1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx

10 410 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 624,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một điều không đúng vì như mọi người đều biết, trong thực tế nhiều gia súc ốm không phải do bệnh truyền nhiễm hay ký sinh trùng mà do một số sai sót khác.. Nói một cách chặt chẽ,

Trang 1

CHƯƠNG 1 PHÂN LOạI BệNH

Sách về bệnh của gia súc thường có xu hướng tập trung vào các bệnh ký sinh trùng và truyền nhiễm Đây là một điều không đúng vì như mọi người đều biết, trong thực tế nhiều gia súc

ốm không phải do bệnh truyền nhiễm hay ký sinh trùng mà do một số sai sót khác

Vậy bệnh là gì ?

Bệnh là bất cứ quá trình nào cản trở chức năng bình thường của con vật Nói một cách chặt chẽ, một con vật gẫy chân là mắc bệnh vì nó không thể đi lại bình thường được, nhưng trong thực tế khi nói đến bệnh, ta thường có khuynh hướng không kể đến các trường hợp do tai nạn

Có những loại bệnh khác nhau Biết được những loại bệnh khác nhau đó để hiểu được các nét riêng của từng bệnh là rất cần thiết Có thể phân loại bệnh theo một số cách Chương này khái quát những nguyên lý chung của các loại bệnh khác nhau, như bệnh nhiễm trùng, bệnh truyền nhiễm, bệnh do côn trùng, bệnh truyền qua đường giao phối, bệnh nhiễm trùng bẩm sinh, bệnh giun sán và các bệnh liên quan tới các yếu tố môi trường và chăn nuôi

1 Bệnh nhiễm trùng và bệnh truyền nhiễm

Những thuật ngữ này thường dùng tuỳ tiện để chỉ cùng một loại bệnh mặc dù chúng có ý nghĩa khác nhau Bệnh nhiễm trùng là bệnh mà động vật bị nhiễm vi sinh vật ngoại lai như vi-rút, vi khuẩn hay nguyên sinh động vật từ một động vật bị bệnh khác Một số bệnh nhiễm trùng lây lan từ con này sang con khác qua các tác nhân trung gian, ví dụ bệnh Babesia của bò chỉ có thể bị lây từ con bò này sang con bò khác qua ve Một số bệnh nhiễm trùng khác có thể lây giữa các con vật không cần bất kỳ tác nhân trung gian nào Đó là bệnh truyễn nhiễm,

ví dụ bệnh Dịch tả trâu bò lây lan trực tiếp khi con vật khoẻ mạnh tiếp xúc với con vật mắc bệnh Bệnh truyền nhiễm có thể lây trực tiếp như bệnh Dịch tả trâu bò đã nêu ở trên hay gián tiếp khi vi sinh vật gây bệnh tồn tại ở ngoại cảnh và nhiễm lại con vật khác Ví dụ nha bào của nấm gây nên bệnh nấm da (Ringworm) có thể tồn tại ở môi trường và trở thành nguồn bệnh đối với các động vật mẫn cảm khác

Vi sinh vật gây bệnh có thể truyền từ con vật nhiễm bệnh sang con chưa bị nhiễm theo nhiều con đường khác nhau Nắm được các con đường truyền lây là điều kiện tiên quyết để xây dựng biện pháp phòng ngừa Những đường truyền lây chủ yếu như sau:

1.1 Đường tiêu hoá

Trong một số bệnh, con vật bị bệnh bài xuất các sinh vật gây bệnh vào môi trường Các động vật cảm nhiễm có thể trở thành bị nhiễm bệnh do ăn phải thức ăn và nước uống ô nhiễm các chất bài xuất đó Đây là một đường truyền lây quan trọng cho nhiều sinh vật gây nhiễm, rõ ràng là sinh vật sống sót càng lâu trong môi trường thì cơ hội động vật mẫn cảm bị nhiễm bệnh qua con đường này càng lớn

Trang 2

trong nước bọt, sữa, phân, tinh dịch, nước tiểu và hơi thở vào môi trường nơi các vi-rút này có thể sống sót tới vài tháng (Hình 1.1 và 1.2)

Hình 1.1 Nước bọt bò mắc bệnh LMLM chứa một lượng lớn vi-rút cảm nhiễm.

Hình 1.2 Động vật uống chung nước là một cách mắc bệnh do uống phải nước đã nhiễm mầm bệnh từ con ốm có triệu chứng lâm sàng như trong hình 1.1.

Trang 3

1.2 Hít thở

Gia súc có thể nhiễm bệnh do hít phải sinh vật gây bệnh do con vật mắc bệnh bài xuất vào không khí

Ví dụ: Bệnh Lở mồm long móng Do khả năng của vi-rút LMLM sống sót trong môi trường một thời gian dài, nên vi-rút có thể được gió chuyển đi rất xa và động vật mẫn cảm cách xa nhiều cây số có thể bị mắc bệnh do hít phải không khí ô nhiễm

1.3 Nhiễm bệnh qua da

Một số vi sinh vật có thể gây nhiễm cho động vật qua da, thường do các vết cắn hay trầy sướt

bị nhiễm bẩn

Ví dụ: Bệnh uốn ván Uốn ván là bệnh của tất cả động vật do nhiễm bẩn đất cát hay chất hữu cơ vào các vết cắt và vết thương ngoài da

1.4 Lây truyền cơ giới

Lây truyền cơ giới là lây truyền qua bất cứ một đồ vật gì có thể mang sinh vật gây nhiễm, ví

dụ chất độn chuồng, xe cộ, dụng cụ chăn nuôi

Ví dụ: Bệnh đậu dê, cừu Vi-rút đậu gây nên bệnh nặng ở ngoài da có thể tồn tại nhiều tháng

ở môi trường Dê, cừu có thể trở nên nhiễm bệnh do cọ xát với các đồ vật đã nhiễm vi-rút như chuồng trại

2 Bệnh nhiễm trùng do giao phối và bệnh nhiễm trùng bẩm sinh

Bệnh nhiễm trùng qua giao phối lây lan thông qua giao phối Trong phần lớn các bệnh nhiễm trùng qua giao phối, sinh vật gây bệnh có thể truyền từ con đực nhiễm bệnh sang con cái mẫn cảm hay ngược lại bệnh nhiễm trùng bẩm sinh được truyền từ con mẹ sang con con trong thời gian mang thai

Ví dụ: Bệnh Dịch tả lợn Vi-rút dịch tả lợn trong lợn nái có chửa có thể qua nhau thai và gây nhiễm bào thai, làm sẩy thai hay đẻ ra thai dị dạng và run rẩy Con đường truyền này đôi khi gọi là truyền dọc

3 Động vật chân đốt

Trong tự nhiên có hàng ngàn các loài động vật chân đốt khác nhau bao gồm các loài ruồi, ve, rận, bọ chét, ghẻ và rệp Nhiều loài ký sinh trên da gia súc, một số chỉ làm hơi khó chịu nhưng một số có thể gây kích thích và tổn thương da nghiêm trọng Một nhóm động vật chân

đốt quan trọng gồm những loài ruồi đẻ trứng ở trên gia súc (Hình l.3) Khi nở thành ấu trùng, còn gọi là dòi, có thể chui vào da, vào vết thương và các lỗ tự nhiên Kết quả là tạo thành các

ổ dòi và làm cho con vật rất đau đớn khó chịu (Hình l.4)

Trang 4

Bằng mắt thường có thể thấy phần lớn loài động vật chân đất mặc dù để phát hiện một số loài ghẻ cần có kính hiển vi Chi tiết hơn về loài động vật chân đốt được nêu ở Chương 11

4 Những bệnh truyền qua động vật chân đốt

Nhiều bệnh nhiễm trùng quan trọng lây từ con vật này sang con vật khác bằng loài động vật chân đốt Động vật chân đốt hút máu con vật nhiễm bệnh có thể mang mầm bệnh truyền cho con vật khác ở lần hút máu sau Như vậy động vật chân đốt là những vật truyền bệnh hay vectơ truyền bệnh qua đó bệnh truyền lây từ con vật này sang con vật khác Mầm bệnh có thể nhân lên trong vectơ truyền bệnh, do đó duy trì tính gây nhiễm của vec-tơ truyền bệnh trong một thời gian dài Cũng có khi việc truyền bệnh chỉ mang “tính cơ giới” (xem Chương 2), tức

là côn trùng đơn thuần truyền máu có nhiễm mầm bệnh từ con vật này sang con vật khác Các tác nhân gây bệnh do động vật chân đốt truyền gồm vi-rút, rickettsiae, nguyên trùng và giun sán Ví dụ loài ruồi trâu Tabanids hút máu truyền Trypanosoma evansi gây bệnh Tiên mao trùng

Hình 1.3 Ruồi Chrysomya bezziana (ruồi

hình xoáy ốc) đẻ trứng trong vết thương

gia súc, trứng nở thành ấu trùng (dòi).

Hình 1.4 ổ giòi ở gốc sừng do ruồi

Chrysomya bezziana

5 Nhiễm giun sán

Giun sán (giun tròn, giun đầu gai và sán) là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh và giảm sức sản xuất của gia súc ở các vùng nhiệt đới Tất cả các loài gia súc đều có nguy cơ nhiễm nhiều loài giun sán Các loài giun sán này khác nhau về vật chủ, vòng đời và mức độ nghiêm trọng

Có lẽ giun sán ký sinh ở dạ dầy và ruột là có ý nghĩa nhất nhưng cũng có một số giun sán quan trọng ký sinh ở những bộ phận khác của cơ thể như phổi và gan

Trang 5

6 Những bệnh liên quan tới các yếu tố môi trường và chăn nuôi

Một số bệnh quan trọng ở gia súc là hậu quả của môi trường hay cách nuôi dưỡng chăm sóc của chủ vật nuôi Những bệnh này gồm một số bệnh nhiễm trùng, rối loạn trao đổi chất, suy dinh dưỡng và dinh dưỡng mất cân bằng, do chất độc và nhiều điều kiện khác nữa

6.1 Các bệnh nhiễm trùng

Các yếu tố có liên quan đến môi trường và chăn nuôi có thể mở đường cho một số bệnh nhiễm trùng xảy ra Những yếu tố này gọi là các yếu tố tiền đề và hiểu biết về các yếu tố tiền đề là rất quan trọng khi xây dựng các chương trình khống chế dịch bệnh

Ví dụ: Bệnh viêm vú trong chăn nuôi bò sữa hiện đại Bệnh viêm vú tương đối hiếm xảy ra ở

bò cái cho bê bú sữa tự nhiên (Hình 15) nhưng trong chăn nuôi bò sữa cao sản vắt sữa bằng máy thì vấn đề này rất nghiêm trọng Nếu không thực hiện đúng với các tiêu chuẩn vệ sinh cao thì quá trình vắt sữa bằng máy có thể dẫn tới nhiễm khuẩn đầu vú và viêm vú Nói khác

đi, chăn nụôi bò sữa kém thường là một yếu tố tiền đề của viêm vú

Ví dụ: Nhiễm độc máu do Clostridium Một nhóm bệnh nhiễm trùng rất quan trọng do các yếu tố môi trường hay chăn nuôi mở đường là nhiễm độc máu do Clostridium, gia súc bị ngộ

độc vi khuẩn Clostridium gây nhiễm sản sinh ra Vi khuẩn Clostridium phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, có thể tìm thấy ở trong đất, chất hữu cơ và cư trú tự nhiên trong ruột gia súc Các vi khuẩn này thường là vô hại nhưng khi có một số yếu tố tiền đề nào đó thì chúng

sẽ nhân lên nhanh chóng và sản sinh một lượng lớn độc tố gây ngộ độc gia súc Hai yếu tố tiền đề chủ yếu là dinh dưỡng nâng cao đột ngột hoặc tổ chức bị tổn thương Bệnh uốn ván là một ví dụ cho trường hợp tổ chức bị tổn thương Vi khuẩn Clostridium tetani, khu trú và nhân lên ở những vết cắn và vết thương bị nhiễm trùng, sản sinh ra độc tố làm ảnh hưởng tới hệ thống thần kinh

Hình 1.5 Bò vàng Việt Nam cho bê bú nhiều khả năng

không mắc bệnh viêm vú và sốt sữa

Trang 6

6.2 Rối loạn trao đổi chất

Những rối loạn này thường liên quan tới phương thức chăn nuôi thâm canh và có thể coi như

là “bệnh hiện đại do người gây ra” chủ yếu liên quan tới ngành công nghiệp chăn nuôi ở Mỹ, Tây Âu Tuy nhiên những bệnh này đôi khi được gọi là “bệnh trong sản xuất” có thể xẩy ra bất cứ ở đâu có tiến hành chăn nuôi thâm canh, xuất hiện khi mất cân bằng giữa khẩu phần dinh dưỡng và mức sản xuất

Ví dụ: Bệnh sốt sữa ở bò cái sinh sản khi bắt đầu tiết sữa luôn luôn có giảm đột ngột Canxi trong máu (Hypocalcaemia) và ở bò sữa -cao sản mức giảm canxi có thể quá ngưỡng gây nên bệnh sốt sữa thường gây chết nếu không được điều trị gấp Bệnh sốt sữa rõ ràng là rất ít khi

có ở đàn bò chăn thả quảng canh cho bê bú sữa (Hình 15)

6.3 Dinh dưỡng thiếu và dinh dưỡng mất cân bằng

Gia súc sức khoẻ kém thường do suy dinh dưỡng hoặc dinh dưỡng mất cân bằng Đôi khi suy dinh dưỡng và dinh dưỡng mất cân bằng chỉ gây ra bệnh khi có một số yếu tố khác kèm theo,

ví dụ thiếu photpho trong khẩu phần chỉ gây bệnh cho bò có chửa hay đang cho sữa mà không gây bệnh cho những con bò khác Trong trường hợp này thiếu photpho kết hợp có chửa hay

đang tiết sữa mới gây nên bệnh

Người ta thường cho rằng suy dinh dưỡng là bệnh quan trọng nhất của gia súc vùng nhiệt đới

Điều này rất có thể là đúng song điều quan trọng là nhận thức được rằng, so với con vật được nuôi dưỡng tốt, con vật bị suy dinh dưỡng thường dễ mắc bệnh hơn, mắc nhiều bệnh cùng một lúc hơn Đó là một khó khăn cho chẩn đoán, một con vật thể trạng gày yếu tìm thấy nhiễm một số lượng lớn ký sinh trùng và được điều trị đúng nhưng chỉ đến khi con vật không khỏi như mong muốn người ta mới biết rằng nhiễm ký sinh trùng chỉ là thứ phát, nguyên nhân chủ yếu là suy dinh dưỡng

6.4 Chất độc và độc tố

Bệnh do ngộ độc là một trong số những rắc rối nhất của chẩn đoán vì khó khăn về kỹ thuật phát hiện và xác định chất độc Có hai nhóm lớn chất độc: một là nhóm chất độc có nguồn sinh học, còn gọi là độc tố, ví dụ độc tố của thực vật; vi sinh vật và hai là, nhóm chất độc không có nguồn sinh học, ví dụ các hoá chất Trên thực tế hai từ này, chất độc và độc tố thường được sử dụng tuỳ tiện như là chỉ cùng một thứ Nguồn chất độc và độc tố chủ yếu đối với gia súc là thực vật, một số thức ăn, thức ăn bị nấm mốc và các hoá chất dùng trong nông nghiệp

Thực vật Có hàng trăm loài thực vật trên đồng cỏ độc đối với gia súc May mắn là gia súc thường tránh được nhưng trong một số điều kiện nhất định gia súc có thể ăn phải thực vật độc, như lúc hạn hán, khan hiếm bãi chăn thả Ngộ độc thực vật là một nguyên nhân quan trọng gây ốm và chết ở các nước nhiệt đới Rất tiếc là thường có rất ít tư liệu về các thực vật liên quan tới ngộ độc Chương 14 nêu tóm tắt một số thực vật gây độc quan trọng đã biết Muốn trình bày cặn kẽ cần một cuốn sách riêng

Thuốc trừ sâu và thuốc diệt ve bét Một nguồn tiềm tàng chất độc quan trọng đối với gia súc

là các hoá chất dùng để diệt ký sinh trùng ngoài da như các hoá chất tắm diệt ve Những hoá chất có đầy đủ tư liệu và Chương 11 sẽ mô tả tóm tắt số một hoá chất thường dùng

Trang 7

Ngộ độc thịt Một ngộ độc quan trọng là ngộ độc thịt có thể làm ốm và chết nhiều gia súc vùng nhiệt đới Ngộ độc thịt do gia súc ăn phải thức ăn và nước uống có nhiễm độc tố của vi khuẩn Clostridium botulinum

7 Các yếu tố di truyền

7.1 Bệnh bẩm sinh

Không nên lẫn lộn bệnh bẩm sinh với bệnh nhiễm trùng bẩm sinh Bênh bẩm sinh là bệnh di truyền, là kết quả trực tiếp của các yếu tố di truyền hay kiểu gen của động vật Nói chung, kiểu gen của động vật gồm các cặp gen nằm trong nhiễm sắc thể, trong mỗi cặp có một gen di truyền từ bố, một gen di truyền từ mẹ Trong quá trình tiến hoá phần lớn các cặp gen sản sinh

ra các nhân tố có hại hoặc có liên quan đến bệnh tật đều đã bị loại bỏ trừ những gen bị gen cặp đôi đối diện lấn át Những gen này gọi là gen lặn ảnh hưởng của gen lặn chỉ xuất hiện khi chúng cặp đôi với chính nó Không may mắn là một số cặp gen lặn gây ra khuyết tật về hình thể hoặc trao đổi chất Rõ ràng là cả hai bố mẹ có mang gen liên quan mặc dù bản thân

bố mẹ có thể bình thường May mắn là những rối loạn di truyền có liên quan đến các gen lặn như vậy thường rất hiếm Ví dụ di truyền gen lặn ở một số giống bò và dê cừu có thể gây ra bệnh bướu cổ hay tăng sinh tuyến giáp

Ghi chú: Bệnh bướu cổ còn có một số nguyên nhân khác

Hình 1.6 Bò vàng Việt Nam đề kháng với các bệnh

do ve truyền tốt hơn các giống bò nhập

Trang 8

7.2 Di truyền sức đề kháng với bệnh tật

Quan trọng hơn những rối loạn di truyền về hình thể và trao đổi chất là khả năng di truyền sức

đề kháng đối với bệnh tật của một số giống gia súc tốt hơn những giống khác ở phần lớn vùng nhiệt đới, các giống bò nội có khả năng đề kháng với ve và các bệnh do ve truyền cao hơn các giống bò châu Âu và đặc điểm này đang được khai thác trong các chương trình lai giống bò Ví dụ, bò vàng nội ở Việt Nam không bị Babesia gây bệnh, trong khi các giống bò châu Âu nhập nội thì mắc bệnh (Hình l.6)

8 Một số định nghĩa về bệnh

Người ta thường sử dụng một số thuật ngữ khi mô tả bệnh và sự phát triển của bệnh Dưới

đây là giải thích một số thuật ngữ thông dụng sử dụng trong tài liệu này

8.1 Bệnh cấp tính và bệnh mạn tính

Phần lớn các bệnh đều có một kiểu phát triển của chuỗi các hiện tượng tạo nên bức tranh của bệnh đó Bệnh cấp tính là bệnh có chuỗi các hiện tượng đó phát triển nhanh, còn bệnh mạn tính là bệnh chuỗi đó diễn ra trong một thời gian dài Biết được một bệnh là cấp tính hay mạn tính là rất có lợi vì nó hỗ trợ cho chẩn đoán Bệnh cấp tính diễn ra rất nhanh được gọi là quá cấp tính, diễn ra chậm hơn thì gọi là thứ cấp tính

Ví dụ: Các bệnh Nhiệt thán, Dịch tả trâu bò, Tiên mao trùng

Bệnh Nhiệt thán là một bệnh vi trùng xẩy ra rất nhanh, thường gây chết cho gia súc Bệnh có thể xẩy ra nhanh đến nỗi gia súc chết mà không thấy trước bất cứ triệu chứng nào Thể bệnh Nhiệt thán này gọi là quá cấp tính

Bệnh Dịch tả trâu bò là bệnh truyền nhiễm vi-rút gây chết cao cho gia súc đặc biệt là bò Mặc

dù bệnh này có thể quá cấp tính làm gia súc mắc bệnh chết trong vài ngày từ khi bắt đầu phát

ra triệu chứng, những phần lớn là thể cấp tính, các triệu chứng kéo dài khoảng một tới hai tuần trước khi chết

Ngược lại, bệnh Tiên mao trùng, một bệnh ký sinh trùng đường máu quan trọng của gia súc vùng nhiệt đới, thường là mạn tính làm gia súc ốm hàng tháng, thậm chí hàng năm

8.2 Nhiễm bệnh không có triệu chứng lâm sàng

Khả năng của gia súc để những sinh vật có hại cư trú mà không có bất cứ một triệu chứng bệnh rõ ràng nào là một điều khó hiểu đối với nhiều người Ví dụ khắp nơi trên thế giới, gia súc ăn cỏ chứa giun sán trong dạ dầy và ruột nhưng chỉ trở nên ốm khi nhiễm giun sán đạt tới mức đáng kể Việc nhiễm giun sán không có triệu chứng lâm sàng như vậy là hoàn toàn tự nhiên và không có gì phải lo lắng cả một khi không có những điều kiện làm số giun sán nhiễm tăng tới mức đáng kể

Những ví dụ khác là các bệnh nhiễm trùng đường máu do ve truyền (Biên trùng, Lê dạng trùng, Theileria) Phần lớn vùng nhiệt đới và á nhiệt đới bao gồm cả Việt Nam, các gia súc nội có thể bị nhiễm ký sinh trùng đường máu ngay từ khi còn nhỏ cho đến suốt đời không bị

ảnh hưởng ốm đau gì (xem Hình l.6) Nhận thức được việc nhiễm bệnh không có triệu chứng lâm sàng xảy ra ở nhiều nơi như vậy là rất quan trọng, bởi vì gia súc ngoại nhập thường mẫn

Trang 9

cảm đối với việc nhiễm bệnh này, khi bị các loại ve tấn công như đối với gia súc nội thì gia súc ngoại nhập sẽ mắc bệnh nặng

9 Nhận ra các dạng bệnh

Để nhận ra các dạng bệnh khác nhau cần rất nhiều kỹ năng và đào tạo Một sinh viên thú y phải mất khoảng 5 năm đại học để thu nhận những kỹ năng và kiến thức cần thiết cho việc đó Vì vậy mong muốn cán bộ không qua đào tạo, nông dân và những người không có chuyên môn chẩn đoán được bệnh của gia súc là điều không thực tế, trừ những bệnh phổ biến, đã biết

rõ Tuy nhiên, phần lớn việc chẩn đoán bệnh là dựa vào những cảm nhận thông thường đơn giản Thực tế trong một số trường hợp nhất định, cần để những người không có chuyên môn

cố gắng chẩn đoán nhằm có những xử trí trước mắt trong khi chờ đợi các bác sỹ thú y đến Trong những trường hợp như vậy, đầu tiên phải nhận ra dạng bệnh đang gây ra ổ dịch Có thể

sử dụng những hướng dẫn sau đây:

Bệnh nhiễm trùng và bệnh truyền nhiễm, bệnh do động vật chân đốt truyền, bệnh giun sán

• Nhiều con vật mắc bệnh

• Gia súc ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau đều có thể mắc

• Bệnh do động vật chân đốt truyền và bệnh giun sán thường theo mùa

• Bệnh nhiễm trùng do giao phối

• Chỉ xảy ra ở gia súc giống đã trưởng thành

Bệnh nhiễm trùng bẩm sinh

• ảnh hưởng của bệnh thường rõ rệt ngay khi sinh ra hay ngay sau đó

Bệnh bẩm sinh

• Có khuyết tật về trao đổi chất hay hình thể ngay khi sinh Bệnh thường hiếm

Bệnh liên quan tới các yếu tố môi trường và chăn nuôi

• Thường chỉ xảy ra ở gia súc có liên quan tới một phương thức chăn nuôi hay phương thức sản xuất đặc biệt

Chất độc

• Ngộ độc do tai nạn, ví dụ ngộ độc với các hoá chất dùng trong nông nghiệp, thường xảy ra thành từng vụ việc riêng lẻ

• Ngộ độc thực vật thường xảy ra khi trước đó có thay đổi chăn thả, việc thay đổi này có thể buộc gia súc phải ăn các thực vật độc mà bình thường chúng tránh, ví dụ hạn hán, bãi chăn thả quá đông gia súc …

Trang 10

Ghi chú: Những điểm nêu trên chỉ là hướng dẫn và không được coi là những bước chẩn đoán bệnh được qui định Trong tự nhiên có nhiều ngoại lệ so với các qui luật chung và không có gì khác đối với dịch bệnh vốn là những bất thường của tự nhiên

Ngày đăng: 04/07/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1   N−ớc bọt bò mắc bệnh LMLM chứa một l−ợng lớn vi-rút cảm nhiễm. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình 1.1 N−ớc bọt bò mắc bệnh LMLM chứa một l−ợng lớn vi-rút cảm nhiễm (Trang 2)
Hình 1.2    Động vật uống chung nước là một cách mắc bệnh do uống phải nước đã nhiễm mầm bệnh từ con ốm có triệu chứng lâm sàng nh− trong hình 1.1. - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình 1.2 Động vật uống chung nước là một cách mắc bệnh do uống phải nước đã nhiễm mầm bệnh từ con ốm có triệu chứng lâm sàng nh− trong hình 1.1 (Trang 2)
Hình xoáy ốc) đẻ trứng trong vết thương - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình xo áy ốc) đẻ trứng trong vết thương (Trang 4)
Hình 1.3   Ruồi Chrysomya bezziana (ruồi - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình 1.3 Ruồi Chrysomya bezziana (ruồi (Trang 4)
Hình 1.5 Bò vàng Việt Nam cho bê bú nhiều khả năng - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình 1.5 Bò vàng Việt Nam cho bê bú nhiều khả năng (Trang 5)
Hình 1.6    Bò vàng Việt Nam đề kháng với các bệnh - Sổ tay bệnh động vật - Chương 1 potx
Hình 1.6 Bò vàng Việt Nam đề kháng với các bệnh (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN