Nguồn gốc của nhiều tác nhân gây bệnh và ký sinh trùng là bản thân gia súc, thông thường con vật trưởng thành đã nhiễm các tác nhân này từ trước và phát triển miễn dịch đối với chúng.. Đ
Trang 1CHƯƠNG 7
NGUYÊN TắC CHUNG Về THú Y
Mặc dù thực hiện các thao tác chuyên môn khi đối mặt với bệnh tật xảy ra trong gia súc của mình thường là vượt quá tầm của người chăn nuôi và cán bộ kỹ thuật, nhưng có hàng loạt nguyên tắc và quy trình tiêu chuẩn có thể áp dụng trong phần lớn các tình huống Hai nguyên tắc quan trọng nhất là:
a) Gia súc khoẻ mạnh, được chăm sóc tốt sẽ có nhiều khả năng hơn đương đầu được với bất
cứ tác nhân gây bệnh nào mà chúng gặp
b) Gia súc ốm rất có thể là nguồn bệnh chủ yếu cho gia súc khoẻ mạnh tiếp xúc khi tiếp xúc, vì vậy phải cách ly để giảm cơ hội bệnh lây lan
1 Sức khoẻ do chăn nuôi tốt
Cách tốt nhất đảm bảo sức khoẻ cho gia súc là bảo đảm chúng được chăn nuôi ở mức độ tốt Gia súc khoẻ mạnh được nuôi dưỡng tốt, có nước uống, đủ mái che hay bóng râm, không phải làm việc quá sức hay bị stress, thường đối phó tốt hơn với bất kỳ vấn đề bệnh tật mà chúng mắc Sức sản xuất của gia súc cũng lớn hơn nên đảm bảo cho gia súc có sức khoẻ tối ưu là có
ý nghĩa tốt về mặt kinh tế Một điểm quan trọng của chăn nuôi tốt là những hiểu biết của người chăn nuôi hay người chủ gia súc tích luỹ được về gia súc họ chăm sóc Người chăn nuôi giỏi hiểu gia súc của mình và là người đầu tiên cảm nhận thấy nếu có điều gì sai sót Khi tham khảo ý kiến về bệnh, điều đầu tiên các bác sỹ thú y làm là xây dựng bệnh sử bằng cách hỏi người chăn nuôi Đây là một thông tin cơ bản, một người chăn nuôi kém không thể cung cấp được thông tin này thực tế là cản trở các bác sỹ thú y áp dụng các biện pháp thích hợp Cũng phải nói rằng cũng có những bác sỹ thú y kém không đặt ra được câu hỏi cần thiết
đối với người chăn nuôi Cả người chăn nuôi và bác sỹ thú y đều là chuyên gia trong lĩnh vực của mình và việc trao đổi thông tin giữa người chăn nuôi và cán bộ thú y là yếu tố cơ bản của một nền chăn nuôi thú y tốt (Hình 7.1)
Hình 7.1 Người chăn nuôi và cán bộ thú y là hai “chuyên gia” có thể học hỏi lẫn nhau.
Trang 22 Phòng bệnh
Cũng như chăn nuôi tốt để đảm bảo sức khoẻ tối ưu cho gia súc, người chăn nuôi có thể thực hiện những biện pháp thông thường để phòng hay giảm tối đa cơ hội bệnh phát sinh Nguồn gốc của nhiều tác nhân gây bệnh và ký sinh trùng là bản thân gia súc, thông thường con vật trưởng thành đã nhiễm các tác nhân này từ trước và phát triển miễn dịch đối với chúng
Vì vậy khi con non tiếp xúc với con già hơn hay con trưởng thành là không tránh khỏi tiếp xúc với một loạt tác nhân có khả năng gây bệnh Nếu nhiễm bệnh không thể tránh khỏi thì có thể làm gì để phòng bệnh? Câu trả lời là chắc chắn “có” Dưới đây là khái quát một số trong các bước có thể tiến hành để phòng bệnh
2.1 Chuồng nuôi hoặc lán trại
Phần lớn các hình thức chăn nuôi đều có tập trung gia súc lại vì những lý do khác nhau Thấp nhất là các đàn gia súc chăn nuôi quảng canh trên đồng cỏ ban đêm được dồn lại vì lý do an ninh, cao nhất là các hệ thống chăn nuôi thâm canh, gia súc nuôi nhốt trong chuồng lâu dài có thức ăn tại chỗ Trong bất kể hình thức chăn nuôi nào, khu vực nhốt gia súc là nơi nhiều khả năng nhất cho tác nhân gây bệnh tích tụ hoặc cho gia súc mẫn cảm có nguy cơ mắc bệnh do tiếp xúc với con vật ốm hay con vật mang bệnh Có thể giảm tối đa những nguy cơ này thậm chí không cần kiến thức chuyên môn về bệnh
Chuồng nuôi lâu dài
Chuồng nuôi lâu dài thường đặt ra những nguy cơ lớn nhất đối với gia súc Chuồng phải đủ rộng cho phép gia súc nằm xuống được và xoay xở mà không đông quá mức Cần thông gió tốt để ngăn chặn không cho nhiệt độ ở mọi chỗ lên cao, có thể đe dọa gia súc bị stress nhiệt Thông gió tốt cũng làm giảm nguy cơ lây lan bệnh đường hô hấp
Giữ chuồng nuôi lâu dài sạch sẽ là rất quan trọng để đề phòng tích tụ ô nhiễm phân, một nguồn tiềm tàng vi sinh vật gây bệnh đồng thời thu hút ruồi nhặng Mặt và nền chuồng phải nhẵn, không thấm nước và không có vết nứt nên có thể được cọ rừa và tiêu độc định kỳ Vết nứt ở tường chuồng đặc biệt quan trọng vì khó vệ sinh tốt và cũng có thể trở thành nơi ve sinh sống tập trung Đó là vectơ truyền hàng loạt tác nhân gây bệnh quan trọng Máng thức ăn và máng nước uống phải đặt ở vị trí san cho gia súc không ỉa vào được
Phân nhóm gia súc trong nuôi nhốt lâu dài rõ ràng tuỳ theo phương thức quản lý nhưng cốtránh nhốt chung gia súc khác nhau về lứa tuổi nếu có thể, trừ trường hợp con mẹ cho con non bú
Bệnh cầu trùng là một ví dụ điển hình về nguy cơ nhốt chung gia súc khác nhau về lứa tuổi trong một không gian hạn chế Gia súc già hơn có thể bình thường về mặt lâm sàng, nhưng bài xuất theo phân ra ngoài các giai đoạn gây nhiễm của ký sinh trùng đường ruột, gia súc non mẫn cảm nhốt chung với chúng rất có thể bị nhiễm và mắc bệnh Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, cố gắng nuôi gia súc trong một môi trường hoàn toàn không có bệnh là điều không thực tế hoặc không hợp lý Gia súc nuôi nhốt, dù lâu dài hay tạm thời, đều không thể tránh khỏi tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh đa dạng trong đời sống Tuy nhiên, như đã trình bày, phương pháp quản lý gia súc hợp lý là giảm tối đa mức độ tiếp xúc và việc xảy ra bệnh nghiêm trọng, chứ không ngăn cản tích luỹ miễn dịch
Trang 3Lán trại tạm thời.
Đối với nhiều người chăn dắt súc vật, khó khăn về chuồng nuôi lâu dài không bao giờ đặt ra Vì vậy chắc rằng nguy cơ mắc bệnh là thứ yếu nghe có vẻ lọt tai, nhưng đó là một giả định nguy hiểm Đàn gia súc chăn thả quảng canh thường được nhốt dưới hình thức quây dồn lại ban đêm vì lý do an ninh, một số tác hại về mặt dịch bệnh của nuôi nhốt lâu dài cũng xảy ra ở
đàn gia súc quây dồn này Gia súc của các nhóm lứa tuổi khác nhau ở trong lán trại quá
đông, bẩn thỉu cũng có nguy cơ mắc bệnh ngang với gia súc trong chuồng bê tông chắc Một lần nủa cách khắc phục chủ yếu là cách thông thường Nơi quây dồn súc vật phải rộng rãi để súc vật có thể nằm, đi lại thoải mái (Hình 7.2) và giữ sạch sẽ để tránh tích tụ ô nhiễm phân Một biện pháp tốt là định kỳ thay đổi khu vực nhốt gia súc; ích lợi của thay đổi này đã được chứng minh ở nhiều nơi ở Tây Phi khi trong mùa mưa người chăn nuôi bận canh tác Phần lớn thời gian trong ngày bò giống N’Dama bị cột ở nơi nhốt gia súc Nếu không thay đổi nơi nhốt gia súc khoảng 3 tuần một lần, bò sẽ nhiễm nặng ấu trùng gây nhiễm của giun nở ra từ trứng thải ra ngoài theo phân Kết quả là bò ở đó, nhất là bê mới cai sữa bị nhiễm giun sán
đáng kể gây hại tới sức khoẻ chung và khả năng đối phó với những khắc nghiệt'của mùa khô sau Ví dụ đặc trưng này có thể áp dụng cho nhiều hoàn cảnh tương tự
Hình 7.2 Nơi quây gia súc phải có bóng râm và rộng rãi để gia súc nằm, đi lại thoải mái.
2.2 Vệ sinh chung
Phần trên đã khái quát tầm quan trọng của vệ sinh và quản lý tốt nơi nuôi nhốt gia súc Biện pháp này cần mở rộng ra tất cả các mặt chăn nuôi, tất cả đồ dùng, dụng cụ cố định, buộc gia súc, v.v phải giữ sạch sẽ và tiêu độc Nếu không dụng cụ sẽ bị chất hữu cơ phủ lên trở thành nơi sinh sôi lý tưởng cho các vi khuẩn có hại Dụng cụ bẩn cũng là nguy cơ lây lan vi sinh vật gây bệnh theo phương thức truyền lây cơ giới (xem Chương 1)
Hoá chất tiêu độc và thuốc khử trùng
Hoá chất tiêu độc là những hoá chất tiêu diệt hoặc ngăn chặn vi sinh vật gây bệnh sinh sôi Trên thị trường có nhiều loại chất tiêu độc cho những sử dụng khác nhau Bảng 7.1 nêu một
Trang 4số loại có thể dùng trong chăn nuôi Cần theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, đặc biệt về các mặt sau:
Bảng 7.1 Hoá chất tiêu độc và thuốc khử trùng
Tiêu
độc
Khử trùng
Tác dụng
Các tác nhân oxy hoá
Nước o-xy già
Thuốc tím
*
*
Tác dụng vừa phải Dùng để rửa các ổ áp xe ngoài da
Dùng để rửa vết thương, làm da biến
Các chất halogen
Natri hypochlorite
Iode
Iodophor (dung dịch)
Iodophor (bột)
*
*
*
*
Dùng để ngâm núm vú trong phòng viêm vú bò sữa
Dùng để băng vết thương Làm da có màu Rửa bầu vú và ngâm núm vú trong chữa viêm vú
Rắc vào vết mổ, vết thiến để chống nhiễm trùng
Các chất khử
Formol
Nhóm Phenol và Cresoll
Lysoll
*
*
Dùng xông hơi chuồng trại
Tiêu độc nói chung Độc đối với chó, mèo
Nhóm Chloroxylenol
Parachlorometaxylenol
Dichlorometaxylenol
Nước soda để rửa
Sulphat nhôm
*
*
*
*
*
*
Tiêu độc và khử trùng nói chung
Giống loại trên nhưng mạnh hơn Dùng rửa và tiêu độc nói chung Dùng chữa bệnh Viêm da đóng vảy ở cừu
a) Nhiều hoá chất tiêu độc phải pha loãng trong nước, nhất thiết phải chính xác nồng độ
b) Tránh trộn lẫn các loại hoá chất tiêu độc vì có thể làm một số mất tác dụng
c) Một số hoá chất tiêu độc trở nên mất tác dụng nếu bị bẩn và chứa chất hữu cơ nên định kỳ phải thay mới
Trang 5Nếu không có hoá chất tiêu độc thì vệ sinh chung và giữ sạch sẽ thậm chí còn quan trọng hơn Dụng cụ cố định, buộc, đeo lên gia súc phải thường xuyên kiểm tra, đảm bảo vừa khít, không gây chấn thương cho gia súc khi sử dụng Dụng cụ bẩn, không vừa sẽ gây nên rắc rối Thuốc khử trùng tương tự như hoá chất tiêu độc nhưng có thể dùng trực tiếp lên da để điều trị vết thương v.v (xem bên dưới)
Bơm tiêm và kim tiêm
Bơm tiêm và kim tiêm là đặc biệt quan trọng, vì hiện nay nhiều người chăn nuôi có bơm tiêm, kim tiêm riêng và họ tự tiêm lấy Ngày nay chúng ta ở thời đại dùng bơm tiêm, kim tiêm một lần nên có thể dùng bơm tiêm, kim tiêm đã tiệt trùng cho mọi lần tiêm thuốc Điều này sẽ
đảm bảo cho không còn nguy cơ truyền sinh vật gây bệnh từ con vật này sang con vật khác do kim tiêm bẩn, nhưng cũng nảy sinh khó khăn là vứt bỏ những bơm tiêm, kim tiêm đã dùng một cách an toàn, một việc mà ít người chăn nuôi có hoàn cảnh thực hiện đúng được Một cách khác là sừ dụng bơm,tiêm, kim tiêm kiểu cũ và thường xuyên tiệt trùng Thông thường, một ngày người chăn nuôi chỉ phải tiêm ít gia súc, nên luôn luôn có sẵn một số bộ bơm tiêm, kim tiêm đã tiệt trùng sạch sẽ là đủ đảm bảo có bơm tiêm, kim tiêm đã tiệt trùng dùng riêng cho từng con Nếu tiêm cùng một loại thuốc cho nhiều con thì dùng cùng một bơm tiêm cho tất cả nhưng mỗi con một kim tiêm đã tiệt trùng riêng Cuối ngày tất cả bơm tiêm đã dùng phải tháo rời ra và rửa sạch tất cả các bộ phận, đảm bảo không còn chứa tổ chức động vật hay thuốc dư thừa Phụt nước sạch qua kim tiêm để rửa kim tiêm Tiệt trùng bơm tiêm, kim tiêm bằng cách ngâm trong dung dịch tiêu độc hay đun sôi trong nước khoảng 15 phút
Nhược điểm chính của bơm tiêm, kim tiêm kiểu cũ là nguy cơ truyền sinh vật gây bệnh từ con vật này sang con vật khác nếu bơm tiêm, kim tiêm không được rửa và tiệt trùng đúng cách Kim tiêm kiểu cũ cũng trở nên cùn do dùng lại trong khi loại kim tiêm dùng một lần rất sắc
Gia súc
Trong đánh giá vệ sinh nói chung của cơ sở chăn nuôi, đánh giá vệ sinh bản thân gia súc là quan trọng Gia súc khoẻ mạnh tự chăm sóc, giữ gìn bản thân sạch sẽ, còn gia súc ốm có thể
do yếu hoặc không muốn, nên chủ gia súc phải cọ rửa cho chúng Nếu không các ngoại ký sinh trùng như bọ chét, rận sẽ phát triển Da lấm đất, phân có thể thu hút ruồi nhặng, làm gia súc có nguy cơ mắc bệnh dòi (xem Chương 1)
Một khía cạnh đặc biệt quan trọng của vệ sinh gia súc là chăm sóc bất cứ một vết thương nào khi xẩy ra Da là một trong những rào chắn quan trọng nhất chống lại các sinh vật có hại, lơ
là vết thương ngoài da, vết đứt hay trầy xước da có thể mang đến những hậu quả nghiêm trọng Để cho những vết đứt rách nhỏ v.v tự lành với điều kiện phải giữ gìn sạch sẽ Nếu cần, có thể bôi thuốc sát trùng (xem bảng 7.1) lên da để đề phòng nhiễm trùng kế phát
Tuy nhiên, nếu vết thương đã nhiễm trùng và nhiễm trùng nặng thì thuốc sát trùng hại hơn là lợi, khi đó phải dùng các chế phẩm kháng sinh (xem phần dưới)
2.3 Gia súc chăn thả.
Xét về mặt nguy cơ mắc bệnh, gia súc gặm cỏ rải rác trên đồng cỏ tươi tốt là trong một môi trường an toàn nhất có thể có Chúng không bị stress và nguy cơ lây lan các bệnh nhiễm trùng là tối thiểu Mùa mưa là mùa an toàn nhất trong tất cả các mùa vì cỏ thừa thãi, gia súc rải rác trên cả một vùng rộng Tuy nhiên, mùa mưa không phải là không có những nguy hiểm của nó, bởi vì rất có thể các loài chân đốt hoạt động mạnh, nên trong mùa mưa, nguy cơ mắc các bệnh do ruồi hay ve truyền là cao nhất Vì vậy người chăn nuôi cần tiếp thu những kiến thức cần thiết về các bệnh do động vật chân đốt truyền ở địa phương mình và tiến hành những
Trang 6bước mình có thể làm Ví dụ, người chăn nuôi một số nước biết bệnh Trypanosoma evansi do ruồi đốt máu truyền và thời kì xấu nhất là trong mùa mưa khi ruồi phát triển Vì thế, bằng cách chăn riêng con ốm sẽ giảm rất nhiều cơ hội ruồi đất máu truyền bệnh sang con khoẻ Chi tiết hơn về phòng chống bệnh do động vật chân đốt truyền nêu ở Chương 12
Thực vật có độc
Trên đồng cỏ, gia súc có thể bị nguy hiểm do thực vật có độc Có hai tình huống chính cần xem xét
a) Đưa gia súc đến đồng cỏ lạ Một đặc điểm của gia súc chăn thả là chúng biết những thực
vật nguy hiểm và cố tránh những thực vật này bằng mọi khả năng Tuy nhiên, gia súc mới
đến đồng cỏ có thể bị nguy hiểm, do chúng chưa thu được “kiến thức” cần thiết về địa phương mới Người chăn nuôi phải biết điều đó, cố gắng hạn chế thời gian chăn thả hàng ngày của gia súc mới cho tới khi chúng quen với đồng cỏ mới
b) Thiếu cỏ Khi đồng cỏ bị chăn thả quá mức hay hiếm cỏ do hạn, một số thực vật độc có rễ
sâu nên có thể chúng là cây xanh duy nhất Bò đói có thể ăn, bất chấp chúng rất không thích, các thực vật độc đó Có thể khắc phục bằng cách cung cấp cỏ khô trong thời gian đó, nhưng tất nhiên, rất đáng buồn là điều này thường vượt quá khả năng của người chăn nuôi
Có nhiều lý do khác nhau của việc thiếu cỏ, có khi do quản lý kém dẫn đến nuôi quá nhiều gia súc, có khi do hạn Nói chung: nếu có mưa theo mùa thì gia súc béo khoẻ lên sau mùa mưa nhờ có cỏ thừa thãi, điều đó giúp gia súc trải qua mùa khô tiếp theo cho tới mùa mưa sau Khi mùa khô đến, nhóm người chăn dắt đàn gia súc quảng canh dần dần co lại việc chăn thả rải rác trong mùa mưa, cuối cùng có thể họ buộc phải chen chúc xung quanh các nguồn nước
đang cạn kiệt đi, nếu mùa khô kéo dài và không có mưa (Hình 7.3) Hậu quả là gia súc bị tập trung trong điều kiện kém, nguy cơ lây lan bệnh như giun sán, cầu trùng tăng lên Hiện nay, người ta nhận thức các hậu quả này là một khó khăn lớn của chăn nuôi trong những điều kiện như vậy Vì vậy, trong hoàn cảnh đó, ở một số địa điểm, phải cố gắng với mọi khả năng có thể có, cung cấp nước và rơm, cỏ khô cho gia súc cũng như thức ăn cần thiết Làm như vậy sẽ giúp giảm đi việc tập trung gia súc
2.4 Tiêm phòng
Trong nhiều trường hợp, những bệnh nhiễm trùng nào đó là dịch địa phương, đe doạ đàn gia súc ở địa phương, thì biện pháp thiết thực nhất là tiêm phòng, hy vọng là phòng được bệnh
Có nhiều dạng vacin, nhưng tất cả đều dựa trên cùng một nguyên tắc là tạo miễn dịch cho
động vật có nguy cơ mắc bệnh Để hiểu nguyên tắc này, cần giải thích một chút về quá trình miễn dịch
Miễn dịch phi đặc hiệu
Động vật có một hệ thống rất phức tạp các tế bào mà chức năng của chúng là nhận ra sự xâm nhập của chất lạ, kể cả các vi sinh vật có hại, và có hoạt động chống lại các chất xâm nhập đó Phòng tuyến bảo vệ đầu tiên là một loạt các tế bào gọi là bạch cầu, lưu thông từ từ trong máu xung quanh các tổ chức Bạch cầu to hơn và số lượng ít hơn so với hồng cầu vận chuyển oxy
Có hai loại bạch cầu có thể di chuyển từ mạch máu vào tổ chức và nuốt chửng các vi sinh vật xâm nhập trong quá trình thực bào là bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân
Đời sống bạch cầu trung tính tương đối ngắn, chức năng của chúng là thực bào các vi khuẩn
có hại Bạch cầu đơn nhân khi di chuyển vào tổ chức thì kích thước lớn lên vâ gọi là đại thực
Trang 7bào Đại thực bào sống lâu hơn bạch cầu trung tính Đại thực bào thấy ở khắp các tổ chức, chức năng chủ yếu của chúng là thực bào vi-rút, vi khuẩn và nguyên sinh động vật xâm nhập vào tế bào động vật (xem Chương 3) Bạch cầu trung tính và đại thực bào thường đối phó
được với vi sinh vật xâm nhập, không cần thêm giúp đỡ, nhưng nếu bạch cầu trung tính và đại thực bào bị vi sinh vật lấn át, thì động vật sử dụng phòng tuyến bảo vệ thứ hai là một nhóm bạch cầu khác gọi là tế bào lympho
Miễn dịch đặc hiệu vâ tế bào lympho.
Động vật có một hệ thống tế bào miễn dịch rất phức tạp gọi là tế bào lympho, chức năng của chúng cũng là nhận dạng những vật lạ xâm nhập như vi sinh vật và ký sinh trùng Một lượng lớn tế bào lympho tuần hoàn liên tục xung quanh tổ chức trong hệ thống máu và lympho, hệ thống lympho chủ yếu gồm lưới các hạch lympho nối với nhau bằng các mạch lympho (xem Chương 5) Có hai loại tế bào lympho là lympho T và lympho B, do chúng xuất xứ từ tuyến
ức (Thymus) và tuỷ xương (Bone marrow)
Tế bào lympho T là tế bào đáng lưu ý, có sức mạnh vừa phản ứng trực tiếp chống lại, tiêu diệt sinh vật xâm nhập và vừa kích thích đại thực bào cũng làm như vậy Tế bào lympho T còn làm trung gian trong chức năng của tế bào lympho B, khi gặp sinh vật lạ, tế bào lympho B nhanh chóng phân chia tạo thành những tế bào lớn hơn gọi là tương tế bào Tương tế bào tiết
ra kháng thể vào máu hay vào các dịch cơ thể khác Kháng thể là những phân tử protein phức tạp gọi là immunoglobulin hoạt động đặc hiệu chống lại các vi sinh vật lạ bằng cách phá huỷ chúng hay hạn chế các tác động có hại của chúng
Nếu nguồn tế bào phức hợp này chống lại thành công các vi sinh vật xâm nhập, gia súc sẽ khỏi bệnh, và còn quan trọng hơn nữa là động vật có thể được miễn dịch chống lại lần tấn công sau này của cùng vi sinh vật đó Đó là nhờ một số đã phát triển “trí nhớ miễn dịch” đối với vi sinh vật đó, nên trong lần xâm nhập khác các tế bào lympho T và lympho B phản ứng tức thời và giết chết “kẻ xâm nhập” Khả năng phản ứng nhanh thu nhận được này gọi là miễn dịch Có hai loại miễn dịch, một loại dựa trên đáp ứng của tế bào lympho T gọi là miễn dịch tế bào, một loại dựa trên đáp ứng của tế bào lympho B và sản sinh ra kháng thể gọi là miễn dịch dịch thể
Vắc-xin
Vắcxin dựa trên các sinh vật có tính gây bệnh nhưng không có tác động hại Điều này đạt
được bằng cách biến đổi sinh vật đó theo một số cách nên khi cấy vào động vật sẽ kích thích miễn dịch dịch thể hoặc là miễn dịch tế bào, nhưng không gây ra các hậu quả bệnh lý của sinh vật đó Có các loại vắc-xin khác nhau như sau:
a) Vắc-xin vô hoạt: Loại vắc-xin này dựa trên các sinh vật đã bị diệt bằng hoá chất, nhiệt độ hay phóng xạ Nói chung, xin vô hoạt là an toàn nhất, nhưng nhược điểm chính của vắc-xin vô hoạt là có thể kích thích đáp ứng miễn dịch tương đối yếu nên phải định kỳ tiêm nhắc lại để tạo miễn dịch chắc chắn
b) Vắc-xin nhược độc: Vắc-xin này dựa trên các sinh vật sống đã được biến đổi nên khi cấy vào động vật sẽ sinh ra đáp ứng miễn dịch nhưng không gây bệnh, hay cùng lắm là bệnh nhẹ
Có thể giảm độc bằng nhiều cách khác nhau, ví dụ nuôi cấy sinh vật trong môi trường thí nghiệm; cấy chuyển sinh vật nhiều đời qua động vật hay môi trường thí nghiệm Nói chung vắc-xin nhược độc có hiệu lực hơn vắcxin chết, nhưng do vắc-xin nhược độc là sinh vật sống, nên đòi hỏi bảo quản, sử dụng phải cẩn thận hơn Thường phải giữ vắc-xin nhược độc trong
Trang 8nhiệt độ tủ lạnh, hay thậm chí ở nhiệt độ lạnh âm sâu, cần thiết phải có hệ thống bảo ôn từ nơi sản xuất tới nơi tiêm phòng (Hình 7 3)
Hình 7.3 Tiêm phòng chó dại Vắc-xin giữ trong nước đá cho tới khi tiêm phòng, mắt
xích cuối cùng của hệ thống bảo ôn.
Không phải luôn có thể làm cho sinh vật vô hại bằng cách giảm độc, trong trường hợp đó cần
có điều trị thích hợp tiếp theo sau khi tiêm phòng để đề phòng hậu quả bệnh lý Phương pháp gây bệnh và điều trị này đã được dùng rộng rãi để tạo miễn dịch cho động vật chống lại các bệnh do ve truyền, như bệnh Theileria (xem Chương 2) Phương pháp gây miễn dịch này rõ ràng đòi hỏi rất thận trọng và tốt nhất chỉ nên làm dưới sự giám sát của thú y Hiện tại ở Việt Nam chưa thấy áp dụng phương pháp này
c) Các vi sinh vật có quan hệ gần Nhiễm có thể kích thích đáp ứng miễn dịch chống lại các
sinh vật có quan hệ gần nhưng độc Các vi sinh vật không có tính gây bệnh hay có tính gây bệnh nhẹ đó được sử dụng như vắc-xin, ví dụ Anaplasma centrale được dùng như vắc-xin phòng bệnh do Anaplasma marginale của bò, một bệnh chính do ve truyền Tuy nhiên, sử dụng những vắc-xin này phải cẩn thận, vì vi sinh vật dùng làm vắc-xin phần nào vẫn có tính gây bệnh
d) Giải độc tố Như đã khái quát ở Chương 3, một sốvi khuẩn gây bệnh gây hại bằng cách tiết
ra ngoại độc tố Vắc-xin chế ra chống lại các ngoại độc tố gọi là giải độc tố Động vật được miễn dịch chống lại độc tố chứ không phải là vi sinh vật gây bệnh Giải độc tố là độc tố đã
được làm mất tính độc và thường chế tạo bằng cách nuôi cấy sinh vật trong môi trường thí nghiệm và xử lý độc tố với hoá chất, ví dụ formol Giải độc tố sử dụng rộng rãi để tiêm phòng gia súc chống các bệnh nhiễm độc máu do Clostridium (xem Chương 14)
e) Vắc-xin trong tương lai Kháng nguyên là các bộ phận của vi sinh vật, hay vắc-xin chế tạo
từ vi sinh vật, mà động vật phát triển đáp ứng miễn dịch chống lại Vi sinh vật và ký sinh trùng thường có nhiều kháng nguyên, trong đó chỉ có một số kích thích đáp ứng miễn dịch có ích và bảo vệ động vật chống' lại những tấn công sau này Một vắc-xin hoàn hảo, dù vắc-xin chết hay vắc-xin nhược độc, không phải là cả vi sinh vật, mà chỉ từ những kháng nguyên bảo
vệ có ích của sinh vật Một vắc-xin như thế sẽ cho đáp ứng miễn dịch tốt như toàn bộ sinh vật nhưng an toàn và không có những nhược điểm của vắc-xin sống Những tiến bộ tuyệt vời gần
Trang 9đây trong sinh học phân tử, miễn dịch học và công nghệ di truyền ngày nay đang hứa hẹn những vắc-xin như thế, những vắe-xin có thể cách mạng hoá cả y tế và thú y
Cần phải biết rằng khả năng tạo miễn dịch của vắc-xin khác nhau đáng kể Một số vắc-xin cho miễn dịch chắc chắn kéo dài trong vài năm, số khác chỉ bảo hộ từng phần trong một thời gian nhất định Các vắc-xin hiện đại phòng Dịch tả trâu bò, dựa trên vi-rút nhược độc sống mọc trong môi trường tế bào thí nghiệm cho miễn dịch cả đời rất mạnh
Ngược lại, miễn dịch của vắc-xin vô hoạt phòng Lở mồm long móng chỉ được dưới một năm, vì vậy nơi nào dùng thường xuyên, mỗi năm gia súc phải tiêm phòng một hay hai lần
Cuối cùng, không nên cho rằng vắc-xin thay thế được yêu cầu chăn nuôi tốt Vắc-xin chỉ kích thích hệ thống miễn dịch của động vật và động vật cần phải có sức khoẻ tốt để hệ thống miễn dịch hoạt động có hiệu quả Ví dụ, thật là vô bổ nếu mong có đáp ứng miễn dịch tốt khi tiêm phòng các gia súc gầy yếu và nhiễm ký sinh trùng nặng
2.5 Bảo vệ bằng miễn dịch thụ động
Phần 2.4 đã trình bày miễn dịch sinh ra khi gia súc khỏi bệnh hoặc khi tiêm vắc-xin Đó là miễn dịch chủ động hay miễn dịch tiếp thu Tuy nhiên, kháng thể trong miễn dịch dịch thể cũng có thể bảo vệ các con vật khác Điều này xẩy ra một cách tự nhiên khi mang thai Gia súc mới đẻ chưa có hệ thống miễn dịch trưởng thành, chúng nhận kháng thể từ con mẹ qua nhau thai trước khi sinh hay trong sữa đầu Những kháng thể từ mẹ này tồn tại trong một thời gian hạn chế, nhưng cũng bảo vệ gia súc non trong vài tháng đầu cho tới khi hệ thống miễn dịch riêng của con non phát triển Gia súc mới đẻ nhận phần lớn kháng thể của con mẹ qua sữa đầu, vì vậy con con bú được sữa mẹ trong vài giờ đầu sau khi đẻ là điều kiện sống còn, bởi vì sữa đầu giàu kháng thể sẽ chuyển thành sữa thường khoảng 1 ngày sau đó
Tiếp thu kháng thể của mẹ để bảo vệ tạm thời được gọi là miễn dịch thụ động Nguyên tắc của miễn dịch thụ động còn có thể dùng để bảo vệ động vật trong các trường hợp khác Khi tiêm động vật mẫn cảm với liều tăng dần sinh vật gây bệnh hay độc tố, động vật đó phát triển một lượng lớn kháng thể trong huyết thanh Huyết thanh sản xuất bằng cách này gọi là kháng huyết thanh hay huyết thanh tối miễn dịch và thường được sản xuất trên thỏ Tiêm kháng huyết thanh cho miễn dịch ngay nhưng tạm thời trong một vài tuần chống lại sinh vật hay độc tốliên quan Có thể dùng kháng huyết thanh để điều trị bệnh đang xảy ra hoặc để bảo vệ động vật khoẻ tiếp xúc với bệnh, ví dụ các bệnh Dịch tả lợn, Nhiễm độc máu từ ruột do Clostridium, Uốn ván Tuy nhiên, sản xuất huyết thanh tối miễn dịch rất đắt, ngày nay chúng
ít sử dụng trong chăm sóc sức khoẻ thường kì cho gia súc
3 Các biện pháp cần thiết khi xảy ra bệnh
Ngay cả với những tiêu chuẩn quản lý gia súc và vệ sinh cao nhất, các ổ dịch bệnh vẫn xẩy ra,
và một lần nữa có thể áp dụng một số nguyên tắc thông thường để giảm tối đa các ổ dịch Trước hết, quan trọng là xác định bệnh là bệnh nhiễm trùng hay không, và những hướng dẫn ở cuối Chương 1 sẽ giúp ta trong vấn đề này Nếu bệnh biểu hiện là bệnh nhiễm trùng, bằng mọi khả năng, phải tách con ốm khỏi con khoẻ, và tránh dùng chung máng ăn dụng cụ.v.v Nếu có khả năng bệnh do ruồi truyền, phải cách ly con ốm càng xa càng tốt Phải xem xét diệt ruồi quanh những con ốm Chương 12 mô tả phương pháp diệt ruồi có thể áp dụng
Trang 103.1 Hộ lý gia súc ốm
Không kể là bệnh nhiễm trùng hay không, con vật ốm sẽ ít bị stress hơn nếu được cách ly nhẹ nhàng khỏi số còn lại trong đàn Nếu chúng ốm rất nặng, chúng sẽ khó khăn khi tìm nước uống và bóng râm để trú nên ta phải cung cấp cho chúng và ở chỗ dễ uống Tính thèm ăn có thể bị giảm sút nhưng thức ăn vẫn phải luôn sẵn sàng Gia súc ốm không dậy được thì phải bằng mọi cách đỡ chúng dậy Điều này đặc biệt quan trọng đối với loài nhai lại vì hơi sinh ra trong dạ cỏ không thoát ra được khi con vật nằm liệt Tất nhiên, những biện pháp vệ sinh cơ bản phải áp dụng cho cả gia súc ốm cách ly
3.2 Điều trị gia súc ốm
Ngoài cách ly, hộ lý và vệ sinh, các biện pháp tiếp theo là tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, như có giúp đỡ của thú y hay không, người chăn nuôi có kinh nghiệm về bệnh này không, có biết áp dụng điều trị không Nếu không có giúp đỡ của thú y, người chăn nuôi có thể tham khảo những nguyên tắc khái quát trong Chương 1 và khám các triệu chứng lâm sàng của gia súc như mô tả ở Chương 5 để chẩn đoán sơ bộ và tham khảo kiến thức chuyên môn ở các chương sau
Trong thực tế, nhiều người chăn nuôi không có điều kiện áp dụng điều trị đặc hiệu, trong trường hợp đó bước tốt nhất tiếp theo là sử dụng các thuốc phi đặc hiệu chống lại vi sinh vật gây bệnh cụ thể Một nguyên tắc đứng sau biện pháp này là con vật ốm, do bất cứ nguyên nhân gì, đều mẫn cảm hơn với các bệnh do vi sinh vật có tính gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn Vì vậy dùng thuốc kháng khuẩn có thể giúp cho con vật ốm chống đỡ các vi sinh vật gây bệnh Có hai loại thuốc kháng khuẩn, loại thứ nhất do con người tổng hợp, đôi khi gọi là hoá trị liệu, loại thứ hai là những chất chiết xuất từ các sinh vật sống như vi khuẩn, nấm, gọi là kháng sinh Các loại Sun-pha-mit (như sulphadiazine và sulphadimidine) là ví dụ về hoá trị liệu, đã dùng trên 50 năm, mặc dù phần lớn các sun-pha-mit đã thay thế bằng kháng sinh
Vi khuẩn và kháng sinh Trong phòng thí nghiệm, khi kiểm tra vi khuẩn trong môi trường, người ta phết môi trường lên phiến kính nhuộm, đem nhuộm Gram và kiểm tra dưới kính hiển
vi Vi khuẩn bắt mầu tím gọi là vi khuẩn Gram dương, còn vi khuẩn không bắt màu tím gọi là
vi khuẩn Gram âm Đây là cách thông thường phân loại vi khuẩn và cũng có lợi cho việc dùng kháng sinh Một số kháng sinh có phổ tác dụng rất hẹp, chỉ có hiệu lực đối với bệnh nhiễm khuẩn Gram dương (ví dụ Penicillin) hay Gram âm (ví dụ Streptomycin) Đôi khi phối hợp Penicillin và Streptomycin có tác dụng đối với nhiều bệnh nhiễm khuẩn hơn, nhưng ở một chừng mực nào đó biện pháp này đã được thay thế bằng các kháng sinh có tác dụng đối với cả
vi khuẩn Gram dương và Gram âm, gọi là kháng sinh kháng phổ rộng, ví dụ nhóm Tetracycline (Oxytetracyline và Chlortetracycline)
Không có gì ngạc nhiên khi người chăn nuôi khắp nơi trên thế giới muốn có kháng sinh kháng phổ rộng như Oxytetracycline để tự sử dụng bất cứ khi nào có gia súc ốm Các bác sỹ thú y rất lo ngại về vấn đề này vì điều trị bằng kháng sinh không kiểm soát, không phân biệt cuối cùng sẽ tạo ra các quần thể vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc rất khó điều trị Lạm dụng kháng sinh có thể còn làm mất ổn định vi khuẩn chí bình thường trong hệ tiêu hoá động vật, làm hệ tiêu hoá bị các sinh vật thiểu số có hại, như nấm, xâm chiếm phát triển Nói một cách nghiêm túc, chỉ bán kháng sinh theo đơn thuốc, do đó thú y sẽ kiểm soát được việc sử dụng kháng sinh Tuy nhiên, thực tế hiện nay trên khắp thế giới, mua kháng sinh tương đối dễ, nên điều quan trọng là người chăn nuôi hiểu biết hiểm hoạ của việc sử dụng kháng sinh không phân biệt Có thể nhân nhượng cho người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở chỉ được dùng kháng sinh cho gia súc ốm nặng nhất, tập trung vệ sinh hộ lý cho những con ốm khác