Tính cấp thiết của đề tài Có thể nói gia đình như một xã hội thu nhỏ, có sự hiện diện đầy đủ của cả các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa và quan hệ t
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ……… 3
1 Tính cấp thiết của đề tài ……… 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ……….3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ……… 4
5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn ……… 4
NỘI DUNG ……… 4
Phần 1: Khái quát cơ sở lý luận: ………4
1.1 Khái niệm ……….4
1.2 Vị trí của gia đình ………5
1.3 Chức năng về gia đình ……….5
Phần 2: Xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khoa học: ……….7
2.1 Cơ sở xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khoa học ……… 7
2.2 Sự biến đổi chức năng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khoa học ………8
Phần 3: Liên hệ thực tiễn và liên hệ bản thân ……… 11
3.1 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam ……… 11
3.2 Liên hệ bản thân ……… 12
KẾT LUẬN ……… 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 14
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói gia đình như một xã hội thu nhỏ, có sự hiện diện đầy đủ của cả các quan hệ xã hội như quan hệ kinh tế, quan hệ giáo dục, quan hệ văn hóa và quan hệ tổ chức đã tạo nên một xã hội rộng rộng lớn Do đó, sự phát triển và trường tồn của một quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố vận động
và tồn tại của mỗi gia đình Đặc biệt trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày nay với quy mô, và tốc độ ngày càng gia tăng, vậy nên vấn đề gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội dần trở thành nội dung tiêu điểm được cả giới hàn lâm cũng như cả nhân dân quan tâm đến Không thể không nói rằng do những biến động của xã hội đang tác động vào gia đình trên mọi phương diện và tạo ra các hệ quả đa chiều Như vậy, ta có thể thấy thiết chế, hoạt động phát triển có tính bền vững này cũng đang vận động tích cực, đổi mới và thích ứng với nhu cầu của hiện đại Từ đó nêu ra được vai trò của người phụ nữ tác động như thế nào đến gia đình và liệu có cái nhìn cũng như quan niệm mới cho người phụ nữ thời nay Với suy nghĩ muốn tìm hiểu rõ hơn về vấn đề ấy, vậy nên em đã chọn đề tài “Lý luận
chung về gia đình và liên hệ vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Với sự kết hợp giữa phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu cụ thể, bài tiểu luận này nhằm mục đích nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê-nin về gia đình và vấn đề xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ngoài ra liên hệ với vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam là một bước tiến mới về cách xưng “nữ quyền” trong thời đại hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3Làm sáng tỏ các cơ sở lý luận chung về gia đình cũng như phân tích sự biến đổi của gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nêu rõ các vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam cũng như liên hệ thực tiễn
và liên hệ bản thân về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu việc xây dựng phát triển gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và vai trò của người phụ nữ trong gia đình hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Gia đình và phụ nữ Việt Nam ngày nay
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin về vấn đề gia đình nói chung
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật cùng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, thống nhất logic và lịch sử, khái quát hóa và hệ thống hóa rõ ràng
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài
Ý nghĩa lý luận: nắm rõ được quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình
Thực tiễn đề tài: Giúp sinh viên có nhận thức, hành vi đúng đắn trong trách nhiệm xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh đó là hiểu rõ về vai trò của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam
NỘI DUNG Phần 1: Khái quát lý luận chung
1.1 Khái niệm
Trang 4C.Mác đã từng nói: “ Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử: hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” Đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về gia đình nhưng ta
có thể hiểu đơn giản gia đình là một cộng đồng người sống chung, là những người quen, thân thuộc với mỗi chúng ta được duy trì, hình thành và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình
1.2 Vị trí của gia đình
Gia đình là một tổ chức kinh tế - tiêu dùng, một môi trường giáo dục – văn hóa, một cơ cấu – thiết chế xã hội riêng Không thể phủ nhận, gia đình có một
vị trí quan trọng đối với xã hội cũng như mỗi người Thứ nhất, gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội Thứ hai, gia đình là tổ ấm, nơi mang lại các giá trị, niềm hạnh phúc và sự hài hòa trong đời sống cá nhân của mỗi thành viên Thứ ba, gia đình là cầu nối giữa cá nhân với xã hội, không thể có cá nhân bên ngoài gia đình, bên ngoài xã hội Với sự ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử và chế độ xã hội, đặc điểm của mỗi gia đình ở mỗi xã hội là khác nhau
1.3 Chức năng về gia đình
Trên thực tế, vị trí và vai trò của gia đình đã nêu rõ đặc điểm gia đình là tế bào của xã hội và nó còn được thể qua những chức năng cơ bản sau đây:
Chức năng tái sản xuất con người: Đây là chức năng đặc thù nhất của
gia đình Chức năng này một mặt đáp ứng nhu cầu tự nhiên, mặt khác nó mang ý nghĩa xã hội lớn lao là cung cấp những công dân mới và đảm bảo cho
sự phát triển liên tục và sự trường tồn của xã hội loài người Trong mỗi gia đình, việc thực hiện chức năng tái sản xuất con người là mối quan tâm trực
Trang 5tiếp đến điều kiện vật chất, tinh thần thuận lợi cho việc mang thai, sinh nở, quyết định đến mật độ dân số và nguồn lao động của một quốc gia, có thể nói
là yếu tố cấu thành đến sự tồn tại của xã hội Cũng như hài hòa với những điều kiện đảm bảo cụ thể để thế hệ mới ra đời có khả năng phát triển cả về trí lực và thể lực
Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục: Đây là chức năng xã hội hết sức quan
trọng và có nội dung lớn Nó ảnh hưởng đến toàn diện và lâu dài của mỗi thành viên trong gia đình, từ lúc được sinh ra đến khi trưởng thành và già đi
Kể cả trong xã hội, nhiều cộng đồng khác nữa như trường học, các tổ chức, chính quyền, cũng thực hiện chức năng này nhưng chức năng nuôi dưỡng trong gia đình vẫn là điều quan trọng nhất Bởi khi cha mẹ là những người toàn diện về mọi mặt văn hóa, học vấn và có kiến thức cơ bản về phương pháp giáo dục thì mới góp phần to lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ nói chung
và phát triển truyền thống, văn hóa, đạo đức nói riêng
Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng: Hoạt động kinh tế cũng như
việc tiêu dung và vật chất của hộ gia đình có những hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi dạng cụ thể nhưng đều với mục đích góp phần tạo thu nhập cho gia đình, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu nhất của các thành viên trong gia đình Qua đó, gia đình có cơ sở để tổ chức đời sống (vật chất và tinh thần), nuôi dạy, giáo dục con cái, đồng thời góp một phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng xã hội bằng việc làm cụ thể
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trí tình cảm gia đình:
Chức năng này có vị trí đặc biệt quan trọng bởi sự hiểu biết tâm – sinh lý cá nhân, sở thích của mỗi người sẽ góp phần tạo ra khả năng thực tế để xây dựng gia đình hạnh phúc, đồng thời là những tiền đề cần thiết cho 6 một thái độ, hành vi tích cực của cá nhân trong cuộc sống gia đình và xã hội
Chức năng văn hóa: Gia đình là nơi lưu giữ, kế thừa và sáng tạo truyền
thống văn hóa dân tộc và tộc người Điều này được thể hiện qua phong tục,
Trang 6tập quán, sinh họat văn hóa trong gia đình.
Chức năng chính trị: Gia đình là một tổ chức chính trị thu nhỏ của xã
hội, là nơi tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật nhà nước và quy chế địa phương (hoặc hương ước làng xã), là cầu nối của mối quan hệ giữa công dân với nhà nước
Có thể nói, gia đình là một thiết chế đa chức năng Thông qua việc thực hiện chức năng, gia đình không chỉ tồn tại và phát triển mà còn tác động đến tiến
bộ chung của xã hội
Phần 2: Xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.1 Cơ sở xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các điều kiện để hình thành gia đình mới không xuất hiện cũng như có tác dụng ngay lập tức mà chỉ
có thể hoàn chỉnh dần từng bước theo từng thời kỳ Do xã hội còn nhiều thành phần kinh tế và các giai cấp khác nhau, việc hình thành và chuyển biến yếu tố gia đình mới sẽ ở mức độ khác nhau trong các gia đình ở từng loại dân cư Tuy vậy trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vẫn cần thiết đề ra những cơ sở sau đây để xây dựng gia đình mới:
Cơ sở kinh tế - xã hội
Cơ sở kinh tế - xã hội để xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chính là sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa Cốt lõi của quan hệ sản xuất ấy là từng bước hình thành chế
độ công hữu và từ đó thay thể chế độ tư hữu Đây là cơ sở để tạo nên sự bình đằng giới và bình đẳng giữa các thành viên gia đình, từ đó đặt nền tảng cho một kiểu gia đình mới tốt đẹp
Cơ sở chính trị - xã hội
Trang 7Việc thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩa chính là cơ sở chính trị - xã hội cho việc xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đó cũng là công cụ để thực hiện việc giải phóng con người và bảo vệ hạnh phúc gia đình Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên gia đình, đảm bảo bình đẳng về cơ hội và khả năng phát triển toàn diện được đảm bảo bởi hệ thống văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình cùng với các chính sách xã hội
Cơ sở văn hóa
Cơ sở văn hóa cho việc xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chính là nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, kết hợp giữa việc kế thừa những giá trị văn hóa dân tộc và nhân loại tốt đẹp và sáng tạo những giá trị văn hóa mới Những giá trị, chuẩn mực văn hóa mới được hình thành tạo nên nền tảng điều chỉnh các mối quan hệ gia đình
Chế độ hôn nhân tiến bộ
Chế độ hôn nhân tiến bộ được thể hiện qua ba nguyên tắc chính Đầu tiên
là hôn nhân tự nguyện Chế độ này được hiểu là hôn nhân bắt nguồn từ tình yêu nam nữ, mỗi cá nhân có quyền tự quyết định yêu ai và lấy ai để cùng xây dựng hạnh phục gia đình, bao gồm cả quyền tự do ly hôn khi mục đích hôn nhân không đạt được Hôn nhân tự nguyện phải trên cơ sở pháp luật và đạo đức Tiếp theo là hôn nhân một vợ một chồng, bình đẳng Chế độ hôn nhân một vợ một chồng là đặc trưng của hôn nhân tiến bộ, là cơ sở để đảm bảo cho quyền bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau giữa vợ và chồng từ đó ảnh hưởng đến các mối quan hệ khác trong gia đình Cuối cùng, hôn nhân được đảm bảo về pháp lý: hôn nhân vừa là quan hệ riêng tư, vừa là quan hệ xã hội, do đó hôn nhân tự nguyện được pháp luật bảo hộ, vì hạnh phúc của cá nhân và gia đình
2.2 Sự biến đổi chức năng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Trang 8Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các chức năng của gia đình đã
có sự biến đổi rõ rệt và toàn diện dưới những yếu tố khách quan và chủ quan như: định hướng phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xu hướng toàn cầu hóa, gia nhập kinh tế quốc tế,….Điều
đó cho chúng ta thấy động lực to lớn để tiếp tục phát triển, thúc đẩy xã hội ngày nay được thể hiện rõ qua những biến đổi chức năng dưới đây:
Biến đổi chức năng tái sản xuất ra con người:
Ngày xưa, khi nước ta còn đang bị ảnh hưởng bởi các phong tục, tập quán
và nhu cầu phát triển nông nghiệp, các gia đình truyền thống luôn giữ vững quan niệm là: nhất định phải sinh thật nhiều con, càng đông con càng tốt và đặc biệt phải sinh con trai để nối dõi Đến mãi khi nước ta ở những năm 70 và
80 của thế kỷ XX, dựa vào tình hình dân số và nhu cầu về sức lao động, Nhà nước đã đưa ra các chính sách tuyên truyền, khuyến khích việc một gia đình chỉ nên sinh từ 1 đến 2 con Song vào đầu thế kỷ XXI, Việt Nam chuyển sang giai đoạn già hóa dân số, để đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới trong kế hoạch hóa gia đình sẽ là mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ hai con Như vậy chức năng tái sản xuất đã có sự thay đổi căn bản thể hiện ở việc giảm mức sinh của người phụ nữ, giảm số con mong muốn cũng như nhu cầu nhất thiết phải sinh con trai của các cặp vợ chồng Với các thành tựu y học tiên tiến, hiện đại, ngày nay việc sinh nở của các gia đình đã được tiến hành tự giác, chủ động hơn khi xác định được số lượng phải sinh mấy con và thời điểm khi phải sinh con Nhất là gia đình hiện đại thời nay, việc giữ vững tâm lý, tình cảm, kinh tế lại là yếu tố tạo nên sự bền vững hôn nhân của các cặp vợ chồng mà không phải là yếu tố có con hay không có con, hay bắt buộc phải sinh con trai như các gia đình truyền thống khác
Biến đổi chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
Hiện nay, kinh tế trong gia đình đang trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Thế nhưng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cạnh tranh
Trang 9hàng hóa cao trong và ngoài nước, dẫn đến nhiều gia đình khó khăn trong chức năng kinh tế và tiêu dùng, gặp trở ngại trong việc chuyển sang hướng sản xuất kinh doanh hàng hóa theo hướng chuyên sâu trong kinh tế thị trường hiện đại Nguyên nhân là do kinh tế gia đình phần lớn có quy mô nhỏ, lao động ít và tự sản xuất là chính Vì vậy trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hỗi, kinh tế gia đình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, để đáp ứng cả về nhu cầu trong nước lẫn việc hướng đến đáp ứng nhu cầu ngoài nước Với mức thu nhập ngày càng tăng, dần dần gia đình trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội và tiến tới “tiêu dùng sản phẩm do người khác làm ra”, tức là sử dụng hàng hóa và dịch vụ xã hội
Biến đổi chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:
Trong gia đình truyền thống Việt Nam xưa, giáo dục gia đình luôn là cơ sở cho giáo dục xã hội thì ngày nay trong các gia đình, giáo dục xã hội lại là cơ
sở cho giáo dục gia đình như giáo dục trong trường học giúp con trẻ cách rèn luyện đạo đức và nhân cách bởi nó cũng như một xã hội thu nhỏ khi con trẻ tiếp xúc với môi trường như vậy sẽ tác động đến việc nhận thức xã hội của trẻ
tự bộc phát Ngoài ra việc đầu tư cho nuôi dưỡng , giáo dục con cái gia đình cũng đang tăng lên Đặc biệt nội dung giáo dục trong gia đình không còn là giáo dục con cái về đạo đức, ứng xử, kỹ năng mà còn giáo dục tri thức khoa học công nghệ, ngoại ngữ, và hướng đến hòa nhập quốc tế
Biến đổi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia
đình:
Trong gia đình hiện nay, nhu cầu thỏa mãn tâm sinh lý và tình cảm đang tăng lên, thêm vào đó là việc coi trọng tự do của mỗi thành viên trong gia đình cũng cải thiện hơn Việc thực hiện biến đổi chức năng này là một phần quan trọng trong sự tồn tại, bền vững của hôn nhân, tình cảm hạnh phúc gia đình Đặc biệt, phát huy việc chăm sóc bảo vệ trẻ em và người cao tuổi Cùng với đó là gạt bỏ những suy nghĩ, tính toán về việc sinh con trai do ảnh hưởng
Trang 10từ các gia đình truyền thống , xóa bỏ định kiến “trọng nam khinh nữ” trong gia đình và tạo ra sự bình đẳng giới giữa con trai và con gái trên toàn diện về mọi mặt như nuôi dưỡng cha mẹ, phụng thờ tổ tiên,….Bên cạnh đó, mỗi gia đình cần phải tìm ra cách giải quyết thỏa đáng cho mọi vấn đề, mọi mâu thuẫn, tất cả đòi hỏi phải hình thành những chuẩn mực mới, bảo đảm sự hài hòa, hạnh phúc cá nhân, sinh hoạt tự do giữa các mối quan hệ giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái cũng như lợi ích cho gia đình và lợi ích cho xã hội
Phần 3: Liên hệ thực tiễn và liên hệ bản thân
3.1 Vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam
Những người phụ nữ từ xưa đến nay luôn có vai trò quan trọng không thể thiếu trong mỗi gia đình, muốn gia đình hạnh phúc, êm ấm, tất cả đều phải qua bàn tay vun vén của người phụ nữ Mọi người thường nói người phụ nữ là
“thiên chức” trời ban cho, vừa làm mẹ làm vợ, vừa là trụ cột thứ hai trong gia đình và vừa là người chăm sóc các thành viên trong gia đình, tất cả đều mang một nhiệm vụ cao cả đi theo đó là trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con cái
là điều quan trọng nhất của người phụ nữ Với vai trò làm mẹ, người phụ nữ còn là tấm gương cho con cái học tập và noi theo, một người mẹ với đầy đủ phẩm chất “Công – Dung – Ngôn – Hạnh”, một người mẹ nhân hậu, đảm đang, sẽ có tác động tích cực đến sự hình thành nhân cách của người con, họ dạy con qua những bài học đầu đời, nuôi dưỡng trẻ trở thành một người công dân có ích cho xã hội Bên cạnh đó, vai trò làm vợ của người phụ nữ cũng quan trọng không kém, một người vợ hiền, khéo léo, đảm đang và thành công, bên cạnh việc quan tâm, chăm sóc, vun vén cho gia đình, đồng cảm và sẻ chia ngọt bùi đắng cay với chồng, người vợ còn là người gánh vác kinh tế trong gia đình giúp chồng Nếu như trước đây hình ảnh người phụ nữ chỉ quan tâm việc nội trợ cho gia đình thì giờ đây, phụ nữ còn là người bạn đồng hành, hậu phương vững chắc cho chồng, điều đó cũng giúp nâng cao đời sống và tăng mức thu nhập trong gia đình Hơn nữa khi phụ thuộc vào sở thích, tính cách,