TRẦN THỊ THẢO Bộ môn Quy hoạch & quản lý GTVT Viện Quy hoạch & quản lý GTVT Trường Đại học Giao thông Vận tải Tóm tắt: Bài báo đề cập tới hiện trạng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội c
Trang 1NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
GIAO THÔNG VẬN TẢI ĐÔ THỊ
ThS TRẦN THỊ THẢO
Bộ môn Quy hoạch & quản lý GTVT Viện Quy hoạch & quản lý GTVT Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Bài báo đề cập tới hiện trạng đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án
đầu tư (DAĐT) phát triển giao thông vận tải (GTVT) đô thị ở Việt Nam và đề xuất áp dụng
phương pháp đánh giá theo hệ thống chỉ tiêu cấp bậc (AHP) Bài báo cũng giới thiệu kết quả
nghiên cứu ban đầu về ứng dụng phương pháp AHP để đánh giá một DAĐT vận tải hành
khách công cộng ở Hà Nội.
Summary: This paper presents the current situation of socio-economic appraisal of
urban transport projects in Vietnam It is recommended that we should apply the Analytical
Hierarchy Process method (AHP) to these projects The paper also introduces the initial
appraisal results of a public transit project in Hanoi via AHP method.
Với chức năng đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa một cách an toàn, nhanh
chóng, thuận tiện và hiệu quả, GTVT phải đi trước một bước và đóng vai trò tối quan trọng
trong việc thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đất nước
Các DAĐT phát triển GTVT nói chung và GTVT đô thị nói riêng có đặc thù là yêu cầu số
vốn đầu tư rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài và nếu xem xét từ khía cạnh lợi ích tài chính thì hầu
hết các dự án này đều không đảm bảo hiệu quả tài chính Tuy nhiên, các DAĐT phát triển
GTVT lại có tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của hầu hết mọi ngành, mọi lĩnh vực của
đời sống kinh tế - xã hội (KT - XH) Vì vậy, hiệu quả đầu tư của các dự án phát triển GTVT
thường được đánh giá và lựa chọn trên cơ sở hiệu quả KT - XH
Thực tế hiện nay, hiệu quả KT - XH của các DAĐT phát triển GTVT ở Việt Nam hầu hết
đều được đánh giá theo phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí bằng việc tiền tệ hóa các chi phí
cũng như lợi ích và tính toán hiệu quả cuối cùng với các chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng kinh tế
(ENPV), tỷ lệ hoàn vốn kinh tế (EIRR), tỷ lệ lợi ích - chi phí kinh tế (EBCR) thời gian hoàn vốn
(Thv) Phương pháp này rất ưu việt khi đánh giá khía cạnh kinh tế vì nó đề cập đến các lợi ích,
chi phí kinh tế có thể lượng hóa được thành tiền Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này để
đánh giá các DAĐT cho GTVT ở Việt Nam thì còn nhiều bất cập và nó không cho phép đánh
giá được đầy đủ hiệu quả KT - XH tổng hợp của dự án Bên cạnh đó, mức độ chính xác của việc
Trang 2tiền tệ hóa các yếu tố chi phí và lợi ích nhìn chung còn rất nhiều hạn chế và đòi hỏi những công
cụ tính toán và điều kiện dữ liệu khá phức tạp và khó áp dụng thành công ở các nước đang phát triển Hiện nay trên thế giới thì việc đánh giá hiệu quả KT - XH của các dự án đầu tư phát triển GTVT không chỉ đơn thuần sử dụng các phương pháp đánh giá đơn chỉ tiêu mà còn ứng dụng ngày càng rộng rãi các phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu, chẳng hạn phương pháp hàm thỏa dụng đa mục tiêu, phương pháp so sánh cặp đôi, phương pháp đánh giá theo chỉ tiêu cấp bậc (AHP) Việc áp dụng các phương pháp đánh giá đa chỉ tiêu giúp tránh được việc phải tiền tệ hóa tất cả các yếu tố chi phí - lợi ích của dự án và vì vậy có thể giải quyết được khá ổn thỏa những khó khăn của vấn đề này Đồng thời, khả năng kết hợp đồng thời cả các chỉ tiêu định lượng và định tính trong một quy trình đánh giá sẽ giúp mở rộng bộ chỉ tiêu đánh giá và vì vậy tính toàn diện của kết quả đánh giá được nâng cao
Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu về hiện trạng phương pháp đánh giá hiệu quả
KT - XH trong các DAĐT GTVT đô thị ở nước ta Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp đánh giá theo hệ thống chỉ tiêu theo cấp bậc (AHP) trong đánh giá hiệu quả KT - XH ở Việt Nam
II HIỆN TRẠNG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KT - XH CỦA CÁC DAĐT PHÁT TRIỂN GTVT ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
Trong nội dung này, nhóm nghiên cứu lựa chọn năm dự án phát triển GTVT đô thị điển hình theo đối tượng đầu tư (cầu, đường, vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, xe buýt nhanh BRT, đường sắt đô thị) và theo nguồn vốn đầu tư do các đơn vị tư vấn trong và ngoài nước lập báo cáo nghiên cứu khả thi tại các thời điểm khác nhau để tiến hành phân tích và qua
đó đánh giá thực trạng áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả KT - XH của các dự án GTVT
đô thị tại Việt Nam Cụ thể là các dự án:
CT 2
(1) DAĐT xây dựng cầu Thanh Trì - Hà Nội: nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Nghiên cứu khả thi được tiến hành năm 1997 - 1999
(2) DAĐT mở rộng và hoàn thiện đường Láng - Hòa Lạc: phương thức huy động vốn là đổi đất lấy hạ tầng Nghiên cứu khả thi được tiến hành năm 2002
(3) DAĐT 100 xe buýt phục vụ vận tải hành khách công cộng ở Hà Nội: nguồn vốn ngân sách thành phố (50%) và vốn của chủ đầu tư Nghiên cứu khả thi được tiến hành năm 2004 (4) Dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội - Hợp phần BRT (Bus Rapid Transit): nguồn vốn vay Ngân hàng thế giới (WB) Nghiên cứu khả thi được tiến hành năm 2006
(5) Dự án xây dựng đường sắt đô thị thành phố Hà Nội (Tuyến 2: Từ Liêm/Nam Thăng Long - Thượng Đình): nguồn vốn vay Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) Nghiên cứu khả thi được tiến hành năm 2007
Nhìn chung, các dự án đều được đánh giá hiệu quả kinh tế trên quan điểm của xã hội, tức là dưới góc độ tổng thể của Nhà nước xác định các lợi ích và chi phí của dự án theo giá kinh tế
Trang 3Tuy nhiên, những tác động (ngoại ứng) của dự án tới môi trường xã hội và môi trường tự
nhiên chỉ được đánh giá một cách độc lập mà chưa được đưa vào đánh giá tổng hợp hiệu quả
KT - XH của dự án
Quy trình đánh giá hiệu quả KT - XH của các dự án được mô tả qua hình 1 như sau:
Chi phí tài chính của dự án
CT 2
Dự báo lưu lượng giao thông Lợi ích kinh tế của dự án Chi phí
đầu tư
ban đầu
Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng
Chi phí vận hành khai thác
Lợi ích do giảm chi phí khai thác xe
Lợi ích tiết kiệm thời gian
Chi phí kinh tế của dự án Hiệu quả KT - XH của dự án (ENPV,
Hệ số chuyển đổi giá kinh tế
Các hạng mục đầu tư, chế độ khai thác
Hình 1 Quy trình đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án nghiên cứu
Các dự án nghiên cứu điển hình đều đánh giá lợi ích - chi phí thông qua việc sử dụng các
chỉ tiêu đơn như ENPV, IRR, IBCR, Thv trên cơ sở tính toán các chi phí kinh tế về đầu tư ban
đầu, chi phí vận hành khai thác, duy tu bảo dưỡng (sử dụng hệ số chuyển đổi trong khoản từ
0,85 đến 0,95 để quy đổi chi phí tài chính thành chi phí kinh tế) và các lợi ích kinh tế như giảm
chi phí vận hành, giảm thời gian đi lại của hành khách Tỷ lệ chiết khấu xã hội (r) được sử dụng
trong đánh giá tất cả các dự án đều là 12% Riêng DAĐT 100 xe buýt phục vụ vận tải hành
khách công cộng ở Hà Nội không tính toán hiệu quả kinh tế qua các chỉ tiêu tổng hợp như
ENPV, EIRR,… mà định lượng riêng rẽ một số lợi ích như lợi ích do giảm chi phí đi lại của
người dân, giảm ô nhiễm môi trường, giảm tai nạn giao thông
Nhìn chung, khi áp dụng phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí thì có những hạn chế sau:
- Phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí không thể đánh giá tổng hợp dự án theo tất cả các
mục tiêu cần đạt được Phương pháp lợi ích - chi phí chỉ áp dụng tốt khi đánh giá hiệu quả kinh
tế Vì thế, các dự án nghiên cứu điển hình không thể đánh giá được hiệu quả tổng hợp mà chỉ có
thể tiến hành đánh giá độc lập các hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của dự án
- Ngay trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án, việc áp dụng phương pháp lợi ích -
chi phí cũng chưa triệt để do có những chỉ tiêu không thể hoặc khó lượng hóa thành tiền (đòi hỏi
chi phí về thời gian và tài chính lớn) hoặc khó chính xác (trong điều kiện Việt Nam) ví dụ như
các chỉ tiêu về an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường, …
- Khi đánh giá kinh tế các dự án đều gặp khó khăn khi tính tỷ lệ chiết khấu xã hội
- Các chỉ tiêu tính toán trong phương pháp lợi ích - chi phí chịu sự tác động của quan hệ
cung cầu, sự biến động của giá cả và chịu sự tác động của một số yếu tố như của tỷ giá hối đoái,
tiền lương, sự bóp méo do độc quyền, do sự can thiệp của chính phủ (như đánh thuế, trợ giá hay
Trang 4quy định giá trần, giá sàn), nhiều khi làm cho các chỉ tiêu tính toán không phản ánh đúng bản chất ưu việt của dự án và làm cho việc lựa chọn dự án thiếu chính xác Việc điều chỉnh “lệch lạc” thông qua phương tiện giá mờ theo lý thuyết của mô hình cạnh tranh hoàn hảo gần như chỉ
có ý nghĩa về mặt lý thuyết
- Các dự án nghiên cứu điển hình đều đưa ra rất ít phương án để tiến hành đánh giá hiệu quả KT - XH Điều này có thể dẫn tới việc bỏ sót phương án đầu tư có hiệu quả cao hơn về mặt
KT - XH
Có thể thấy, đối với hầu hết các DAĐT GTVT tại Việt Nam hiện nay thì việc đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án chưa được coi trọng Các văn bản quản lý nhà nước về đầu tư hiện nay yêu cầu có đánh giá hiệu quả KT - XH nhưng không hề có những hướng dẫn cụ thể về quy trình, chỉ tiêu và phương pháp đánh giá Ngoài ra cũng cần lưu ý một vấn đề là điều kiện nghiên cứu đánh giá các dự án còn nhiều khó khăn (về thời gian, nhân lực, tài chính để triển khai nghiên cứu)
III ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THEO HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CẤP BẬC (AHP)
Để giải quyết những hạn chế của phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí như đã đề cập ở trên khi đánh giá hiệu quả KT - XH của DAĐT phát triển GTVT ở Việt Nam, đặc biệt là những
dự án lớn có tầm và phạm vi ảnh hưởng rộng về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng phương pháp đánh giá theo hệ thống chỉ tiêu cấp bậc (AHP) vì những lý do sau đây:
CT 2
(1) Phương pháp AHP cho phép xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhiều cấp rất linh hoạt Những vấn đề (chỉ tiêu) phức tạp có thể phân tích thành những chỉ tiêu đơn giản hơn theo nhiều cấp, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đánh giá
(2) Người ra quyết định được quyền linh hoạt hơn trong việc xếp hạng so sánh mức độ quan trọng của các chỉ tiêu ở mỗi cấp
(3) Phương pháp AHP dựa trên cơ sở toán học mạnh hơn
(4) Phương pháp AHP cho phép đánh giá tính nhất quán trong các đánh giá của chuyên gia
vì nó tiến hành so sánh từng cặp đôi một để xác định trọng số và có kỹ thuật tính toán chỉ số đo lường sự nhất quán từ đó giảm thiểu được những hạn chế vốn có của phương pháp chuyên gia
đó là tính chủ quan
3.1 Quy trình đánh giá
Quy trình đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án theo phương pháp AHP như sau:
(1) Xây dựng hệ thống chỉ tiêu cấp bậc để đánh giá, gồm các cấp:
Mục tiêu Chỉ tiêu Chỉ tiêu nhánh Phương án (2) So sánh cặp đôi chỉ tiêu ở từng cấp theo mức độ quan trọng bằng phỏng vấn chuyên gia
Trang 5Các bước như sau:
- Thiết kế bảng phỏng vấn chuyên gia
- Xác định đối tượng chuyên gia cần phỏng vấn ý kiến chuyên gia
- Chuẩn bị các thông tin về dự án để cung cấp cho các chuyên gia
- Tiến hành phỏng vấn
- Xử lý số liệu phỏng vấn
(3) Xác định trọng số thể hiện mức độ quan trọng của các chỉ tiêu (phương án) ở từng cấp
(4) Kiểm tra tính nhất quán trong các đánh giá của chuyên gia
(5) Tổng hợp hệ thống chỉ tiêu và xếp hạng, lựa chọn phương án
3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Tác giả bài báo xin đề xuất một hệ thống chỉ tiêu mang tính khái quát chung có thể tham
khảo để áp dụng đánh giá hiệu quả KT - XH của các DAĐT phát triển GTVT đô thị tại Việt Nam
Từ hệ thống chỉ tiêu này, khi áp dụng cho một dự án cụ thể có thể điều chỉnh cho phù hợp
Hệ thống chỉ tiêu đề xuất bao gồm hai hệ thống chỉ tiêu con: hệ thống chỉ tiêu đánh giá
những tác động tới KT - XH của dự án và hệ thống chỉ tiêu đánh giá những khó khăn của dự án
a Hệ thống chỉ tiêu đánh giá những tác động của dự án (hình 2):
Tác động ở đây được hiểu là tất cả những ảnh hưởng mà dự án tạo ra đối với KT - XH khi
mà dự án được thực hiện Các tác động có thể là tích cực (tạo nên lợi ích - gia tăng khả năng đạt
được mục tiêu) hoặc cũng có thể là tiêu cực (tạo nên chi phí - làm suy giảm khả năng đạt được
mục tiêu)
CT 2
Nguyên tắc khi đánh giá mức độ quan trọng của các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đánh
giá tác động của dự án là:
- Đối với các chỉ tiêu (chỉ tiêu nhánh) có tác động tiêu cực tới việc thực hiện mục tiêu: giá
trị (hoặc mức độ) của phương án đầu tư theo chỉ tiêu này càng thấp thì phương án đầu tư đó
càng quan trọng
- Đối với các chỉ tiêu (chỉ tiêu nhánh) có tác động tích cực tới việc thực hiện mục tiêu: giá
trị (hoặc mức độ) của phương án đầu tư theo chỉ tiêu này càng cao thì phương án đầu tư đó càng
quan trọng
Với nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính thống nhất trong việc tổng hợp trọng số phản ánh mức
độ quan trọng của các phương án Kết quả cuối cùng, phương án đầu tư nào có trọng số cao nhất
thì phương án đó có tác động tích cực nhất tới dự án hay tạo ra lợi ích lớn nhất cho dự án
b Hệ thống chỉ tiêu đánh giá những khó khăn khi thực hiện dự án (hình 3):
Khó khăn là những yếu tố cản trở việc thực hiện dự án Việc đánh giá mức độ khó khăn đối
Trang 6với dự án là rất cần thiết vì nó là nhân tố quyết định tới khả năng thực hiện dự án Một dự án khi triển khai có thể gặp 4 loại khó khăn cơ bản về chi phí, kỹ thuật, sự ủng hộ của các cơ quan liên quan và sự ủng hộ của người dân
Nguyên tắc khi đánh giá mức độ quan trọng các phương án đầu tư theo các chỉ tiêu trong
hệ thống chỉ tiêu đánh giá khó khăn của dự án là: phương án đầu tư càng gặp nhiều khó khăn (theo từng chỉ tiêu) thì càng quan trọng
Chỉ tiêu
Chỉ tiêu nhánh
Các phương
án đầu tư
TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN
Giao thông
CT 2
Hình 2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá những tác động của dự án
Chỉ tiêu
Chỉ tiêu nhánh
…
n n Các
phương
án đầu tư
KHÓ KHĂN CỦA DỰ ÁN
Chi phí Kỹ thuật Ủng hộ của cơ
quan liên quan
Ủng hộ của người dân
Hình 3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá những khó khăn đối với dự án
Trang 73.3 Xác định mức độ quan trọng của các chỉ tiêu và xếp hạng phương án đầu tư
Để xác định mức độ quan trọng của các chỉ tiêu cần xây dựng bảng phỏng vấn chuyên gia
nhằm lấy ý kiến đánh giá của chuyên gia so sánh từng cặp đôi chỉ tiêu trong từng cấp
Kết quả so sánh cặp đôi giữa các chỉ tiêu (phương án) được thể hiện qua một ma trận
vuông cấp n (số chỉ tiêu được đưa vào so sánh) được mô tả như sau:
A = (1)
⎟⎟
⎟
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎜
⎜
⎜
⎝
⎛
nn 2
1
n 22
21
n 12
11
a
a a
.
.
a
a a
a
a a
Trong đó:
aij =
ji
a
1 ∀ j=1,2, ,n và aii = 1 ∀i=1,2, ,n
Có thể sử dụng công thức sau để xác định một cách gần đúng trọng số wi thể hiện mức độ
quan trọng của chỉ tiêu i:
wi =
n a
a
n 1
j n 1 i ij
ij
∑
∑
=
=
n , 1
j= (2)
CT 2
Để xác định một cách chính xác các trọng số wi thì có thể sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm
Expert Choice Phần mềm này hỗ trợ việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, phân tích số liệu
để xác định trọng số thể hiện mức độ quan trọng của các chỉ tiêu, đồng thời cho phép xác định
chỉ số đánh giá tính nhất quán trong đánh giá của các chuyên gia, đó là chỉ số tỷ lệ nhất quán
CR (Consistency Ratio)
Trên cơ sở đánh giá xác định được trọng số thể hiện mức độ quan trọng của các phương án
đầu tư, các chỉ tiêu nhánh, các chỉ tiêu ta có thể xác định được trọng số tổng hợp cuối cùng làm
căn cứ xếp hạng và lựa chọn phương án
- Xác định trọng số tổng hợp cuối cùng thể hiện mức độ quan trọng của từng phương án
trong việc tạo ra những tác động về KT- XH
∑ ∑ ∑ (3)
=
=
=
1 k
ijk n
1 j ij 4
1 i
i
WE Trong đó:
WEk: Trọng số tổng hợp thể hiện mức độ quan trọng của phương án thứ k trong mục tiêu
đánh giá tác động của dự án
WECi: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của chỉ tiêu tác động thứ i (ECi), i = 1 , 4
Trang 8WESij: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của chỉ tiêu nhánh thứ j (ESij) trong chỉ tiêu ECi, j=1,n với n là số chỉ tiêu nhánh trong chỉ tiêu ECi
WEAijk: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của phương án thứ k (EAijk) trong chỉ tiêu nhánh ESij, k = 1 , m với m là số phương án đầu tư
Các trọng số WEAijk; WESij; WECi càng cao chứng tỏ phương án hay chỉ tiêu nhánh, chỉ tiêu càng có nhiều tác động tích cực hơn tới KT - XH
Chỉ tiêu trọng số tổng hợp cuối cùng WEk càng cao thì phương án k càng có nhiều tác động tích cực hơn so với các phương án khác
- Xác định trọng số tổng hợp cuối cùng thể hiện mức độ khó khăn của từng phương án khi thực hiện
Tương tự ta xác định trọng số thể hiện mức độ quan trọng của phương án đầu tư thứ k phản ánh mức độ khó khăn khi tiến hành dự án
∑ ∑ ∑ (4)
=
=
=
1 k
ijk n
1 j
ij 4
1 i
i
WD Trong đó:
WDk: Trọng số tổng hợp thể hiện mức độ khó khăn của phương án thứ k trong mục tiêu đánh giá những khó khăn của dự án
WDCi: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của chỉ tiêu thứ i (DCi), i =1,4
CT 2
WDSij: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của chỉ tiêu nhánh thứ j (DSij) trong chỉ tiêu DCi, j=1,n với n là số chỉ tiêu nhánh trong chỉ tiêu DCi
WDAijk: Trọng số thể hiện mức độ quan trọng của phương án thứ k (DAijk) trong chỉ tiêu nhánh DSij , k = 1 , m với m là số phương án đầu tư
Các trọng số WDAijk; WDSij; WDCi càng cao chứng tỏ phương án hay chỉ tiêu nhánh, chỉ tiêu càng có mức độ khó khăn lớn hơn
Chỉ tiêu trọng số tổng hợp cuối cùng WDk càng cao thì phương án k càng gặp nhiều khó khăn hơn so với các phương án khác
- Xếp hạng và lựa chọn phương án đầu tư theo tiêu chuẩn sau:
k
k
WD
WE lớn hơn 1 và lớn nhất
Hay nói cách khác, thì tỷ số tác động/khó khăn trên càng lớn (WEk lớn và WDk nhỏ) thì phương án đầu tư đó càng có hiệu quả KT - XH lớn
3.4 Ứng dụng phương pháp AHP để đánh giá dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội - Hợp phần BRT
Nội dung của dự án phát triển giao thông đô thị Hà Nội - Hợp phần BRT là đầu tư hai
Trang 9tuyến xe buýt nhanh với tổng mức đầu tư ước tính là 84,49 triệu USD, cụ thể: tuyến Giảng Võ
-Láng Hạ và tuyến Giải Phóng
Trong báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế sơ bộ dự án phát triển giao thông đô thị Hà
Nội - Hợp phần BRT (MVA,2006), với phương pháp đánh giá lợi ích - chi phí dự án này đã
được cơ quan tư vấn đánh giá là khả thi
Trong bài báo này, tác giả xin trình bày kết quả đánh giá hiệu quả KT - XH của dự án bằng
phương pháp AHP
Hệ thống chỉ tiêu sử dụng để đánh giá dự án này được cụ thể hóa từ hệ thống chỉ tiêu đề
cập ở trên và có 2 phương án được đưa vào đánh giá: phương án có BRT và phương án không
có BRT (nếu không đầu tư 2 tuyến BRT thì hành khách chủ yếu vẫn sẽ sử dụng các tuyến buýt
thông thường với các điều kiện dịch vụ như hiện nay và các phương tiện cá nhân
Việc cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc ra quyết định đánh giá của chuyên gia được dựa
vào những thông tin, số liệu sẵn có từ Báo cáo nghiên cứu khả thi và thiết kế sơ bộ dự án phát
triển giao thông đô thị Hà Nội - Hợp phần BRT (MVA, 2006) và những tài liệu của những
nghiên cứu khác có liên quan
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước (Khuat Viet Hung, 2006; Britta
Merklinghaus, 2008), nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 20 chuyên gia để xác định mức
độ quan trọng của các chỉ tiêu đánh giá ở các cấp và so sánh các phương án Kết quả đánh giá
như bảng 1
Bảng 1 Mức độ quan trọng của chỉ tiêu đánh giá tác động CT 2
Tên Trọng
Trọng
Trọng số
Có BRT
Không
có BRT
Phù hợp với các mức thu
Đảm bảo khả năng tiếp
Độ tin cậy về không gian
Mức độ nghiêm
Tăng tính hấp dẫn
Chất lượng không
Môi
Giao
thông
thông
suốt
0,27
Trọng số tổng hợp của cấp chỉ tiêu cuối
Chất lượng dịch vụ 0,45
An toàn
giao
thông
0,32
Lợi ích
kinh tế 0,23
Cấp chỉ tiêu Chỉ tiêu nhánh 1 Chỉ tiêu nhánh 2 Trọng số của
phương án
Trang 10Với những chỉ tiêu đánh giá như trên, phương án có BRT tỏ ra ưu việt hơn hay nói cách khác là có những tác động tích cực trên các khía cạnh đảm bảo công bằng, năng lực cung ứng, chất lượng dịch vụ và an toàn giao thông Tuy nhiên, trên các cạnh kinh tế và môi trường thì phương án không có BRT được đánh giá cao hơn
- Trọng số tổng hợp về mức độ tác động của phương án có BRT: WEcó BRT = 0,544
- Trọng số tổng hợp về tác động của phương án không có BRT: WEkhông BRT = 0,456 Như vậy, phương án có BRT có tác động (tích cực) lớn hơn so với phương án không có BRT
Kết quả đánh giá mức độ khó khăn theo từng phương án như sau (bảng 2)
Bảng 2 Mức độ quan trọng (trọng số) của chỉ tiêu đánh giá mức độ khó khăn
Trọng số tổng hợp của cấp chỉ tiêu cuối
Có BRT Không có BRT
Chi phí đầu tư 0,47 0,146 0,75 0,25 Chi phí 0,31 Chi phí vận hành
Cơ sở hạ tầng 0,67 0,281 0,88 0,13
Kỹ thuật 0,42
Ủng hộ của
cơ quan
Ủng hộ của người dân 0,15 Người chịu
CT 2
Kết quả đánh giá trên cho thấy khi triển khai dự án BRT sẽ gặp hai khó khăn cơ bản là khó khăn về vấn đề kỹ thuật và khó khăn về vấn đề chi phí, trong đó khó khăn về kỹ thuật (cơ sở hạ tầng) là yếu tố quan trọng nhất
- Trọng số tổng hợp về khó khăn của phương án có BRT: WDcó BRT = 0,693
- Trọng số tổng hợp về khó khăn của phương án không có BRT: WEkhông BRT = 0,307 Điều này có nghĩa là phương án có BRT gặp nhiều khó khăn hơn so với phương án không
có BRT
Phân tích đồng thời giữa tác động và khó khăn của từng phương án thì thấy phương án BRT có hệ số tác động/khó khăn nhỏ hơn 1 trong khi hệ số này của phương án không có BRT là lớn hơn 1