PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương ảnh, huyện cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người MOT V
Trang 1mở đường cho lội thảo về Phát triển và Môi trường của Liên [lop Quée và Điển đàn Toàn cầu hóa được tổ chức tại Rio de Janeiro vào tháng 6/1992
học và những hệ thông trợ giứp tự nhiên đổi với cuộc sống của cơn người, động vật và thực
vật Nhưng ở một mức độ nảo đó, nó cũng hàm chứa sự Đình đẳng giữa những nước gidu va
điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cán thiết để áp dụng khái mệm phát triển tiên vững
'Nm vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được để cập trong Hảo cáo Rnmdtland không chỉ là
nỗ lực nhằm hòa giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế-xãä hội và bảo vệ
môi trường Nội dung của nó côn bao hàm những khía cạnh chỉnh trị-xâ hội, đặc biệt là bình
đẳng xã hội Mặc dù không loại trừ sự cần thiểt của một số hừnh thức tăng trưởng kinh tế, đặc
biệt là ở những nước nghẻo nhất, nhưng Brmdtland vẫn nhìn nhận phát triển như một quá trình phức tạp vượt ra ngoài sự tăng trưỡng kinh tế gián đơn Suđhiz Anand, Arnaztya K, Sen
nhân mạnh: Phát triển bao hàm môi sự biến đối kinh tế và xã hội không ngừng, ngay cả khái tiệm hẹp về sự bên vững vật chất cũng hàm chứa mỗi quan lâm đổi với bình đẳng xã hội liên thể hệ, cần phải được mở rộng một cách hợp lý tới sự binh dẳng giữa các thể hệ trong quá trình phát triển, bao gồm 3 loại: giữa các thê hệ (giữa người trẻ và người già, giữa thể hệ hiện tại và thể hệ tuơng 1a0, giữa các quốc gia (tức là giữa Bắc và Nam, giữa những r nước giàu và
xrước nghẻo), và hơn nữa là sự bình dẳng trong thể hệ, cũng nhhư trong các quốc gia (ức là bình đắng xã hội giữa nam giới và plưụ nữ, giữa các giai tằng xã hội gidu va nghéo, có quyền
lực vả không có quyền lực giữa các nhóm đân tộc và tôn giáo Tới Hội nghị Thượng đính
Trái đất về Môi trường và Phút triển tổ chức ở Rio đc Tanciro (Bmxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thể giới về Phát tiễn Bên vững tổ chức ở Johannssburg (Công hòa Nam Phi)
năm 2002, phải triển bẩn vãng đã dược xác định là quả trình phát triển có sự kết hợp chặt chế, hai lên và hợp lý g quả trình phát triển, gôm: phát triển kinh tế (lăng trưởng, kinh tổ), phát IriỄn xã hội (thục hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo về môi trường @xứ lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện môi tường, phòng chỗng cháy và chặt phủ rừng, kløi thác hợp lý và sử đụng ti kiệm tải nguyên thiên nhiên) Tiéu sả đỗ đành giá sự phát triển bẵn vững là sự tăng trưởng kinh lễ én định, thực t
thiền nhiên, bảo vỆ và nâng cao được chất lượng môi trường sống:
ông bằng xã hội, khai thác hợp lý và sử dụng liết kiệm lài nguyễn
Có thê thây sự vận động, hình Thành các Khải niệm cững như mỗi quan hệ giữa các khái niệm
này là khá đa đạng, phức tap Trong quá trinh vận động đó, co sy phat triển đan xen, giao thoa
giữa các khái niệm Cho đến nay, phát triển bằn vững đã vượt ra ngoài khuôn khổ lĩnh vực
xôi trường, tải nguyên thiên nhiễn và cũng cỏ thể được gọi bằng cách khác là phát triển “bình đẳng và cân đổi”, có nghĩa là đã duy tri và phát triển mãi môi, cần cần bằng giữa lợi ích của nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa cảc thể hệ và thực hiện diễu này trần cả ba lĩnh
98
Trang 2vực quan trọng có mốt quan hệ qua lại với nhau là kinh tế, xã hội và mồi trường! Vì thầ, mục tiêu tống quát của phát triển bền vững là đạt được su day đủ về vật chất, sự giảu có về tỉnh thân và văn hóa, sự bình đẳng của các công đân và sự đẳng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; két hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ha mặt là phát triển kinh tế,
phat triển xã hội và bão vệ môi trường Vi các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong
phát triển bền vững có quan hệ qua lại chặt chš với nhau, nên trong quá trình phát triển, nếu
bỏ qua sự chủ ý đến đủ chỉ là một số ít mục tiền, cũng có thể dẫn đên việc làm chậm, thậm chí
làm đão ngược sự phát triển trong các lĩnh vực khúc
Lich sti đã có nhiều ví dụ cho thị y, tăng trưởng kinh tế, thông qua việc là
quốc gia, đi làm tăng khả năng giảm nghẻo và giải quy Nhimg trong hiểu trường hợp, tăng trưởng kinh tế chẳng những không đã kèm với sự bình đẳng xã hộ
lai, đá lâm cho tình trạng bất bình đẳng tăng lên, that nghiếp cao hơn, din chủ ít hơn hoặc tiêu đùng quá mức lài nguyên thiên nhiêu cẦn thiết cho các thế hệ mãi sau Nếu những thiệt hai
vé môi trường (do tiêu dũng quả ruức) mà xã hội/eơn người do tăng trưởng kinh tẾ gây ra lớn
hon cac loi ich kinh té (thu nhap tang thém mà đại bộ phận dân cư có được) thi két qua chung 1à phúc lợi của con người bị giảm sút Điều này đến lượt mình làm giảm khả năng tiếp cận của
con người — nguồn nhân tực của lăng uưởng kinh tễ — đến địch vụ giáo đục để được đào tạo
tốt, địch vụ y tế đề có sức khỏe tốt, tức là làm chậm sự phát triển của con người Và do sự
chát triển con người chậm luôn luôn kéo theo sự tăng trưởng kinh tế chậm hơn, nên các nhà
khoa học gọi kiểu tăng trưởng này kiểu tăng trưởng "ngõ cụt” Ngay tử năm 1996, UNDP đã
đua khuyến cáo về năm kiểu tảng trưởng nên tránh là: Tăng trưởng không việc làm, Tăng
trưởng không lương tâm, Tầng trưởng không có tiỗng nói, Tăng trưởng không gắc rễ; Tăng
tưởng không tương lai
các vẫn để xã hội khi
trái
Mỗi quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường trong nrục tiêu
phát tiến bền vững như sau
1.2 Khái niệm nhát triển con nguời
Khai niệm phát triển con người sử dụng trong bai viết này là khải riệm do Chương trình Phát
triển Liên Hop Quéc (United Nations Development Programme UNDP) đề xưởng trong
Báo cáo phát triển con nyiedi (Human Development Report HDR), cong bé lan dầu tiên năm 1990: "Của cải đích thực củu môi quốc gia là con người của quốc gia đủ, Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho pháp cơn người được hướng cuộc sông đài lâu, manh khỏe và súng tạo Chân lý dơn giản nhưng đây sức manh này rãi hay bị người
ta quên mÃI trong lúc theo dubi dủa cải vôi chất và tài chai"
Trong Báo cáo phát triển con người năm 2001 của UNDP, khái niệm này được nhân mạnh:
“Phái triển con người không chủ là sự lăng giảm của thu thập quốc đân, mà côn là lao ra
môi trường trong đó mọi người eỏ thể phàt triển mọi khá năng của rninh và làm chủ mét cuộc
sống sáng tao, hữu ích, phủ hợp với lợi ích và nhu cầu của ho Do vậy, phát triển có ý nghĩa là
mm rộng những lua chọn của con người để hướng tới cuộc sống mà họ coi trọng”
ột
' Neuda: Không chỉ là tăng trưởng kinh tế: Nhập môn về phát triển bên vững XR Văn hóa Thông, tin, Hà Nội 2005, trang, 11
9
Trang 3„ Bản sắc văn hoá
Tình 1 Mục tiêu phát tiễn bén vững
(Nguẫn: Không chỉ 1a lăng trường kình lễ: Nhập môn về phát triển bên vững NXB Văn hóa
"Thông tin, IIà Nội, 2005, trang 11.)
hải niệm này đã được phân tích, diễn giải bằng các mệnh đề “Phát triển con người là sự phát
triển cấa con người, đø con người và sì con người”, “Phát triển con người là quá trình vừa
“nâng caa năng lực lựa chọn của cơn người, vừa mỡ rộng cơ hội lựa chọn của con người” 'Tuy nhiên, có thể thấy sau chặng đường 10 năm tử bảo cáo dâu tiến năm 1990, Bao cao năm
2001 đã làm rỡ hơn nội hàm của khái niệm phát triển con người với ý “làm chủ một cuộc xông sảng tao, hitu ich, phù hạp với lợi Ích và như câu cầa họ” Như vây, ngoài hai mệnh đề trên, can thấy rõ vai trò chủ thể của con người trong phát triển, dỗng thời phải quan tâm tới lợi ích,
nhũ cầu của con người trong phát triển
công bỗ xếp hạng Cu số phái triển con người — ID cho các quốc gia và vùng lãnh thô Tiếp
Theo IIDI, trong xu hướng cổ gắng đo lường, lượng hóa các khía cạnh khác của phát triỄn con người, UNDP đã đề xướng phương pháp luận và công tirắe tính toán một số chỉ tiêu khác liên quan đến một số khía canh eơ bản cửa phát triển con người như bình đẳng giới, nghèo khổ
Tu Bao cao phát triển con người toàn cầu dau tiên do UNDP công bố năm 1990, khái niệm
phát triển son người đã hội tụ các nhà hoạch định chính sách, các rhà thực thí chính sách và các nhà khoa học trong nhận thức đúng đân hơn, đồng thuận cao hơn vẻ tắm quan trọng của
xmue tiểu phát triển con người trong phát triển kinh tê-xã hội Bao cáo phát triển con người
j00
Trang 4năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 5'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 6'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 7'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 8Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
tê
ñ hội
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 9'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 10hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 11
'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 12Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
tê
ñ hội
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 13năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 14năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 15hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 16
hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 17
năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 18Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
tê
ñ hội
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 19Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 20Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
tê
ñ hội
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 21năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 22'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 23'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 24'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 25'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 26hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 27
hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 28
'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 29hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước
Trang 30
'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 31Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 32năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 33năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 34'tuy nhiên, cách sắp xếp mục PRV trong phần về tài nguyên và môi trường của kế hoạch 2006-2010 và kể hoạch năm 2006, 2007 có thể gây ra một sự thiểu rõ ràng khi PTBV chỉ là một tiễn mục thuộc phân vì tài nguyên và môi trường, trong khi đó như đã được xác định rô, các nguyên tắc và nội đưng của PI'äV không chỉ gói gọn trong mỗi quan hệ với tái nguyên và
môi trường mà là định hướng cho phát triển kinh tế-xã hội
3.2 Phát triển cun người trang các kế hoạch 2001-2005 va 2006-2010
Mặc dù Chiến lược phát triển kinh tẻ-xã hội 2001-2010 cỏ để ra nhiệm vu “nâng lên đáng kể
Chỉ số phát triển con người HDI”, song cho đến nay, trong hệ thống chỉ tiêu kš hoạch 5 năm
và hàng năm của nước ta và các địa phương, không có Chỉ sổ phát triển con người vã chưa sỏ
chỉ tiêu, chỉ số cụ thể nào về phát triển con người Trong khi chưa oó hệ thông chỉ tiêu, Chỉ số phát triển cơn người riêng của Việt Nam thì các chỉ tiêu tổng hop phan anh phát triển con người đã duoc UNDP va Việt Nam sử dựng như HDI, HPI, GDI chưa xuất hiện trong các kế hoạch phát triển của Việt Nam mà mới có một số chỉ tiêu thành phần liên quan đến tùng khia canh nhu mic séng, học vân, chăm sóc sức khỏe
các bảo
văn bản kể hoạch phái triển kinh tổ-xã
Mục tiêu phải triển con người trong ca
cáo của Đăng, Chính phủ mới được thễ hiện trong nhóm các chỉ tiêu kinh tễ, xã hội Chưa có
các chỉ tiểu, chủ số phát triển con người riêng của Việt Nam Còn các chỉ số HDI, GDI, GEM
và IIPI theo thước đo phát biển căn người của UNDP chưa được sử dụng, chưa trở thành chỉ tiêu pháp lệnh giám sát quả trình thực hiện kế hoạch Tăng trưởng kinh 1Š, tốc độ từng GDP, chuyển địch cơ cân kinh lễ đang là mỗi quam tâm hàng đầu của các nhà quản lý các cấp Đường như cỏ một sự “ệch pha” nào đó giữa Ý tưởng về định hướng con người là trung tâm của phái triển với cách thế hiện ý tưởng đó trong các văn bàn về phát triển kinh tê-xã hội như các nghị quyết của Quốc hộ nghị quyểt cửa Đảng, bảo cáo của Chính phú ? Con người mới được đề cập ở vai trò là nguồn nhân lực — động lự phát triển Phát triển con người
chua được đặt thành một muc trong kế hoạch phát triển nửnr PTRV (mặc đủ còn có bất cập là
PTTV chỉ được đặt thành một tiểu mục Irơng phần “tài nguyên và môi trường” của Kế hoạch
phat triển kinh tễ-xã hội 2006-2010 cập quốc gia) tiểu này đề làm lá mờ định hướng coi con
người là trung tâm, là mục tiêu của phát triển, làm lu mờ những thành tạu mà Việt Nam đã
đạt được và được công đồng quấc tả đánh giá cao là đã sử đụng hiệu quả thành tựu phái triển kinh tế vào phải triển con người, XOGN
tiện, dộng lực của phát triển, được dễ cập trong các kế hoạch phát triển các cấp bằng cụm từ
“nguồn nhân lụe” Bản sắc Việt Nam trong định hướng phát triển vì thế không rõ nói
Việc chưa có các chỉ số HDI, GIDI, HPI trong kể hoạch của quốc gia, Quốc hội, Chính phủ
chưa đưa cáo Chi số phát triển con người vào thành chỉ tiêu pháp lệnh như CĐP, thu-chi ngân
sách, chua dùng các Chí số phát triển con người để kiêm điểm, điều hành các kế hoạch, tỉnh
j2
Trang 35Nâng tâm, mở rộng phạm vi các kế hoạch phát triển, trong đó "phát triển con người”,
“phát triển bên vững” cần được thể hiện rõ hơn ý nghĩa mang tính định hướng “'cơn người
lã trung tâm của phát triển”; “phải triển kinh tế”, “khoa học công nghệ, giáo dục đảo lạo, y
tể ”, “tai nguyên và môi trường” là những phần ew thể hớa hơn cáo định hướng “phát
triển con người”, “phát triển bần vững”
~_ Bổ smg qum điểm và hệ thông chỉ tiêu, chỉ số phát Iriển cơn người và PTBV vào nội đụng tham vẫn kế hoạch rong quy trình xây đựng kế hoạch mới đễ phân ảnh được nguyên tắc, định hướng “cơn người là rung tâm của phát triển” trong các kế hoạch phát trí
13ổ sung vào các kế hoạch 5 năm và hàng năm trong giai đoạn tời các chỉ tiêu chất hrơng
trong phát triển các ngành, các địa phương, vúng và lãnh thổ (như tỷ lệ giá trị sản xuất các sản phẩm áp đụng công nghệ cao, hay các sản phẩm thuộc công nghệ sạch, trong tổng sản
Thẩm của ngành, của toàn quốc .} nhục vụ cho phân tích tiễn độ, tiên tới PFBV và thực
hiện phát triển con người
TAI LIEU THAM KHAQ
Kết quả nghiên cứu của để tái cấp Hộ “Liếp cận mục tiêu phát triển con người trong kề hoạch
phát triển bản vũng của Việt Nam” thuậc Viện Nghiên cửu Con người, Viên Khoa học Xã hội
Viét Nam, nam 2007-2008, do I'S Trương Thị Thúy Hằng làm chủ nhiệm
did
Trang 36năm 1996 sủa UNIP đã khẳng định "Phái giển con người la nue dich cudi cừng, tăng trường kinh tế là phương tiện” Mỗi quan hệ này được mô phòng như sau:
Thilơng tiện:
rZ Tăng irllững kinh lế
Các điều kiện thúc đấy
Dịch vụ y
„ Dịch vụ giáo dục tốt
„ Dân chủ
„ Bảu vệ môi Irilừng sống
NT Mục tiêu phát triển con _
ngiời
„ Quản lý tốt
Hink 2 Tăng trưêng kinh tễ và phải triển con người
(Ngudn: Khong chỉ là lăng trường kính tế: Nhập miễn về phải triển bên vững NXR Văn hóa
Thông In, Hà Nội, 2005, trang 10.)
So sánh mỗi quan hệ giửa tăng trưởng kinh tễ (phương tiện) và phát triển cơn người (mục
tiêu) với các mục liều phát triển bẵn vững vừa nêu trên, chúng ta thấy rõ phát triển con người vùa là mục tiêu vừa là đông lực của sự phát triển kinh tÊ-xã hội và báo vệ môi trường
2 PHAT TRIEN BEN VUNG VA PHAT TRIEN CON NGƯỜI TRONG CÁC KE
HOACH 5 NAM 2001-2005 VA 2006-2010
2.1 Phát triển bền vững trong các kế hoạch 2001-2005 và 2006-2010
Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của nước ta dã xác dịnh “con người là trung
tâm của phát triển”, “phát triển bên vững là sự nghiệp của toàn dân” la hai trong 8 nguyên tắc
cơ bản của phát triển bên vững, thể hiện sự giao thoa, đán xzn giữa các khái niệm phát triển
t;ần vững (PTBV) và phái triển cơn người
PLBV đã và đang được quan tâm, triển khai tích cực ở nước ta và đã có những kết quả hước
đần, thể hiện ở chỗ so sánh giữa các kỷ kế hoạch, thỉ thây trang kế hoạch 5 năm 2003-2005 va
kế hoạch năm 2005 chưa có các chỉ tiêu về mỗi trường, về PTBV trong hệ thông chỉ tiên, nhưng đến ké hoạch 5 năm 2006-2010 và kế hoạch năm 2006, 2007, đã có mục PTBV trong thần về tài nguyên và mỗi trường, trong đỏ nhiều chỉ tiêu đã giống với các chỉ iêu của bộ 58
chỉ tiên PTIV của Ủy ban PLIV của Liên Liợp Quốc Bên cạnh đó, đá hình thành được Hôi
đồng PTBV vả Văn phòng PTBV cắp quốc gia Văn phòng PTBV đã hình thành tại một số
địa phương Chương trinh Nghị sự 21 đã được một số ngành, địa phương xây dựng và có hoạt động cụ thế như xây đựng các mô hình PTBV
ih
Trang 37hình kinh tổ-xã hội như chỉ liêu GDP, chỉ số giá, đân số, công nghiệp tăng, giảm căng làm cho định hưởng coi con người là trung (âm trong Chương trình Nghị sự 21 về PTBV của
nước ta không được oụ thể hóa
2.3 Mối quan hệ giữa PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch 2001-
2005 và 2006-2010
'tuy còn những vẫn đề bắt cập nêu trên, nhưng về cơ bản đã có sư gặp gỡ, giao thoa của quan điểm phát triển can người và PTBV
Đôi với các bộ, ngành và địa phương được dé tai kháo sát cho thấy, mặc đủ còn một số cán bộ
chưa 1õ, chưa biết vẻ Chương trình Nghị sự 21, song việc xây dựng và thực hiện ở Chương trình Nghị sự 21 từ cấp quốc gia đến dịa phương đã có một số tác dộng tích cực, đa dạng đồi
với công tác kế hoạch và việc thực hiện mục tiêu phát triển con người trong kế hoạch Một số
hạn chế về sự chỉ đạo, nhận thúc, về các giải pháp, về sự phối hợp và nguồn lực , nhu cầu xây dựng bộ chỉ tiêu để thực hiện Chương trình Nghỉ sự 21 các câp đã được chỉ ra Các ÿ kiến khảo sắt đã để cập một số phương thức sử đụng kết quả xây đựng và thực biện Chương trình Nghị sự 21 như lăng cường lỗng ghép vào các chỉ liều kế hoạch phái triển kinh lắ-xế hội
tố rằng, trình bạch, phố biến, tuyên truyển cho người đân
n, gắn với cuộc vận dộng xã hội phong trảo loàn đân đoàn kết xây đựng
ng tác thông tỉn kịp thời; triển khai cụ thể từng hoại đồng sát thực
Những kinh nghiệm triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 từ trung ương đổn địa phương, cách thức triển khøi, các mô tảnh và các kết qui ma PTRV đã đại được tại các cấp quốc gia, dia phương (ảnh, huyện) cũng có thể gợi ma mot vai ý lưởng cho việc xây dựng và niễn khai các chương trình, chiến luợc về phát triển cơn người
MOT VAI KHUYEN NGHỊ
'Trên cơ sở một số phát hiện trên, để đẩy mạnh việc cụ thế hóa các khái niệm PTBV và phát triển con người trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta:
~ Dinh vị rõ hơn các thuật ngữ “phát triển con người”, “phát tiễn bên vững”, “kế hoạch
phái triển”, “kế hoạch phái h m vững”, “kế hoạch phát triển kinh lổ-xã hội”, rong các
Tioạch phát triển
vin ban cửa Đăng, Nhà nước về
= Dinh vi rd hơn "phát triển con người”, "phát triển bên vững” trong hệ thông định hưởng phat triển, trong kết câu của các kề hoạch, chiến krợc phát triển, trong hệ thông chỉ tiêu, chỉ số thẳng kê quốc gia và các cấp địa phương, làm giám độ `lệch pha”giia ý tưởng “con
người là trung tâm của phát triển” và thể hiện ÿ tưởng treng các văn bản kế hoạch phát
triển, các báo cáo, văn kiện của Dảng, Nhà nước