từ vỉa, dầu tự nhiên được phun lên theo giếng khoan); đẩy dầu lên bằng không khí nén hay bằng bơm sâu Hiện nay, ngành dầu khí đã áp dụng rộng rãi các biện pháp đặc biệt để tăng mức sản xuất của giếng khoan

và tăng mức lấy dầu lên như: bơm nước hay không khí vào vỉa dầu; phá vỡ vỉa bằng thuỷ lực; mở mũi giếng khoan; xử lí đáy giếng khoan bằng

phương pháp lí hoá; khai thác dầu khí thứ cấp (khai thác vét) Nếu vỉa dầu nằm không sâu và xét thấy có lợi kinh tế thì khai thác dầu khí bằng hầm lò

1.3.2 Vai trò của dầu khí đối với nền kinh tế Việt Nam.

Trang 17

Việt Nam là nước có tiềm năng dầu khí Nguồn lợi nhuận do khai thác tài nguyên dầu khí mang lại rất lớn Dầu khí còn được gọi là “vàng đen”, vai trò của dầu khí đối với nền kinh tế nước ta thể hiện qua nội dung sau:

1.3.2.1 Thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam là tiến tới bảo đảm an toàn về năng lượng dưới dạng nhiên liệu như xăng, dầu, khí hoá lỏng phục vụ đời sống xã hội của nhân dân

và thoả mãn nhu cầu về nhiên liệu cho sản xuất công nghiệp Sau đó, dầu khí là nguyên liệu ban đầu cho công nghiệp hoá dầu, tạo ra các sản phẩm cho công nghiệp sau hoá dầu

Từ xa xưa, củi, than đóng vai trò là nguồn nhiên liệu chính phục

vụ đời sống xã hội của người dân Việt Nam Quá trình phát triển của lịch sử, đánh dấu một bước tiến mới khi con người tìm thấy và khai thác nguồn tài nguyên dầu khí Từ đó, xăng dầu được đưa vào đời sống sinh hoạt của con người Các chất đốt như củi, than đang dần được thay thế bởi các nguồn nhiên liệu như xăng, dầu, khí đốt và khí hoá lỏng Khí hoá lỏng được sử dụng trên thế giới từ rất lâu và là nguồn nhiên liệu sạch thể hiện sự phát triển văn minh của loài người Lịch sử phát triển công nghiệp cũng gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp và khai thác chế biến dầu khí Dầu mỏ và khí thiên nhiên được chế biến thành nhiên liệu chủ yếu dưới dạng cung cấp nhiệt năng phục vụ cho sản xuất công nghiệp Ngày nay, khí thiên nhiên khai thác còn được sử dụng làm nhiên liệu chạy tuốc bin khí cho nhà máy điện Bên cạnh đó, nguồn nhiên liệu dầu cũng được sử dụng cho việc vận hành các máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp làm tăng năng suất lao động thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp

Mỗi quốc gia có nhu cầu về nhiên liệu khác nhau Mức độ sử dụng nhiên liệu dầu khí không chỉ đơn thuần là thoả mãn nhu cầu tiêu

Trang 18

dùng thường nhật mà nó còn là một chỉ tiêu để thể hiện sự văn minh của con người Một trong những chỉ tiêu thể hiện sự phát triển kinh tế

xã hội của một quốc gia là mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người/năm (như điện, than, dầu khí) Với một đất nước hơn 85 triệu dân thì nhu cầu về các sản phẩm dầu khí là rất lớn Dự báo trong thời gian tới, ngành dầu khí sẽ cung cấp nhiều nhiên liệu hơn nữa thoả mãn nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng của thị trường trong nước xứng đáng với vị trí quan trọng của mình Riêng năm 2006, Việt Nam tiêu thụ khoảng 19 triệu tấn xăng dầu, gấp 2 lần nhu cầu tiêu thụ năm 2000 Như vậy, để góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam là thoả mãn nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng cho đất nước

1.3.2.2 Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.

Dầu khí là nguồn nguyên liệu ban đầu cho các nhà máy lọc, hoá dầu để tạo ra các sản phẩm hoá dầu Các sản phẩm hoá dầu đó lại chính

là nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến như công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp sợi, công nghiệp hoá chất Các ngành công nghiệp này cung cấp những sản phẩm công nghiệp quan trọng như: nhựa PVC (PolyVinyl Clorua, nhựa PP (PolyPropylene), PS (PolyStyrene), các sản phẩm sợi bông hoá học, phân bón Sự may mắn có được nguồn tài nguyên dầu khí cho phép Việt Nam có thể tăng trưởng kinh tế trong điều kiện ổn định về thị trường sản phẩm này Các quốc gia không có nguồn tài nguyên sẽ phải mất một khoản lớn ngoại tệ để nhập nguyên liệu có nguồn gốc từ dầu khí

và không thể chủ động do sự lên xuống của giá cả thị trường trên thế giới

Như vậy, dầu khí là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm dầu khí Hiện tại, ở nước ta các nhà máy lọc dầu chưa đi vào hoạt động, nên các sản phẩm hoá dầu đều phải nhập 100% từ

Trang 19

nước ngoài để làm nguyên liệu cho công nghiệp sau hoá dầu Theo lộ trình, tháng 02/2009 nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất sẽ đi vào hoạt động với công suất thiết kế 6,5 triệu tấn dầu thô/năm phục vụ thị trường trong nước

và chắc chắn sẽ giảm lượng sản phẩm hoá dầu nhập khẩu

Trong thời điểm hiện nay, ở nước ta trong cơ cấu sản lượng của ngành điện lực đang chuyển dần từ thuỷ điện sang Diezel – TBK Nhà máy nhiệt điện Bà Rịa tiêu thụ 1 tỷ m3 khí/năm lấy từ mỏ Bạch Hổ Dự kiến nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ tiêu thụ khoảng 3 tỷ m3 khí/năm sẽ chính thức hoạt động vào năm 2008

1.3.2.3 Hoạt động xuất khẩu hàng thô đem lại ngoại tệ lớn.

Trong giai đoạn đầu của quá trình công ngiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, công nghiệp dầu khí đóng vai trò là ngành tích luỹ tư bản cho quá trình phát triển kinh tế đất nước Thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam có nguồn tài nguyên dầu khí đầy tiềm năng Đây là một thuận lợi lớn của nước ta trong việc tích luỹ vốn ban đầu cho công nghiệp hoá Ngay sau khi Luật đầu tư nước ngoài ban hành (tháng 12/1987), Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều công ty dầu khí nước ngoài bỏ vốn đầu

tư vào lĩnh vực tìm kiếm thăm dò Đó là cơ hội cho Việt Nam rút ngắn quá trình tích luỹ vốn bằng cách khai thác các mỏ dầu và khí thiên nhiên để xuất khẩu

Thời gian qua, ngành dầu khí đã xuất khẩu khối lượng lớn dầu thô đáng kể sang các nước Mỹ, Nhật, Singapo, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc và thu về một lượng ngoại tệ đáng kể Dầu khí đã vươn lên thành một ngành xuất khẩu chủ lực, đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của cả nước Việc khai thác được dầu ở mỏ Bạch Hổ (1986) và ngày 21- 4 - 1987 lần đầu tiên Việt Nam bán dầu thô ra thị trường thế giới,

kể từ đó nhiều năm sau dầu khí luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam, chiếm tỷ lệ 20 - 30% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước

Trang 20

Điều này còn cho thấy dầu thô đóng vai trò quan trọng trong cán cân xuất nhập khẩu Ngoại tệ thu được từ xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm khác của các ngành dầu khí sẽ được dùng để nhập khẩu máy móc, trang thiết bị cơ bản và những sản phẩm mà trong nước chưa sản xuất được.

1.3.2.4 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

Với vai trò là ngành cung cấp sản phẩm xuất khẩu, trong thời gian qua, ngành dầu khí đã thu hút được một lượng vốn đầu tư đáng kể trong khâu tìm kiếm thăm dò, gia tăng sản lượng dầu thô khai thác và xuất khẩu, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự phát triển ngành dầu khí có tác động tới quá trình chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp Các phát hiện mới về mỏ dầu khí là cơ sở để gia tăng sản lượng khai thác trong tương lai Từ đó, công nghiệp khai thác dầu khí phát triển sẽ là động lực thúc đẩy các mối liên kết xuôi: công nghiệp lọc dầu, hoá dầu, công nghiệp dệt, công nghiệp sản xuất Polyme, nhựa đường Trong tương lai, với bốn nhà máy lọc dầu, cùng với nhiều đường ống dẫn khí và các nhà máy hoá chất dùng nguyên liệu khí theo kế hoạch, hy vọng đến năm 2010, sản lượng dầu chế biến của Việt Nam sẽ đạt 10 - 12 triệu tấn/ngày, NH3 đạt 1000 tấn/ngày Đó là bước đầu cho việc hình thành một khu tổ hợp công nghiệp hoá dầu ở Việt Nam đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa về các sản phẩm lọc hoá dầu và xuất khẩu Tiếp đó việc hình thành các nhà máy sản xuất nhựa đường, PVC, PP, DOP, methanol, sẽ cung cấp nguyên, nhiên liệu phục vụ cho sự phát triển các ngành kinh tế khác Điều đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp cũng như cơ cấu ngành kinh tế quốc gia nói chung

Với sự kiện khai thác tấn dầu quy đổi thứ 200 triệu (12/06/2005), ngành dầu khí Việt Nam đã đánh dấu những đóng góp đáng kể vào thành

Trang 21

tựu kinh tế chung của cả nước trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trong giai đoạn đầu, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô Đó là những sản phẩm có được từ nguồn tài nguyên chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế Ở Việt Nam, dầu thô đứng đầu trong 08 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam dưới dạng sản phẩm thô gồm có: dầu thô, gạo, hải sản, cà phê, hạt điều, cao su, than đá, tơ tằm Những sản phẩm này chiếm 60 - 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, chỉ riêng dầu thô xuất khẩu đã chiếm tới 17,5%

1.3.3 Đặc điểm của ngành dầu khí.

1.3.3.1 Là ngành công nghiệp tiền đề.

Cuộc cách mạng công nghiệp thế giới bắt đầu nổ ra vào cuối thế

kỷ XVIII, nhưng chỉ thực sự mạnh khi ngành dầu khí ra đời và phát triển Dầu khí chiếm tỷ trọng lớn nhất (61 – 62%), so với các loại nhiên liệu khác trong cung ứng năng lượng sơ cấp của thế giới Điều này, có nghĩa phát triển dầu khí chính là phải phát triển năng lượng quốc gia, đồng nghĩa với công nghiệp hóa đất nước Mắt xích đầu tiên để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa là phát triển năng lượng và hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông Ngành công nghiệp dầu khí phát triển thúc đẩy ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim, cơ khí chế tạo phát triển và sau đó đến lượt chúng thúc đẩy các ngành công nghiệp còn lại phát triển Sự tiêu thụ năng lượng lớn, chứng tỏ nền kinh

tế thế giới càng phát triển và đồng nghĩa với nhu cầu dầu khí ngày càng tăng Các khu vực, quốc gia tiêu thụ dầu khí chính trên thế giới là các quốc gia công nghiệp phát triển như: Mỹ; Nhật Bản và Tây Âu Ngày nay, 50% nhu cầu mỏ trên thế giới được dùng làm nhiên liệu cho ngành Giao thông vận tải – ngành lưu thông huyết mạch của nền kinh tế trong nước và giao lưu quốc tế Nó cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất và

Trang 22

Để thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nhà nước Việt Nam bắt tay ngay vào 2 việc cần làm trước tiên là phát triển nguồn nhân lực và phát triển năng lượng Dầu khí có vai trò hàng đầu trong phát triển năng lượng Ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam quyết tâm nâng tỷ trọng dầu khí trong tổng nhu cầu năng lượng lên từ 49% (1995) lên 60% (2020) và về khối lượng tăng lên gấp gần 8 lần Đồng thời ngành dầu khí cũng chú trọng phát triển hạ nguồn để cung cấp các sản phẩm và phát triển nguyên liệu đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành công nghiệp khác như: Cầu đường, giao thông vận tải, cơ khí, dệt may, hóa chất, nông nghiệp, y, dược, điện… và hầu hết các ngành công nghiệp khác, bởi lẽ hơn 70 sản phẩm tiêu dùng trong cuộc sống đều có nguồn gốc từ dầu mỏ.

Chính vì dầu khí rất quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế

xã hội nên tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia công nghiệp phát triển đều thực hiện chính sách an toàn năng lượng và xem đây là sự đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia

1.3.3.2 Dầu khí là nguồn tài nguyên quý không tái tạo được.

Trên thế giới, tài nguyên dầu khí được phát hiện từ lâu nhưng mới bắt đầu khai thác mang tính công nghiệp từ nửa cuối thế kỷ 19 Đây là nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo Dầu khí được tạo ra nhờ các quá trình biến đổi địa chất liên quan đến sự hình thành, chuyển hoá, di chuyển và tích tụ các vật chất hữu cơ (hydrocacbon), và trong một khoảng thời gian rất dài, từ 1 triệu đến 100 triệu năm

Các mỏ dầu khí phân bố không đều giữa các vùng khác nhau trên trái đất Điều này phụ thuộc vào cấu tạo địa chất cũng như khí hậu của từng vùng Những mỏ dầu lớn nhất thế giới tập trung ở các nước Trung Đông (Arập Xêút, Co-oét, Iraq, ), ở Vênêzuêla, Nga, Mỹ

Trang 23

Dầu mỏ và khí thiên nhiên là nguồn tài nguyên năng lượng quý thể hiện có giá trị kinh tế cao của nó Đây là nguồn năng lượng mới có những thuộc tính vượt trội so với các nguồn năng lượng khác Dầu mỏ được chế biến thành các dạng năng lượng khác như xăng, dầu… đã được sử dụng rộng rãi trong sản xuất của đời sống Hơn nữa các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ lại là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp hoá chất và công nghiệp hàng tiêu dùng Khí thiên nhiên ngày càng được ưa chuộng sử dụng như một loại năng lượng sạch có khả năng thay thế các loại chất đốt như than, dầu hoả Ở Việt Nam, tuy là nguồn tài nguyên mới được khai thác nhưng dầu khí đã có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Hàng năm, lượng dầu khí xuất khẩu đã đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho nhà nước.

Trữ lượng dầu khí trên thế giới là có hạn, cạn kiệt dần theo tốc

độ khai thác Loài người chưa tìm ra nguồn năng lượng thay thế nên dầu khí càng trở nên quý giá hơn khi trữ lượng ngày càng giảm Theo tính toán dự báo thì với nhịp độ đầu tư khai thác dầu khí như hiện nay, trữ lượng của những quốc gia đã tìm thấy dầu tính đến cuối thế kỷ XX

sẽ chỉ đủ khai thác trong vòng 50 năm tới Nhiều nước ở Đông Nam Á hiện nay đang là nước xuất khẩu dầu mỏ như Inđônêxia, Malayxia sẽ trở thành những nước nhập khẩu vào những năm sau 2010

1.3.3.3 Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí là hoạt động có nhiều rủi

ro mang tính mạo hiểm kinh tế.

Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò dầu khí, độ rủi ro cao trước hết phụ thuộc vào điều kiện địa chất Xác suất thành công trung bình trong tìm kiếm thăm dò dầu khí trên thế giới hiện nay rất thấp, chỉ khoảng 10% (Việt Nam là 20%) Lợi nhuận từ tìm kiếm chỉ nhận từ 10 - 20%, nhưng rủi ro chịu 100% Ngoài những rủi ro về địa chất ảnh hưởng đến xác suất phát hiện mỏ, rủi ro về kỹ thuật cũng rất lớn Việc xây dựng và vận hành các đề

Trang 24

án dầu khí luôn đi đôi với nguy cơ cháy nổ làm tổn hại người, của và gây ô nhiễm môi trường sinh thái Các chi phí cho những rủi ro này khó mà tưởng tượng được Cách đây mấy năm, công ty Mobil (Mỹ) đã phải bồi thường tới 5 tỷ USD vì gây ô nhiễm môi trường Chính vì độ rủi ro cao mà các nhà đầu tư trở nên mạo hiểm khi bỏ vốn lớn vào lĩnh vực này.

1.3.3.4 Ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn mà chủ yếu là ngoại tệ mạnh.

Quy mô vốn đầu tư lớn là đặc trưng của ngành dầu khí và là sự khác biệt so với các ngành công nghiệp khác Mỗi lĩnh vực hoạt động của ngành dầu khí lại đòi hỏi lượng vốn đầu tư phù hợp để đạt được hiệu quả kinh tế cao

Trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò, mỗi công ty dầu khí nước ngoài cam kết chi tối thiểu trên phạm vi 1 - 2 lô diện tích hợp đồng lên tới 45

- 50 triệu USD trong thời gian từ 3 - 5 năm Các chi phí thực hiện trong khâu này rất lớn, một giếng khoan thăm dò trung bình từ 7 - 10 triệu USD Ở Việt Nam đã có lúc chi phí cho một giếng khoan thăm dò lên tới 40 triệu USD

Như vậy, với xác suất khoảng 20% để tìm thấy một trữ lượng dầu khí thương mại, ta phải chi hàng trăm triệu USD Theo tính toán sơ bộ

và dựa trên cơ sở phân tích số liệu thống kê trước đây cho thấy để gia tăng 1 triệu tấn dầu trữ lượng xác minh ta cần đầu tư khoảng 5 triệu USD Các chuyên gia cho rằng để có sản lượng khai thác 20 triệu tấn dầu quy đổi hàng năm thì mỗi năm ta phải đầu tư khoảng 150 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò để phát hiện những mỏ dầu khí mới

Tuy nhiên, đó mới chỉ là chi phí ban đầu và nếu có phát hiện thương mại thì giai đoạn khai thác tiếp theo sẽ kéo dài ít nhất là 20 năm với số vốn đầu tư còn lớn hơn nữa Chi phí phát triển cho một mỏ để

Trang 25

đưa vào khai thác cực kỳ tốn kém đòi hỏi cường độ đầu tư nhiều trăm triệu trong khoảng 3 - 4 năm.

Có thể lướt qua vài con số để thấy chi phí cao như thế nào: phát triển mỏ Bạch Hổ trong 5 năm đã cho tới 1,5 tỷ USD Đề án phát triển

mỏ khí Lan Tây - Lan Đỏ trong 3 năm để đưa vào khai thác cũng cần 1,5 tỷ USD Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro cũng cần phải chi phí 200 - 250 triệu USD hàng năm để đảm bảo sản lượng khai thác

15 triệu tấn dầu/năm như hiện nay

Công tác vận chuyển dầu khí vào bờ cũng đòi hỏi lượng vốn đầu

tư lớn vì hầu hết các mỏ dầu khí của ta nằm rất xa bờ Quá trình vận chuyển dầu khí vào bờ phải sử dụng hệ thống chuyên dụng, để thu gom

và vận chuyển khí cần các phương tiện kỹ thuật hiện đại như giàn nén trung tâm cỡ lớn với vốn đầu tư trên 100 triệu USD Một đề án xây dựng công trình đường ống dẫn khí từ mỏ vào đất liền cần một lượng vốn đầu tư trung bình 1 triệu USD/km đường ống Từng công trình nhỏ, từng hạng mục đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ nếu đem so sánh với các ngành khác: giàn nén, khí trung tâm tại Bạch Hổ cần 130 triệu USD, ống dẫn khí từ mỏ Bạch Hổ vào bờ cần đầu tư 80 triệu USD

Lĩnh vực chế biến dầu khí cũng cần một lượng vốn đầu tư ban đầu rất lớn bằng ngoại tệ nhưng thời gian thu hồi vốn rất dài Dự án xây dựng nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất cần vốn đầu tư ban đầu lên tới 2,7 tỷ USD cho công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm Các lĩnh vực hoá dầu, sản xuất dầu mỡ nhờn, chất dẻo, phân bón và các sản phẩm dầu khí khác cũng cần nhiều vốn đầu tư Thêm vào đó, lĩnh vực dịch vụ dầu khí cũng có nhu cầu về vốn đầu tư khoảng 30 - 40 triệu USD mỗi năm

1.3.3.5 Ngành công nghiệp dầu khí đòi hỏi áp dụng công nghệ cao.

Tại Việt Nam, các mỏ dầu thường nằm ở dưới độ sâu hàng nghìn mét trong lòng đất Ngoài thềm lục địa thì còn phải tính thêm độ sâu nước

Trang 26

biển từ hàng chục đến hàng trăm mét Vì vậy, con người không thể trực tiếp tiếp cận các mỏ ở sâu trong lòng đất như thế được Sự hiểu biết của con người về địa chất, về cấu tạo mỏ dầu khí, về sự chuyển dịch của các lưu thể lỏng: dầu, khí, nước trong mỏ đều phải qua suy đoán, tính toán nhờ vào các phương tiện, máy móc kỹ thuật hiện đại kết tinh hàm lượng chất xám cao Do đó, lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí đòi hỏi phải áp dụng những tiến bộ mới nhất về khoa học và kỹ thuật.

Nhiều thành quả tiến bộ khoa học công nghệ đã được áp dụng cho công tác thăm dò, khai thác dầu khí Những tín hiệu xung lượng phản hồi

từ các tầng địa chất khác nhau sâu trong lòng đất từ 4 - 5 km thu lượm được phải nhờ đến những trung tâm điện tử với công suất tính toán lớn mới xử lý được

Do điều kiện làm việc đặc thù ngoài biển khơi, mỗi giàn khoan hoạt động có tới gần 30 loại dịch vụ khác nhau Từ hệ thống định vị vệ tinh, địa chất, công trình biển, dự báo thời tiết, thông tin liên lạc kể cả truyền ảnh vệ tinh, máy bay trực thăng, tàu biển, dịch vụ lặn sâu đến các thiết bị máy móc phân tích mẫu thu được liên tục trong quá trình khoan Tất cả đều là những tiến bộ khoa học mới nhất áp dụng nhằm giảm thiểu các chi phí và rủi ro trong thăm dò tìm kiếm dầu khí

1.3.3.6 Hoạt động dầu khí mang tính quốc tế cao.

Vốn đầu tư lớn, độ rủi ro cao, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại là lý do khiến các công ty dầu khí đa quốc gia, xuyên quốc gia mở rộng hoạt động đầu tư của mình ra ngoài chính quốc trên khắp năm châu và đại dương để giảm thiểu bất trắc Yếu tố khách quan đáng lưu ý

là hầu hết các nước có tài nguyên dầu khí (chủ yếu là Trung Đông, Châu Phi, Mỹ Latinh), lại là những nước nền kinh tế còn nghèo nàn không đủ sức tự chịu rủi ro để tìm kiếm tài nguyên dầu khí Điều đó tất

Trang 27

yếu cần tới các công ty dầu khí ở các nước phát triển hơn tham gia vào tìm kiếm để chia sẻ rủi ro.

Hiện nay trên thế giới, không một nước nào kể cả Mỹ - cường quốc về dầu khí cũng không thể sản xuất tất cả các loại máy móc thiết

bị cho hoạt động dầu khí Bởi vậy, hoạt động dầu khí thường có nhiều công ty, với nhiều quốc tịch cùng nhau tham gia đầu tư vào các khâu khác nhau trong tìm kiếm - thăm dò, khai thác một mỏ dầu khí Các công ty cung cấp dịch vụ dầu khí cũng có những cơ sở trải khắp toàn cầu cùng với các trang bị kỹ thuật hiện đại Ta có thể thấy các giàn khoan di động từ Phi Châu sang Á Châu, rồi Mỹ Châu đã trở thành hiện tượng bình thường

Ở Việt Nam, sau gần 20 năm kêu gọi đầu tư nước ngoài, ngành dầu khí đã chứng kiến sự có mặt của các công ty dầu khí với nhiều quốc tịch khác nhau tham gia đầu tư vào lĩnh vực tìm kiếm thăm dò dầu khí Những công ty dầu khí hàng đầu thế giới có doanh thu mỗi năm là hàng trăm tỷ USD như: Exxon, Mobil, Shell, BP, Total… những công ty dầu khí quốc gia như: Petrocanada (Canada), Petronas (Malayxia), PTT (Thái Lan, KNOC (Hàn Quốc), đến các tổ hợp (Consortium), của nhiều công ty độc lập loại vừa có thu nhập vài tỷ USD mỗi năm đều đến Việt Nam để chia sẻ rủi ro

Trong xu hướng toàn cầu hoá, cạnh tranh quốc tế của các nước lân cận, khu vực và toàn cầu ngày càng gay gắt là điều phải tính đến trong chính sách thu hút đầu tư tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí của mỗi quốc gia Tình hình biến động kinh tế thế giới hay khu vực đều có ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí đặc biệt là thị trường dầu mỏ Do đó, các nước xuất khẩu dầu thô khối lượng lớn đã liên kết thành tổ chức OPEC Tổ chức này kiểm soát lượng cung dầu mỏ trên thị trường thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi của mình

Trang 28

1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành công nghiệp dầu khí.

1.3.4.1 Nhóm nhân tố tự nhiên.

Đông Nam Á là nơi hội tụ các mảng đại dương (Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương) và các lục địa (Ấn - Úc, Âu – Á) Bình đồ cấu trúc hiện trạng bao gồm các bán đảo, các đảo, các biển rìa và các máng sâu đại dương Hầu như tất cả các bể trầm tích Đệ Tam chứa dầu khí ở Đông Nam Á được hình thành gắn liền với hoạt động kiến tạo mảng giai đoạn Đệ Tam

Ở Việt Nam và các vùng kế cận phổ biến hai hệ thống đứt gãy chủ đạo Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam, cùng tồn tại song song

có hai hướng kinh tuyến và vĩ tuyến, mặc dù phân bố ít hơn nhưng có vai trò quan trọng trong sự hình thành hệ thống dầu khí

Các bể Đệ Tam ở Việt Nam bao gồm các bể trầm tích và trầm tích núi lửa hình thành trên móng đa nguồn của các miền cấu trúc Việt – Trung

và Đông Dương Các bể Đệ Tam ở Việt Nam thành tạo chủ yếu trong các trũng giữa núi, sông hồ dọc theo các đới đứt gãy có phương TB – ĐN và các vùng ven biển có nhiều kiểu cấu trúc – kiến tạo, địa hào, rift có kích thước, tuổi, độ cao rất khác nhau

Từ Bắc xuống Nam, thềm lục địa Việt Nam có các bể trầm tích sau (Lược đồ 1.1) Các bể trầm tích Kainozoi nối liền với nhau thành một dải từ Bắc xuống Nam, chiếm phần thềm lục địa của Việt Nam, một phần biển sâu trên Biển Đông, và hai vịnh lớn trên cùng biển là Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan Ngoài ra còn nằm dọc theo hai đồng bằng lớn ở phía Bắc là đồng bằng sông Hồng và phía Nam là đồng bằng sông Cửu Long Hầu hết các bể trầm tích nói trên đều có một lịch sử phát triển địa chất tương tự với các bể khác ở Đông Nam Á, từ Eocen đến ngày nay

Trang 29

* Các cơ chế kiến tạo chính.

Trong khu vực Đông Nam Á có ba cơ chế kiến tạo chính liên quan đến cơ chế tạo bể trầm tích là:

- Đới hút chìm phát triển từ Miến Điện qua vòng cung đảo Indonesia

- Sự va chạm của mảng Ấn Độ vào mảng châu Âu - Á

- Sự hình thành và giãn đáy Biển Đông dọc theo vòng cung đảo Indonesia,

sự hình thành các bể trầm tích chủ yếu theo cơ chế sau cùng, đó là do tốc

độ hút chìm thay đổi lúc mạnh, lúc yếu theo thời gian, so với các bể khác ở

Lược đồ 1.1 Các bể dầu trầm tích Việt Nam

Nguồn: Theo Phan Trung Điền - Một số biến cố địa chất Mesozoi

muộn – Kainozoi và hệ thống dầu khí thềm lục địa Việt Nam.

Trang 30

Đông Nam Á, các bể sau cùng này hình thành tương đối sớm, chủ yếu trong Eocen.

Tuổi hình thành các bể trầm tích Đệ Tam ở Việt Nam

- Tuổi hình thành bể trầm tích trùng với tuổi của trầm tích cổ nhất trong

bể, mặc dù các trầm tích này có phân bố nhỏ, đôi khi chỉ gặp ở rìa bể

- Tuổi hình thành bể trầm tích trùng với tuổi của trầm tích đầu tiên có phân bố rộng rãi trong bể, nó thể hiện giai đoạn căng giãn, sụt lún mạnh

Hình dạng các bể: hình dạng các bể trầm tích có liên quan chặt chẽ và

bị khống chế bởi các yếu tố kiến tạo trong quá trình hình thành và phát triển các bể Chính do các yếu tố kiến tạo riêng từng khu vực đã tạo nên các hình dạng khác nhau của các bể trầm tích đệ tam ở Việt Nam Trên

cơ sở các bản đồ cấu trúc, hình dạng các bể được phân ra các dạng như sau:

- Dạng hình thoi, hình bình hành, đặc trưng cho kiểu kéo toác apart)

(pull-+ Bể Sông Hồng (phần Bắc và Trung Tâm bể)

- Dạng địa hình phân dị với các địa hào nhỏ, song song, xen kẹp nhau, đặc trưng cho kiểu trượt cục bộ

+ Đới phân dị Huế (Trũng Huế, thuộc Nam bể Sông Hồng) Rìa Tây bể Nam Côn Sơn

+ Các bể, nhóm bể Phú Khánh, Hoàng Sa, Trường Sa

- Dạng hình hạt đỗ, đặc trưng cho hai pha tách bể có hướng khác nhau

Trang 31

+ Bể Cửu Long

- Dạng không phân định ranh giới do nhiều nguyên nhân kiến tạo chồng lên nhau

+ Bể Nam Côn Sơn

Mô hình biến dạng tạo bể trầm tích do thúc trồi của các địa khối (dựa theo Tapponier) Có hai yếu tố chính để hình thành, phát triển một

bể trầm tích, đó là cần có lực gây căng giãn và cần có không gian để căng giãn xảy ra Không gian căng giãn này có được cần phải có sự sắp xếp lại các vi mảng ở Biển Đông, chính các chuyển động xoay đã góp phần tạo ra quá trình này Ở một bể trầm tích, đặc biệt là ở bể Sông Hồng hay bể Malay - Thổ Chu, một trong những khả năng sau có thể xảy ra: một kéo toác (pull-apart), tạo ra một khu vực căng giãn lớn hay nhiều kéo toác (pull-apart) nhỏ hợp lại với nhau tạo ra một bể trầm tích

có diện tích lớn Một pha căng giãn lớn tạo ra một bể trầm tích như là một kéo toác (pull-apart) lớn rất khó có khả năng xảy ra, đòi hỏi một lực căng giãn lớn trong một thời gian ngắn cũng như có một không gian căng giãn rộng mở cho việc hình thành các đứt gãy lớn Tuy nhiên lực gây căng giãn là một quá trình, không gian căng giãn cần có sự sắp xếp lại của các vi mảng do chuyển động xoay của mảng Thái Bình Dương nên ta thấy mô hình nhiều pha căng giãn trong nhiều kéo toác (pull-apart) nhỏ hợp lại với nhau tạo ra các bể trầm tích như quan sát thấy ngày nay là hợp lý Quan sát hình dạng phần lục địa của địa khối Đông Dương có đường bờ biển cong hình chữ S, trong đó phần bụng nhô ra biển về phía Đông nhiều nhất là địa khối Kon Tum cố kết rắn chắc, đầu của chữ S tương ứng và liên quan đến bể Sông Hồng, đuôi của chữ S tương ứng và liên quan đến bể Malay - Thổ Chu, còn phần bụng của chữ S liên quan nhiều đến hai bể Cửu Long và Nam Côn Sơn Vì thế, chúng ta có thể giả thiết rằng địa khối Kon Tum bị đẩy thúc trồi xa

Trang 32

nhất, phần Bắc và Nam của địa khối này, năng lượng đẩy bị tiêu hao vào căng giãn, tạo các bể trầm tích.

Vai trò và ảnh hưởng của căng giãn đáy Biển Đông.

Phần lớn các nhà địa chất ở Việt Nam coi vai trò của giãn đáy Biển Đông là quan trọng và là yếu tố vẫn còn quan sát được đến ngày nay Tuy nhiên giãn đáy Biển Đông xảy ra muộn, nên chỉ có tác dụng

mở rộng thêm bể hay có tác động chồng lên các nguyên nhân trước, trước khi giãn đáy là giai đoạn căng giãn Giai đoạn căng giãn đáy Biển Đông là giai đoạn cho thấy không gian căng giãn là thuận lợi nhất và là căng giãn cực đại, tạo các bể trầm tích ở Việt Nam, vì thế ở tất cả các

bể đều có phân bố rộng rãi các trầm tích Oligocen

Ảnh hưởng của các nhân tố khác.

Những nguyên nhân có thể không quan sát thấy, hay khó quan sát thấy hiện nay có thể đã có những vai trò nhất định, quan trọng trong việc tạo bể trầm tích ở Việt Nam Có thể kể ra những yếu tố sau đây:

- Chuyển động lên phía Bắc và xoay từ Đông sang Tây của vòng cung Philipin

- Chuyển động xoay của địa khối Borneo

- Chuyển động xoay của Biển Đông từ Bắc xuống Nam

Những chuyển động này nhìn chung đã được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận qua các tài liệu cổ từ, cổ sinh và khí hậu và đã được đề cập đến trong các công bố của Holloway, Longley và Hall… Tất cả những chuyển động này thể hiện sự sắp xếp lại của các vi mảng trong Kainozoi, chúng xảy ra đồng thời với chuyển động thúc trồi của địa khối Đông Dương trong cùng một hệ thống kín và tương hỗ lẫn nhau, tạo không gian cho quá trình căng giãn, tạo bể

1.3.4.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội .

- Trình độ và tính chất nền sản xuất.

Trang 33

Dầu khí là một phần của công nghiệp năng lượng Vậy nên, dầu khí vừa là động lực, vừa là mục đích của nền sản xuất xã hội Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế quyết định trình độ phát triển của ngành công nghiệp dầu khí, trình độ và tính chất của nền sản xuất cũng tạo ra nhu cầu năng lượng

từ đó thúc đẩy và quyết định quy mô ngành dầu khí

Nền sản xuất nước ta còn trong tình trạng kém phát triển, vì vậy công nghiệp dầu khí còn phải dựa vào nhiều vốn và kỹ thuật của nước ngoài Hiện nay, trợ giúp kỹ thuật và vốn là điều tối cần thiết cho ngành dầu khí nói riêng và ngành năng lượng Việt Nam nói chung

Sự phân bố các hoạt động kinh tế trên toàn lãnh thổ cũng là nhân tố chi phối lớn đến sự phân bố ngành dầu khí Sự hình thành và phát triển của

3 vùng kinh tế trọng điểm nước ta hiện nay, sẽ hình thành rõ nét các trung tâm hóa, lọc sản phẩm dầu khí trên 3 vùng lãnh thổ

Quá trình công nghiệp hóa, cùng với tiến trình hội nhập quốc tế… chắc chắn sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi và thách thức ngành dầu khí trên con đường phát triển

- Nhân tố thị trường.

Thị trường là một trong những nhân tố đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển và ảnh hưởng đến sự phân bố ngành dầu khí Ở Việt Nam, nhu cầu về sản phẩm dầu và khí, sẽ tăng cao, thậm chí rất cao trong bối cảnh mới Vì vậy, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm dầu khí trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một thách thức đối với ngành dầu khí

- Nhân tố chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các chính sách phát triển kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của công nghiệp nói chung và ngành dầu khí nói riêng

Do vai trò và đặc điểm của ngành dầu khí nên tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải có chiến lược năng lượng bền vững, chính sách phát

Trang 34

triển năng lượng để phù hợp với từng giai đoạn của đất nước Đường lối, chính sách năng lượng dầu khí hợp lý góp phần khai thác hiệu quả và đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của đất nước.

1.3.5 Lịch sử dầu khí và ngành công nghiệp dầu khí trên thế giới .

* Từ thời thượng cổ, loài người đã phát hiện dầu là loại vật liệu rất hữu ích phục vụ dân sinh và chiến tranh giữa các bộ lạc Ở Trung Quốc, Ai Cập, dầu mỏ còn được gọi là dầu đá và được dùng để chữa bệnh Người Hy Lạp đã dùng cặn dầu mỏ để ướp xác… Lúc này dầu xuất hiện, tồn tại ở các ao hồ, hố trũng hay vài điểm lộ trên mặt đất

Lần đầu tiên dầu được phát hiện ở thung lũng Tigrit, Eufrat và nhiều vùng mỏ vùng cổ Mesopotamic thuộc Irắc (thời Vua Totmes III), tiếp theo dầu được phát hiện ở Azerbaizan và nhiều nơi khác trên thế giới

Năm 480 trước công nguyên, dầu được làm bùi nhùi hay đạn lửa trong các cuộc giao chiến giữa các bộ lạc Năm 211 trước công nguyên, người Trung Quốc đã khoan một lỗ khoan thăm dò đầu tiên bằng tre và

đã tìm ra mỏ dầu Chiu – Liu – Chinh thuộc tỉnh Tứ Xuyên

Sau công nguyên, loài người biết đào giếng hay một số hố… để lấy dầu làm vật liệu xây dựng và thắp sáng Mặc dù loài người phát hiện ra dầu mỏ rất sớm nhưng mãi đến mãi cuối thế kỷ 19, khi thế giới

có nhiều phát minh quan trọng thì dầu mỏ mới được khai thác với quy

mô công nghiệp Ngày 08/09/1857 tại Mỹ, lỗ khoan tìm dầu hiện đại đầu tiên được thực hiện do giới chủ tên Raleigh Đây chính là mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ tìm kiếm, thăm dò và khai thác của công nghiệp dầu khí Cùng năm đó, Rumani cũng bắt đầu khai thác được dầu, tiếp sau đến Canada năm 1861, Liên Xô năm 1880, Indonesia năm 1893, Mexico năm 1901, Irắc và Arập Xê út năm 1926, Cô oet năm 1946…

Trang 35

* Lịch sử ra đời và phát triển của ngành công nghiệp dầu khí gắn liền với tiến bộ khoan sâu và chia thành nhiều giai đoạn đi từ cạnh tranh tự do tới độc quyền.

Suốt từ 1858 đến 1960, mọi hoạt động dầu khí được thực hiện chủ yếu ở các vùng châu Mỹ, Trung Đông, Nga và một số vùng khác Các tập đoàn tư bản đã nhanh chóng nắm bắt khai thác nguồn năng lượng mới này để khống chế chi phí và thu lợi nhuận tối đa Cuối 1960,

Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ra đời Từ đây, thế quân bình trong cạnh tranh và chi phối giá cả, lợi nhuận dầu khí trên toàn thế

giới được xác lập Theo Tạp chí Dầu khí số 03 – 2001, tấn dầu đầu tiên

trên thế giới được khai thác vào 1854 Từ đó đến nay, sản lượng dầu hàng năm, nhất là giai đoạn đầu thế kỷ XX, tăng rất nhanh và hiện đang

đi vào giai đoạn đỉnh

Bảng 1.2: Lịch sử khai thác dầu trên Thế giới.

(triệu tấn)

Tỷ lệ tăng trưởng (20 năm trước =100%)

Theo tạp chí Oil Gas (OGJ), tổng trữ lượng dầu khí có thể thu hồi trên

toàn thế giới tại thời điểm 1-1-2001 là 1.028 tỷ thùng và tổng trữ lượng

1[] 20 nước khai thác dầu thô lớn nhất là: Mỹ, Arập Xêút, Nga, Iran, Mexico, Trung quốc, Na uy, Anh, Vênêzuêla, Abudabi, Canada, Nigiêria, Cô oét, Inđônêxia, Libi, Angiêri, Ai cập, Ô man, Braxin,

Trang 36

khí là 5,28 triệu tỷ feet khối Tuy nhiên, trữ lượng này phân bố không đều trên các châu lục và đại dương Dầu thô nhiều nhất là vùng Trung Cận Đông (65%) và ít nhất là vùng Đông Á – Ôxtrâylia (4,4%) Riêng

về khí, khu vực Liên Xô cũ tập trung nhiều nhất (40%), thứ đến là vùng Trung Cận Đông (32,4%), ít nhất là vùng châu Á và châu Phi (cùng mức 6,7%) Căn cứ vào tính toán của các nhà khoa học, trữ lượng dầu khí và khí thiên nhiên trong những năm gần đây, nhất là trong năm

2000 đều tăng và sẽ còn nhiều biến động Trữ lượng dầu thô đạt mức tăng 12,3 tỷ thùng, trữ lượng khí thiên nhiên đạt mức cao kỷ lục Hiện tại OPEC chiếm 79,2% trữ lượng dầu và 44,4% trữ lượng khí của thế giới Theo báo cáo của IEA, nhu cầu dầu mỏ thế giới sẽ tăng trung bình 1,9 triệu thùng/ngày (2,2%/năm) trong giai đoạn 2007 - 2012, cao hơn

so với dự báo trước đó là 2%; sản lượng khai thác giảm, khiến nguồn cung bị ảnh hưởng IEA còn cho rằng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới 4,5%/năm, nhu cầu về dầu mỏ sẽ lên tới mức 95,8 triệu thùng/ngày vào năm 2012 Trong tương lai, các nền kinh tế mới nổi sẽ thay Mỹ thống trị ngành năng lượng toàn cầu

* Công nghiệp dầu khí trong khu vực

Các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực đã bắt đầu khai thác dầu rất sớm Thái Lan năm 1882, Ấn độ năm 1889, Inđônêxia 1893, Brunây 1913, Ôxtrâylia 1933, Mianma 1934, Trung quốc 1939, Malaisia 1968, Nhật Bản 1975, Đài loan 1976, Niudilân 1978 Riêng Việt Nam sau năm 1986 chúng ta mới khai thác được tấn dầu công nghiệp đầu tiên

Đông Nam Á là vùng có những phát hiện dầu mỏ sớm như vùng đông Malaisia, Inđônêxia, Mianma Vùng này, đã khai thác công nghiệp từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và chủ yếu dùng cho xuất khẩu Trong vài thập kỷ gần đây, tình hình đã có những chuyển biến lớn, Đông Nam Á trở thành một trong những khu vực phát

Trang 37

triển kinh tế năng động nhất thế giới nên công nghiệp dầu khí cũng nằm trong trạng thái chung đó Với diện tích phần đât liền của ASEAN là 4,473 triệu km2, cùng với thềm lục địa bao quanh rộng lớn, tuy trữ lượng tiềm năng dầu khí khiêm tốn so với thế giới, nhưng lại là vùng chưa tìm kiếm thăm dò nhiều, nên có sức hấp dẫn đáng kể đối với các công ty dầu khí quốc tế Với dân số hơn 500 triệu người, mức tiêu thụ bình quân khoảng gần 0,3 tấn dầu/người/năm, ASEAN có mức phát triển kinh tế cũng như trữ lượng dầu mỏ thu hồi của từng nước có khác nhau nên các năm tới sự thiếu hụt về cung cầu năng lượng sẽ trở thành vấn đề lớn của khu vực.

Bảng 1.3: Sản lượng khai thác dầu thô của các nước ASEAN.

(từ 1980 đến 2005) Đơn vị: tấn/ngày đêm

Năm Brunây Việt Nam Philipin Inđônêxia Malaixia Thái lan Mianma

Nguồn: Tập đoàn dầu khí Việt Nam

Mặc dù trữ lượng dầu khí của các nước Đông Nam Á không đặc biệt cao, nhưng cơ hội phát hiện mới vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ngờ ở phía trước Nhìn rộng hơn, ta thấy công nghiệp dầu khí ở châu Á đang

có nhiều tiền đề phát triển mạnh Theo IEA, nhu cầu dầu khí trên thế giới sẽ tăng trung bình 2,6%/năm cho giai đoạn 1995 – 2010 Riêng châu Á mức tăng nhu cầu trung bình sẽ là 5,2 – 6,5%/năm… Để đối phó với sự biến động giá dầu trên thế giới, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng cho khu vực, các nước ASEAN đã tăng cường hợp tác trong mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dầu khí Năm 1994, các nước ASEAN đã hoàn thành nghiên cứu một số kế hoạch tổng thể về phát triển và sử dụng khí thiên nhiên Những kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc

Trang 38

thương mại khí trong khu vực bằng đường ống sẽ mang nhiều lợi nhuận Dựa trên cơ sở đó, hội đồng dầu mỏ ASEAN (ASCOPE), đã đề xướng dự án đường ống khí xuyên ASEAN dài chừng 8.000 – 10.000

km Với mức chi phí đầu tư khoảng 12 đến 15 tỷ USD, cùng với đó là

14 dự án điện liên kết khác và việc thành lập trung tâm năng lượng ASEAN tại Jacacta là những nỗ lực, nhằm liên kết về năng lượng - một phần của liên kết về kinh tế, như là phương sách đối mặt với các thách thức trong quá trình toàn cầu hóa của ASEAN

Trang 39

Chương 2.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG, TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG

PHÁT TRIỂN NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM.

2.1 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển

ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam.

2.1.1 Nguồn nhân lực.

Nguồn nhân lực là tài nguyên vô hạn, cực kì quan trọng đối với mỗi một quốc gia nói chung và mỗi ngành kinh tế nói riêng trong quá trình phát triển

Tập đoàn dầu khí Việt Nam từ khi mới thành lập chỉ có 2.001 cán

bộ, công nhân viên Đến nay đã có trên 22.000 cán bộ công nhân viên tăng gấp 10 lần so với lúc đầu Trong đó 70% là cán bộ công nhân viên

kỹ thuật, còn lại đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý kinh doanh Sản lượng khai thác dầu khí luôn tuyến tính vào số lượng, chất lượng và cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực Ngành công nghiệp dầu khí là ngành công nghiệp quốc tế, sử dụng công nghệ tiên tiến nhất và có nhiều rủi

ro nhất, vậy nên nó yêu cầu nguồn nhân lực trình độ cao và khả năng quản lý quốc tế Để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ này, nhu cầu nguồn nhân lực dầu khí từ nay đến 2020 tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Về số lượng: tăng 15.102 người (năm 2000) lên 19.017 người (năm 2005); 24.000 đến 26.000 người vào năm 2015 và đạt khoảng 28.000 người vào năm 2020 Về chất lượng, số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên tăng từ 34,56% (năm 2000), lên 42,52 đến 43,74% (năm 2005), 52,47 đến 68% (năm 2015) và đạt khoảng 70 đến 72% vào năm 2020

Có thể nói, đội ngũ cán bộ đảng viên, công nhân viên ngành dầu khí là những người có tri thức, có năng lực và giàu tâm huyết, là nhân

Trang 40

tố quyết định cho sự phát triển của ngành công nghiệp dầu khí, nhanh chóng hội nhập với các nước trong khu vực thế giới

2.1.2 Nhu cầu thị trường.

Thúc đẩy công nghiệp dầu khí đòi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo giữa chính phủ với thị trường Chẳng có gì đáng ngờ khi cho rằng thị trường phải là nhân tố đánh giá quan trọng nhất đối với sự tồn vong của bất kỳ hãng hay ngành nào Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là

để cho thị trường làm tất cả Chính phủ cần hỗ trợ thị trường đang lớn mạnh và không được cản trở sự phát triển của nó Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở những nước như Việt Nam với các thị trường kém phát triển và khả năng về chính sách còn yếu Có rất nhiều nghiên cứu về khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp ở Việt Nam Một phương pháp thông dụng là phân loại các ngành theo tiêu thức cạnh tranh, một chút cạnh tranh và không cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh hiện hữu; sự bảo hộ thực tế; hàm lượng lao động; đánh giá chất lượng Tuy nhiên, việc phân loại như thế có thể không phản ánh được lợi thế so sánh động của Việt Nam Thứ nhất, các nghiên cứu đó dựa trên hiện trạng trong quá khứ và hiện tại, chứ không phải dựa trên khả năng trong tương lai Thứ hai, lợi thế so sánh động không thể xác định trước, nhưng có thể được xây dựng bằng các chính sách phù hợp trong một số điều kiện cụ thể Thứ ba, như đã bàn luận ở trên, chiến lược công nghiệp cần được xây dựng dựa trên các quy trình sản xuất, chứ không phải dựa vào ngành hoặc sản phẩm

Chính phủ cần hỗ trợ các quy trình sản xuất phù hợp với điều kiện Việt Nam mà không nên phân biệt trước theo ngành Sản phẩm và quy trình nào sẽ do cạnh tranh trên thị trường quyết định và điều này thậm chí các nhà sản xuất quốc tế cũng rất khó phỏng đoán Chính phủ không có nhiều thông tin như các nhà sản xuất Chính phủ cần đóng vai trò định hướng chung chứ không nên thực hiện chức năng quản trị

Ngày đăng: 21/03/2013, 09:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Thứ tự ưu tiên của ngành CNTĐ Việt Nam - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 1.1 Thứ tự ưu tiên của ngành CNTĐ Việt Nam (Trang 12)
Bảng 1.2: Lịch sử khai thác dầu trên Thế giới. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 1.2 Lịch sử khai thác dầu trên Thế giới (Trang 35)
Bảng 2.1: Nhu cầu vốn đầu tư  phát triển ngành dầu khí giai đoạn 2001 - 2005. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.1 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành dầu khí giai đoạn 2001 - 2005 (Trang 42)
Bảng 2.2. Giá trị khai thác dầu khí trong cơ cấu giá trị sản xuất công  nghiệp theo giá thực tế (tỷ đồng). - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.2. Giá trị khai thác dầu khí trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế (tỷ đồng) (Trang 57)
Bảng 2.3: Số giàn khoan thăm dò đang hoạt động. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.3 Số giàn khoan thăm dò đang hoạt động (Trang 58)
Bảng 2.4: Sản lượng khai thác ở các mỏ. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.4 Sản lượng khai thác ở các mỏ (Trang 73)
Bảng 2.5: Giá trị xuất khẩu dầu thô. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.5 Giá trị xuất khẩu dầu thô (Trang 77)
Bảng 2.6:  Xuất khẩu dầu thô vào các nước. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.6 Xuất khẩu dầu thô vào các nước (Trang 79)
Bảng 2.7: Các nhà máy lọc dầu trong tương lai. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 2.7 Các nhà máy lọc dầu trong tương lai (Trang 92)
Hình 2.1. Hình thức phân phối. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Hình 2.1. Hình thức phân phối (Trang 97)
Bảng 3.2. Quy hoạch phát triển dầu khí đến năm 2010 và dự báo đến 2020. - Địa lý ngành công nghiệp dầu khí
Bảng 3.2. Quy hoạch phát triển dầu khí đến năm 2010 và dự báo đến 2020 (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w