1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc

16 602 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 687,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Động vật chân đốt gồm ruồi, chấy rận, bọ chét, ve và ghẻ, trong số đó nhiều loài ký sinh trên da gia súc.. Sau khi giao phối, con cái trưởng thành đẻ trứng, trứng nở thành ấu

Trang 1

CHƯƠNG 11

ĐộNG VậT CHÂN ĐốT

1 Giới thiệu

Động vật chân đốt gồm ruồi, chấy rận, bọ chét, ve và ghẻ, trong số đó nhiều loài ký sinh trên

da gia súc Nhiều động vật chân đốt chỉ làm gia súc hơi khó chịu, nhưng một số gây kích ứng

và tổn thương da nghiêm trọng, một số loài là vectơ truyền tác nhân gây bệnh Có hai nhóm

động vật chân đốt chủ yếu như sau:

Nhóm côn trùng (ruồi, chấy rận và bọ chét) Côn trùng điển hình có đầu, ngực, bụng và ba đôi chân gắn với ngực Nhiều côn trùng có cánh và có thể bay Vòng đời gồm các giai đoạn khác nhau gọi là biến thái Sau khi giao phối, con cái trưởng thành đẻ trứng, trứng nở thành ấu trùng, ví dụ dòi của ruồi, trong đó có thể có một số giai đoạn trước khi làm kén, cuối cùng từ kén ruồi trưởng thành chui ra Một số loài đẻ con và đẻ ra ấu trùng thay bằng đẻ trứng

Nhóm ve và ghẻ Khác với côn trùng, con trưởng thành có bốn đôi chân Thân chúng gồm phần phía trước có các bộ phận miệng (gnathosoma) và phần thân chính (idiosoma) mang chân Giống như côn trùng, con cái trưởng thành đẻ trứng, trứng nở thành ấu trùng giống như con trưởng thành nhỏ, nhưng chúng chỉ có ba đôi chán ấu trùng lột xác thành nhộng có bốn

đôi chân, đến lượt nhộng lại lột xác thành con trưởng thành Nhóm ve ghẻ không có cánh nên không bay được

Các vùng nhiệt đới thường thuận lợi cho động vật chân đốt nên động vật chân đốt và bệnh do

động vật chân đốt truyền bệnh ở các vùng này quan trọng hơn so với vùng ôn đới Các bệnh quan trọng do động vật chân đốt truyền trình bày trong Chương 12

2 Ruồi

Ruồi sinh sản và hoạt động khi điều kiện phù hợp với chúng ở vùng ôn đới, đó thường là các tháng ấm áp trong năm, ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới là mùa mưa Các yếu tố địa phương như vùng đầm lầy có thể có điều kiện phù hợp cho ruồi sinh sản quanh năm, đặc biệt ở vùng nhiệt đới Các biện pháp khống chế đòi hỏi hiểu biết ở địa phương về mùa hoạt động, nơi sinh sản và cư trú và có thể cần có hưởng dẫn của chuyên ngành côn trùng Có thể phân loại ruồi thành hai nhóm lớn, nhóm ruồi đốt gây khó chịu và nhóm ruồi gây bệnh dòi

Nhóm ruồi đốt và gây khó chịu Một số loài ruồi tấn công gia súc và người để hút máu nên gây ngứa đáng kể và khó chịu Ngoài ra, một số tác nhân gây bệnh quan trọng truyền qua ruồi

đốt Ruồi đốt thấy khắp thế giới và một số loài quan trọng nhất nêu tại Bảng 11.1 và minh hoạ ở Hình 11.1 và 11.2 Các loài khác cũng ít nhiều quan trọng do kích ứng chúng gây ra

Trang 2

1 Ruồi đen (Simulium spp.) dài 1.5 - 5.0 mm

2 Ruồi Culicoides spp dài 1,5 - 5.0 mm

3 Muỗi (Anopheles spp.) dài 2.0 –10.0 mm (H)

4 Ruồi trâu (Tabamus spp.) dài tới 25 mm

5 Mòng (Stomoxys calcitious) dài xấp xỉ 7mm

6 Ruồi Haematobia spp dài tới 4mm

7 Ruồi nhà (Musca domestica), dài xấp xỉ 7mm

8 Ruồi cừu (không có cánh) (Melophagus ovinus) dài 5.0mm

9 Ruồi rừng (Hippobosca spp) dài xấp xỉ 10mm

Hình 11.1 Một số ruồi đốt và gây khó chịu quan trọng trong thú y

Trang 3

H×nh 11.2 Ruåi Hematobia trªn bß

Trang 4

Bảng 11.1 Ruồi hút máu và ruồi gây khó chịu.

Ruồi Vật chủ Vị trí sinh sản Tác động bệnh

Tác nhân truyền bệnh

Ruồi đen

(Simulium

spp)

Gia súc và người, khắp thế giới, trừ một số

đảo

Đá và cây cỏ, nơi nước trong chảy

Đốt đau và mất máu; có thể tấn công thành đàn,

đặc biệt vào buổi sáng và chiều tối

Onchonocerca spp ở gia súc (xem bệnh u giòi)

Ruồi

Culiciodes

spp

Gia súc và người; khắp thế giới

Điều kiện ẩm

ướt, mục nát hoặc cây cỏ ẩm

ướt

Đốt đau, tấn công thành đàn vào ban đêm;

ngứa mạnh ở ngựa; lan xa theo chiều gió

Onchocerca spp ở gia súc (xem bệnh u giòi); nhiều loại vi-rút như bệnh sốt phù

du ở bò, bệnh lưỡi xanh

Muỗi

(Allophels,

Culex và

Aedes spp)

Gia súc và người; khắp thế giới

Nước đọng, không phải là

hồ hay suối chảy nhanh

Hoạt động về

đêm; đốt đau, gây ngứa mạnh

và mất máu

Các virút (viêm não tuỷ Nhật Bản ở ngựa; sốt phù du ở bò), giun chỉ Dirofilaria immitis kí sinh trong

hệ tuần hoàn ở chó Ruồi trâu

(Tabanids)

Đại gia súc và người, khắp thế giới

Khu vực bùn lầy hay ngập nước, cây cỏ thối rữa

Ruồi to; đất sâu,

đau, có thể bay

xa vài km từ nơi sinh sản, một số

ít ruồi gây rất khó chịu cho gia súc

Anaplasma marginal, Trypanosoma evanci, vi-rút gây thiếu máu truyền nhiễm ở ngựa

Mòng

Stomoxys

calcitrans

Gia súc và người Cây cỏ mục

nát phân gia súc

Đốt đau, có thể gây khó chịu cho gia súc gần nhà

Giống như ruồi trâu

và cả Habronema và Draschia ở ngựa (xem phần bệnh lở loét mùa hè)

Ruồi

Haematobia

spp

Bò và trâu, ở khắp nơi trên thế giới

Phần tươi của vật chủ

Số lượng lớn hút máu trên thân con vật và đậu ở sừng gây ngứa

và mất máu

Stephanorlaria spp ở

bò và trâu (xem phần bệnh loét ở vai)

Ruồi nhà,

ruồi mặt,

ruồi bụi cây

(Musca Spp)

Các chất và dịch bài tiết, vết thương., của mọi động vật, khắp thế giới

Chất hữu cơ Gây khó chịu Có khả năng là

Stephanorlaria spp ở

bò và trâu; Habronema và Draschia ở ngựa: giun mắt

Trang 5

Ruồi rừng

(Hippobosca)

Chủ yếu ở ngựa

và bò; ở khắp nơi trên thế giới

Đất khô Tập trung quanh

thân sau; chọc thủng da hút máu; gây kích ứng

Bọ cừu

(Melophagus

Ovinus ở

cừu)

ở khắp nơi; chủ yếu ở vùng ôn

đới

Đất khô Không có cánh,

số lượng nhiều gây ngứa, mất máu và hỏng lông cừu

Nhóm ruồi gây bệnh dòi Nhóm ruồi quan trọng này đẻ trứng trên gia súc, trứng nở thành ấu trùng hay dòi, xuyên qua da, vết thương hở hay các lỗ tự nhiên Sự xâm nhập của dòi ruồi vào

tổ chức gọi là bệnh dòi và gây tổn thương tổ chức đáng kể Một số loài quan trọng hơn cả

được nêu ở Bảng 11.2 và minh hoạ ở Hình 11.3

Bệnh dòi nhặng (Blowfly myiasis) Nhặng là loại ruồi to, mầu xanh cô ban hay xanh lục Chúng đẻ trứng trên chỗ lông cừu bám đất và phân hay nước tiểu, thường ở quanh thân sau

ấu trùng nở ra bò xuống da, xuyên qua dá bằng các móc ở miệng và những tổn thương do ấu trùng có thể rất đau đớn và làm suy yếu khiến con vật cực kỳ khổ sở và đôi khi chết Bệnh dòi

do nhặng xanh có thể phức tạp lên do nhiễm khuẩn kế phát và các loài ruồi khác gặp cơ hội (ruồi thứ phát) lần đến vết thương kiếm ăn và đẻ trứng gây ra hiện tượng tiếp tục ấu trùng xâm nhập và phá hoại tổ chức Vết thương hở, tổn thương do ve hay vết cắt cũng thu hút nhặng xanh và các loài ruồi kế phát Những vết thương, tổn thương và vết cắt này là yếu tố tiền đề dẫn đến bệnh dòi vết thương

ấu trùng sinh sống trong vết thương tới 10 ngày, lột xác hai lần trước khi hình thành dòi trưởng thành hoàn toàn rơi xuống đất hoá nhộng trong vài ngày nưa trước khi ruồi trưởng thành chui ra Tuy nhiên, làn sóng đẻ trưng liên tục của nhặng xanh và ruồi kế phát làm ồ dòi kéo dài hơn 10 ngày

Bệnh dòi xoắn (Screw-worm myiasis) Chủ yếu đây là bệnh của bò nhưng những động vật có

vú khác và người cũng có thể mắc Ruồi cái trưởng thành đẻ trứng ở rìa vết thương trên da và trứng nở thành ấu trùng hình xoắn ốc chiu vào phần thịt lộ ra của vết thương gây những tổn thương rộng mùi thối Một ruồi cái có thể đẻ tới 300 trứng vào rìa một vết thương và nhiễm nặng có thể gây chết

Ruồi dòi ở bò (Cattle warble flies) Loài ruồi này có lông, ký sinh ở bò nhà, bò rừng và đôi khi

ở ngựa Dòi di hành qua các tổ chức và cuối cùng chui ra ngoài qua, những lỗ đục thủng trên

da và là nguyên nhân nghiêm trọng của các tổn thương kín Loài ruồi này thấy chủ yếu ở vùng ôn đới bắc bán cầu

Ruồi dòi mũi cừu (Sheep nasal bot fly) Ruồi cái trưởng thành gây bệnh cho cừu, rất ít khi cho

dê, bằng cách bơm dịch có chứa ấu trùng vào lỗ mũi chúng Sau đó ấu trùng di hành vào các xoang của vật chủ, tại đó chúng hoàn thành quá trình phát triển ở nhiều nơi trên thế giới, chúng là nguyên nhân phổ biến gây hắt hơi và chảy nước mũi, nhiễm nặng có thể gây chậm lớn Ruồi cái trưởng thành cũng gây rất đau đớn cho cừu và dê khi chúng tấn công và đẻ ấu trùng vào chúng

Trang 6

Bảng 11.2 Những ruồi sinh ra bệnh dòi.

Nhặng (Blownflies)

Lucilia spp

Calliphora spp

Phormia spp

Chủ yếu ở cừu, khắp nơi trên thế giới

Vết thương ngoài da; lông cừu dính

đất, phân và nước tiểu

Bệnh dòi nhặng

Ruồi dòi xoắn

(Screw-worm flies)

Clorysomyia bezziana

(châu Phi và châu á)

Gia súc và người nhưng chủ yếu ở bò

Vết thương Bệnh dòi xoắn

Ruồi dòi (Warble

flies)

Hypoderma bovis

Hypoderma lineatum

Bò, bò rừng và đôi khi cả ngựa Phân

bố ở Bắc bán cầu

kể cả Bắc Mỹ H

bovis có ở vùng khí hậu ôn đới và H

lineatum ở vùng khí hậu ấm áp hơn

Đẻ trứng trên lông vật chủ

Tổn thương da

Ruồi mũi cừu

(Sheep nasal flies)

Cestrus ovis

Cừu và dê khắp nơi trên thế giới

Đẻ dòi vào trong

lỗ mũi

Nguyên nhân phổ biến gây hắt hơi và chảy nước mũi; nhiễm nặng gây còi cọc, bị stress do giòi cái trưởng thành tấn công

Hình 11.3 Ruồi gây bệnh dòi.

1 Nhặng Calliphora spp

2 Ruồi dòi xoắn (Cochliomyia spp.)

3 Ruồi mũi cừu (Oestrus ovis)

Trang 7

Điều trị bệnh dòi Khi bất cứ ổ dòi nào trở thành bệnh thì biện pháp chống ruồi phải là mục tiêu chính (xem phần sau) Những con ốm nặng cần điều trị Sau đây là những hướng dẫn Phải cắt lông xung quanh tổn thương của ổ dòi nhặng và dòi xoắn, rửa sạch, lấy dòi ra nếu có thể được, điều trị vết thương bằng kem hay thuốc bột diệt côn trùng Dòi nằm sâu trong tổ chức khó lấy ra thì phải nhét kem diệt côn trùng vào trong vết thương và lấy dòi đi khi chúng

bò ra Tuỳ theo mức độ nặng nhẹ, có thể cần điều trị kháng sinh chống nhiễm khuẩn kế phát vào vết thương

Bò bị dòi có thể điều trị bằng thuốc diệt côn trùng toàn thân (ví dụ Ivermectin) để diệt ấu trùng trước khi chúng xuyên lên da Có thể chữa như trên vào bất cứ lúc nào trừ giữa tháng 12

và tháng 3, ấu trùng lúc này có thể đang di hành qua thực quản hay rãnh tuỷ, diệt dòi vào giai

đoạn này có thể gây phức tạp

Dòi ở mũi cừu thường chỉ làm khó chịu nên thường không chỉ định điều trị Tuy nhiên, nhiễm nặng có thể gây nên hắt hơi quá nhiều, chảy nước mũi và gầy yếu, trong trường hợp đó điều trị bằng rafoxamide, closantel, nitro xynil hay ivermectin rất có hiệu quả

Khống chế ruồi Hiện có nhiều phương pháp, tất cả chia làm ba loại: biện pháp khống chế sinh sản của ruồi; biện pháp ngăn không cho ruồi tấn công gia súc và biện pháp chống ruồi cư trú trên gia súc

Biện pháp khống chế sinh sản của ruồi Một sốloài ruồi (như ruồi nhà, mòng, ruồi trâu ) để trứng trong chất hữu cơ như phân, chất độn chuồng, thức ăn hỏng Có thể giảm đáng kể điều này bàng vệ sinh tốt trong và xung quanh chuồng trại gia súc Nên ủ phân, chất độn chuồng vì nhiệt độ khi ủ diệt được nhiều ấu trùng ruồi; phun thuốc diệt côn trùng vào phân ủ cũng có lợi Các xác chết là nơi sinh sản lý tưởng của nhặng xanh nên phải thu dọn đi đem chôn hay

đốt

Ruồi đen, muỗi và ruồi trâu đẻ trứng ở khu vực ẩm ướt hay có nước, có thể xử lý những nơi này bằng cách dùng thuốc diệt côn trùng, tháo cạn nước hay các biện pháp sinh học, biện pháp này đòi hỏi kiến thức chuyên ngành côn trùng học và có thể không có tính khả thi hoặc không thuyết minh được về mặt chi phí, tính thực tiễn

Lông bám đất hay vết thương ngoài da thu hút nhặng xanh Cần áp dụng các biện pháp khống chếbệnh giun sán, nguyên nhân phổ biến gây ỉa chảy để làm giảm nguy cơ này Các vết thương ngoài da, vết loét phải được xử lý ngay

Biện pháp ngăn ngừa ruồi tấn công gia súc Hiện có nhiều phương pháp có thể thực hiện, một

số phương pháp mô tả tóm tắt như sau:

Tắm, ngâm hay phun bằng những dụng cụ khác nhau thuốc diệt côn trùng lên da và lông gia súc

Kẹp tai, vòng cổ, vòng đuôi, đổtrên lưng (pour ons), rắc từng đám (spot ons) Thuốc diệt côn trùng, chủ yếu là các chếphẩm pyrethroid tổng hợp được tẩm vào kẹp hay vòng chất dẻo, từ

đó khuyếch tán chậm và loang ra trên da chống lại tấn công của ruồi tới vài tháng Các chế phẩm hiện đại tuới trên lưng và rắc trên cơ thể gia súc cũng đem lại kết quả tương tự

Mành che ruồi Nếu cần thiết, có thể nhốt gia súc trong khu vực có mành che cửa sổ và cửa ra vào để ngăn không cho ruồi bay vào Mành mắt nhỏ chống ruồi Culicoides có thể hạn chế luồng không khí qua, trong trường hợp có thể dùng mành mắt to tẩm thuốc diệt côn trùng

Tự xoa thuốc Túi đựng thuốc diệt côn trùng dạng bột mịn hay dạng dầu treo ở một vị trí thuận tiện để gia súc có thể cọ xát vào để ngăn ngừa hay giảm bớt ruồi tấn công

Biện pháp chống ruồi cư trú trên gia súc Biện pháp chống ruồi cư trú gồm phun thuốc, bẫy

điện tử và bả tẩm thuốc diệt côn trùng sử dụng tại chuồng trại hay cơ sở chăn nuôi

Trang 8

Nhận xét Trình bày đầy đủ về phòng chống ruồi đốt và gây khó chịu, ruồi gây bệnh dòi và ruồi là vectơ truyền bệnh là vượt quá phạm vi của quyển sách này Các hoá chất chống ruồi (thuốc diệt côn trùng) được tóm tắt ở Bảng 11.3

Bảng 11.3 Các hoá chất chống động vật chân đốt (thuốc diệt côn trùng và ve ghẻ)

Hoá chất Cách dùng và nhận xét

Arsenic Thuốc diệt ve ghẻ đầu tiên; đã dùng trong bồn ngâm vì dung dịch

AsO3 tan trong nước, nay hầu hết các nước không dùng nữa do độc và kháng thuốc

Các hợp chất cac-bua

có Clo

Nói chung bền vững, có tác dụng kéo dài tốt, mặc dù nhiều quần thể

ve đã kháng thuốc, nhiều nước không dùng nữa vì thuốc tồn tại lâu trung môi trường và tồn dư trong thịt và sữa

Benzene hexachloride

(Lindane)

Đã dùng nhiều chếphẩm khác nhau chống lại tất cả ký sinh trùng ngoài da

Toxapene Đã dùng ngâm tắm để diệt ve và ghẻ

Dieldrin Đã dùng phun trên đất nơi ruồi tsetse cư trú nhưng tồn tại lâu trong

môi trường

DDT Đã sử dụng rộng rãi nhưng phần lớn đã ngừng vì tồn tại lâu trong

môi trường

Các hợp chất hữu cơ Việc côn trùng kháng lại các hợp chất cac-bua có Clo đã kích thích

sự phát triểnloại thuốc này, hiện có nhiều loại, hiện nay đã ghi nhận

là ve kháng thuốc; đã dùng cho ngâm, phun, tưới trên lưng, bột mịn diệt tất cả các loài động vật chân đất, thuốc không tồn tại lâu dài trong môi trường, độc tính rất khác nhau

Pyrethroids tổng hợp Hoạt chất Pyrethrin trong cây họ cúc trong thiên nhiên đã dùng làm

thuốc diệt côn trùng trong nhiều năm, toàn cho gia súc và rất có tác dụng; nhược điềm của thuốc là không bền khi gặp ánh sáng; hiện đã

có Pyrethroids tổng hợp bền trước ánh sáng được dùng rộng rãi, chúng ít độc với loài có vú, không tồn tại lâu trong môi trường có tác dụng kéo dài đủ để “đánh gục và tiêu diệt tốt” đối với động vật chân

đốt ngoài da

Permethrin Dùng để phun, kẹp tai để diệt ve, chấy chấy rận, ghẻ, ruồi hút máu;

cũng dùng để diệt ruồi trong nhà

Cypermethrin Dùng để ngâm diệt ve, chấy rận chấy và ghẻ

Deltamethrin Dùng rộng rãi để diệt tất cả các loại động vật chân đất còn dùng để

phun bằng máy bay đề diệt ruồi tsetse

Flumethrin Dùng để ngâm và tưới trên lưng để diệt ve và ruồi

Amitraz Hợp chất triazepentadiene dùng để ngâm diệt ve, ghẻ lợn, chấy rận

bò và lợn

Trang 9

3 Côn trùng (chấy rận và bọ chét)

Chấy rận Chấy rận là côn trùng không có cánh, dẹt theo chiều trên-dưới, sống trên da vật chủ Chúng nhỏ hơn ruồi nhiều, dài từ 1,5 tới 5mm nhưng có thể nhìn thấy bằng mắt thường và dễ dàng phát hiện khi vạch lông ra sẽ thấy chúng bò quanh trên da Trứng của chúng giống như những hạt bột thô bám vào lông Có hai loại chấy rận, loại hút máu và loại ăn lông Chấy rận hút máu bằng chọc vòi qua da Loại chấy rận ăn lông sống tách khỏi vẩy da và trên mặt ngoài lông mao hay lông vũ Chấy rận hút máu chỉ có ở loài có vú, còn chấy rận ăn lông có ở cả loàl có vú và gia cầm

Không giống ruồi, chấy rận hoàn toàn ký sinh và chỉ sống sót được 1 ngày nếu rời khỏi vật chủ Chúng có tính chuyên biệt rất cao về vật chủ và truyền từ vật chủ này sang vật chủ khác qua tiếp xúc cơ thể Chấy rận trưởng thành sống khoảng một tháng và con cái đẻ tới ba trăm trứng dính vào lông gia súc gia cầm Nhộng nở từ trứng giống như chấy rận con và phát triển thành chấy rận trưởng thành trong khoảng 3 tuần sau 3 lần lột xác Chấy rận thấy ở mọi nơi trên thế giới và một số nêu ở hình 11.4

Rận mũi ngắn

(Haematopinus spp), rận hút

máu dài tới 5mm màu vàng

hay nâu xám

Vật chủ: bò, ngựa

Rận mũi dài (Linognathus spp.) rận hút máu dài khoảng 2mm màu

đen hơi xanh Vật chủ: bò, cừu: dê, chó

Rận đốt (Damalinia spp.) rận cắn dài khoảng 2mm màu nâu hơi đỏ Vật chủ: bò, cừu, dê, ngựa

Hình 11.4 Rận ở gia súc.

Các loài chấy rận khác nhau thích những vị trí khác nhau trên cơ thể vật chủ và nếu số lượng

ít, vật chủ thường chịu đựng được, không để ý Tuy nhiên, nếu bị nặng, chấy rận có thể lan ra toàn thân vật chủ, gây ngứa và khó chịu đáng kể Con vật liên tục cọ sát và liếm lông nó, làm hại da và lông Trường hợp quá nhiều chấy rận hút máu còn có thể thiếu máu và gây yếu do mất máu

Trang 10

ở vùng khí hậu ôn đới, bệnh chấy chấy rận (Pediculosis) thường là bệnh về mùa đông do tiếp xúc gần của gia súc nhốt với bộ lông mùa đông dầy mà chấy rận rất thích Bệnh chấy chấy rận thường kế phát sau những bệnh nặng hơn như gia súc ốm, nuôi dưỡng kém nên ngùng tự chải lông, việc tự chải lông là để giữ chấy rận ở mức tối thiểu Nơi có khí hậu ấm áp, bệnh chấy chấy rận không có tính mùa vụ Trong chăn nuôi quảng canh ít gặp phải bệnh này, bệnh thường liên quan tới gia súc ốm yếu nhot trong điều kiện chật chội

Diệt chấy rận có thể dùng nhiều loại thuốc diệt côn trùng như bột min, thuốc tuới trên lưng, thuốc rắc, thuốc tắm hay thuốc ngâm Mặc dù điều trị là trực tiếp diệt chấy rận nhưng nhất thiết phải tìm hiếu xem gia súc “có chấy rận” có đang măc bệnh nào khác không

Bọ chét Bọ chét là loài côn trùng nhỏ, màu nâu đen, không có cánh và dẹt theo chiều hai bên Không giống chấy rận, phần lớn vòng đời của bọ chét là ở ngoài vật chủ và hầu hết các loài

bọ chét chỉ tấn công vật chủ để hút máu, khi đó chúng gây ngứa trên da Bọ chét tấn công mèo, chó, gia cầm và người, vì vậy có tầm quan trọng nhất định về thú y và y tế, nhất là một

số loài bọ chét truyền bệnh như bệnh sán dây ở chó, bệnh dịch hạch ở người Loài nhai lại nhốt trong chuồng cũng có thể bị ký sinh (bọ chét gây thiếu máu nặng ở dê) nhưng bọ chét có khuynh hướng không ký sinh ở bò và ngựa trưởng thành Lợn ở nhiều nước nhiệt đới thường

bị bọ chét cát tấn công chúng chui vào dưới da; chúng còn tấn công vào bàn chân người

4 Ve

Ve là một nhóm ký sinh trùng ngoài da rất quan trọng Ve là vec-tơ của các bệnh chính và có thể gây tổn thương da đối với gia súc Thân của ve gồm phần trước có bộ phận miệng và phần thân chính đỡ những đôi chân, ba đôi chân ở ấu trùng và bốn đôi chân ở nhộng và ve trưởng thành Ve sử dụng phần miệng để bám vào da và hút máu Có hai loại ve là ve cứng và ve mềm

Ve cứng Ve cứng có hình bầu dục với phần miệng nhô ra phía trước Ve cứng dẹt theo chiều trên-dưới và trên mặt lưng của cơ thể có một áo giáp bảo vệ cứng gọi là mai Cái khiên phủ toàn bộ mặt lưng của ve đực nhưng chỉ phủ khoảng 1/3 bề mặt lưng của ấu trùng, nhộng và ve cái trưởng thành, điều này cho phép phần thân chính của ve giãn rộng ra khi hút máu

Hình 11.5 mô tả sơ đồ vòng đời của tất cả các loài ve cứng Mỗi giai đoạn, ve chỉ hút máu một lần khách nhau khoảng một tuần và tuỳ thuộc vào các loài ve, máu có thể hút từ một, hai hay ba vật chủ

Ve một vật chủ Sau khi ấu trùng bám vào vật chủ, ve hút máu và lột xác qua ba giai đoạn, ấu trùng - nhộng - ve trưởng thành, trên cùng một vật chủ Ve cái trưởng thành hút no máu rồi rời khỏi cơ thể, đẻ trứng trên đất khoảng 2-3 tuần kể từ khi ấu trùng bám vào vật chủ

Ve hai vật chủ ấu trùng và nhộng hút máu một vật chủ và ve trưởng thành hút máu một vật chủ khác Ve trưởng thành ở trên vật chủ khoảng 5 - 9 ngày trước khi ve cái no máu rời khỏi vật chủ

Ve ba vật chủ Mỗi giai đoạn hút máu trên một vật chủ khác nhau và ve trưởng thành ở trên vật chủ khoảng thời gian như ve hai vật chủ

Vòng đời của ve 1, 2 và 3 vật chủ được tóm tắt bằng sơ đồ ở Hình 11.7 Ve cứng chỉ sống một thời gian ngắn trên vật chủ, từ vài ngày tới ba tuần là cùng và phần lớn thời gian chúng sống ở trong cỏ, trên đồng cỏ hay trong vết nứt của chuồng trại chờ dịp bám vào vật chủ thích hợp khi đi qua Để bám vào vật chủ thích hợp, mỗi giai đoạn của ve phải có khả năng sống sót một thời gian dài ngoài vật chủ giữa những lần hút máu Hầu hết các giai đoạn chưa trưởng thành có thể sống sót tới khoảng 6 tháng, giai đoạn ve trưởng thành có thể sống sót tới

Ngày đăng: 04/07/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 11.1 Một số ruồi đốt và gây khó chịu quan trọng trong thú y - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.1 Một số ruồi đốt và gây khó chịu quan trọng trong thú y (Trang 2)
Hình 11.2  Ruồi Hematobia trên bò - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.2 Ruồi Hematobia trên bò (Trang 3)
Bảng 11.1 Ruồi hút máu và ruồi gây khó chịu. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Bảng 11.1 Ruồi hút máu và ruồi gây khó chịu (Trang 4)
Bảng 11.2 Những ruồi sinh ra bệnh dòi. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Bảng 11.2 Những ruồi sinh ra bệnh dòi (Trang 6)
Hình 11.3 Ruồi gây bệnh dòi. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.3 Ruồi gây bệnh dòi (Trang 6)
Bảng 11.3 Các hoá chất chống động vật chân đốt (thuốc diệt côn trùng và ve ghẻ) - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Bảng 11.3 Các hoá chất chống động vật chân đốt (thuốc diệt côn trùng và ve ghẻ) (Trang 8)
Hình 11.4 Rận ở gia súc. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.4 Rận ở gia súc (Trang 9)
Hình 11.5 Sơ đồ vòng đời ve cứng. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.5 Sơ đồ vòng đời ve cứng (Trang 11)
Hình 11.6 Vòng đời của ve cứng 1, 2 hay 3 vật chủ. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.6 Vòng đời của ve cứng 1, 2 hay 3 vật chủ (Trang 12)
Bảng 11.7 Một số ve cứng quan trọng của gia súc ở vùng nhiệt đới - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Bảng 11.7 Một số ve cứng quan trọng của gia súc ở vùng nhiệt đới (Trang 13)
Hình 11.8 Argas persicus -một loài ve mềm tấn công gà - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.8 Argas persicus -một loài ve mềm tấn công gà (Trang 14)
Hình 11.9 Bệnh ghẻ ở bò: vết bệnh ghẻ ngoài da. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.9 Bệnh ghẻ ở bò: vết bệnh ghẻ ngoài da (Trang 15)
Hình 11.10 Một số ghẻ trên gia súc. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 11 doc
Hình 11.10 Một số ghẻ trên gia súc (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN