1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tài liệu thẩm định dự án đầu tư

85 705 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Thẩm Định Dự Án Đầu Tư
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị dự án và đầu tư
Thể loại Tài liệu hướng dẫn, thẩm định dự án
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp quiluật, nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác điều chỉnh từngloại hình doanh nghi

Trang 2

TÀI LIỆU THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ

PHẦN I ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC KHÁCH HÀNG VAY VỐN

I.1 Đánh giá khách hàng vay vốn.

1 Năng lực pháp lý.

Để đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn, điều quan trọng là phảibiết được khách hàng thuộc loại hình doanh nghiệp nào, thành phần kinh tế nào, vànhững luật nào sẽ điều chỉnh việc thành lập cũng như hoạt động của khách hàng Do

đó, cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp, đối chiếu với những văn bản pháp qui(luật, nghị định, thông tư, quyết định, và các văn bản dưới luật khác) điều chỉnh từngloại hình doanh nghiệp, để từ đó đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng vay vốn.Đến thời điểm hiện nay, phạm vi điều chỉnh của một số bộ luật liên quan tới hoạt độngcủa các loại hình doanh nghiệp được tóm tắt như sau:

- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu

hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân; doanhnghiệp 100% vốn nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị xã hội khi được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn mộthoặc hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần;

- Phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp nhà nước: Công ty nhà nước;

đối với doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước tổ chức dưới hình thức công ty

cổ phần nhà nước, công ty TNHH nhà nước một hoặc hai thành viên trở lên,Luật DNNN chỉ quy định về thẩm quyền của chủ sở hữu nhà nước trongviệc quyết định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể và chuyển đổi sở hữu cácdoanh nghiệp này với tư cách là chủ sở hữu và quy định về quan hệ giữa chủ

sở hữu nhà nước với người được uỷ quyền đại diện phần vốn góp của nhànước và công ty nhà nước Việc tổ chức quản lý hoạt động và thực hiện cácthủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sởhữu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp;

- Phạm vi điều chỉnh Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức doanh nghiệp liên doanh,doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, và hợp đồng hợp tác kinh doanh

có bên nước ngoài tham gia;

2 Một số điểm cần lưu ý khi xem xét, đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng.

Sự mở rộng của khái niệm Doanh nghiệp Nhà nước: Nhằm tạo tiền đề và tiếntới hình thành một khung pháp lý thống nhất, bình đẳng giữa các loại hình doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 đã mởrộng khái niệm doanh nghiệp nhà nước hơn so với Bộ luật DNNN ban hành năm 1995,theo đó có 3 loại doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như sau:

- (1) DNNN có 100% vốn nhà nước, hoạt động theo Luật DNNN mới (năm2005) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốnnhà nước nhưng hoạt động theo các luật khác);

Trang 3

- (2) Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có100% vốn Nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; và

- (3) Công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chiphối hoặc vốn góp chi phối của nhà nước, hoạt động theo Luật doanhnghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chính vì có sự mở rộng khái niệm DNNN, nên nếu dùng chung một khái niệmDNNN thì dễ lẫn lộn giữa 3 loại DNNN nói trên, do vậy khi đánh giá năng lực pháp lýcủa DNNN, cần phải nẵm vững được DNNN đó thuộc loại hình gì Mặc dù khái niệmDNNN bao gồm cả 3 loại doanh nghiệp nêu trên, nhưng các công ty cổ phần, công tyTNHH (dù có 100% vốn nhà nước hay vốn nhà nước chi phối), vẫn hoạt động theoLuật doanh nghiệp hoặc Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ việc thành lập, tổchức lại, giải thể, chuyển đối ở hữu, tổ chức quản lý và hoạt động của các công ty này

Về loại hình DNNN thứ (2) và thứ (3) trên đây, Luật DNNN mới không can thiệp,không qui định chồng chéo với Luật Doanh nghiệp hoặc Luật Đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam, mà chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ sở hữu nhà nước với người đạidiện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty TNHH, mà mối quan hệ này chưađược điều chỉnh ở các luật đó

Đối với khách hàng là doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, trách nhiệm trả nợchính và cuối cùng vẫn là pháp nhân có đơn vị hạch toán phụ thuộc đó, nên mọi giaodịch với ngân hàng: Mục đích vay vốn, mức vốn được phép vay, thời gian vay vốn,thời gian hoàn trả nợ vay, các hình thức bảo đảm tiền vay, đều phải được pháp nhâncủa đơn vị hạch toán phụ thuộc đó có ý kiến chính thức bằng văn bản

Đối với công ty TNHH: Điều 42 Luật doanh nghiệp - Các hợp đồng phải đượchội đồng thành viên chấp thuận qui định rõ: Nếu hợp đồng được ký mà chưa được Hộiđồng thành viên chấp thuận trước (chậm nhất là 15 ngày trước khi ký), thì hợp đồng

đó vô hiệu và được xử lý theo qui định của luật pháp Do đó, để tránh rơi vào trườnghợp hợp đồng vô hiệu, các hợp đồng kinh tế, dân sự, trong đó có quan hệ với ngânhàng như nội dung trong giấy đề nghị vay vốn do Giám đốc công ty ký (mức vốn đềnghị vay, mục đích sử dụng vốn vay, thời hạn vay trả, các hình thức bảo đảm tiềnvay, ) đều phải được Hội đồng thành viên chấp thuận trước bằng văn bản

Khách hàng là công ty cổ phần: Hội đồng quản trị là cấp quyết định các nộidung như: Chiến lược phát triển của công ty, phương án đầu tư, bổ nhiệm và miễnnhiệm các chức danh giám đốc (tổng giám đốc) và cán bộ quản lý quan trọng khác củacông ty

Khách hàng là tư nhân: Cần kiểm tra một số nội dung chính như năng lực hành

vi dân sự theo quy định của Bộ Luật dân sự, hộ khẩu thường trú, chứng minh thư, tuổi,địa chỉ cư trú,

Tất cả những lưu ý nêu trên để giúp cán bộ ngân hàng trong quá trình đánh giánăng lực pháp lý khách hàng

Trang 4

Về yêu cầu đánh giá, kết thúc nội dung này, cán bộ ngân hàng phải nêu rõ vàđánh giá được:

- Tên khách hàng vay vốn;

- Quyết định thành lập, cấp ra quyết định thành lập, ngành nghề lĩnh vực hoạtđộng Ngành nghề lĩnh vực hoạt động hiện tại có phù hợp với lĩnh vực của

dự án đầu tư mà khách hàng đặt vấn đề vay vốn tại ngân hàng hay không?;

- Người đại diện theo pháp luật của công ty;

- Chế độ hạch toán: Độc lập hay phụ thuộc

Từ đó kết luận: Khách hàng có đủ tư cách pháp nhân để xác lập mối quan hệ tíndụng với ngân hàng hay không? Trường hợp chưa đủ thì cần bổ sung những văn bảnpháp lý gì

3 Phân tích tình hình sxkd, năng lực tài chính.

3.1 Khung phân tích.

Mục tiêu: Báo cáo tài chính doanh nghiệp là tài liệu được nhiều bên quan tâm,gồm: bản thân khách hàng, các nhà cung cấp nguyên vật liệu, các tổ chức tín dụng,các công ty kiểm toán độc lập, và các nhà đầu tư Đối với các tổ chức tín dụng, thựchiện nội dung này nhằm mục tiêu:

- Giúp am hiểu được thực trạng và tình hình tài chính của khách hàng, xácđịnh xem hoạt động sxkd của khách hàng đang diễn ra như thế nào? Tăngtrưởng/suy giảm, ổn định/không ổn định, thuận lợi/khó khăn; đưa ra nhậnđịnh dự báo trong tương lai về tình hình hoạt động sxkd của khách hàng;

- Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng thu nhập bằng tiền và khả năng trả nợ lâudài cũng như khả năng tham gia vào các phương án sxkd mới Từ đó, tổchức tín dụng có thể ra quyết định đúng đắn và kịp thời khi cung cấpcáấngnr phẩm ngân hàng phục vụ hoạt động sxkd của doanh nghiệp

Để đạt được mục tiêu phân tích đánh giá nêu trên, cần phải dựa vào các tài liệu

do khách hàng cung cấp: Báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo lỗ lãi, báocáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính), báo cáo kiểm toán (nếu có), cácbảng kê chi tiết số liệu của một số tài khoản Ngoài ra, số liệu mà cán bộ ngân hàngtrực tiếp kiểm tra và thu thập được tại doanh nghiệp cũng rất quan trọng

Thông thường, có 5 bộ công cụ/5 phương pháp để thực hiện phân tích báo cáotài chính doanh nghiệp, cụ thể gồm:

- Phân tích so sánh (Comparative financial statement Analysis);

- Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis);

- Phân tích chỉ số (Ratio analysis);

- Phân tích dòng tiền (Cash Flow Analysis); và

- Phân tích qua phương pháp định giá (Valuation).

Trang 5

Dưới đây sẽ đề cập tới những nội dung cụ thể của 5 công cụ/phương pháp nêu trênthường được dùng để phân tích một báo cáo tài chính doanh nghiệp.

a. Phân tích so sánh (Comparative financial analysis): Sử dụng báo cáo tài chínhcủa nhiều năm liên tiếp để so sánh sự thay đổi của các tài khoản, của các chỉ tiêu,qua đó đánh giá được khuynh hướng/xu hướng của khách hàng qua các năm.Chính vì vậy, phương pháp này có hai kỹ thuật cơ bản, là: Phân tích sự thay đổinăm này qua năm khác (Year - to - Year Analysis) và phân tích xu hướng các chỉ

số (Index-Number Trend Analysis) Phân tích sự thay đổi qua các năm thườngđược thực hiện trong thời gian 2 đến 3 năm, cho biết sự thay đổi cả về số tuyệtđối và số tương đối của các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính qua các năm Phântích xu hướng thường được sử dụng nhiều trong phân tích dài hạn, trên 3 năm;phương pháp phân tích này cho biết chiều hướng, tốc độ và sự thay đổi của xuhướng so với năm gốc nào đó Vì vậy, phương pháp phân tích này đòi hỏi phảilựa chọn được một năm làm năm gốc, số liệu các năm sau được so sánh đánh giátrên cơ sở số liệu năm được lựa chọn làm năm gốc Bên cạnh việc so sánh, đánhgiá biến động và chỉ ra xu hướng biến động của cùng một chỉ tiêu qua các năm,còn có thể so sánh xu hướng biến động của các khoản mục/chỉ tiêu có liên quan.Chẳng hạn, các khoản phải thu tăng 15%, trong khi đó doanh số bán chỉ tăng 5%hoặc doanh số bán tăng 10% nhưng chi phí vận chuyển lại tăng 20% Trong cảhai trường hợp này, cán bộ ngân hàng phải tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân phíasau của sự khác biệt giữa các chỉ tiêu có liên quan này Với đặc điểm phân tích

sự thay đổi năm này quan năm khác của từng khoản mục, phương pháp phân tích

này, trong nhiều trường hợp, còn được gọi là Phân tích theo chiều ngang (Horizantal Analysis)

b. Phân tích cơ cấu (Common-size Analysis): Tính toán được tỷ trọng của cáckhoản mục/tài khoản chi tiết trong việc hình thành nên những khoản mục chínhcủa báo cáo tài chính cũng rất hữu ích trong phân tích tài chính doanh nghiệp.Chẳng hạn, khi phân tích bảng cân đối kế toán, thông thường giá trị tuyệt đối củatổng tài sản (hay tổng nguồn vốn) được chuyển qua và tính bằng giá trị tương đối

là 100%, sau đó các tài khoản thuộc nhóm tài sản (hay nguồn vốn) sẽ được tínhtoán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng so với giá trị của tổng tài sản (hay nguồnvốn) Trong phân tích báo cáo thu nhập, doanh số bán/doanh thu thường đượcchuyển đổi thành số tương đối 100%, các số liệu còn lại trong báo cáo thu nhập(giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động, ) được biểu diễn dưới dạng phần trăm củadoanh thu; như vậy, tổng các khoản mục trong báo cáo thu nhập sẽ là 100%

Phương pháp phân tích này, trong nhiều trường hợp, còn được gọi là Phân tích theo chiều dọc (Vertical Analysis)

c. Phân tích chỉ số (Ratio Analysis): Đây là một trong những phương pháp phổ biến

và được sử dụng khá rộng rãi trong phân tích tài chính Tuy nhiên, việc tính toáncác chỉ số đơn thuần chỉ là thao tác tính toán về số học, hiểu được ý nghĩa củatừng chỉ số sau khi tính toán ra mới là điều quan trọng Để hiểu được ý nghĩa mộtcách đầy đủ, ý nghĩa kinh tế và mối tương quan giữa các chỉ số với nhau phải

Trang 6

được đề cập tới một cách đầy đủ Chẳng hạn, có một sự quan hệ trực tiếp và quantrọng giữa giá bán và chi phí, theo đó chỉ số giá vốn hàng bán trên doanh thu làrất quan trọng Ngược lại, không có mối quan hệ rõ ràng giữa chi phí vận chuyển

và chứng khoán khả mại Phương pháp phân tích chỉ số, có hai nội dung quantrọng cần được chú ý, đó là: (1) Những nhân tố ảnh hưởng tới các chỉ số, ngoàinhững hoạt động bên trong sẽ ảnh hưởng tới các chỉ số tài chính của công ty, cán

bộ phân tích phải chú ý tới các sự kiện kinh tế, các yếu tố ngành, chính sách quản

lý, và phương pháp hạch toán Ví dụ, khi hàng tồn kho được hạch toán theophương pháp LIFO và giá đầu vào tăng lên, chỉ số khả năng thanh toán hiện thời

sẽ bị đánh giá thấp vì LIFO đã đánh giá thấp giá trị hàng tồn kho; và (2) Khảnăng phân tích và hiểu được ý nghĩa các chỉ số Các chỉ số phải được hiểu mộtcách cẩn trọng bởi vì một chỉ số thường được xác định qua một phân số gồm có

tử số và mẫu số, những yếu tố ảnh hưởng tới tử số có thể có tương quan với cácyếu tố khác ảnh hưởng tới mẫu số Chẳng hạn, một công ty có thể cải thiện được

chỉ tiêu chi phí hoạt động trên doanh thu bằng cách giảm những chi phí khuyến khích bán hàng (ví dụ như chi phí nghiên cứu và phát triển R & D) Tuy nhiên, cắt giảm những loại chi phí này sẽ dẫn tới việc giảm doanh số trong dài hạn hoặc thị phần Vậy, có vẻ như việc cải thiện được chỉ tiêu về khả năng sinh lời trong ngắn hạn lại có thể dẫn tới ảnh hưởng đến triển vọng của công ty trong tương lai Trong hệ thống các chỉ số đánh giá tài chính doanh nghiệp, nhiều chỉ

số có sự thay đổi quan trọng tương tự như các chỉ số khác Do vậy, không nhấtthiết phải tính toán tất cả các chỉ số có thể tính toán được để phân tích cùng mộtvấn đề Các chỉ số, cũng như nhiều kỹ thuật phân tích tài chính khác, không thểthích ứng một cách độc lập; thay vào đó, sẽ là có ý nghĩa hơn nếu chúng được sosánh với: (a) chỉ số của những thời đoạn trước đó, (b) những tiêu chuẩn địnhtrước, và (c) chỉ số của các đối thủ cạnh tranh Cuối cùng, sự thay đổi của một

chỉ số qua thời gian cũng tương tự quan trọng như xu hướng của chúng Có 6 nhóm chỉ tiêu chính trong phân tích tài chính doanh nghiệp, cụ thể là:

- Các chỉ tiêu về thanh khoản (Liquidity ratios): Đánh giá khả năng thanh

toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn;

- Các chỉ tiêu về cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính (Capital structure and

financial leverage ratios): Đo lường cơ cấu nợ so với vốn chủ sở hữu vàtổng qui mô nguồn vốn hoạt động;

- Tỷ số trang trải lãi vay (Coverage ratios): Đo lường khả năng của khách

hàng trong việc trả lãi vay đến hạn;

- Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (Operating performance): Đánh giá

hiệu quả sử dụng tài sản của khách hàng;

- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi (Profitability ratios): Đo lường

mối quan hệ giữa lợi nhuận so với doanh thu, hoặc giá trị đầu tư;

- Các chỉ số về tăng trưởng (Growth ratios): Đo lường mức độ, xu hướng

thay đổi của các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp

Trang 7

Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, mục tiêu phân tích, và tình hình thực tế củakhách hàng để xác định nhóm chỉ tiêu cũng như những chỉ tiêu cụ thể cần tập trungtính toán và phân tích Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá tình hình tàichính doanh nghiệp theo, phân chia theo 6 nhóm chỉ tiêu đã nêu trên

1 Khả năng thanh toán hiệnthời (Current ratio)

h¹nng¾nNî

éng

®

l uns¶

khotånHµng -éng

®

l uns¶

nîTæng

=vènvíisonîsè

=vènvíisoh¹ndµinîsèTû

Lần

5 Tỷ số nợ so với tổng tàisản (Debt to Total Assets)

ns¶

tµiTæng

nîTæng

=TTSvíisonîsè

6 Tỷ số trang trải lãi vay(Coverage ratios)

vayl·i phÝChi

EBIT

=vayl·i itr¶

trangsè

IV Nhóm chỉ số đánh giá

hiệu quả hoạt động

7 Vòng quay khoản phảithu (Receivable turnover)

thu i ph¶

n kho¶

c¸cGTTB

n¨mtrong rßngchÞub¸nthuDoanh

=

8 Kỳ thu tiền bình quân(ACP)

thu i ph¶

n kho¶

quayVßng

n¨mtrongngµySè

n kho¶

GTTB

n¨mhµngchÞumua sèDoanh

n kho¶

quayVßng

n¨mtrongngµySè

=

11 Vòng quay hàng tồn kho(Inventory turnover)

khotånhµngGTTB

b¸nhµngvènGi¸

=

12 Thời gian thực hiện 1vòng quay hàng T/kho

khotånhµngquayVßng

n¨mtrongngµySè

=

13 Vòng quay tổng tài sản(TAT)

ns¶

tµiTængGTTB

thuDoanh

=

Trang 8

14 Vòng quay vốn lưu động(WCT)

n

©qunh

×béng

®

l uVèn

thuDoanh

=

V Nhóm chỉ số về khả

năng sinh lợi

15 LãI gộp so với doanh thu(Gross profit margin)

rßngthuDoanh

b¸nhµngvènGi¸

rßngthuDoanh

-=

16 LãI ròng so với doanhthu (Net profit margin)

rßngthuDoanh

rßngnhuËnLîi

=

17 Tỷ suất sinh lời tổng tàisản (ROA)

ns¶

tµitængGTTB

rßngnhuËnLîi

×bu

÷hsëchñVèn

rßngnhuËnLîi

=

Riêng đối với khách hàng là những công ty cổ phần, đặc biệt là những công ty cổ phần

đã niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, bên cạnh những chỉ tiêu nêu trên, cóthêm một nhóm chỉ tiêu đặc thù đối với loại doanh nghiệp này, gồm:

- Lợi nhuận trên cổ phần (Earnings per share):

NS

PD-t)-(1

*I)-(EBIT

=

trong đó: I - lãi suất vay vốn hàng năm phải trả; t - thuế suất thuế thu nhậpdoanh nghiệp; PD - cổ tức hàng năm phải trả cho cổ phiếu ưu đãi; NS - sốlượng cổ phiếu thường đang lưu hành trên thị trường;

- Thị giá so với lợi nhuận trên cổ phần (Price - to - Earnings), được xác địnhtheo công thức:

EPS

phiÕucægi¸

ThÞ

=Earnings -

to -

- Thị giá so với giá trị sổ sách

phiÕucæcña s¸chsætrÞGi¸

phiÕucægi¸

ThÞ

=book -to -

·

®tÕthùctøcCæ

=ePayout rat

- Tỷ suất lợi tức cổ phần

phiÕucægi¸

ThÞ

îc

®nhËntÕthùctøcCæ

=yield

d. Phân tích dòng tiền (Cash Flow Analysis): Chủ yếu được sử dụng để đánh giánguồn và việc sử dụng nguồn vốn tài trợ, được thực hiện chủ yếu dựa vào báocáo lưu chuyển tiền tệ Kết hợp với báo cáo lỗ lãi, bảng cân đối kế toán để phântích chi tiết hơn tình hình doanh nghiệp Vậy, tại sao cần phải phân tích báo cáolưu chuyển tiền tệ? Bảng cân đối kế toán thể hiện bức tranh tài chính tại một thờiđiểm, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy hiệu quả kinhdoanh qua một thời kỳ Báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán thường đượclập theo nguyên lý kế toán thực tế phát sinh (accrual accounting), do đó doanhthu và chi phí được phản ánh trong báo cáo thu nhập không tương ứng với số tiền

Trang 9

mà doanh nghiệp thực sự thu vào được và phải thực chi ra trong kỳ Việc khácnhau này do hai nguyên nhân chính:

- Sự khác nhau giữa lợi nhuận ròng và ngân lưu ròng hoạt động kinh doanh:

Báo cáo thu nhập và Bảng cân đối kế toán thường được lập theo nguyên tắc

kế toán theo thực tế phát sinh Kế toán theo thực tế phát sinh thường ghinhận doanh thu khi công ty bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ, chi phí đã

sử dụng để giúp tạo ra doanh thu mà công ty ghi nhận Do đó, thời điểm ghinhận doanh thu không luôn luôn tương ứng với thời điểm thu tiền từ kháchhàng Tương tự, thời điểm ghi nhận chi phí không nhất thiết là lúc thực tếthanh toán cho người cung cấp, lương nhân viên hoặc những chủ nợ khác.Nguyên tắc kế toán này tập trung ghi nhận việc doanh nghiệp sử dụng tàisản để tạo ra lợi nhuận, không quan tâm đến thực tế thu tiền và chi tiền nhưthế nào Điều này lý giải tại sao một doanh nghiệp hạch toán vẫn có lãi,nhưng thực tế lại đang đứng trước khả năng thiếu hụt tiền mặt và khả năngthanh khoản không đảm bảo;

- Các hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đều có thể tạo tiền và sử dụng tiền: Bên cạnh hoạt động kinh doanh chính, doanh nghiệp có thể có những

nguồn thu, chi tiền không liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanhchính Ví dụ, thu do phát hành chứng khoán, chi thanh toán tiền cho nhữnghoạt động liên quan đến phát hành chứng khoán hoặc chi trả cổ tức Doanhnghiệp cũng có thể mua những thiết bị không có liên quan trực tiếp đến cáchoạt động kinh doanh trong kỳ báo cáo

Như vậy, vai trò của báo cáo ngân lưu, khi được sử dụng trong phân tích tàichính doanh nghiệp, có thể được tóm tắt như sau:

- Giải thích sự thay đổi trong số dư tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ kinhdoanh Ở Mục 2.2 dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này, số dưtiền mặt trong bảng cân đối kế toán (TK 111) cũng chính là số dư tiền mặtcuối kỳ (chỉ tiêu cuối cùng) trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ;

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cùng với báo cáo thu nhập, giải thích nguyênnhân thay đổi các khoản mục trên bảng cân đối;

- Chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận và ngân lưu ròng, sự thay đổi ròng trongtài sản cố định

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trình bầy dòng ngân lưu trong kỳ được phân chiathành 3 hoạt động: Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.Dòng ngân lưu từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính đều được lập theo phươngpháp trực tiếp, còn dòng ngân lưu của hoạt động kinh doanh có thể được lập theophương pháp trực tiếp, hoặc gián tiếp, nhưng đều cho kết quả như nhau

- Phương pháp trực tiếp: Bắt đầu từ tiền thu bán hàng, thu từ các khoản phảithu và các nghiệp vụ kinh tế có thu chi, tiền thực tế thuộc hoạt động kinhdoanh, để đến dòng ngân lưu ròng;

Trang 10

- Phương pháp gián tiếp: Bắt đầu từ lãi ròng - chỉ tiêu cuối cùng trong báo cáo

lỗ lãi, điều chỉnh các khoản thu chi không bằng tiền mặt như khấu hao, dựphòng, chênh lệch tỷ giá, các khoản lãi lỗ từ hoạt động đầu tư và hoạt độngtài chính; điều chỉnh thay đổi của tài sản lưu động, dựa trên bảng cân đối kếtoán, để đi đến dòng ngân lưu ròng

Cả hai phương pháp này đều có những thế mạnh riêng xuất phát từ cách tiếpcận khác nhau Với phương pháp trực tiếp, chỉ ra được dòng thu, dòng chi một cách rõràng hơn cho các nhà đầu tư Với phương pháp gián tiếp, chỉ ra được chất lượng củalợi nhuận và những nguyên nhân ảnh hưởng đến dòng ngân lưu ròng từ hoạt động kinhdoanh một cách rõ ràng hơn Như vậy, hiểu được nguyên tắc lập báo cáo lưu chuyểntiền tệ, mối quan hệ giữa báo cáo lưu chuyển tiền tệ với các báo cáo khác trong báocáo tài chính, sẽ là một công cụ hữu ích trong việc: Kiểm tra sự hợp lý và giải thíchđược sự thay đổi trong một số khoản mục ở bảng cân đối kế toán (tài sản, vốn chủ sởhữu, tiền mặt, ); đồng thời thấy được chất lượng doanh thu, lợi nhuận và mức độkhác biệt giữa doanh thu, lợi nhuận và dòng thực thu/thực chi của doanh nghiệp

e. Phương pháp định giá (Valuation): Phương pháp này dùng để ước lượng giá trịthực của công ty hay cổ phiếu của công ty đang lưu hành trên thị trường Nguyêntắc của phương pháp này dựa trên khái niệm giá trị theo thời gian của tiền và lýthuyết giá trị hiện tại Về bản chất, là dùng phương pháp định giá dòng tiền DCF(Discount Cash Flow) để đưa các khoản thu nhập kỳ vọng về hiện tại ở một suấtchiết khấu hợp lý Do đó, có thể tiến hành định giá: Nợ, Vốn chủ sở hữu, trong

đó định giá vốn chủ sở hữu có phần phức tạp hơn khi các khoản thu nhập kỳvọng trong tương lai phải ước đoán, trong khi đối với định giá các khoản nợ thìmức trả lãi vay và gốc đã thống nhất trong hợp đồng vay vốn chính là nhữngkhoản thu kỳ vọng trong tương lai Ví dụ, doanh nghiệp huy động vốn bằng công

cụ trái phiếu, giá trị trái phiếu ở thời điểm t, được xác định theo công thức sau:

n n

n + t 3

3 + t 2 2 + t 1 1 + t t

)+1(

F+)+1(

I+

+)+1(

I+)+1(

I+)+1(

I

=B

trong đó: It+n là lãi phải trả ở thời điểm (t+n), r là lãi suất ở thời điểm hiện tại đang tiếnhành định giá trái phiếu, F là mệnh giá trái phiếu

Phương pháp này được giới thiệu để nhằm đảm bảo xây dựng đủ một khung phân tíchchuẩn Tuy nhiên, khi thị trường tài chính chưa phát triển mạnh, chủ yếu vẫn là thịtrường tiền tệ giữa vai trò chính, các doanh nghiệp không có nhiều sự lựa chọn tronghình thức huy động vốn, việc áp dụng phương pháp này là chưa thật sự phù hợp nênkhả năng áp dụng là không nhiều

2.2 Tính toán các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp - một trường hợp cụ thể.

Để minh hoạ cho nội dung lý thuyết đã trình bầy ở Mục 2.1, trên cơ sở báo cáotài chính của Công ty AMC, phần này sẽ giới thiệu cách thức thực hiện phân tích tàichính doanh nghiệp theo 4 công cụ phân tích đầu tiên: Phân tích so sánh, phân tích cơ

Trang 11

cấu, phân tích chỉ số và phân tích dòng tiền (Đơn vị tính trong báo cáo tài chính làTriệu USD)

a Phân tích so sánh, xu hướng.

Chẳng hạn thực hiện phân tích báo cáo thu nhập, trên cơ sở thu nhập 2000 và

2001, tính toán sự thay đổi (số tuyệt đối và số tương đối) của các chỉ tiêu trong báocáo thu nhập Trên cơ sở thay đổi của những chỉ tiêu trong báo cáo thu nhập, sẽ chobiết mức độ tương quan của sự thay đổi giữa các chỉ tiêu với nhau, chỉ tiêu nào thayđổi và mức độ thay đổi ít/nhiều, chỉ tiêu nào không thay đổi Đối với Công ty AMC,doanh thu năm 2001 giảm so với năm 2000 là 760 triệu USD, tương đương 5,4%, giávốn hàng bán không giảm mà lại tăng 3,5%; trong năm này lãi gộp giảm ở mức 18,8%lớn hơn nhiều so với mức giảm doanh thu Hơn nữa, mặc dù doanh thu giảm, nhưngchi phí bán hàng, chi phí hành chính, chi phí chung lại tăng 4,3% Sự tăng lên của chiphí bán hàng và chi phí hành chính, cộng với chi phí khác, đã làm cho lợi nhuận trướcthuế và lãi giảm 84,4% Cũng cần chú ý đến một phần của biện pháp cắt giảm chi phíhoạt động, đó là cắt giảm chi phí nghiên cứu & phát triển (R & D) 0,6%, tuy nhiênviệc này thường ít khi được nhìn nhận là một dấu hiệu tốt cho hoạt động của công tytrong tương lai

Biểu 1: Phân tích so sánh Báo cáo thu nhập Công ty AMC

Phân tích xu hướng (Index - number Trend analysis): Lựa chọn những số liệu/chỉ tiêu

có liên quan chặt chẽ với nhau để hình thành bộ số liệu phân tích Quá trình phân tích,lựa chọn năm gốc, sau đó điều chỉnh số liệu của các năm còn lại theo số liệu năm gốc,

vẽ nên đường diễn biến xu hướng Tuỳ tính chất của từng chỉ tiêu, mức độ liên quanchặt/không chặt giữa các chỉ tiêu với nhau và thực tế đường xu hướng được vẽ nên, đểphân tích đánh giá Chẳng hạn, trong báo cáo thu nhập của Công ty AMC, lựa chọn chỉ

tiêu doanh thu và chi phí hoạt động để phân tích, năm 1997 được chọn làm năm gốc

Trang 12

Đồ thị 1: Kết quả phân tích xu hướng doanh thu, chi phí.

Sơ đồ 1: Số liệu tổng hợp và mối liên hệ giữa một số chỉ tiêu trong báo cáo

tài chính Công ty AMC, được dùng để thực hiện những phân tích được trình bầy trongMục 2.2

Trang 13

Qua phương pháp phân tích xu hướng với hai chỉ tiêu Doanh thu và Chi phí hoạt động

của Công ty AMC giai đoạn 1997 - 2001, cho thấy: Về xu hướng chung, doanh thugiảm từ năm 1997 và cùng với việc chi phí hoạt động cũng giảm Nhìn chung, từ 1997đến 2000, diễn biến của Chi phí hoạt động khá phù hợp với những thay đổi của qui

mô doanh thu, thậm chí ở năm 2000, khi doanh thu gần tương đương của doanh thunăm trước, nhưng chi phí hoạt động không tăng mà còn giảm mạnh so với năm 1999;hai đường biểu diễn Doanh thu và Chi phí có cùng một xu hướng, hoặc cùng tăng hoặccùng giảm Tuy nhiên, tình hình sang năm 2001 lại diễn biến theo chiều hướng ngượclại, không còn sự đòng biến giữa Doanh thu và Chi phí, trong đó so với năm 2000doanh thu giảm nhưng chi phí lại tăng nhanh Những biến động về xu hướng củadoanh thu và chi phí (xu hướng giảm), và đặc biệt là tình hình năm 2001 gợi ý choviệc tiếp tục phải phân tích những yếu tố khác liên quan tới thị phần và khả năng cạnhtranh của sản phẩm, công tác quản trị chi phí, hoạt động đầu tư, và hoạt động tài chínhcủa công ty AMC

Trang 14

b Phân tích cơ cấu.

Kỹ thuật phân tích này rất hữu ích đối với việc so sánh, đánh giá trong nội bộdoanh nghiệp bởi vì báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác nhau thường đượcviết lại và đưa về cùng một định dạng Một điểm cần lưu ý, phân tích cơ cấu của bảngtổng kết tài sản thường được mở rộng ra hơn đối với các tài khoản cấp dưới hình thànhnên các nhóm chính của tài sản hoặc nguồn vốn Chẳng hạn, để đánh giá tính thanhkhoản của tài sản lưu động, điều quan trọng là phải xác định được hàng tồn kho chiếm

tỷ trọng bao nhiêu trong toàn bộ giá trị tài sản lưu động, chứ không đơn thuần chỉ làviệc xác định hàng tồn kho chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng tài sản

Biểu 2: Phân tích cơ cấu Bảng TKTS

Số liệu phân tích cho thấy, Công ty AMC đã

thành công trong việc thu hồi công nợ, giảm các

khoản phải thu cũng như hàng tồn kho Tổng thể,

tài sản lưu động đã giảm 3,7 điểm phần trăm,

cùng với việc nợ ngắn hạn cũng giảm một lượng

tương tự Tuy nhiên, cần lưu ý tới việc tài sản

lưu động nhỏ hơn nợ ngắn hạn, điều này gợi ý

đến việc Công ty có thể gặp phải những vấn đề

về khả năng thanh khoản

c Phân tích chỉ số

Tính toán chỉ số tài chính theo các nhóm, đối với

nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh khoản, một chỉ

tiêu quan trọng là khả năng thanh toán hiện

hành. Năm 2001, khả năng thanh toán hiện thời

của Công ty AMC là 0,87, điều này có nghĩa là

có 0,87 $ giá trị tài sản lưu động để đảm bảo

nghĩa vụ trả 1$ nợ ngắn hạn đến hạn Tuỳ theo

tính chất hoạt động và những biến động cụ thể của các khoản mục có liên quan tới chỉ

số này để đưa ra nhận xét đánh giá phù hợp, tuy nhiên, mức được xem là thông thườngđối với chỉ số này là từ 1 trở lên Kết quả tính toán các chỉ số năm 2001 của Công tyAMC được tóm tắt trong Biểu dưới đây:

Biểu 3: Kết quả tính toán các chỉ số tài chính 2001 - Công ty AMC

1 Khả năng thanh toán hiệnthời (Current ratio) =0,87

5.358

679.4

=

2 Khả năng thanh toán

1.136 -.6794

=

II Cấu trúc vốn và đòn

bẩy tài chính

Trang 15

3 Tỷ số nợ so với vốn

5.112+5.358

=vènvíisonîsè

=891.2

5.112

=vènvíisoh¹ndµinîsèTû

=TTSvíisonîsè

trangsè

IV Nhóm chỉ số đánh giá

hiệu quả hoạt động

7 Vòng quay khoản phảithu (Receivable turnover) =5,29

2.338)/2+

n kho¶

GTTB

n¨mhµngchÞumua sèDoanh

n kho¶

quayVßng

n¨mtrongngµySè

=

11 Vòng quay hàng tồn kho(Inventory turnover) =6

1.136)/2+

13.234

=

V Nhóm chỉ số về khả

năng sinh lợi

15 LãI gộp so với doanh thu

(Gross profit margin) 13.234 =34,48

8.670 -13.234

=

16 Lãi ròng so với doanh

thu (Net profit margin) 13.234 =0,57

Trang 16

Thể hiện trên Sơ đồ 1 cho thấy, số dư tiền mặt cuối kỳ (chỉ tiêu cuối cùng trongbáo cáo lưu chuyển tiền tệ) khớp đúng với dư nợ Tài khoản Tiền (Thuộc Nhóm 1, mã

số 110 theo hệ thống TK hiện nay của Việt Nam) của Bảng cân đối kế toán Số liệukhông cho biết Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp haygián tiếp Dòng ngân lưu ròng của 3 hoạt động chính cho thấy: Hoạt động sxkd tạo ra2.065 triệu USD, sau đó hoạt động đầu tư (chủ yếu là đầu tư thiết bị, máy móc, nhàxưởng) sử dụng hết 1.047 triệu USD Dòng ngân lưu còn lại, chủ yếu được sử dụng đểchi trả cổ tức và các chi phí cho các hoạt động tài chính khác AMC là một công ty đaquốc gia, hoạt động trên nhiều thị trường với nguồn thu chi bằng nhiều loại tiền tệkhác nhau Báo cáo hợp nhất, qui đổi về USD và do có sự thay đổi tỷ giá, nên có dòng

ra 8 triệu USD Dòng ngân lưu ròng cuối năm 2001 là 202 triệu USD, cùng với số dưđầu kỳ Tiền mặt là 242 triệu USD (Bảng cân đối kế toán năm 2000), số dư tiền mặtcuối kỳ năm 2001 là 202 + 242 = 444 triệu USD Tỷ trọng 3 hoạt động cơ bản củaCông ty cho thấy, AMC đã tạo ra một lượng tiền đáng kể từ hoạt động kinh doanh,nhưng đồng thời Công ty cũng đã sử dụng một lượng vốn đáng kể để tài trợ cho cáccông tác đầu tư mới

2.3 Một số lưu ý trong phân tích tài chính doanh nghiệp.

Dựa trên nền tảng là khung phân tích đã được giới thiệu ở trên, thực tế tình hìnhphân tích đánh giá năng lực tài chính khách hàng vay vốn tại các chi nhánh trong thờigian vừa qua (thể hiện trong nội dung tờ trình của chi nhánh trình TW), dưới đây làmột số điểm lưu ý trong quá trình phân tích, đánh giá:

- Những khoản mục, nội dung có biến động bất thường, cần được tập trungphân tích làm rõ nguyên nhân: Ngoài việc hiểu, năm vững phương pháp,trong quá trình phân tích, bất cứ chỉ tiêu tài chính nào có biến động bấtthường so với số liệu những năm trước, cần phải tập trung phân tích nguyênnhân, giải thích lý do và có kết luận cụ thể Chẳng hạn, đối với AMC trongnăm 2001, những lý do khiến chi phí sản xuất tăng cao trong khi doanh sốgiảm là một dấu hiệu bất bình thường, phải được làm rõ;

- Trong phân tích xu hướng, phương pháp này sẽ trở nên hiệu quả hơn khi:Lựa chọn được năm gốc phù hợp làm mốc đại diện (thường là những nămkhông có những biến cố lớn đối với ngành/lĩnh vực và nền kinh tế) để sosánh với các năm khác; và lựa chọn được các cặp đôi, cặp ba, các chỉ tiêu

có liên quan chặt với nhau, có như thế thì phân tích mới di vào được trọngtâm vấn đề và mới có thể làm nổi bật được vai trò của các yếu tố nguyênnhân cũng như kết quả;

- Trong phân tích chỉ số: Ngoài những chỉ tiêu thông dụng đều phải tính toánđối với bất cứ doanh nghiệp nào, cần có sự lựa chọn cho phù hợp với tínhchất, hiện trạng của từng doanh nghiệp Tốt nhất là nên xem xét và có đánhgiá sơ bộ trước khi quyết định lựa chọn, tính toán và phân tích những loạichỉ tiêu nào;

Trang 17

- Tất cả những kỹ thuật phân tích này, Excel là một công cụ hữu hiệu tronglập, xử lý số liệu, vẽ đồ thị, lập báo cáo trong quá trình phân tích đánh giá.

3 Năng lực quản trị điều hành, kinh nghiệm.

Để làm tốt nội dung này, ngoài việc kiểm tra đánh giá thông qua hồ sơ vay vốn(đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, quyết định bổ nhiệm, điều lệ, báo cáo tàichính ), cần thiết phải làm việc với đại diện doanh nghiệp (cả trực tiếp và gián tiếp),đồng thời thu thập thêm các thông tin bổ sung (cả chính thức và không chính thức),nhằm có được nhiều kênh thông tin khác nhau, để từ đó có thể đánh giá được kháchhàng chính xác hơn, sát thực hơn Đôi khi, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, từ hiệphội nghề nghiệp, từ các nhà cung ứng, cũng giúp có được sự đánh giá đầy đủ hơn,toàn diện hơn

Nội dung chính cần phân tích đánh giá, gồm:

- Mô hình tổ chức, bố trí lao động, cơ cấu lao động theo chức danh công tác

và trình độ chuyên môn;

- Quản trị điều hành của lãnh đạo: Năng lực chuyên môn, năng lực quản trịđiều hành, phẩm chất tư cách, uy tín trong và ngoài doanh nghiệp, thànhtích; sự đoàn kết trong lãnh đạo và trong doanh nghiệp

Nếu không có một năng lực quản trị điều hành tốt thì doanh nghiệp khó có thểđạt được kết quả tốt trong hoạt động sxkd Do đó, kết quả hoạt động sxkd cũng là mộtthước đo khá thực tế khi đánh giá năng lực quản trị điều hành của chủ doanh nghiệp

Vì vậy, thực hiện tốt yêu cầu phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp như đượchướng dẫn ở Mục 2, cũng hỗ trợ cho nội dung phân tích này

4 Quan hệ với các TCTD.

Đánh giá mối quan hệ của khách hàng với các TCTD là rất quan trọng, nó chothấy thái độ của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ cũng như khả nănghợp tác với các TCTD Do đó, đánh giá mỗi quan hệ của khách hàng với các TCTDcần được thực hiện theo nguyên tắc:

- Đầy đủ và toàn diện: Ngoài quan hệ tín dụng, các quan hệ giao dịch khácnhư quan hệ tiền gửi, bảo lãnh, thanh toán, cần được đề cập, đánh giá đầyđủ;

- Cập nhật: Số liệu phản ảnh mối quan hệ của khách hàng với các TCTD phảiđược cập nhật mới nhất Lưu ý, khai thác tốt, có hiệu quả nguồn thông tinnội bộ trong hệ thống và thông tin của ngành (CIC)

I.2 Phân tích, đánh giá dự án đầu tư.

1 Đánh giá tính pháp lý của dự án.

Hoạt động đầu tư xây dựng của mọi thành phần kinh tế phải phù hợp với chiếnlược, qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và những qui

Trang 18

định pháp luật khác Dự án đầu tư được xem như là công cụ để thực hiện quản lý nhànước trong hoạt động đầu tư xây dựng, nhằm đảm bảo các yêu cầu về qui hoạch, kiếntrúc, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững

1.1 Những rủi ro có thể xảy ra khi tính pháp lý của dự án không bảo đảm.

Dự án, nếu tính pháp lý không bảo đảm, thì sẽ có nguy cơ bị đình hoãn trongquá trình triển khai thực hiện, và nếu điều này xảy ra thì sẽ dẫn tới các hệ luỵ sau:

- Mất cơ hội kinh doanh: Khi tiến độ bị kéo dài do dự án bị đình chỉ và phảidừng lại để hoàn tất thủ tục pháp lý, tình hình thị trường có thể có nhữngdiễn biến khác đi và cơ hội kinh doanh có thể sẽ không còn tốt, không cònthuận lợi như trước nữa;

- Tiến độ thực hiện dự án bị kéo dài: Dự án bị dừng để hoàn tất và khép kínthủ tục pháp lý, đôi khi phải điều chỉnh cả lại nội dung đầu tư (qui mô đầu

tư, phương án kiến trúc, phương án công nghệ, ), do đó thời gian thực hiện

sẽ bị kéo dài;

- Tổng vốn đầu tư bị phá vỡ: Tiến độ thực hiện kéo dài, sẽ kéo theo sự giatăng của nhiều khoản mục chi phí như: Lãi vay trong thời gian thi công, cácnhà cung ứng phạt vi phạm hợp đồng, chi phí hoàn tất thủ tục pháp lý, và

có thể cả chi phí do bị cơ quan chức năng phạt vi phạm Trong nhiều trườnghợp, dự án phải điều chỉnh lại nội dung đầu tư (qui mô, công suất, phương

án kiến trúc, phương án công nghệ, ), lúc này chi phí sẽ gia tăng đáng kể

vì làm lại để khắc phục sai sót trước đây thường tốn kém hơn, khó khănhơn so với làm đúng ngay từ đầu;

- Hiệu đầu tư của dự án bị giảm sút, nhiều dự án có nguy cơ phá sản: Lỡ mất

cơ hội kinh doanh, tổng vốn đầu tư bị phá vỡ, tiến độ thực hiện kéo dài,

sẽ làm cho hiệu quả đầu tư (hiệu quả tài chính, khả năng hoàn vốn đầu tư,hiệu quả kinh tế) giảm sút

Với những nguy cơ kể trên, nếu tính pháp lý của dự án không được đảm bảo,thì không những chủ đầu tư mà các nhà cung ứng, các bên tham gia tài trợ và các bên

có liên quan khác đều cùng phải gánh chịu rủi ro từ việc dự án không đảm bảo về mặtpháp lý

- Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30.01.2003 sửa đổi bổ sung sửa đổi một

số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo cácNghị định 52 và 12;

Trang 19

- Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý đầu

tư và xây dựng công trình;

- Nghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 củaChính phủ về quản lý đầu tư và xây dựng công trình;

* Quy chế đấu thầu, đồng thời thực hiện theo 3 nghị định sau:

* Nghị định số 77/CP ngày 18.6.1997 về quy chế đầu tư theo hình thức BOT ápdụng cho đầu tư trong nước qui định đầu tư theo hình thức BOT Nghị định số62/1998/NĐ-CP ngày 15.8.1998 ban hành quy chế đầu tư theo hình thức BOT, BTO,

BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

* Luật doanh nghiệp (Luật số 13/1999/QH10); Luật doanh nghiệp nhà nướcnăm 2003 (Luật số 14/2003/QH11); Luật khuyến khích đầu tư trong nước (năm 1994,sửa đổi bổ sung năm 1998); Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996 và 2000); Luậtbảo vệ môi trường (công bố theo pháp lệnh số 29-L/CTN ngày 10.01.1994 của Chủtịch nước); Luật Hợp tác xã (Luật số 18/2003/QH11)

Ngoài ra, còn có các nghị định của Chính phủ, thông tư của bộ chuyên ngành (Xâydựng, Kế hoạch đầu tư), các văn bản pháp quy liên quan khác hướng dẫn thực hiện cácLuật, Nghị định nêu trên

1.3 Nội dung chủ đạo của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, Quy chế đấu thầu.

Ở nội dung này, chỉ đề cập tới công tác quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốntín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, và dự án

sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước (không đề cập tới những dự

án sử dụng vốn ngân sách nhà nước)

- Duyệt các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trươngđầu tư: Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư trên cơ sở kết quả thẩm địnhcủa Hội đồng thẩm định nhà nước;

- Duyệt các dự án nhóm A, B, C: Doanh nghiệp đầu tư (không phân biệtthành phần kinh tế) tự thẩm định dự án, tự quyết định đầu tư theo qui định

và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Các dự án đầu tư phải đảm bảo phùhợp với qui hoạch được duyệt Đối với dự án nhóm A sử dụng vốn tín dụngđầu tư phát triển của nhà nước hay vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, trước

Trang 20

khi quyết định đầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư Dự

án Nhóm A sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN, trước khi quyết địnhđầu tư phải được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư hoặc Thủ tướngChính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng, Chủ tich UBND cấp tỉnh cho phép đầutư;

- Kỷ luật qui hoạch: Đối với dự án Nhóm A chưa có trong qui hoạch đượcduyệt, trước khi lập báo cáo NCKT phải được Thủ tướng Chính phủ xemxét, thông qua báo cáo NCTKT và cho phép đầu tư Đối với dự án Nhóm Bchưa có trong qui hoạch được duyệt, trước khi lập báo cáo NCKT phải có ýkiến đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền phê duyệt qui hoạch;

- Phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán: Về nguyên tắc, cấp phê duyệt dự

án đầu tư sẽ phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán; riêng đối với các dự

án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh hoặc vốn tín dụng đầu tưphát triển của nhà nước, cấp có thẩm quyền phê duyệt thiết kế kỹ thuật vàtổng dự toán có thể uỷ quyền cho cấp dưới trực tiếp phê duyệt thiết kế kỹthuật, tổng dự toán Đối với dự án đầu tư của tư nhân và các tổ chức kinh tếkhông thuộc doanh nghiệp nhà nước, chủ đầu tư chịu trách nhiệm tổ chứcthẩm định và phê duyệt thiết kế

1.4 Một số lưu ý trong phân tích đánh giá tính pháp lý của dự án

Trên cơ sở khung pháp lý điều tiết hoạt động đầu tư xây dựng, tuỳ theo từngloại dự án để kiểm tra và đánh giá tính pháp lý của dự án Trong quá trình thực hiệnnội dung này, với tư cách là bên tham gia tài trợ vốn, các TCTD cần lưu ý:

- Kiểm tra việc chấp hành có đủ, có đúng với các qui định hiện hành của chủ

đầu tư trong quá trình triển khai dự án, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị đầu

tư và thực hiện đầu tư: Rất nhiều trường hợp, những vấn đề được các bênchức năng đặt ra đối với dự án nhưng chủ đầu tư không tiếp thu để chỉnhsửa dự án, bỏ qua và vẫn tiếp tục triển khai dự án Có những trường hợp bênchức năng tham gia ý kiến, nhưng ý kiến không đầy đủ hoặc chỉ là hình thức

mà né tránh trách nhiệm Trong những trường hợp này, nếu dự án vẫn tiếptục triển khai, thì rủi ro về mặt pháp lý, rủi ro về kỹ thuật, công nghệ, môitrường, sẽ là rất lớn Do đó, TCTD phải nắm vững: Qui định hiện hànhtrong quản lý đầu tư và xây dựng, vai trò và trách nhiệm của các bên có liênquan, nội dung cụ thể mà các bên chức năng có liên quan đã tham gia đốivới dự án, đối chiếu với yêu cầu trong qui định hiện hành và mức độ tiếpthu, chỉnh sửa của chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án để có ý kiến

cụ thể với chủ đầu tư Qua đó, hướng việc triển khai dự án của chủ đầu tưtheo đúng qui định hiện hành, nhằm giảm thiểu rủi ro cho dự án và chochính phần vốn mà các TCTD tham gia tài trợ;

- TCTD nên có biện pháp gì trước bối cảnh: Sự phân cấp ngày càng mạnhtrong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng tự làm tự chịu tráchnhiệm, trong khi đó các doanh nghiệp thường đăng ký thành lập với nhiều

Trang 21

lĩnh vực kinh doanh khác nhau, kể cả ở các lĩnh vực họ không có kinhnghiệm: Thực tế thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp đã tận dụng sự phâncấp mạnh trong quản lý đầu tư và xây dựng để đơn giản hoá các thủ tụctrong quá trình triển khai dự án, tự lập dự án, tự thiết kế, tự thi công, Mặc

dù vẫn đúng theo qui định, nhưng năng lực thực có của doanh nghiệp khôngtương xứng với qui mô và tính chất của dự án, điều này làm cho dự án đứngtrước nguy cơ rủi ro không phải về mặt pháp lý mà là rủi ro về kỹ thuật,công nghệ, và sẽ có khả năng dẫn tới những rủi ro về tài chính của dự án.Trong những trường hợp này, đòi hỏi TCTD nên tư vấn cho doanh nghiệp

lựa chọn cách làm không những chỉ đáp ứng được về mặt thủ tục pháp lý,

mà còn phải đảm bảo cho sự thành công của dự án trên các phương diện:

Thực hiện đầu tư, khai thác vận hành và tài chính;

- Các qui định về vốn góp của các bên, vốn pháp định và vốn đầu tư đối vớicác dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài: Vốn góp của bên nước ngoài khôngdưới 30% vốn pháp định; vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp Các trườnghợp ngoại lệ, phải được cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoàichấp thuận;

- Đối với các dự án đầu tư theo hình thức BOT trong nước: Vốn tự có củadoanh nghiệp BOT tối thiểu phải đạt 30% tổng mức vốn đầu tư thực hiện dự

án BOT;

- Đối với các dự án BOT, BTO, và BT áp dụng cho hoạt động đầu tư nướcngoài tại Việt Nam: Doanh nghiệp BOT, BTO và BT được thành lập theoLuật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từngày được cấp giấy phép đầu tư

- Đối với những dự án đầu tư do các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanhnghiệp làm chủ đầu tư, hội đồng quản trị (chủ tịch HĐQT là đại diện), hộiđồng thành viên (chủ tịch Hội đồng thành viên là đại diện) sẽ quyết định cácnội dung chính liên quan tới triển khai thực hiện dự án đầu tư: Hội đồngquản trị công ty cổ phần là cấp quyết định các nội dung như: Chiến lượcphát triển của công ty, phương án đầu tư Hội đồng thành viên công tyTNHH quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị lớn hơn50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệkhác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty, thông qua hợ đồng vay, cho vay,bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghitrong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệcông ty

2 Sự cần thiết phải đầu tư, mục tiêu và nội dung chính của dự án.

Đối với bất cứ dự án đầu tư nào, phân tích đánh giá nhằm làm rõ được sự cầnthiết phải đầu tư là xuất phát điểm để tiếp tục hoạch định các nội dung đầu tư khácnhư: lựa chọn hình thức đầu tư, địa điểm đầu tư, thời điểm đầu tư, qui mô đầu tư, các

Trang 22

giải pháp về công nghệ, thiết bị cũng như việc đáp ứng các yêu cầu đầu vào và dự kiếnđầu ra Khi báo cáo NCKT đã được hoàn tất và chủ đầu tư đề xuất TCTD tham gia tàitrợ vốn để thực hiện dự án, có nghĩa là, theo quan điểm của chủ đầu tư, có sự cần thiếtphải đầu tư dự án đó Tuy nhiên, với giác độ là một bên xem xét để đánh giá khả năngtham gia tài trợ vốn, TCTD cần phân tích sự cần thiết phải đầu tư dự án theo các căn

cứ sau:

- Qui hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương: Trở lại với vấn đề về kỷ luậttrong thực hiện qui hoạch đối với hoạt động đầu tư, điều kiện cần để một dự

án được xem là cần thiết phải đầu tư là dự án đó phải phù hợp với qui hoạch

cũng như chiến lược phát triển ngành, vùng, địa phương;

- Điều kiện đủ để xác định sự thiết phải thực hiện đầu tư dự án: Lựa chọn thờiđiểm đầu tư, hình thức đầu tư, qui mô đầu tư, và phương án đầu tư rõ ràng lànhững nội dung rất quan trọng quyết định đến sự thành bại của dự án Cho

dù dự án có phù hợp với chiến lược phát triển đã đặt ra, nhưng một trongnhững nội dung chính yếu nêu trên không được cân nhắc kỹ càng, thì dự án

sẽ dẫn tới thất bại Những nội dung đầu tư nêu trên, cơ bản do tình hình thịtrường và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp quyết định Do đó, cần thiếtphải có những đánh giá tổng quan về thị trường cũng như năng lực củadoanh nghiệp, trên cơ sở đó để xem xét vấn đề theo hướng: Dự án nếu đượcthực hiện đầu tư thì sẽ có những tác động gì đến doanh nghiệp? Với tìnhhình thị trường như hiện nay và dự báo trong những năm tới, lựa chọn thờiđiểm đầu tư như vậy có thuận lợi hay không, qui mô đầu tư có hợp lýkhông? Địa điểm đầu tư đã lựa chọn có phù hợp với thị trường mục tiêukhông? Hình thức thức đầu tư có phù hợp với tính chất của dự án cũng nhưnăng lực của chủ đầu tư không?

Những nội dung phân tích trên sẽ cho thấy bức tranh tổng quát về thị trường, vềdoanh nghiệp và các chế độ chính sách có liên quan tới hoạt động đầu tư trong lĩnhvực của dự án Qua đó, đối chiếu với nội dung đầu tư trong báo cáo NCKT, để đánhgiá sự cần thiết phải đầu tư dự án

Qua đánh giá sự cần thiết phải đầu tư cho thấy cơ hội để có thể thực hiện dự án,

và đương nhiên nhiều nhà đầu tư khác cũng có thể nhận biết được cơ hội đầu tư này

Cơ hội đầu tư có thể có, nhưng thị trường cạnh tranh đòi hỏi phải lựa chọn đượcphương án, cách thức đầu tư hợp lý, do đó cần đánh giá sơ bộ một số nội dung chínhcủa dự án, cụ thể là:

- Mục tiêu của dự án phù hợp hay không phù hợp: Ở mức khiêm tốn quá vàtrở nên lãng phí cơ hội đầu tư? Phù hợp? hay ở mức quá tham vọng so vớiqui mô thị trường và năng lực của chủ đầu tư?

- Lựa chọn qui mô đầu tư: Có phù hợp với qui mô của thị trường cũng nhưkhả năng mở rộng thị phần và chiếm lĩnh thị trường hay không?

- Qui mô vốn đầu tư: Tổng mức, cơ cấu, tiến độ huy động vốn đầu tư;

Trang 23

- Tiến độ triển khai thực hiện dự án: Có phù hợp với các dự án tương tựkhông? liệu triển khai dự án có đảm bảo đúng được tiến độ dự kiến không?Với tiến độ dự kiến thì sẽ có những thuận lợi hay khó khăn gì so với các đốithủ cạnh tranh?

Những nội dung phân tích nêu trên, một số sẽ được đề cập lại và phân tích chitiết ở các phần sau, do đó mức độ phân tích ở phần này chỉ mang tính chất tổng quát

để có được đánh giá khái quát ban đầu về dự án Nếu với đánh giá khái quát ban đầu

đã cho thấy, dự án có nhiều khó khăn hơn là thuận lợi, và khả năng thành công là thấpthì có thể đưa ra được quyết định về khả năng tham gia tài trợ của TCTD Trường hợpđánh giá khái quát ban đầu cho thấy dự án có những thuận lợi cơ bản, mục tiêu của dự

án đặt ra hợp lý, thì những nội dung phân tích tiếp theo dưới đây sẽ đi sâu đánh giá chitiết hơn nữa, đảm bảo quá trình phân tích được liên tục, và có tính gắn kết giữa các nộidung trong một bản báo cáo

3 Tổng vốn đầu tư, suất đầu tư, cơ cấu và tính khả thi của phương án nguồn vốn.

Như tiêu đề của nó, phân tích nội dung này nhằm các mục đích cụ thể như sau:

- Đánh giá tính hợp lý, đầy đủ của mức vốn đầu tư khái toán;

- Đánh giá tính khả thi của phương án nguồn vốn doanh nghiệp dự kiến sẽdùng để huy động vốn thực hiện dự án;

- Số liệu phân tích về tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư và tiến độ giải ngâncác loại nguồn vốn được sử dụng làm thông số đầu vào trong tính toán hiệuquả dự án ở bước phân tích sau

Để đạt được mục tiêu phân tích nêu trên, trong quá trình xem xét, cần chú ý tớimột số nội dung sau:

- Kiểm tra cơ cấu chi phí vốn đầu tư nhằm đảm bảo dự án được khái toán vớiđầy đủ các khoản mục chi phí (xây lắp, thiết bị, chi phí khác, dự phòng vàlãi vay trong TGXD);

- Thực hiện kiểm tra cách xác định chi phí ở một số hạng mục: Nguyên tắctính toán có đúng không, chế độ áp dụng có phù hợp không, khối lượng tính

có chính xác không Tuỳ theo khả năng và trình độ của cán bộ phân tích, cóthể kiểm tra xác suất một số hạng mục, kiểm tra những hạng mục có chi phíđầu tư lớn, hoặc lựa chọn cách thức kiểm tra phù hợp khác;

- Tính toán xác định và so sánh suất đầu tư: So sánh suất đầu tư của dự án vớicác dự án cùng loại khác, chú ý nên cố gắng đưa về cùng một mặt bằngcông nghệ, công suất thiết kế thì việc so sánh mới có ý nghĩa;

- Tập trung giải thích cho được những nguyên nhân làm cho tổng mức vốnđầu tư, suất đầu tư có sự khác biệt lớn với các dự án cùng loại khác (nếucó);

- Khả năng thu xếp vốn cho dự án: Mức độ chắc chắn trong cam kết tham giatài trợ vốn cho dự án của các nguồn vốn dự kiến, các điều kiện tài trợ chính

Trang 24

(mức tài trợ, thời hạn cho vay, ân hạn, lãi suất, trả nợ, ) Tỷ trọng vốn tự

có tham gia vào dự án trên cơ sở năng lực tài chính đã được phân tích ởPhần I.1 - Đánh giá khách hàng vay vốn;

- Tiến độ giải ngân các loại nguồn vốn tham gia vào dự án: Sẽ là hợp lý hơnnếu nguồn vốn tự có tham gia vào dự án trước; trên cơ sở tiến độ giải ngân,tính lãi vay trong thời gian thi công

4 Lựa chọn công nghệ, thiết bị.

Lựa chọn công nghệ, thiết bị được đánh giá là hợp lý khi đáp ứng được một sốyêu cầu sau:

- Phù hợp với khả năng quản lý, khai thác, vận hành của doanh nghiệp vàđiều kiện khai thác, vận hành công nghệ thiết bị đó tại doanh nghiệp Doanhnghiệp phải làm chủ được công nghệ, thiết bị sau thời gian chuyển giao;

- Phù hợp với năng lực tài chính cho phép của doanh nghiệp (lựa chọn côngnghệ tiên tiến nhất, thiết bị hiện đại nhất, mức độ tự động hoá cao nhất,chưa hẳn đã là tốt!);

- Đồng thời, chất lượng sản phẩm làm ra phải đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuậtnhư cam kết, đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn, về môi trường, và các tiêuchuẩn kỹ thuật các đã đề ra;

- Các điều kiện sau bán hàng: Chuyển giao, bảo hành, bảo trì, được thựchiện một cách nghiêm túc

Như vậy, trong điều kiện tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp còn rất hạnchế như hiện nay, ngoại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng vẫnphải đặt ra yêu cầu từng bước thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thì việc lựachọn một công nghệ quá thâm dụng vốn hoặc quá thâm dụng lao động đều không hợp

lý Với yêu cầu như vậy, phân tích đánh giá nội dung này cần đặt trọng tâm chú ý vàomột số vấn đề sau:

- So sánh công nghệ được lựa chọn với mặt bằng công nghệ chung và xuhướng phát triển công nghệ trong thời gian tới: Đối chiếu với giải phápcông nghệ thiết bị của các dự án tương tự để đánh giá mức độ phù hợp củacông nghệ thiết bị được lựa chọn Làm rõ các ý kiến giả thích sự khác biệt

về công nghệ, thiết bị (nếu có) Tham vấn ý kiến của các chuyên gia trongngành;

- Yêu cầu đối với nhập lượng đầu vào của công nghệ, thiết bị lựa chọn có phùhợp với phương án khai thác nhập lượng đầu vào mà dự án đã dự kiến haykhông Công nghệ có sử dụng được nhập lượng trong nước hay phải giatăng tỷ trọng đầu vào nhập khẩu;

- Hợp đồng mua bán công nghệ, thiết bị: Uy tín nhà cung ứng, điều kiệnthanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, điều khoản bảo hành, điều khoản

Trang 25

chuyển giao công nghệ và chi phí liên quan đến chuyển giao công nghệ,thời gian giao hàng,

Đây là một nội dung thuần tuý thuộc phương diện kỹ thuật, khá khó đối với cán

bộ phân tích nếu như không có sự chuẩn bị trước, thiếu tích luỹ về mặt thông tin vàkiến thức tối thiểu Do đó, sẽ là rất có ích nếu như những thông tin (cả kinh tế lẫn kỹthuật) về ngành, lĩnh vực đầu tư được cập nhật, lưu trữ và theo dõi thường xuyên trongquá trình làm việc

5 Thị trường yếu tố đầu vào.

Với lĩnh vực đầu tư, qui mô đầu tư, phương án đầu tư như đã được đề cập ởMục 2, đánh giá thị trường yếu tố đầu vào, nhất thiết phải làm rõ được các nội dung cơbản sau:

- Dự án cần những yếu tố đầu vào nào: Chủng loại gồm những loại gì? sốlượng một năm bình quân là bao nhiêu? yêu cầu về chất lượng là như thếnào;

- Phương án khai thác nhập lượng đầu vào: Tỷ lệ đầu vào khai thác tại chỗ,khai thác thị trường trong nước, nhập khẩu cụ thể là bao nhiêu? Mức độ đápứng các điều kiện cần thiết để có thể khai thác nhập lượng ở thị trườngtrong nước Nhập lượng đầu vào khai thác tại chỗ, khai thác trong nước haynhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất;

- Khả năng làm chủ được tình hình trước những biến động của thị trường yếu

tố đầu vào: Doanh nghiệp đã thiết lập được quan hệ với nhà cung ứng từtrước hay chưa, chính sách bán hàng của nhà cung ứng dành cho doanhnghiệp như thế nào, tiềm lực tài chính để đối phó với những biến động củathị trường yếu tố sản xuất?

- Chính sách của nhà nước có liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu các yếu

tố nhập lượng đầu vào mà dự án cần

Những nội dung phân tích trên, nhằm: Về mặt định tính, đánh giá mức độ thuậnlợi, khó khăn, khả năng chủ động của doanh nghiệp đối với phương án khai thác nhậplượng đầu vào Về mặt định lượng, xác định chi phí đầu vào đơn vị, và các yếu tố cókhả năng thay đổi làm ảnh hưởng tới chi phí đầu vào (biến động của thị trường doquan hệ cung cầu, biến động của tỷ giá đối với đầu vào phải nhập khẩu, ) Nhữngyếu tố có tính chất định lượng này sẽ được sử dụng làm thông số đưa vào tính toánhiệu quả dự án

6 Thị trường các yếu tố đầu ra.

Đây là một trong những nội dung phân tích rất quan trọng trong thẩm định dự

án đầu tư Nội dung phân tích này nhằm đánh giá các vấn đề cơ bản sau:

- Khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại và sản phẩm thay thếthông qua giá bán, thông qua chất lượng, và thông qua chính sách bán hàng;

Trang 26

- Khả năng tiêu thụ sản phẩm: Thông qua việc đánh giá khả năng cạnh tranh,xác định khả năng chiếm lĩnh thị trường, xác lập thị phần, và cuối cùng làhuy động công suất thiết kế qua các năm.

Để đạt được mục tiêu phân tích nêu trên, trong quá trình xem xét, về nguyên tắccần đặt trong tâm phân tích vào một số nội dung chủ yếu sau:

- Phân tích tổng quan thị trường qua quan hệ cung - cầu: Về phía cung, xácđịnh năng lực sản xuất, cung ứng hiện có, cơ cấu thị trường theo các tiêu chíkhác nhau, số liệu về hoạt động nhập khẩu và tính chất phân đoạn của thịtrường cung ứng đối với sản phẩm cùng loại; chính sách của nhà nước đốivới hoạt động sản xuất và nhập khẩu sản phẩm cùng loại; chiến lược cạnhtranh của các nhà sản xuất lớn; dự báo những thay đổi về cơ cấu thị trường,tốc độ tăng trưởng cung trong thời gian tới Về phía cầu, đánh giá tổng quan

về nhu cầu sản phẩm đầu ra dự án, tính chất của nhu cầu (co dãn, không codãn với giá, tính chất của hàng hoá: đầu ra của dự án là hàng thiết yếu hayhàng hoá thông dụng), tốc độ tăng trưởng nhu cầu;

- Đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm: Với đặc điểm của thị trườngnhư phân tích ở trên, với chính sách của các đối thủ cạnh tranh hiện có trênthị trường, thì các biện pháp đưa ra để đảm bảo khả năng cạnh tranh của sảnphẩm, như: Khả năng định vị tốt sản phẩm đầu ra của dự án để lựa chọnchính sách đầu tư hợp lý, cạnh tranh thông qua việc xây dựng giá bán hợp

lý và hấp dẫn, thông qua chất lượng và mẫu mã, thông qua chính sách bánhàng, được chuẩn bị và thực hiện như thế nào?

- Xác định thị trường mục tiêu của dự án: Xuất phát từ qui mô đầu tư, lựachọn công nghệ thiết bị, sự phân đoạn của thị trường hiện tại và khả năngcạnh tranh của sản phẩm để xác định thị trường mục tiêu của dự án Liệu dự

án có khả năng tham gia vào thị trường, chiếm lĩnh được thị trường mụctiêu như dự kiến hay không?

- Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối: Đã có sẵn mạng lưới đại lýphân phối hay phải thiết lập mới từ đầu, các kênh phân phối hỗ trợ, phươngthức bán hàng, những thuận lợi và khó khăn trong phân phối sản phẩm.Nội dung phân tích nêu trên sẽ đưa đến những kết luận đánh giá mang tính chất

cả về định tính và định lượng Về mặt định tính, đánh giá được khả năng cạnh tranh vàkhả năng tiêu thụ sản phẩm Về mặt định lượng, các yếu tố về giá bán, chính sách bánhàng, chi phí trong bán hàng, và khả năng phát huy công suất thiết kế hàng năm, sẽ

là những thông số đầu vào để phục vụ quá trình tính toán xác định hiệu quả dự án

7 Các yếu tố kỹ thuật khác: Quy mô và giải pháp xây dựng, địa điểm đầu tư, tác động môi trường, giải pháp xây dựng, PCCC, tổ chức quản lý thực hiện dự án,

Cần tập trung xem xét, đánh giá một số nội dung có liên quan sau:

Trang 27

- Về địa điểm đầu tư: Có thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường mục tiêu haykhông? Khả năng tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có từ địa điểm đầu tư như thếnào? Xử lý nền móng có phức tạp không, có ảnh hưởng tới chi phí vốn đầu

tư ban đầu không?

- Về quy mô và giải pháp xây dựng: Thông qua việc so sánh với các dự áncùng loại khác, trên cơ sở qui mô đầu tư và địa điểm đầu tư đã lựa chọn,đánh giá quy mô và giải pháp xây dựng, giải pháp kiến trúc, giải pháp kếtcấu có phù hợp hay không?

- Về môi trường, PCCC: Dự án có tuân thủ đúng các qui định hiện hành vềmôi trường, PCCC hay chưa (báo cáo ĐTM, phương án PCCC được cấp cóthẩm quyền phê chuẩn)? Có dự trù kinh phí xử lý môi trường, kinh phí thựchiện phương án PCCC trong cơ cấu tổng mức vốn đầu tư không?

- Về tổ chức quản lý và thực hiện dự án: Trên cơ sở kinh nghiệm của chủ đầu

tư, các qui định hiện hành trong hoạt động đầu tư xây dựng của nhà nước,

và tính chất của dự án, việc lựa chọn hình thức tổ chức quản lý và thực hiện

dự án có phù hợp và hợp lý không

8 Đánh giá hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay.

Số liệu sử dụng để phân tích, đánh giá: Sử dụng kết quả phân tích đánh giá cácnội dung có liên quan đã nêu ở trên (từ mục 2 đến mục 7), đặc biệt là đối với nhữngkết quả phân tích định lượng, làm thông số đầu vào để phục vụ quá trình tính toánđánh giá hiệu quả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay

Nguyên tắc xây dựng các phương án đánh giá hiệu quả tài chính dự án: Xâydựng phương án cơ bản, là phương án được tính toán với các thông số đầu vào từ dự

án lập và những số liệu phân tích định lượng nêu trên Sau đó, thực hiện phân tích độnhậy đối với các thông số quan trọng Để tránh việc chấp thuận dự án dựa trên nhữngước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, nên sử dụng những ước tính thiên lệch vềhướng làm giảm bớt lợi ích của dự án, trong khi làm tăng cao mức ước tính về chi phí.Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩm định như vậy, thì có rất nhiều khảnăng dự án sẽ đứng vững khi những điều kiện trong thực tế trở nên khó khăn hơn sovới dự kiến ban đầu

Kỹ năng phân tích: Sử dụng Excel để thực hiện phân tích, đánh giá hiệu quả tàichính và khả năng hoàn trả nợ vay của dự án Trật tự thực hiện phân tích đánh giá hiệuquả tài chính và khả năng hoàn trả nợ vay của dự án nên được thực hiện theo các bước

cơ bản như sau:

- Lập bảng thông số: Là bảng tổng hợp các thông số cơ bản của dự án, số liệuđưa vào bảng thông số gồm: Số liệu từ dự án, số liệu có được từ kết quảphân tích về định lượng các nội dung có liên quan tới dự án như đã trìnhbầy ở trên Lưu ý, trong Bảng Thông số, không nên đưa số liệu dưới dạngliên kết công thức, mà là số liệu dưới dạng số đơn/độc lập/gõ trực tiếp giá

Trang 28

trị vào địa chỉ ô trên excel Bảng thông số nên được kết cấu theo các nhómchỉ tiêu, để thuận tiện trong việc sử dụng và kiểm soát các chỉ tiêu này trongsuốt quá trình tính toán;

- Lập bảng tính khấu hao cơ bản: Căn cứ cơ cấu vốn đầu tư phân bổ theohạng mục, chế độ khấu hao hiện hành, điều kiện thực tiễn của dự án, để xácđịnh kế hoạch trích khấu hao cơ bản hàng năm Lưu ý, có thể sử dụng cáchàm tính khấu hao cơ bản trong excel hoặc trực tiếp thiết lập công thức tínhkhấu hao Trong quá trình xác định giá trị tài sản hình thành sau đầu tư đểtính mức trích khấu hao hàng năm, cần xét đến yếu tố lạm phát trong thờigian thực hiện đầu tư, giá trị tài sản sau khi kết thúc quá trình đầu tư thườnglớn hơn so với giá trị lúc lập dự án ban đầu Khi doanh nghiệp thực hiện sửachữa lớn, giá trị TSCĐ sẽ tăng lên, nên mức trích khấu hao trong nhữngnăm tiếp theo sẽ thay đổi, và sự thay đổi này cần được thể hiện trong bảngtính khấu hao cơ bản;

- Xây dựng kế hoạch trả nợ vốn vay: Căn cứ phương án nguồn vốn và tiến độhuy động các nguồn vốn đầu tư cũng như điều kiện vay vốn để xác định:Lãi vay phát sinh trong thời gian xây dựng, kế hoạch vay trả cho phù hợp.Lưu ý, đối với vốn vay bằng ngoại tệ, bên cạnh việc lập kế hoạch trả nợbằng ngoại tệ, cần qui đổi ra nội tệ theo tỷ giá phù hợp với tỷ giá qui đổihàng năm có gắn với tỷ lệ lạm phát Hàm PMT, PPMT thường là nhữnghàm được sử dụng khá phổ biến đối với việc lập kế hoạch trả nợ vốn vay;

- Xác định chi phí sản xuất đơn vị: Căn cứ định mức tiêu hao nguyên nhiênvật liệu, giá thành các yếu tố đầu vào (từ kết quả phân tích công nghệ, thiết

bị và thị trường các yếu tố đầu vào), để xác định chi phí sản xuất đơn vị.Lưu ý, không đưa vào chi phí sản xuất đơn vị những chi phí có tính chất bấtthường hoặc không thường xuyên, ví dụ như chi phí sửa chữa lớn;

- Xác định nhu cầu vốn lưu động: Căn cứ kế hoạch doanh thu, chính sách bánhàng, chính sách mua hàng của nhà cung ứng, khả năng vốn lưu động tự cótham gia, khả năng luân chuyển vốn lưu động của các dự án cùng lĩnh vựcđầu tư, để xác định nhu cầu vốn lưu động cũng như lãi vay vốn lưu độnghàng năm;

- Xác định kết quả kinh doanh: Căn cứ những phân tích về thị trường đầu ra

để xác định khả năng huy động công suất thiết kế của thiết bị, qua đó xácđịnh sản lượng sản xuất hàng năm Cùng với giá bán sản phẩm dự kiến, xácđịnh doanh thu hàng năm Xác định chi phí trên cơ sở kết quả các bảng tínhtrung gian, gồm: bảng tính chi phí đơn vị sản phẩm, bảng tính khấu hao,bảng kế hoạch trả nợ, bảng xác định nhu cầu vốn lưu động Tiếp theo, căn

cứ vào chế độ thuế, để xác định lợi nhuận ròng;

- Xây dựng dòng ngân lưu và tính toán các chỉ tiêu tài chính dự án: Trên cơ

sở lợi nhuận ròng được xác định tại bảng tính kết quả kinh doanh, thực hiệnviệc điều chỉnh một số khoản mục, gồm: Khấu hao cơ bản, lãi vay vốn dài

Trang 29

hạn để Cùng với tiến độ giải ngân vốn đầu tư ban đầu, xây dựng dòng ngânlưu Trên cơ sở dòng ngân lưu, tính toán các chỉ tiêu tài chính dự án như:NPV, IRR, DSCR và các chỉ tiêu cần thiết khác.

Phân tích độ nhậy: Căn cứ kết quả phân tích đánh giá dự án theo các nội dung

từ mục 2 đến mục 7, lựa chọn các thông số có khả năng thay đổi lớn nhất và sự thayđổi của nó sẽ gây ra những biến động lớn về hiệu quả tài chính dự án Phân tích độnhậy với các thông số được lựa chọn Kết quả phân tích độ nhậy sẽ cho thấy mức độảnh hưởng của các thông số được lựa chọn tới hiệu quả tài chính dự án Từ đó, làm căn

cứ đưa ra những đề xuất, kiến nghị và biện pháp nhằm hạn chế rủi ro dự án

9 Nhận diện rủi ro, các biện pháp giảm thiểu rủi ro.

Có nhiều cách để tiếp cận, nhận diện và phân tích rủi ro, như là rủi ro hệ thống

và phi hệ thống, rủi ro do nguyên nhân khách quan và chủ quan đem lại, Tuy nhiên,phân tích và đánh giá rủi ro theo quá trình thực hiện dự án cũng như các yếu tố trựctiếp hoặc gián tiếp liên quan tới các khâu trong vận hành khai thác dự án thường được

sử dụng vì đây là cách tiếp cận khá trực diện, đơn giản, dễ hiểu và khá đầy đủ Rủi ro,

có thể xảy ra hoặc không xảy ra, có thể xảy ra với dự án này, nhưng lại không xảy ravới các dự án khác Hoạt động đầu tư thường gắn với rủi ro, rủi ro càng lớn thì mứcsinh lợi yêu cầu càng cao Vấn đề là, các TCTD phải làm thế nào để nhận diện đượcrủi ro, chủ động trước những rủi ro có thể xảy ra với dự án mà họ đang xem xét khảnăng tham gia tài trợ, qua đó đưa ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro

- Rủi ro về cơ chế, chính sách: Gồm những bất ổn về cơ chế, chính sách làmthay đổi dòng tiền của dự án theo chiều hướng xấu đi Ngoài ra, việc tuânthủ nghiêm túc các qui định hiện hành cũng là một biện pháp để phòngtránh những rủi ro loại này Để giảm thiểu rủi ro này, trong phân tích đánhgiá tính pháp lý của dự án, cần chú ý tới việc chấp hành, mức độ tuân thủcác qui định hiện hành trong hoạt động quản lý đầu tư và xây dựng Đồngthời, nếu có thể, doanh nghiệp nên tìm kiếm các hình thức như: Bảo hiểm,

tự bảo hiểm, ưu đãi hoặc bảo lãnh của chính phủ cho một số vấn đề có tínhchất bất khả kháng;

- Rủi ro xây dựng, hoàn tất: Dự án hoàn thành không đúng tiến độ dự kiến,

và các thông số đạt được không phù hợp với những tiêu chuẩn đã đặt ra.Thông qua nội dung phân tích về tổ chức quản lý thực hiện dự án, lựa chọnnhà cung ứng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, hợp đồng tư vấn giám sát, sẽđánh giá loại rủi ro này Biện pháp giảm thiểu rủi ro: Triển khai dự án theođúng qui định hiện hành trong đầu tư xây dựng, thiết lập cơ chế giám sát vàchịu trách nhiệm rõ ràng thông qua các hợp đồng tư vấn giám sát, hợp đồngbảo lãnh; lựa chọn hình thức thực hiện các hợp đồng một cách phù hợp;

- Rủi ro thị trường yếu tố đầu vào: Dự án không thực hiện được phương ánkhai thác nhập lượng đầu vào như dự kiến, dẫn tới nguồn nhập lượng đầuvào không ổn định, chất lượng không đảm bảo hoặc chi phí nhập lượng tăngcao Để giảm thiểu rủi ro, ngay từ ban đầu trong đánh giá hiệu quả tài chính

Trang 30

dự án, cần lượng hoá những yếu tố không chắc chắn đối với phương án khaithác nhập lượng đầu vào để đưa vào tính toán cụ thể, thực hiện khảo sát độnhậy dự án với những nhập lượng quan trọng và có khả năng thay đổi nhiều

để đánh giá ảnh hưởng của nó tới hiệu quả tài chính của dự án Bên cạnh

đó, yêu cầu doanh nghiệp tìm kiếm các biện pháp giảm thiểu khác như: Kýcác hợp đồng cung ứng dài hạn, lựa chọn các nhà cung ứng uy tín, lựa chọncác hình thức hợp đồng (kỳ hạn, giao ngay, giá cố định, ) phù hợp với tínhchất của thị trường yếu tố đầu vào;

- Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán: Loại rủi ro này thường xuất phát từviệc phân tích đánh giá thị trường không cẩn trọng, từ đó dẫn tới việc xácđịnh mục tiêu và lựa chọn qui mô đầu tư không phù hợp với tình hình thực

tế của thị trường Đánh giá quá cao nhu cầu của thị trường, định vị sảnphẩm đầu ra và lựa chọn thị trường mục tiêu không phù hợp, dẫn tới doanhthu không đủ bù đắp chi phí, và không đạt được các chỉ tiêu tài chính như

dự kiến Biện pháp giảm thiểu rủi ro: Ngay từ đầu, những thông số về giábán sản phẩm dự kiến, khả năng huy động công suất thiết kế, khả năng tiếpcận thị trường và cạnh tranh của sản phẩm, phải được phân tích theohướng thận trọng, an toàn và hợp lý để đưa tính toán, xác định hiệu quả tàichính dự án Thực hiện việc phân tích độ nhậy dự án theo các yếu tố đượcđánh giá là quan trọng và có khả năng thay đổi nhiều nhất để xác định mức

độ ảnh hưởng của chúng tới hiệu quả dự án, cũng như khoảng an toàn của

dự án Bên cạnh đó, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện các biện pháp khácnhư: Tìm kiếm hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn, hỗ trợ bao tiêu sảnphẩm, lựa chọn công nghệ cho phép có thể thực hiện việc đa dạng hoá vềchủng loại sản phẩm, giảm thiểu các điều khoản không cạnh tranh (nếucó),

- Các loại rủi ro khác: Rủi ro kỹ thuật, vận hành và bảo trì; rủi ro về môitrường và xã hội; rủi ro kinh tế vĩ mô, Để các TCTD có thể chủ độngtrong nhiều tình huống trên cơ sở đã có những dự tính cụ thể, tuỳ theo từngloại rủi ro, trên cơ sở phân tích và nhận định, để lượng hoá và đưa vào trongphương án tính toán đánh giá hiệu quả tài chính dự án Đồng thời, đề xuấtvới doanh nghiệp các biện pháp giảm thiểu

10 Hình thức bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng là việc các TCTD áp dụng các biệnpháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản

nợ đã cho khách hàng vay

10.1 Khung pháp lý chính về bảo đảm tiền vay và các vấn đề có liên quan.

Liên quan tới nội dung bảo đảm tiền vay, khung pháp lý cơ bản điều chỉnh hoạtđộng này, đến thời điểm hiện nay gồm có:

Trang 31

* Bảo đảm tiền vay:

- Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29.12.1999 của Chính phủ về bảo đảmtiền vay của các tổ chức tín dụng;

- Nghị định số 85/2000/NĐ-CP ngày 25.10.2002 của Chính phủ về sửa đổi

bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP;

- Thông tư số 07/2003/TT-NHNN ngày 19.5.2003 hướng dẫn thực hiện một

số quy định về bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng;

- Thông tư số 03/2003/TT-NHNN ngày 24.02.2003 của Ngân hàng Nhà nướchướng dẫn về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo Nghị quyết số02/2002/NQ_CP ngày 07.01.2003 của Chính phủ;

* Thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất:

- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29.3.1999 của Chính phủ về thủ tụcchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thếchấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;

- Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01.11.2001 của Chính phủ sửa đổi bổsung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP;

- Thông tư số 1417/1999/TT-TCĐC ngày 18.9.1999 của Tổng cục Địa chínhhướng dẫn thi hành Nghị định số 17/1999/NĐ-CP;

- Thông tư số 1248/2000/TT-TCĐC ngày 18.9.2000 sửa đổi bổ sung điểm 6mục I Thông tư 1417/1999/TT-TCĐC;

- Thông tư liên tịch số 772/2001/TTLT-NHNN-BTP-BTC-TCĐC ngày21.5.2001 hướng dẫn thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sảngắn liền với đất của doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại các TCTD;

- Thông tư liên tịch số 03/2003/TTLT/BTP-BTNMT ngày 14.7.2003 hướngdẫn trình tự, thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnhbằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;

- Công văn số 147/NHNN-CSTT ngày 18.02.2003 v/v xác định giá đất thế

chấp, bảo lãnh theo Quy định tại Nghị định 85/2002/NĐ-CP

* Giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm:

- Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19.11.1999 của Chính phủ về giao dịchbảo đảm;

- Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10.3.2000 của Chính phủ về đăng kýgiao dịch bảo đảm;

- Thông tư số 01/2002/TT-BTP ngày 09.01.2002 hướng dẫn một số vấn đề vềthẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảođảm;

Trang 32

- Thông tư số 06/2002/TT-BTP ngày 28.02.2002 hướng dẫn một số qui địnhcủa Nghị định 165/1999/NĐ-CP;

- Công văn số 106/CV-PC ngày 25.3.2002, số 1149/NHNN-PC ngày

24.10.2002 của Ngân hàng Nhà nước v/v thực hiện đăng ký giao dịch bảo

đảm;

- Công văn số 3846/CV-PCCĐ ngày 10.12.2002 của Ngân hàng Đầu tư &

Phát triển Việt Nam v/v thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm tại cục đăng

ký giao dịch bảo đảm

10.2 Một số vấn đề cần lưu ý trong bảo đảm tiền vay.

Việc đăng ký giao dịch bảo đảm nhằm mục tiêu công khai hoá các giao dịchbảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức trong việc tìm hiểu thông tin

về tài sản, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xác định chính xác thứ tự ưu tiên thanh toánkhi xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặc biệt trong trường hợp một giao dịchbảo đảm cùng một lúc được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ Hoạt độngđăng ký đã góp phần tăng cường tính minh bạch trong giao dịch dân sự, kinh tế, lànhmạnh hoá môi trường đầu tư, bảo bệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham giagiao dịch và cá nhân, tổ chức có liên quan Với ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký giaodịch bảo đảm, trong nội dung bảo đảm tiền vay, cần lưu ý:

- Cho vay có bảo đảm hay không có bảo đảm: Căn cứ vào mức độ rủi ro của

dự án/khoản vay, và các qui định khác của Ngành về giới hạn cho vaycó/không có bảo đảm đối với khách hàng, chi nhánh quyết định cho vay cóhay không có bảo đảm Tuy nhiên, theo Luật phá sản thì những khoản nợkhông có bảo đảm được xếp sau cùng trong thứ tự phân chia tài sản để thựchiện nghĩa vụ nợ trong trường hợp thẩm phán ra quyết định mở thủ tụcthanh lý đối với doanh nghiệp;

- Tránh trường hợp vô hiệu của hình thức bảo đảm tiền vay hoặc tranh chấp

có thể xảy ra: Theo Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19.11.1999 về giaodịch bảo đảm, những giao dịch bảo đảm bắt buộc phải đăng ký tại cơ quanđăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm (tài sản phải đăng ký quyền sở hữu; tàisản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; tài sản bảo đảm được các bênthoả thuận giao bên cầm cố thế chấp hoặc bên thứ ba giữ; văn bản thôngbáo về việc xử lý tài sản bảo đảm; và tài sản cho thuê tài chính), thì giaodịch này chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký Do đó, nếu không thựchiện đăng ký giao dịch đảm bảo đối với những giao dịch bảo đảm bắt buộcphải đăng ký, thì giao dịch bảo đảm đó có thể trở nên vô hiệu;

- Đăng ký giao dịch bảo đảm và xác nhận tính xác thực của giao dịch bảođảm: Cần lưu ý, việc đăng ký giao dịch bảo đảm và được cấp giấy chứngnhận đăng ký giao dịch bảo đảm không có giá trị xác nhận tính xác thực củagiao dịch bảo đảm, mà đây chỉ là một thủ tục bổ sung bắt buộc, nhằm bảođảm quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên tham gia giao dịch bảo đảm;

Trang 33

- Những vấn đề khác: Do BIDV đã đăng ký khách hàng thường xuyên chohầu hết các chi nhánh cấp I, II, nên đơn yêu cầu đăng ký có thể gửi qua fax.Ngoài ra, thông qua hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm, các chi nhánh cóthể khai thác thông tin liên quan tới tài sản bảo đảm nợ vay

II THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ - MỘT CÁI NHÌN TỔNG THỂ.

1 Đặt vấn đề.

Dự án là gì: Có rất nhiều định nghĩa về dự án đầu tư, chẳng hạn theo Quy chếquản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất cóliên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhấtđịnh nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chấtlượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định Định nghĩa này chỉ

đặt ra yêu cầu giới hạn về thời gian trong quá trình thực hiện dự án, còn ngân sách và

các nguồn lực khác cần cho quá trình thực hiện dự án liệu có điều kiện ràng buộc gìkhông, ngân sách cho dự án là ngân sách cứng hay ngân sách mềm, có được điềuchỉnh tăng giảm một cách “thoải mái” hay không, tất cả đều không được đề cập tới

Một cách tiếp cận khác theo hướng mọi nguồn lực đều khan hiếm, mọi

phương án sử dụng nguồn lực đều có tính cạnh tranh với nhau, dự án được thực hiệntrên cơ sở giới hạn ngân sách cứng, có một định nghĩa khác như sau: “Dự án đầu tư làmột quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm

đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách”

Nghiệp vụ thẩm định trong thời gian vừa qua đã có những bước chuyển rấtđáng kể, bên cạnh việc đưa tin học vào ứng dụng để hỗ trợ quá trình tính toán, nộidung phân tích đã dần được chuẩn hoá, và trở nên phù hợp hơn so với yêu cầu củathực tiễn hoạt động tín dụng Tuy nhiên ngày nay, lý thuyết về thẩm định dự án cũng

đã có những bước tiến đáng kể, khung phân tích một dự án đã được giới thiệu ngàymột hoàn chỉnh hơn, bên cạnh đó là sự xuất hiện những phần mềm chuyên dụng vềthẩm định dự án Tất cả những nội dung trên đã và đang hình thành nên một thông lệchung trong công tác thẩm định dự án Quay trở lại với cách thức tiến hành nghiệp vụthẩm định hiện nay, đối chiếu với thông lệ quốc tế, cho thấy còn nhiều bất cập, cụ thểnhư sau:

- Chưa định hình được một khung phân tích chuẩn: Chưa phân biệt và hiệnđang lẫn lộn giữa hai khái niệm phân tích kinh tế và phân tích tài chính.Trong phân tích tài chính, chưa tách biệt được việc phân tích lợi ích chi phícủa tổng thể dự án so với phần lợi ích và chi phí của chủ đầu tư để đánh giáđúng được động cơ của các bên có liên quan trong việc tham gia vào dự án;

- Chưa xây dựng được chuẩn một hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tàichính dự án: Các chỉ tiêu tài chính chưa được hiểu một cách chính xác về ýnghĩa kinh tế; mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và cách làm thế nào để xác định

Trang 34

đúng giá trị của chỉ tiêu phân tích cũng chưa được giới thiệu và hướng dẫnmột cách đầy đủ trong các tài liệu nghiệp vụ;

- Chưa chuẩn hoá được phương pháp tính toán hiệu quả tài chính dự án: Mỗinơi, mỗi chi nhánh làm một kiểu, chưa hình thành được một chuẩn chung

để thống nhất thực hiện;

- Chưa đưa vào ứng dụng phần mềm hỗ trợ: Hiện tại, thẩm định dự án mớichỉ dừng lại ở việc ứng dụng Excel để lập các bảng tính và chạy độ nhậy,những hạn chế về số lượng kịch bản dẫn tới việc khảo sát độ nhậy khôngđược liên tục Đặc biệt, phân tích độ nhậy bằng Excel không thể khảo sátđược sự thay đổi của nhiều thông số cùng một lúc, trong đó các thông sốkhác nhau thay đổi với các dạng thức khác nhau Trong khi đó, như đã đềcập ở trên, đã có rất nhiều phần mềm ứng dụng trong thẩm định dự án đượcgiới thiệu, các phần mềm này cơ bản khắc phục được những hạn chế hiệnnay của việc ứng dụng Excel trong thẩm định dự án

Nhằm từng bước hướng nghiệp vụ thẩm định dần theo thông lệ quốc tế, Phầnnày sẽ giới thiệu một số nội dung, gồm: Khung phân tích dự án, trong đó giới thiệu cácquan điểm khác nhau trong thẩm định dự án; kỹ thuật phân tích dự án theo quan điểmngân hàng; phương pháp xây dựng báo cáo ngân lưu một dự án trong phân tích tàichính; suất chiết khấu trong thẩm định dự án; cuối cùng là hệ thống các chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả tài chính dự án Ngoài ra, một chút về phân tích mô phỏng Monte Carlo

và phần mềm Crystal Ball cũng sẽ được lồng ghép giới thiệu trong Phần này

2 Khung phân tích dự án đầu tư.

Dự án đầu tư, trong quá trình thẩm định, cần được đặt trong bối cảnh đầy đủcủa mối quan hệ giữa các bên trực tiếp có liên quan tới quá trình chuẩn bị, lập, triểnkhai, và khai thác vận hành Do vậy, dự án đầu tư được xem như là một tập hợp cácquan hệ giao dịch, qua đó các cá nhân hay các tổ chức phải chịu các chi phí khác nhau

và nhận được những lợi ích khác nhau Tuỳ thuộc vào bản chất mối quan hệ của cácbên với dự án, mà các bên sẽ có cách nhìn nhận đánh giá lợi ích và chi phí của họ đốivới việc tham gia vào dự án Do đó, sẽ là không đầy đủ nếu trong quá trình thẩm địnhchúng ta chỉ xem xét đánh giá dự án theo một phương pháp, một cách làm duy nhất, vàgộp chung lợi ích vốn rất khác nhau của các bên khác nhau tham gia vào dự án để đưa

ra kết luận đánh giá Mỗi bên tham gia dự án, đều có cách nhìn nhận đánh giá và mụctiêu đặt ra khác nhau Và vì vậy, việc thẩm định dự án từ một số quan điểm khác nhau

là rất quan trọng, vì chúng cho phép các nhà phân tích xác định xem các thành viênliên quan tới dự án có thấy đáng tài trợ, đáng tham gia thực hiện dự án hay không

Trang 35

Trên cơ sở mục tiêu của các bên khi tham gia vào dự án, cũng như vai trò vị trícủa các bên trong tổng hoà mối quan hệ tổng thể kinh tế, xã hội, nhằm đưa ra mộtkhung phân tích chuẩn trong thẩm định dự án, Sơ đồ 2 dưới đây là các quan điểm phântích một dự án đầu tư hiện đang được áp dụng khá phổ biến ở những nước phát triển.

Tiếp theo, từng nội dung phân tích cụ thể làm những gì, sự khác nhau giữa các nộidung phân tích, mục tiêu tiêu phân tích là gì, ở mỗi quan điểm phân tích thì mức độquan tâm của các bên có liên quan tới dự án nhiều hay ít, lý do tại sao, sẽ giới thiệuchi tiết ngay dưới đây

2.1 Quan điểm phân tích tài chính.

Nội dung phân tích này, có 3 đối tượng chính quan tâm, đó là: Các ngân hàng(các TCTD) với tư cách là một bên xem xét khả năng tham gia tài trợ vốn cho dự án;chủ đầu tư với tư cách là bên trực tiếp tham gia bỏ vốn (vốn tự có) và triển khai thựchiện dự án; và cơ quan ngân sách của chính quyền, với tư cách là bên có chức năngquản lý nguồn thu chi ngân sách chính quyền địa phương nơi có dự án triển khai

a Ngân hàng: Mối quan tâm trước tiên của ngân hàng là xác định khả năng đứng

vững về mặt tài chính, sức mạnh chung của toàn bộ dự án, qua đó nhằm đánhgiá sự an toàn của số vốn vay mà dự án có thể cần Các ngân hàng không quantâm tới chi phí gốc của các tài sản hiện có, không quan tâm tới việc dự án đượctài trợ từ những nguồn vốn nào Cái mà các ngân hàng quan tâm là: Với tổngnhu cầu vốn đầu tư ban đầu như đã dự tính, với qui mô đầu tư như đã thiết kế,với chi phí nhập lượng đầu vào và giá bán sản phẩm đầu ra, với chính sách thuế

mà dự án có nghĩa vụ thực hiện, từ đó xác định ngân lưu dự án theo quan điểmtổng đầu tư, từ đó tính toán các chỉ tiêu tài chính và đánh giá sức mạnh chung

Quan điểm ngân sách

Phân tích

T i chính à Phân phối Phân tích Nhu cầu cơ Phân tích

bản

Trang 36

của dự án về mặt tài chính Với cách tính toán có tính chất gộp chung để xácđịnh sức mạnh chung của toàn bộ dự án như vậy, quan điểm này còn được biếtnhư là quan điểm tổng đầu tư (Total Investment Point of view - TIP) Ngoài ra,trong quá trình lập ngân lưu dự án theo quan điểm ngân hàng, các ngân hàngcòn xem xét tới dòng tài chính chi cho dự án (kể cả trợ giá) và các lợi ích (kể cảphần trả thuế), với cả lợi ích và chi phí được xác định theo giá cả tài chính củachúng Nếu gọi A là ngân lưu ròng của dự án theo quan điểm ngân hàng, Ađược xác định theo nguyên tắc sau:

cã hiÖn n s¶

tµi c¸c cña héi

¬ c phÝ Chi - tiÕp trùc chÝnh tµi phÝ Chi - tiÕp trùc chÝnh tµi

Ých

Lîi

=

b Chủ đầu tư (Equity Point of View - EPV): Mối quan tâm của chủ đầu tư là, với

lợi ích và chi phí của dự án, sau khi đã thực hiện nghĩa vụ với ngân sách (đóngcác khoản thuế), và thực hiện nghĩa vụ trả nợ các ngân hàng vốn vay đầu tư(gốc và lãi), thì phần còn lại dành cho chủ đầu tư dự án là bao nhiêu Và phầnlợi ích mà chủ đầu tư thu được đó có lớn hơn chi phí cơ hội khác tốt nhất đã bị

bỏ qua vì nguồn lực đã phải dành để đầu tư thực hiện dự án hay không Do đó,khác với ngân hàng, chủ đầu tư phải rất quan tâm tới cơ cấu vốn đầu tư của dự

án (quan tâm tới chi phí gốc của các tài sản hiện có), qua đó xác định nghĩa vụhoàn trả vốn vay cả gốc và lãi từ các nguồn Các nguyên tắc tính toán còn lạiđều giống như ngân hàng đánh giá, do đó có một sự liên hệ giữa ngân lưu ròngtheo quan điểm ngân hàng và ngân lưu ròng theo quan điểm chủ đầu tư Gọingân lưu ròng của chủ đầu tư là B, công thức xác định B thông qua A được diễn

tả như sau:

vayl·i

vµ gècnîTr¶

hµngn

-©ngvayVèn+A

=

c Ngân sách: Mối quan tâm của cơ quan quản lý ngân sách là tác động của dự án

đến ngân sách địa phương Đối với cơ quan ngân sách, các dự án có thể cần chidưới dạng trợ giá hay các khoản trợ cấp khác, và cũng có thể tạo thu nhập từthu phí sử dụng và thuế trực thu hay gián thu Do đó, đối với cơ quan quản lýngân sách địa phương, thu nhập tài chính ròng (C) do một dự án tạo ra có thểđược diễn tả qua công thức sau:

C =ThuÕ vµ phÝsödôngtrùcthuvµ gi¸nthu -Trîgi¸,trîcÊptrùctiÕpvµ gi¸ntiÕp (3)Một số nội dung khác cần lưu ý trong phân tích tài chính dự án:

- Qui ước về giá tài chính: Mọi tính toán trong phân tích tài chính (giá nhậplượng đầu vào, giá bán sản phẩm đầu ra, tỷ giá hối đoái, ) sử dụng giá tàichính, là giá cả hàng hoá, dịch vụ được niêm yết trên thị trường, do thịtrường quyết định;

- Nguyên tắc tính toán: Phân tích lợi ích - chi phí dựa vào kỹ thuật kế toán;

- Kết quả của phân tích tài chính dự án cho biết:

o Mức độ chắc chắn đối với mỗi hạng mục thu, chi, đối với các chỉ tiêutài chính của dự án Những yếu tố nào được dự kiến sẽ ảnh hưởng trựctiếp, gián tiếp tới các biến số này và ảnh hưởng như thế nào?

Trang 37

o Nguồn tài trợ nào được sử dụng để trả cho các chi phí của dự án.Phương án tài chính này có những đặc điểm riêng biệt khác như: lãisuất ưu đãi, vốn trợ cấp, vốn cổ phần hoặc vốn vay của nước ngoài;

o Ngân lưu ròng tối thiểu cần có bao nhiêu để dự án có thể duy trì đượchoạt động mà không cần phải có yêu cầu ngoài kế hoạch xin thêmngân sách chính phủ để tài trợ bổ sung; và

o Dự án có đạt được ngân lưu ròng đủ lớn hay suất thu hồi tài chính đủcao để làm cho dự án khả thi về mặt tài chính không? Nếu không, thìnhững nguồn vốn bổ sung nào là có thể dùng và có thể được cam kếttài trợ thêm cho dự án nếu như dự án đạt hiệu quả về kinh tế và xã hội.Nếu bất kỳ vấn đề nào trong số những vấn đề nêu trên cho thấy những khó khăntrong tương lai, thì chúng ta phải có những điều chỉnh cần thiết về thiết kế hay về tàichính của dự án để tránh thất bại trong tương lai

2.2 Quan điểm phân tích kinh tế.

Mục tiêu phân tích: Thẩm định kinh tế là nhằm đánh giá dự án từ quan điểmcủa toàn bộ nền kinh tế để xác định xem việc thực hiện dự án có cải thiện được phúclợi kinh tế quốc gia hay không

Đối tượng nào quan tâm tới phân tích kinh tế: Sự khác biệt chủ yếu giữa phântích kinh tế và phân tích tài chính là ở chỗ: Phân tích kinh tế gộp chung lợi ích và chiphí trên tất cả dân cư quốc gia để xác định xem dự án có cải thiện được mức phúc lợi

H

ộ p th ứ nh ấ t: Ngân h ng à

có nên phân tích dự án theo quan điểm chủ đầu tư không?

Các bên chỉ có động cơ tham gia v o dà ự án khi v chà ỉ khi mục tiêu của họ được bảođảm Tuy nhiên, đối với Ngân h ng, ngo i phân tích t i chính dà à à ự án theo quan điểmngân h ng, lià ệu có cần quan tâm v phân tích theo quan à điểm chủ đầu tư? Ma trậndưới đây mô tả kết quả phân tích 1 dự án theo hai quan điểm trên:

Quan điểm chủ đầu tư

+ Chấp thuậnNgân h ng à chấp thuận Cùng

Trường hợp cùng bác bỏ hoặc cùng chấp thuận thì đã rõ, hai trường hợp còn lại, dự

án chỉ được một bên, hoặc ngân h ng hoà ặc chủ đầu tư đồng ý tham gia Rõ r ng, khiàchủ đầu tư đánh giá dự án không đáng thực hiện, v cho dù hà ọ phải thực hiện vìmột lý do n o à đó, lúc n y hà ọ sẽ không còn động cơ để triển khai dự án! Do vậy, ngân

h ng cà ần quan tâm tới phân tích t i chính dà ự án theo quan điểm chủ đầu tư

Trang 38

kinh tế quốc gia như là một tổng thể hay không, trong khi phân tích tài chính xem xét

dự án từ quan điểm phúc lợi của một nhóm nhỏ dân cư Chính vì điểm khác nhau cănbản của phân tích kinh tế so với phân tích tài chính nêu trên, nên đối tượng quan tâm

tới phân tích kinh tế thường là: Chính phủ, chính quyền địa phương nơi đặt dự án, các

cơ quan quản lý nhà nước; đôi khi các tổ chức tín dụng và chủ đầu tư cũng quan tâm

tới kết quả phân tích kinh tế của dự án

Một số nội dung chính, các qui ước, nguyên tắc cần quan tâm trong phân tíchkinh tế:

- Qui ước về giá kinh tế: Mọi nhập lượng, xuất lượng đều được tính toánbằng giá kinh tế Giá kinh tế được xác định trên cơ sở giá tài chính, thôngqua hệ số điều chỉnh để xét đến những biến dạng của thị trường do sự canthiệp của chính sách: Thuế, mậu dịch, giá trần, giá sàn, quota, trợ giá, trợcấp;

- Ngoại tác: Trong phân tích kinh tế, cần bổ sung thêm về ngoại tác hay lợiích hoặc chi phí mà dự án tạo ra cho con người, môi trường xung quanhvùng dự án Theo quan điểm toàn quốc gia, các hoạt động phải hy sinh đểthực hiện dự án phải được xem và tính như là một khoản chi phí;

- Nguyên tắc tính toán: Thay vì dựa hoàn toàn vào kỹ thuật kế toán để phântích lợi ích - chi phí như trong phân tích tài chính, phân tích kinh tế còn đòihỏi sử dụng kỹ thuật tính toán kinh tế (chủ yếu là kiến thức cơ bản về kinh

tế vĩ mô) để bổ sung vào khung kế toán Ngoài việc sử dụng giá kinh tế củacác nhập lượng và xuất lượng, kể đến các ngoại tác, thì thẩm định kinh tếcủa một dự án không tính tới vốn vay vì chúng chỉ thể hiện dòng tiền chứkhông phải là tài nguyên thực sự; các khoản thuế và trợ cấp cũng khôngđược kể đến trong ngân lưu dự án vì đó được xem là những khoản chuyểngiao trong nội bộ nền kinh tế mà không làm cho qui mô nền kinh tế thay đổilớn lên hay nhỏ đi

Những vấn đề căn bản được nêu ra trong thẩm định kinh tế của một dự án đầu

tư có thể được trình bầy như sau:

- Mức độ khác biệt như thế nào giữa các giá trị kinh tế và giá trị tài chính củacác biến số;

- Nguyên nhân của những khác biệt này;

- Giá trị của các khác biệt này với mức độ chắc chắn như thế nào;

- Nhằm đảm bảo tính khả thi của dự án về mặt kinh tế, cần phải tính đến cácloại tác động ngoại ứng nào

Chính những nội dung, phương pháp và nguyên tắc phân tích nêu trên, dẫn tớihiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế của dự án về cơ bản là không như nhau, thậm tríđôi khi còn trái chiều nhau

Trang 39

2.3 Quan điểm phân tích xã hội.

Phân tích xã hội liên quan tới việc xác định ai là người được, ai là người chịuthiệt từ dự án và từ đó đưa ra chính sách thích hợp; và nếu có thể, lượng hoá những tácđộng ngoài kinh tế của dự án Những tác động này bao gồm ảnh hưởng của dự án đốivới phúc lợi của những nhóm đặc biệt trong xã hội bởi vì hiếm khi một dự án có thểmang lại lợi ích cho mọi người dân trong xã hội một cách đồng đều Mặc dù phân tích

xã hội có thể ít chính xác hơn phân tích tài chính hoặc phân tích kinh tế, nhưng để có ýnghĩa, việc phân tích xã hội thường gắn liền với những yếu tố đã được sử dụng trongphân tích tài chính và kinh tế Dưới đây là những vấn đề được đặt ra đối với phân tích

xã hội:

- Dự án có thể giúp đạt được những mục tiêu xã hội nào đó của chính quyền?

Hộp thứ hai: Ngân h ng à

có cần quan tâm tới kết quả phân tích kinh tế dự án không?

Trong phạm vi hẹp của phân tích t i chính, dà ự án đảm bảo có hiệu quả Ở một phạm

vi rộng hơn của phân tích kinh tế, xem xét dự án dưới góc độ to n bà ộ quốc gia, liệu kết quả phân tích có ảnh hưởng gì tới lợi ích của các bên trực tiếp tham gia v o dà ự

án, trong đó có ngân h ng? Ma trà ận dưới đây mô tả 4 khả năng có thể xảy ra khi phân tích t i chính v kinh tà à ế 1 dự án

Phân tích kinh tếPhân tích t i chính à -+-Bác bỏ?+? Chấp thuậnTrường hợp

bác bỏ hoặc chấp thuận thì đã rõ, hai trường hợp còn lại thì cần có sự điều chỉnh hoặc bổ sung cho dự án Trường hợp còn lại thứ nhất, dự án có hiệu quả kinh tế nhưng do hiệu quả t i chính thà ấp, nên để thực hiện thì chủ đầu tư cần điều chỉnh lại nội dung dự án hoặc đề xuất với chính quyền để tìm kiếm các nguồn t i àchính, các biện pháp hỗ trợ bổ sung từ bên ngo i nhà ằm đảm bảo về hiệu qủa t i àchính (vì dự án có lợi cho nền kinh tế) Trường hợp còn lại thứ hai, dự án có hiệu quả t i chính nhà ưng hiệu quả kinh tế thấp, nhiều khả năng dự án sẽ gặp khó khăn trong quá trình triển khai do không được nhiều sự đồng thuận của xã hội; trong trường hợp n y, nà ếu không thực hiện việc điều chỉnh lại nội dung dự án, thì cần phải có các cam kết, các bảo đảm từ phía chính quyền trước khi triển khai dự án Như vậy, trong quá trình thẩm định dự án, ở một chừng mực n o à đó, Ngân h ng àcũng cần phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế của dự án Thuận lợi nhất, một dự án vừa có hiệu quả t i chính, và ừa có hiệu quả kinh tế Các trường hợp còn lại, nhất thiết phải có những điều chỉnh hoặc bên trong dự án, hoặc từ bên ngo i dà ự án thì mới có thể xem xét khả năng ngân h ng tham gia t i trà à ợ vốn cho dự án

Trang 40

- Ai là đối tượng được hưởng lợi từ dự án, và ai là những đối tượng chịu chiphí của dự án Cách mà các đối tượng hưởng lợi hoặc chịu chi phí từ dự án;

- Dự án sẽ gây ra tác động gì về mặt chính trị, xã hội, và bằng cách nào;

- Để đạt được những mục tiêu xã hội tương tự như dự kiến từ dự án, chínhquyền có chương trình thay thế nào không, và chi phí ròng cho các chươngtrình này là bao nhiêu?

2.4 Phân tích nhu cầu cơ bản.

Đánh giá kết quả gián tiếp của dự án, khi các thành viên của dự án tiêu thụ mộtdịch vụ đáng khuyến khích, những dịch vụ thuộc diện được xem như những nhu cầu

cơ bản, như giáo dục, y tế, được xem như những ngoại ứng khi phân tích

3 Trình tự xây dựng các bảng tính trong phân tích dự án.

Ngày nay, sử dụng bảng tính trên nền Excel là kỹ thuật khá phổ biến và hiệuquả để phân tích đánh giá dự án đầu tư Tuy nhiên, để có thể sử dụng và khai thác triệt

để sức mạnh của Excel, đồng thời đảm bảo yêu cầu tương thích để có thể sử dụng cácphần mềm hỗ trợ nhằm nâng cao kết quả dự báo từ mô hình bảng tính, việc xây dựngcác bảng tính trong phân tích dự án, từ cơ sở dữ liệu đầu vào, kế hoạch đầu tư, phương

án nguồn vốn và tài trợ, cho đến việc xây dựng ngân lưu dự án theo các quan điểmphân tích khác nhau để tính toán xác định các chỉ tiêu tài chính dự án, cần được thựchiện theo một trình tự nhất định Thông thường, nội dung tính toán trong phân tích dự

án gồm các bảng tính chi tiết sau:

- Bảng thông số;

- Bảng tính chỉ số lạm phát và tỷ giá hối đoái cho từng năm;

- Bảng tính sản lượng, doanh thu hàng năm;

- Dự toán chi phí hoạt động;

- Lịch đầu tư;

- Bảng tính toán nhu cầu vốn lưu động;

- Bảng tính khấu hao và thanh lý tài sản;

- Lịch vay vốn và trả nợ;

- Bảng tính giá thành sản phẩm đơn vị;

- Bảng tính giá vốn hàng bán;

- Báo cáo thu nhập;

- Bảng cân đối kế toán dự kiến;

- Bản ngân lưu theo các quan điểm khác nhau: Tổng đầu tư, chủ đầu tư.Nội dung, ý nghĩa và một số lưu ý khi xây dựng các bảng tính chi tiết nêu trênđược tóm tắt như sau:

Ngày đăng: 03/07/2014, 01:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1: Kết quả phân tích xu hướng doanh thu, chi phí. - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
th ị 1: Kết quả phân tích xu hướng doanh thu, chi phí (Trang 12)
Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy tác động của sự gia tăng tỷ lệ lạm phát lên các khoản mục của bảng ngân lưu và cuối cùng là lên NPV: - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
Bảng t ổng hợp dưới đây cho thấy tác động của sự gia tăng tỷ lệ lạm phát lên các khoản mục của bảng ngân lưu và cuối cùng là lên NPV: (Trang 58)
Sơ đồ điểm ho  v à ốn lý thuyết - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
i ểm ho v à ốn lý thuyết (Trang 64)
Hình ... : Giao diện Crystal Ball - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh .. : Giao diện Crystal Ball (Trang 74)
Hình ... : Tập hợp các mô hình phân phối xác suất cho biến rủi ro - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh .. : Tập hợp các mô hình phân phối xác suất cho biến rủi ro (Trang 75)
Hình ...: Kết quả khai báo giả định đối với Biến thứ hai - Số lượng căn hộ cho thuê được  b - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Kết quả khai báo giả định đối với Biến thứ hai - Số lượng căn hộ cho thuê được b (Trang 76)
Hình ...: Minh hoạ khai báo giả định biến rủi ro Giá cho thuê căn hộ - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Minh hoạ khai báo giả định biến rủi ro Giá cho thuê căn hộ (Trang 76)
Hình ...: Khai báo biến dự báo - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Khai báo biến dự báo (Trang 77)
Hình ...: Hộp thoại khai báo chế độ chạy mô phỏng - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Hộp thoại khai báo chế độ chạy mô phỏng (Trang 78)
Hình ...: Kết quả chạy mô phỏng dự báo doanh thu cho thuê căn hộ - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Kết quả chạy mô phỏng dự báo doanh thu cho thuê căn hộ (Trang 79)
Hình ...: Hộp thoại tạo báo cáo - tài liệu thẩm định dự án đầu tư
nh ..: Hộp thoại tạo báo cáo (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w