1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc

8 420 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 340,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không kể đến phương tiện truyền lây thì các tác nhân gây bệnh thực sự của bệnh nhiễm trùng là các loài vi sinh vật khác nhau.. Cần hiểu rằng trong hàng ngàn loài vi sinh vật khác nhau củ

Trang 1

CHƯƠNG 3 BệNH NHIễM TRùNG

Để hiểu rõ hơn các quá trình xảy ra trong bệnh nhiễm trùng, cần phải biết tác nhân gây bệnh thực sự Chúng ta đã biết rằng bệnh nhiễm trùng có thể truyền từ con vật này sang con vật khác theo nhiều cách khác nhau, kể cả truyền qua vectơ truyền bệnh là động vật chân đốt Chúng ta cũng biết rằng bệnh nhiễm trùng lây lan trực tiếp giữa gia súc gọi là bệnh truyền nhiễm Không kể đến phương tiện truyền lây thì các tác nhân gây bệnh thực sự của bệnh nhiễm trùng là các loài vi sinh vật khác nhau

Vi sinh vật, như tên đã gọi, rất nhỏ, nhỏ đến nỗi thực tế chỉ có thể nhìn thấy vi sinh vật bằng kính hiển vi Vì vi sinh vật, khi xâm nhập vào cơ thể, gây nên hàng loạt những biến đổi bệnh

lý ở tổ chức, nên vi sinh vật được xác định là có tính gây bệnh và thường được gọi là mầm bệnh

Cần hiểu rằng trong hàng ngàn loài vi sinh vật khác nhau của tự nhiên, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là

có tính gây bệnh và sự thực một số không thể thiếu đối với sức khoẻ con người và gia súc Ví

dụ, thức ăn được tiêu hoá là nhờ các vi sinh vật tồn tại trong dạ dầy và ruột, hỗ trợ phân giải thức ăn thành các yếu tố có thể được hấp thu vào các hệ thống của cơ thể, đặc biệt là ở loài nhai lại

Có bốn loại vi sinh vật gây bệnh là vi-rút, vi khuẩn, nấm và đơn bào

1 Vi-rút

Đây là những mầm bệnh nhỏ nhất, nhỏ đến nỗi chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi điện tử rất mạnh Về cơ bản vi-rút gồm chất liệu di truyền (axit nucleic) được bảo vệ bằng vỏ protein (capsid) Một số vi-rút có một lớp lipid bao ngoài lớp vỏ protein Vì vi-rút là các sinh vật rất

đơn giản, chúng chỉ có thể nhân lên nhờ xâm nhập vào tế bào của sinh vật cao cấp hơn, ví dụ

động vật, và sử dụng các quá trình trao đổi chất của sinh vật cao cấp đó Kết quả là tế bào bị vi-rút xâm nhập điều khiển sản sinh ra nhiều vi-rút mới Khi các vi-rút mới này giải phóng ra

để xâm nhập vào tế bào khác, tế bào ban đầu có thể bị phá huỷ Một số vi-rút có thể tác động như vậy trên một quy mô lớn và mức độ tổn thương tế bào mà vi-rút gây ra gọi là độc lực của vi-rút

Như vậy vi-rút là vi sinh vật bắt buộc phải sống trong tế bào Vi-rút xâm nhập vào tế bào của mọi hình thái sự sống, gồm động vật, côn trùng, thực vật, vi khuẩn và nấm Những vi-rút có tính gây bệnh quan trọng đối với thú y xâm nhập vào và phá huỷ tế bào động vật trong quá trình xâm nhập Ví dụ vi-rút Dịch tả trâu bò xâm nhập vào tế bào đường tiêu hoá, hô hấp, phá huỷ tế bào gây ỉa chảy và xuất dịch từ miệng và mũi Một đặc tính quan trọng nữa của bệnh Dịch tả trâu bò là vi-rút còn phá hoại những tế bào chịu trách nhiệm cơ chế phòng vệ của vật chủ làm cho vật chủ dễ mắc bệnh do các vi sinh vật có tính gây bệnh yếu hơn Một ví dụ khác là vi-rút Lở mồm long móng xâm nhập vào nhiều tổ chức khác nhau, gồm cả bề mặt lưỡi (Hình 3.1)

Trang 2

Cái đó, nói chung, đã hạn chế việc sử dụng cho người, còn cho gia súc đôi khi vẫn được sử dụng, ví dụ trong bệnh Viêm da mụn mủ đặc hiệu ở cừu

Hình 3.1 Bệnh Lở mồm long móng Vi-rút phá huỷ bề mặt lưỡi

tạo thành nhiều mụn nước vỡ ra

2 Vi khuẩn

Vi khuẩn là các sinh vật một tế bào, xếp loại cao hơn rút Một số vi khuẩn, giống như vi-rút, bắt buộc phải sống trong tế bào, trong khi các vi khuẩn khác phát triển mạnh ngoài tế bào trong môi trường Mặc dù độc giả có thể không quan tâm đến phân loại vi khuẩn, nhưng cũng

sẽ có ích nếu hiểu vi khuẩn hoạt động và gây bệnh như thế nào Có bốn loại vi khuẩn sắp xếp theo thứ tự tăng dần về kích thước là Chlamydia, Rickettsia, Myco.plasma và vi khuẩn thực sự

2.1 Chlamydia

Giống như các vi khuẩn thực sự chúng có vách tế bào nhưng không có tất cả các quá trình trao

đổi chất cần thiết để tự nhân lên, nên giống như vi-rút, chúng phải sống trong tế bào Chúng hình tròn và hướng tế bào thượng bì, tức các tế bào lớp màng của niêm mạc (xem chương 4)

Ví dụ Chlamydiapsittaci gây dịch sẩy thai truyền nhiễm ở cừu, dê, nhiễm vào nhau thai cừu cái mang thai gây viêm nhau thai và sẩy thai Đây là một bệnh chủ yếu của chăn nuôi cừu tập trung và xảy ra khắp nơi trên thế giới

Trang 3

2.2 Rickettsia

Rickettsia rất giống Chlamydia và phải sống ở trong tế bào Một loại rickettsia là Anaplasma, xâm nhập và phá hoại hồng cầu gây nên thiếu máu

Mặc dù không phải là một đặc điểm của tất cả các bệnh do rickettsia, nhưng nhiều bệnh do rickettsia quan trọng đối với chăn nuôi vùng nhiệt đới đều do ve truyền nhưAnaplasma, Ehrlichia và Cytoecetes

2.3 Mycoplasma

Đây là loại vi sinh vật nhỏ nhất và đơn giản nhất có thể tự nhân đôi lên không cần xâm nhập

tế bào của các vi sinh vật cao hơn Không giống như các vi khuẩn khác, chúng không có vách

tế bào cứng mà được bao quanh nhờ một lớp màng linh hoạt cho phép chúng thay đổi hình dạng

Không giống vi-rút, mycoplasma sống ngoài tế bào Những mycoplasma vô hại thường thấy trong đường tiêu hoá, đường hô hấp và đường sinh dục gia súc Các mycoplasma gây bệnh thường hướng vào những tổ chức nhất định Mycoplasma mycoides là nguyên nhân của bệnh viêm phổi và màng phổi truyền nhiễm của bò, khu trú ở xoang ngực gây nên viêm phổi và màng phổi (xem Hình 9.2, chương 9) Mycoplasma hyopneumonia là nguyên nhân hay gặp nhất trong viêm phổi mạn tính ở lợn (xem Chương 9)

2.4 Vi khuẩn thực sự

Vi khuẩn thực sự là lớn nhất trong nhóm vi sinh vật này ở vị trí cao nhất trong các vi khuẩn,

vi khuẩn thực sự có tất cả các quá trình trao đổi chất cần thiết để nhân đôi nên không phải xâm nhập vào tế bào Vi khuẩn thực sự có vách tế bào cứng nên tạo cho mỗi loài những đặc

điểm riêng về kích thước và hình thái Vi khuẩn có ba hình thái cơ bản là hình gậy, hình cầu

và hình roi (xoắn hay hình dấu phẩy), ngoài ra còn có một loạt hình thái trung gian như các vi khuẩn hình gậy hơi tròn, còn gọi là cầu trực khuẩn Nhu cầu để nhân lên của vi khuẩn không chuyên biệt như vi-rút, chlamydia và rickettsia, nên vi khuẩn tương đối dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy nhân tạo, ít gây khó khăn cho chẩn đoán khi phân lập từ những ca bệnh

Trang 4

Hình 3.2 Bệnh nhiệt thán ở bò:

vi khuẩn nhiệt thán xâm nhập và lan tràn khắp cơ thể, gây xuất huyết ở các lỗ tự nhiên, kể cả lỗ mũi như trong ảnh.

Vi khuẩn gây bệnh nhờ khả năng xâm nhập vào tổ chức, sản sinh độc tố và những đặc tính khác Khả năng xâm nhập vào tổ chức, sản sinh độc tố và những đặc tính này khác nhau rất nhiều giữa các loài vi khuẩn và quyết định mức độ độc lực của vi khuẩn

Vi khuẩn xâm nhập vào tổ chức bằng cách sinh ra các men phân giải tổ chức của vật chủ, cho phép vi khuẩn xâm nhập và lan rộng Ví dụ điển hình về vi khuẩn xâm nhập là bệnh Nhiệt thán thường gây chết, do vi khuẩn Bacillus anthracis, vi khuẩn xâm nhập vào tất cả tổ chức cơ thể trước khi gia súc chết (Hình 3.2)

Tuy nhiên, không phải tất cả các vi khuẩn gây bệnh đều có khả năng xâm nhập Những loài không có khả năng xâm nhập hoặc khả năng xâm nhập kém gây hại bằng cách tiết độc tố, gọi

là ngoại độc tố Độc lực của những vi khuẩn này rất khác nhau Vi khuẩn sinh ra một trong những độc tố gây chết mạnh nhất mà con người từng biết là Clostridium botulinum Rất may

là chứng ngộ độc thịt (Botulism), do độc tố của C botulinum, ít xảy ra Nếu xảy ra thì cần tiêm phòng những gia súc có nguy cơ mắc bệnh Một ví dụ nữa là ỉa chảy ở gia súc non do

độc tố của E coli E coli thường nhiễm vào ruột gia súc, trong những điều kiện nhất định, chúng nhân lên nhanh chóng, sản sinh một lượng lớn ngoại độc tố có thể gây chết gia súc (Hình 3.3)

Trang 5

Hình 3.3 Viêm ruột cấp tính ở cừu non do nhiễm trùng đường ruột

với chủng E coli sinh độc tố

3 Nấm

Nấm phân bố rộng rãi trong thiên nhiên và tất cả chúng ta đều biết rõ Nấm mốc mọc trên thực phẩm chớm thối cũng như nhiều loại nấm to đều là nấm Cấu trúc của nấm có một số

điểm tương tự thực vật, nhưng nấm khác thực vật ở chỗ nấm không quang hợp được, tức là nấm không sử dụng năng lượng mặt trời được Do đó nấm tìm thấy mọc trên vật khác như thực phẩm, rau cỏ, đôi khi là gia súc để hút chất dinh dưỡng từ đó

Nấm có thể được xếp thành hai loại cơ bản: nấm mốc và nấm men Nấm mốc mọc thành những khuẩn lạc có nhiều sợi tế bào, còn nấm men mọc thành những tế bào riêng rẽ, hình tròn hoặc hình bầu dục Một số nấm, tuỳ theo điều kiện sống, có thể mọc theo kiểu nấm men hay kiểu nấm mốc

3.1 Nấm gây bệnh

Có ít loài nấm gây bệnh cho gia súc Ví dụ, bệnh nấm da ở tất cả các loài gia súc do nấm Trichophyton hay Microsporum Tương tự, viêm hạch lympho truyền nhiễm là bệnh nhiễm trùng da của ngựa do nấm Histoplasma farciminosum (xem hình 9.9, chương 9)

3.2 Mầm bệnh đột phát.

Trang 6

3.3 Ngộ độc độc tố nấm

Một số trường hợp ngộ độc do độc tố của nấm (Mycotoxicoses) thường là do ăn phải thức ăn thiu thối và ẩm ướt bị mốc và đó thường là do chăn nuôi kém Ví dụ ngộ độc Anatoxin do nấm Aspergillus Flavus mọc trên lạc, ngô hay xảy ra ở lợn, gia cầm

4 Đơn bào (Protozoa)

Đây có thể là nhóm vi sinh vật gây bệnh hoàn chỉnh nhất Giống như các vi sinh vật khác, trong thiên nhiên có hàng ngàn loài đơn bào, trong đó có một tỷ lệ nhỏ nhiễm vào gia súc và chỉ một số ít có tính gây bệnh Đơn bào là những sinh vật một tế bào Những loài đơn bào gây bệnh quan trọng đối với thú y thuộc về hai nhóm chính: nhóm trùng roi (Flagellates) và nhóm bào tử trùng (Apicomplexans)

4.1 Nhóm trùng roi (Flagellates)

Nhóm này có một thể cấu tạo giống chiếc roi ngựa gọi là roi Trùng roi dùng roi để di chuyển trong các dịch thể Vì vậy trùng roi luôn thấy ở ngoài tế bào, cơ thể trùng roi có hình chiếc lá rất thích hợp cho việc bơi trong các dịch thể như huyết tương Ví dụ Trichonomas foetus và Trypanosoma evansi

Tiên mao trùng (Trypanosomes) là trùng roi do ruồi truyền rất quan trọng đối với tất cả gia súc, trong gia súc tiên mao trùng nhân lên trong huyết tương và đôi khi trong dịch các tổ chức khác như não, mắt Bệnh trùng roi âm đạo là bệnh nhiễm trùng qua giao phối ở bò do Trichomonas foetus Trichomonas foetus tìm thấy trong dịch đường sinh dục

4.2 Nhóm bào từ trùng (Apicomplexans)

Đây là các sinh vật sống trong tế bào hoàn chỉnh nhất, có vòng đời phức tạp với cả hình thức sinh sản hữu tính và vô tính Một số bào tử trùng xâm nhập và nhân lên trong tế bào ruột

động vật, phá huỷ tế bào và sinh ra bào tử cảm nhiễm (oocysts) được thải qua phân vào môi trường, trong môi trường các bào tử cảm nhiễm bị các động vật cảm nhiễm khác ăn phải Ví

dụ các đơn bào gây bệnh cầu trùng (coccidiosis) và đơn bào Cryptosporidium spp (Cryptosporidiosis), cả hai là bệnh đường ruột của gia súc non

Một nhóm bào từ trùng gây bệnh rất quan trọng là Theileria và Babesia không phát triển thành bào tử cảm nhiễm mà có vòng đời phức tạp và do ve truyền cho gia súc (xem Chương 2) Sau khi ve nhiễm đơn bào đốt gia súc, đơn bào xâm nhập vào tế bào máu của gia súc, lúc đó gia súc trở thành cam nhiễm đối với ve Trong bất cứ con ve nào đã hút máu gia súc cảm nhiễm này, các đơn bào sẽ phát triển thành thể gây nhiễm và hoàn thành vòng đời ở tuyến nước bọt Hiểu rằng đơn bào chỉ phát triển thành thể gây nhiễm trong ve là rất quan trọng Có thể cắt

đứt vòng đời của Theleria và Babesia bằng cách ngăn ngừa ve bám và hút máu gia súc Vì vậy phòng chống ve là rất quan trọng trong phòng bệnh do Theileria và Babesia

Trang 7

Bảng 3.1 Một số vi sinh vật gây bệnh cho gia súc.

(nanomet)

Viêm màng phổi - phổi

truyền nhiễm ở bò

Sẩy thai truyền nhiễm ở cừu Chlamydia 275

Viêm vú do tụ cầu khuẩn Tụ cầu khuẩn 1000

(chiều dài)

(chiều dài)

5 Vi sinh vật nhỏ như thế nào?

Như đã đề cập ở trên, vi sinh vật nhỏ đến nỗi chỉ có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi Ngược lại, động vật chân đất và giun sán, như trình bày ở Chương 2, có thể nhìn thấy được bằng mắt thường, mặc dù ghẻ ký sinh ở da gần như ngoài tầm nhìn mắt thường và thường cần kính hiển

vi để phát hiện

Vậy các vi sinh vật nhỏ như thế nào? Ta có thể hình dung như thế này, núi to hơn ngôi nhà bao nhiêu thì vi sinh vật nhỏ hơn ngôi nhà bấy nhiêu Theo thông lệ vi sinh vật đo bằng micromet, gọi tắt là micron, hoặc nanomet Một micron bằng một phần triệu mét, một nanomet bằng một nghìn micron Bảng 3.1 liệt kê một số vi sinh vật

Các thể nhỏ cỡ 200 nanomet có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi thông thường, như Bảng 3.1 cho thấy kính hiển vi thông thường là đủ để phát hiện mycoplasma, vi khuẩn, ricketsia, chlamydia Tuy nhiên để phát hiện vi-rút, cần có kính hiển vi điện tử Kính hiển vi điện tử có thể phát hiện những thể nhỏ dưới nửa nanomet

Để hình dung ra vi sinh vật, có thể so sánh với những đồ vật hàng ngày Quân bài tú lơ khơ

có diện tích khoảng 50 cm, tức là gấp gần 1,8 triệu triệu lần kích thước một rút nhỏ như vi-rút bệnh Lở mồm long móng Nhân diện tích quân bài với 1,8 triệu triệu lần sẽ được khoảng

9000 km2, xấp sỉ diện tích tỉnh Lâm Đồng Tương tự quân bài lớn gấp khoảng 18 tỷ lần

Trang 8

Hình 3.4 So sánh kích thước giữa Babesia, vi-rút LMLM,

quân bài tú lơ khơ, sân bóng đá và tỉnh Lâm Đồng.

Ngày đăng: 04/07/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1 Bệnh Lở mồm long móng.  Vi-rút phá huỷ bề mặt l−ỡi - Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc
Hình 3.1 Bệnh Lở mồm long móng. Vi-rút phá huỷ bề mặt l−ỡi (Trang 2)
Hình 3.2 Bệnh nhiệt thán ở bò: - Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc
Hình 3.2 Bệnh nhiệt thán ở bò: (Trang 4)
Hình 3.3 Viêm ruột cấp tính ở cừu non do nhiễm trùng đ−ờng ruột - Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc
Hình 3.3 Viêm ruột cấp tính ở cừu non do nhiễm trùng đ−ờng ruột (Trang 5)
Bảng 3.1 Một số vi sinh vật gây bệnh cho gia súc. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc
Bảng 3.1 Một số vi sinh vật gây bệnh cho gia súc (Trang 7)
Hình 3.4 So sánh kích th−ớc giữa Babesia, vi-rút LMLM, - Sổ tay bệnh động vật - Chương 3 doc
Hình 3.4 So sánh kích th−ớc giữa Babesia, vi-rút LMLM, (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN