1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Định hướng sử dụng khí và quá trình phát triển công nghiệp khí ở các thềm lục địa Việt Nam

36 594 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Hướng Sử Dụng Khí Và Quá Trình Phát Triển Công Nghiệp Khí Ở Các Thềm Lục Địa Việt Nam
Tác giả Ngụ Thanh Lam
Người hướng dẫn Ths. Bựi Thị Luận
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Công Nghiệp Khí
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 274 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công nghệ chuyển đổi khí cho các ngành công nghiệp: dùng làm nguyên liệu, nhiên liệu, dùng trong hóa dầu, trong công nghệ thực phẩm và giao thông vận tải.... đã xuất hiện từ lâu trên thế giới.

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: VÀI NÉT SƠ BỘ VỀ QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG KHÍ THIÊN

CHƯƠNG II: CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CHIẾN LƯỢC KHÍ THIÊN

I Nguồn gốc hữu cơ của khí thiên nhiên Trang 5

V Tiềm năng khí ở Việt Nam hiện nay Trang 11

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIÊN CÔNG NGHIỆP KHÍ

I Các vấn đề khai thác khí thiên nhiên Trang 15

II Khả năng chế biến khí thiên nhiên theo công nghệ mới Trang 17 III Định hướng sử dụng khí thiên nhiên hiện nay Trang 19

V Các hoạch định đầu tư và phát triển khí trong thời gian hiện nay

2 Hệ thống ống dẫn khí và trạm phân phối Trang 29

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, những bước đột phá của các ngành công nghiệp biến đổi chuyển hoá khí thiên nhiên thành một nguồn năng lượng phucï vụ cho đời sống xã hội ngày càng có qui mô hơn Công nghệ chuyển đổi khí cho các ngành công nghiệp : dùng làm nguyên liêu, nhiên liệu , dùng trong hoá dầu, trong công nghệ lương thực phẩm và giao thông vận tải… đã xuất hiện từ lâu trên thế giới

Với tiềm năng có sẳn, trữ lượng khí lớn hơn trữ lượng dầu rất nhiều lần Với các chính sách đầu tư hợp lý của ngành dầu khí và nhà nước thì có thể hoàn thiện công nghệ chuyển đổi nhiên liệu khí, phát triển một ngành công nghiệp mới, đáp ứng thị trường trong nước, nhằm giải quyết một số vấn đề về năng lượng, nhiên liệu và vấn đề ô nhiễm môi trường Ngoài ra còn tạo ra hàng nghìn chỗ làm mới cho lực lượng lao động dồi dào của nước ta, đồng thời tạo ra những sản phẩm mới mang nhãn hiệu của Ngành Dầu khí

‘Định hướng sử dụng khí và quá trình phát triển công nghiệp khí ở

các thềm lục địa Việt Nam’ hiên nay là nội dung chủ yếu của bài khoá

luận này Đề tài được thực hiện dựa trên các tài liệu đã công bố, cộng với vốn kiến thức tích lũy trong suốt thời gian học tập vừa qua, cùng với sự hướng dẫn của các thầy cô trong quá trình tìm hiểu về chuyên ngành Dầu khí, tất cả là tổng vốn kiến thức giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự sữa chữa và góp ý của quí thầy

TPHCM, Ngày……… tháng……năm 2004 Sinh viên

Trang 3

Chương I:

VÀI NÉT SƠ BỘ VỀ QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG KHÍ

THIÊN NHIÊN QUA CÁC THỜI KỲ :

- Từ trước thập niên 60, công nghiệp khí thiên nhiên quá mới trong chiến lược phát triển kinh tế nước ta Do đó, khí không nằm trong diện qui ước

- Tháng 7/1973, trong công cuộc tìm kiếm thăm dò dầu khí tại Bồn Nam Côn Sơn đã có biểu hiện khí lộ ra trong một số các giếng khoan

- Tháng 4/1975, công ty Mobil tìm thấy dầu và khí đồng hành ở giếng Bạch Hổ trong một ngoại lệ phát sinh và tàng trữ hi hữu: móng đá Granit chứa dầu khí

- Triển vọng về Hyđrôcacbon được đúc kết ở thềm lục địa phía Nam 1975

+ Về dầu mỏ: không có cơ sở tin cậy

+ Về khí: có cơ sở tin cậy

- Năm 1977 đến 1987, Việt Nam quyết định đi theo con đường phát triển dầu mỏ theo chân Malaysia và Trung Quốc, nên đốt bỏ khí đồng hành từ mỏ Bạch hổ vào năm 1987 đã đánh dấu ngày Việt Nam bước chân vào ngưỡng cửa của năng lượng Hyđrôcacbon

- Vào năm 1993, Việt Nam trên đà phát triển và quyết định đưa khí thiên nhiên vào sử dụng cho mục đích công nghiệp và bước vào con đường dầu khí của thế giới

- Từ năm 1993, khí đồng hành được đưa từ mỏ Bạch Hổ với khối lượng 700 triệu m3, tương đương với 700.000 tấn dầu, trị giá 160 triệu USD (228USD/tấn)

Trang 4

- Đến tháng 1/1998 đưa vào 3 triệu m3/ngày.

- Cuối năm 1998 với nhà máy sửù dụng đến 700 triệu

m3/năm

- Cho đến nay, trữ lượng khí cụ thể là: 1.336 tỉ m3, chia ra:

+ 364 tỉ m3 ở Bồn Sông Hồng

+ 89 tỉ m3 ở Bồn Cửu Long

+ 254 tỉ m3 ở Bồn Nam Côn Sơn

+ 100 tỉ m3 ở Bồn Malaysia – Thổ Chu

+ 529 tỉ m3 ở các Bồn nhỏ khác

(trữ lượng tính theo khí tương đương với dầu mỏ 1.000 m3 khí = 1 tấn dầu)

Theo đánh giá của các nhà Dầu khí thì trữ lượng khí ở các bể được coi là tiềm năng khí lớn nhất , đang trong giai đoạn khai thác gồm: bể Nam

C ôn Sơn, bể Cửu Long, bể Mã Lai-Thổ Chu và bể Sông Hồng vì hầu hết các mỏ khí đều phát hiện ở các bể này, do đó, các hoạt động thăm dò, khai thác được chú trọng nhiều

Trang 5

Chương II:

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO CHIẾN LƯỢC

KHÍ THIÊN NHIÊN

I Nguồn gốc hữu cơ của khí thiên nhiên:

1) Chứng tích động thực vật tạo nguồn hữu cơ của dầu khí:

Dấu vết động thực vật còn lưu lại trong dầu mỏ đã được khám phá

từ thập kỷ 30 Trong đá trầm tích cổ có chất alkan n.C15H12 là một sản của acid béo trong rong n C 16 Các loại sáp ( ao hồ) thực vật dạng alkan n.C29H60 cũng lưu lại trong chất trầm tích ở nguyên dạng này Độâng vật đa bào, đơn bào trong nước ao hồ là nguồn gốc hữu cơ của dầu, ngoài ra động vật tạo chất hữu cơ còn có phần lớn là có nguồn gốc biển, đều có khả năng sinh khối cung ứng cho các bồn dầu tương lai.Khí thiên nhiên có nguồn gốc hữu cơ như dầu mỏ Khác với dầu được hình thành từ vật liệu hữu cơ (VLHC) là sapsopelic Vật liệu hữu

cơ humic phần lớn gồm cacbonhydrat – lignin với một ít protein, tương đối giàu Nitơ nhưng thiếu Hydrô (5% hoặc ít hơn) Nó được sinh ra từ các vật liệu cạn và vì vậy cộng sinh với trầm tích lục địa; nó được xác định một cách dễ dàng bằng các phương pháp quang học Sự biến đổi nhiệt sinh ra các axít humic, có thể hòa tan trong các chất kiềm, ít

Trang 6

hydrô và giàu ôxy (trong nhóm Carboxyl) Lượng chất lỏng, các sản phẩm dễ bay hơi rất thấp, bị thay thế bởi CO2 và H2O.

Vì thế, VCHC humic là thiên về khí ( gas – prone) Sự cacbon hoá của nó, vì do sự tăng, mức độ biến chất của than, sinh ra mêtan mà hầu như không có các phần tử lỏng nhẹ Lượng mêtan được sinh ra từ 68 kg/tấn đối với than bùn hoặc than lignit tới 133kg/tấn đối với than cứng Chỉ một tỷ lệ nhỏ khí này tích tụ trong các trầm tích dễ khai thác Phần còn lại bị hấp thu hoặc hút giữ trong chính các vỉa than, bị hoà tan trong nước dưới đất, hoặc bị mất vào khí quyển

Có một vài ngoại lệ, có nguồn gốc tổng hợp vô cơ có thể xảy ra nơi hiện tượng núi lửa Ở mặt trăng và sao hoả, có loại mêtan hoàn toàn vô

cơ Ở trên trái đất , khí thiên nhiên, dù có nguồn gốc hữu cơ vẫn được xem là vô cơ vì nó mang tính cracking phần tử hữu cơ của dầu mỏ, không có sự tham gia của sinh vật, mà chỉ có sự tham gia của khoáng chất như đất sét (montmorillonite) hoặc các cao phân tử khoáng vật khác

2) Sự chuyển hoá từ hữu cơ đến Hyđrôcacbon (HC):

Sự chuyển hoá từ chất hữu cơ sang HC là một chu trình thoái hóa Nó đòi hỏi một môi trường thích hợp gồm rất nhiều nhóm các yếu tố lý –hoá và thời gian, chứ không phải một quá trình đơn giản Sự hiện diện

HC sau một thời gian vùi lấp không chứng tỏ được sự tích tụ chất hữu

cơ ban đầu

Chất hữu cơ gồm xác của động thực vật, tồn tại dưới dạng ba nhóm đạm, đường, chất béo Trong trạng thái thoái hóa do vi sinh vật hiếu khí, các nhóm đều cháy và tạo ra khí CO2 và H2O, khoáng chất đi kèm

ở dạng vi lượng thì khoáng hóa ( xương cốt)

Trang 7

Trong trạng thái thoái hóa do vi sinh vật kỵ khí, từ 100% lượng hữu

cơ ban đầu, qua cơ chế huỷ polyme, còn 4% chuyển thành acid amin và đường giản đơn, có 0,1% chuyển thành acid fluvic và acid humic, gọi chung là mùn

+ Chất mùn này có thể được tập hợp thành khối, từ đó sẽ được nén dẽ trở thành carbon, ở dạng than bùn

+ Than bùn chứa bên trong một lượng nhỏ khoáng chất và một ít khí

ở dang CH4, gọi là khí hữu cơ hay dạng CH4 trong khí thiên nhiên , gọi là khí vô cơ

+ Chất mùn nếu được trộn lẫn với trầm tích mịn hạt, như bùn và sét, hay chất vôi, dưới tác động của vi sinh chuyển thành kerogen

Ở độ sâu 2000m _3000m sự thoái hóa nhiệt sinh dầu xảy ra tốt nhất Nếu sự thoái hóa này tiếp tục ở các giai đoạn vùi lấp, thì dầu mỏ sẽ trở thành khí thiên nhiên từng phần (khí đồng hành) hay toàn bộ (khí đơn độc) do một cơ chế cracking

Nhìn chung, trong quá trình chuyển hóa, độ vùi lấp và sự hiện diện các luồng nhiệt là hai yếu tố quyết định nhất để có thể nhận biết được giai đoạn vùi lấp nào tạo dầu mỏ, tạo khí và than chì (do các mỏ dầu khí bị biến chất chuyển hoàn toàn thành carbon)

1)Khí đồng hành: Khí cháy (combustible) là khí có khả năng hòa

hợp với Oxy để tạo năng lượng (ánh sáng, sức nóng), khác với khí trơ là khí không có phần tử cháy

Khí thiên nhiên có trong các mỏ khí có thành phần chủ yếu là Mêtan (chiếm gần 95%) được gọi là khí đồng hành Thông thường trong một mỏ dầu, dưới cùng là nước mặn (có nguồn gốc là nước biển nguyên thủy) Tùy theo điều kiện của mỏ, có nơi trữ lượng khí đồng

Trang 8

hành cao hơn dầu và cũng có nơi lượng khí không đáng kể do đó có thể

bị đốt đi Tại mỏ Bạch Hổ, ta có khí đồng hành đi chung với dầu

Khí đồng hành được hiểu như là khí xuất phát từ dầu mỏ bị chưng cất khi môi trường gia tăng về áp xuất và nhiệt (dòng nhiệt của vỏ trái đất) tùy thuộc vào những hoạt động kiến tạo hay vận tốc lún đáy

Các điều kiện, nhiệt độ, áp suất và độ sâu ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phân hủy của dầu Do vậy, dầu không thể hoàn toàn chuyển sang khí được nên luôn có sự đồng hành với nhau Yếu tố môi trường mang tính quyết định trong việc chuyển đổi dạng thể của Hyđrôcacbon Nếu có sự bất lợi hơn nữa thì khí thiên nhiên hay gọi là khí đồng hành sẽ chuyển sang than chì (Graphit)

2)Khí đơn độc: là khí tồn tại trong những bẫy mà có sự vắng mặt

của dầu, chỉ có duy nhất khí mà thôi

Mỏ khí thiên nhiên có trữ lượng rất lớn và quan trọng trong các giai đoạn phát triển tới năm 2007 là 2 mỏ Lan Tây – Lan Đỏ Chứa khí đơn độc nằm ngoài khơi Côn Đảo

Nguồn gốc khí đơn độc thường do môi trường tạo thành: áp suất cao, nhiệt lưu cao, nguồn hữu cơ do thực vật và động vật đất liền lấn áp Một nguồn gốc khác là sự chưng cất tự nhiên của các vỉa than cổ hơn, nằm bên dưới đáy, đó là khí than đá tự nhiên Mỏ khí gần bờ biển Thái Bình ở Vịnh Bắc Bộ thuộc loại này Người ta biết được nó nhờ vào tỉ lệ

CO2 cao lẫn vào

Khí đơn độc có ở những nơi có hoạt động kiến tạo mạnh mẽ, kết hợp với sức nặng của hàng loạt trầm tích ào ạt đổ dồn về Sự tách dãn đáy biển Đông thành một đáy đại dương ở tại Hoàng Sa và Trường Sa, chính là nguyên nhân để tạo khí đồng hành với khí đơn độc (khí khô)

Trang 9

3)Khí than đá: là khí có nguồn gốc nhân tạo, than đá được khai

thác, tạo ra khí đất hay khí thấp Một nguồn gốc nhân tạo khác là bơm khí trở xuống vỉa than và hứng CH4 bốc lên, theo công nghệ hiện đại được thực hiện rất nhiều nơi trên thế giới (Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á) giúp cho việc tận thu năng lượng nằm sâu dưới đất, không khai thác được theo kiểu cổ điển

Hình 1: Từ chất hữu cơ ra các loại khí, dầu mỏ và than đá

III Di trú và tích tụ:

Từ nơi đá sinh dầu đến đá chứa dầu, sự di trú và tích tụ đòi hỏi những yếu tố môi trường rất phức tạp trong một khoảng không gian bốn chiều mà các công nghệ mới đang gia công giải quyết Sự tích tụ đòi hỏi những yếu tố di trú và những yếu tố đặc biệt, trong đó có cấu trúc phù hợp của bẫy, đồng thời có cả sự hiện diện của các lớp chắn ở bốn phía, ở đỉnh và ở đáy

Trang 10

Trong những năm gần đây, trong quá trình khai thác , người ta thấy

một kiểu di trú bất lợi của khí Khi dầu và khí rời bẫy đi vào giếng, thì nước mặn chen vào các lỗ rổng trong đá, đôi khi chận đường vào của khí, khiến cho giếng bị mất áp, khí không lên được Trong trường hợp này tỉ lệ khí thu hồi có thể bị giảm đi từ 10 % đến 20%, gây một thất thoát lớn, làm sai lệch hẳn về dự kiến trữ lượng của mỏ

Ngày nay, công nghệ sử dụng các mũi khoan ngoằn nghèo có thể tìm

thấy những túi khí nhỏ hơn chưa liên kết vối các túi khí chính ( túi khí chính bị cô lập) Một công nghệ có ống khoan chẽ nhánh sẽ tách ngay trong lòng đất giữa khí với dầu , khí với nước mặn, dầu với nước mặn, để bơm ngược nước mặn xuống đáy bẫy

IV Chiến lược khí thích hợp:

Công nghiệp dầu khí là một ngành công nghiệp nặng của ngành năng lượng, do đó đòi hỏi phải có sự đầu tư vô cùng lớn về kinh tế, chính trị của cả một nước Những rủi ro không lường trước được nhưng bù lại đầu ra của ngành công nghiệp này tương đối lớn, ảnh hưởng đến sự thay đổi bề mặt của một đất nước Thiết bị công nghệ hiện đại, một đội ngũ sản xuất và quản lý chuyên nghiệp đầy kinh nghiệm và trí tuệ tất cả đều quan trọng

Ở nước ta hiện nay, năng lượng có nguồn gốc hyđrôcacbon chiếm phần quan trọng nhất tới 50% GDP Góp phần nâng đến 0,5% GDP của cả nước Trong khi trữ lượng dầu của nước ta ngày càng vơi dần và được thay thế bằng năng lượng khí thiên nhiên Ta phải có quyết định đưa ra những giải pháp hay những chiến lược thích hợp để đưa khí thiên nhiên vào trong đời sống, thay thế cho nguồn Hyđrôcacbon lỏng đang ngày càng cạn kiệt Khí thiên nhiên được đưa vào chậm hơn nhưng sẽ

Trang 11

phục vụ suốt thế kỷ 21 Vì vậy, đây là nguồn năng lượng mang tính lâu dài Hiện nay, chúng ta có đủ 3 loại khí thiên nhiên trong lòng đất:

- Khí đồng hành (trữ lượng nhiều hơn dầu), hiện đang được khai thác trong công cuộc tìm kiếm, thăm dò dầu

- Khí đơn độc, đang có hướng đi sẽ khai thác trong vài năm tới với kỹ thuật công nghệ hiện đại

- Khí than đá, còn đang nghiên cứu và triển khai từ các mỏ than đá ớ Vịnh Bắc Bộ và Trung Bộ, vị trí thăm dò nằm sâu trong lòng đất khó có thể khai thác bằng kỹ thuật thô sơ như hiện nay

Hiện nay, cả 3 loại khí đựơc đưa vào khai thác, nhưng chỉ kinh tế khi vận chuyển chúng dưới dạng khí mà thôi Khi chuyển sang thể dạng lỏng, đường dẫn đòi hỏi sự đầu tư gấp 4 lần mục đầu tư dẫn dầu

Vì vậy, cần sử dụng công nghệ mới để chuyển khí thành Methanol, từ Methanol sẽ tinh luyện ra xăng, dầu D.O sáp và nhiều hoá chất khác,…Một số trọng điểm cơ bản trong chiến lược năng lượng khí:

- Mở rộng mạng lưới thu khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ sang mỏ Rồng, Rạng Đông, Đại Hùng

- Mở rộng mạng lưới thu khí thiên nhiên của mỏ Lan Tây, Lan Đỏ và các mở khí lân cận

- Mở rộng mạng lưới thu khí thiên nhiên xung quanh Tiền Hải

- Mở rộng mạng lưới thu khí thiên nhiên ở khu Thổ Chu

- Mở rộng mạng lưới thu khí thiên nhiên có lẫn CO2

nơi thềm lục địa trãi dài Quảng Ngãi đến Thanh Hoá

- Mở rộng mạng lưới thu khí Mêtal than đá từ Quảng Nam đến Hòn Gai

Trang 12

V Tiềm năng khí ở Việt Nam hiện nay:

Như đã đề cập từ trước, trữ lượng khí thiên nhiên ở VN rất lớn so với lượng dầu mỏ Có thể đưa ra một số liệu cơ bản là 1.336 tỉ m3 Tuy nhiên , mức độ thăm dò ở một số bể chưa có sự đồng đều nên gây khó khăn cho việc xác đinh chính xác trữ lượng khí thực tế Khí thiên nhiên được đánh giá là tiềm năng thứ nhất, sau là dầu trong giai đoạn phát triển kinh tế nước ta trong tương lai

Bồn Cửu Long, bồn Sông Hồng , bồn Nam Côn Sơn và bồn Malaysia_Thổ Chu tiềm năng khí được đánh giá là cao nhất Vì thế, hầu hết khí thiên nhiên trong các bể này đều được phát hiện , khai thác và đưa vào sử dụng một cách triệt để

Một số thống kê cơ bản của các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá trữ lượng dầu khí ở VN như sau :

Bể trầm tích Khí thiên nhiênThấp T.Bình Cao Khí đồng hànhThấp T.Bình Cao

1. Nam Côn Sơn 400 500 610 20 25 25

3. Sông Hồng

i Bắc

ii Trung iii Nam

30 130 110

35 200 160

80 280

Trang 13

Bảng 1: Đánh giá trữ lượng dầu khí ở thềm lục địa Việt Nam

Kết quả thăm dò trong những năm qua cho phép đánh giá tiềm năng dầu khí như sau :

Bảng 2: Đánh giá tiềm năng dầu khí ở Việt Nam

Các mỏ khí đã phát

Trang 14

Tiềm năng sinh khí ở các bể đã được phát hiện được xác đinh như sau :

Bảng 3: Tiềm năng sinh khí ơ ûcác bể đã phát hiện

Việc đốt bỏ khí đồng hành trong quá trình khai thác dầu mỏ trong những năm trước đây và việc đưa khí đồng hành vào công nghiệp năng lượng của những năm từ sau 1975 đến nay, đã cho thấy VN khẳng định khả năng sử dụng triệt để nguồn tài nguyên có sẳn của mình , tự khẳng định mình trong công cuộc hiện đại hoá công nghệ năng lượng đất nước

Việt Nam còn có rất nhiều mỏ chưa được khai thác, điều này còn tuỳ thuộc vào nguồn khí tiêu thụ trong nước và không loại trừ việc xuất khẩu nước ngoài nếu điều kiện cho phép Sản lượng khai thác dầu ngày càng tăng kéo theo sản lượng khí đồng hành ngày càng nhiều Khí thiên nhiên hiện nay là một nguồn năng lượng mang tầm chiến lược trên mọi lĩnh vực

Các bồn trầm tích Đã phát hiện (tỷ m 3 ) Tổng cộng (tỷ m 3 )

Trang 15

Chương III:

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP KHÍ

THIÊN NHIÊN

I. Các vấn đề khai thác khí thiên nhiên :

Hiện nay, vấn đề khai thác dầu khí ở nước ta đang trở nên rất phổ biến Việc cộng tác với các công ty năng lượng nước ngoài, trong đó việc áp dụng các phương pháp sử lý, khai thác dầu mỏ với công nghệ hiện đại là phần việc quan trọng nhất vì nó mang tính chất kinh tế rất

Trang 16

cao Nhìn chung , vấn đề khai thác khí ở nước ta phải xét đến các khả năng sau :

1) Khả năng khai thác khí qui ước :

Đa phần các mỏ khí ở nước ta đều xếp vào qui ước, đã được đánh giá và thiết kế khai thác Khí đồâng hành ở dạng khí đã được đưa vào bờ để làm nguồn năng lượng cho nhiệt điện Khí đơn độc đang được nghiên cứu và đưa vào sản xuất Khí không thể nguyên trạng đi xa được Do vậy, việc đầu tư vốn mỏ rộng việc vận tải khí bằng ống dẫn là vấn đề chính Vì chi phí rất cao nên cần phải có sự lựa chọn :

_ Dẫn khí ở trạng thái hóa lỏng khí ngoài khơi, với giá thành rất cao

_ Dẫn khí đã chuyển thành mêthanol lỏng vào bờ, vơí giá thành bằng dầu mỏ

Khí hoá lỏng được hiệu quả kinh tế khi có khả năng hóa lỏng tại chổ và xuất khẩu từ ngoài khơi để bù cho việc bơm vào đất liền qua loại ống chuyên dùng đắt tiền (gấp 4 lần ống dẫn dầu) Hai mỏ khí có trữ lượng lớn đang được nghiên cứu thêm là Lan Tây _ Lan Đỏ , trước mắt là sử dụng ống dẫn khí hóa lỏng Đây là ứng dụng trực tiếp để tiếp thêm nguồn năng lượng chính thay thế cho các mỏ dầu đang dần cạn kiệt ở tương lai Nếu có thể cùng tiến bước với công nghiệp, thì việc chuyển khí thành mêthanol ở ngoài khơi, rồi dùng ống dẫn dầu đưa mêthanol vào bờ, thì vừa thừa kế được hệ thống dẫn có sẵn, vừa lắp đặt ống dẫn dầu để dùng tiếp

2) Khả năng khai thác khí không qui ước :

Khả năng này còn xa đối với VN Các mỏ không nằm trên thềm lục địa mà nằm trên triền lục địa và đáy đại dương đối với VN được xếp

Trang 17

vào loại khí không qui ước Khí loại này nằm giữa Hoàng Sa và Trường Sa, nơi đáy biển sâu từ 300m đến 2000m.

3) Khả năng khai thác khí lấy từ than đá :

Phần lớn là khí Mêtan ( 95% ) được lấy từ than đá, chứ không phải hyđrôcacbon Đây là loại khí được xếp vào loại không qui ước nó nằm

ở các vỉa sâu không khai thác được Nghiên cứu gần đây cho thấy : 1 tấn than = 10 m3 khí Mêtan

Phương pháp lấy khí Mêtan lên bằng cách bơm Nitơ lỏng ( hay CO2

lỏng ) xuống môït giếng tạo áp ,và hứng mêtan từ các giếng quanh đó Đối với nước ta , tính đến nay trữ lượng than lên đến 200 tỉ tấn , đây là một trữ lượng không nhỏ tương đương với 20 tỉ m3 khí mêtan Một kế hoạch nghiên cứu rất cần thiết để nâng cao kinh tế đất nước tương lai , tạo cho người dân rất nhiều hy vọng có thể sử dụng nguồn năng lượng quí này trong sản xuất và tiêu dùng

4) Thiết bị và đội ngũ :

Đối với Việt Nam, thiết bị khai thác dưới biển tạo ra một chi phí lớn hơn chi phí trên đất liền (khoảng 3 lần ), là một đất nước nghèo cơ chế liên doanh là giải pháp tối ưu , còn cơ chế quốc gia cực đoan rất khó mà thể hiện được vì tính rủ ro kinh tế rất cao Đội ngũ khai thác ,

ta chưa có Như vậy , chuyên môn hoá đội ngũ nhân viên mới, đưa một số nhân viên xuất sắc đi nước ngoài như các nước ở Tây Âu, Đông Âu, dưới sự đỡ đầu của một công ty khí thiên nhiên ( công ty Mobil, công

ty BP ) có kinh nghiệm ở thêm lục địa VN Khi có đội ngũï xuất sắc , công việc khai thác khí mới mang tính ổn định

Trang 18

II Khả năng chế biến khí thiên nhiên theo công nghệ mới :

Trước hết, ta có thể tóm tắt quá trình chế biến khí theo công nghệ cũ:

Hình 2: Quá trình chế biến khí thiên nhiên theo công nghệ cũ

Đây là những sản phẩm rất quan trọng trong bước đường công nghiệp hoá từ nông nghiệp đến các công nghiệp hoá sản phẩm

Khí thiên nhiên không ngừng được hóa lỏng để thành khí dầu lỏng (LPG), và khí thiên nhiên lỏng (LNG) dùng di chuyển đi xa và sử dụng trực tiếp làm chất đốt, cho nhiệt điện và làm phân bón, mà còn được biến thành một số chất lỏng cơ bản để từ đó sử dụng làm nguyên liệu như : xăng, dầu Diesel, nhớt, mở, hóa chất Khí hóa lỏng gọi là dầu thô nhưng khác với dầu thô được trực tiếp khai thác là loại dầu không lưu huỳnh, không có kim loại nặng, không có chất độc làm ô nhiễm môi trường, để từ đó tạo ra mặt hàng có lợi cho xã hội

Ngày đăng: 21/03/2013, 08:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Đánh giá tiềm năng dầu khí ở Việt Nam - Định hướng sử dụng khí và quá trình phát triển công nghiệp khí ở các thềm lục địa Việt Nam
Bảng 2 Đánh giá tiềm năng dầu khí ở Việt Nam (Trang 13)
Hình 3: Sơ đồ dự án sản xuất etylen trường hợp 1. - Định hướng sử dụng khí và quá trình phát triển công nghiệp khí ở các thềm lục địa Việt Nam
Hình 3 Sơ đồ dự án sản xuất etylen trường hợp 1 (Trang 27)
Hình 5: Sơ đồ phân phối khí từ bể Mã Lai –Thổ Chu - Định hướng sử dụng khí và quá trình phát triển công nghiệp khí ở các thềm lục địa Việt Nam
Hình 5 Sơ đồ phân phối khí từ bể Mã Lai –Thổ Chu (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w