1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tín dụng CTCP Đồ hộp Hạ Long

29 407 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 425 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm hiểu thêm về phương thức thực hiện cũng như kết quả mang lại của hai phương thức trên, nhóm chúng tôi đã chọn Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long để tiến hành phân tích với đề tài “Phân tích tín dụng CTCP Đồ hộp Hạ Long” Bài tiểu luận với đề tài “Phân tích tín dụng CTCP Đồ hộp Hạ Long” bao gồm 3 phần chính: Chương I: Giới thiệu chung về công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long Chương II: Phân tích tín dụng theo mô hình truyền thống Chương III: Phân tích tín dụng theo mô hình điểm số Z

Trang 1

Mục Lục

Mục Lục 1

Lời mở đầu 1

Kết luận 21

Danh sách nhóm 22

Tài liệu tham khảo 23

Lời mở đầu

Tín dụng là loại hình tài sản tạo nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng nhưng cũng là nguồn tạo ra rủi ro chính của Ngân hàng – rủi ro tín dụng Để phòng ngừa rủi ro tín dụng, các Ngân hàng phải có những qui trình riêng khi tiến hành cho vay khách hàng

để dự đoán trước khả năng kiểm soát của Ngân hàng về các loại rủi ro cũng như biện pháp phòng ngừa và hạn chế các thiệt hại do rủi ro đó gây ra Phân tích tín dụng là một trong những bước quan trọng nhất trong quy trình đó, giúp Ngân hàng phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách hàng về sử dụng vốn tín dụng, cũng như hoàn trả vốn vay cho Ngân hàng

Để quá trình phân tích tín dụng được chính xác nhất, các Ngân hàng phải áp dụng

cả phân tích tài chính và phân tích phi tài chính Tuy nhiên, áp dụng phương pháp phân tích tài chính nào để đưa ra kết quả chính xác nhất cũng là một vấn đề các Ngân hàng cần cân nhắc Hiện nay, 2 phương pháp được các Ngân hàng áp dụng phổ biến là phân tích

Trang 2

theo mô hình cổ điển – phân tích các chỉ số tài chính và phân tích theo mô hình hiện đại – chấm điểm tín dụng và phân tích theo dòng tiền

Với mong muốn tìm hiểu thêm về phương thức thực hiện cũng như kết quả mang lại của hai phương thức trên, nhóm chúng tôi đã chọn Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long

để tiến hành phân tích với đề tài “Phân tích tín dụng CTCP Đồ hộp Hạ Long”

Bài tiểu luận với đề tài “Phân tích tín dụng CTCP Đồ hộp Hạ Long” bao gồm 3 phần chính:

Chương I: Giới thiệu chung về công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long

Chương II: Phân tích tín dụng theo mô hình truyền thống

Chương III: Phân tích tín dụng theo mô hình điểm số Z

I Giới thiệu chung về CTCP Đồ hộp Hạ Long

I.1 Thông tin cơ bản

Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long (HALONG CANFOCO) được thành lập vào năm 1957 với tên gọi ban đầu là nhà máy Cá hộp Hạ Long Tháng 3 năm 1996, nhà máy chính thức có quyết định trực thuộc Tổng công ty Thủy sản Việt Nam Ngày 31/12/1998, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 256/1998/QĐ-TTg chuyển công ty

đồ hộp Hạ Long thành Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long CANFOCO Sau hơn 2 năm hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, Công ty đã được Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép niêm yết số 08/GPPH ngày 03/01/2001, trở thành một trong những công ty đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán với hơn 1000 lao động,

8 nhà máy chế biến và 4 chi nhán tiêu thụ trên toàn quốc

Các thông tin cơ bản về Doanh nghiệp:

Trang 3

Tên đơn vị : CÔNG TY CỔ PHẦN ĐỒ HỘP HẠ LONG

Tên giao dịch quốc tế : HALONG CANNED FOOD JOINT STOCK

- Xuất khẩu các mặt hàng thủy, hải sản, súc sản đông lạnh;

- Nhập khẩu các thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, hóa chất phục vụ cho sản xuất các mặt hàng của công ty;

- Sản xuất dầu gan cá và các chế phẩm nang mềm Sản xuất các chế phẩm

từ rong biển: Agar – Aliginat;

- Kinh doanh xăng dầu, ga và khí hóa lỏng;

I.3 Vị thế của Doanh nghiệp

Đối thủ lớn nhất trên thị trường hiện nay của Doanh nghiệp là CTCP Vissan Tính đến năm 2009, độ bao phủ thị trường các loại sản phẩm chủ lực của Vissan tập trung chủ yếu

ở miền Nam, ngược lại so với CANFOCO tập trung chủ yếu ở thị trường miền Bắc Riêng thị trường Hà Nội, độ bao phủ của CANFOCO đạt 47% (trong 100 cửa hàng kinh doanh thực phẩm chế biến có 47 cửa hàng có ít nhất 1 sản phảm của CANFOCO)

Trang 4

Về thị phần từng dòng sản phẩm của CANFOCO, tuy được đánh giá là một doanh nghiệp lớn và truyền thống lâu năm, song CANFOCO vẫn chưa thực sự dẫn đầu thị trường trong bất cứ ngành sản phẩm nào.

I.4 Khái quát tình hình tài chính

Công ty cổ phần Đồ hộp Hạ Long tiến hành cổ phần hóa từ năn 1999 và Niêm yết trên thị trường chứng khoán theo quyết định số 08/GPPH ngày 03/01/2001

Vốn điều lệ của CTCP Đồ hộp Hạ Long tại thời điểm 02/03/2006 là 35.000.000.000 đồng ( Ba mươi lăm tỷ đồng) Trong đó, 10.278 triệu đồng (30,65%) do Tổng công ty Thủy sản Việt Nam (Sea- prodex) nắm giữ; 1.651,3 triệu đồng (4,72%) thuộc về cán bộ công nhân viên trông công ty; phần còn lại là các cổ đông ngoài công ty chiếm 64.63% Cụ thể cơ cấu vốn của CANFOCO vào thời điểm niêm yết như sau:

Biểu đồ 1: Cơ cấu vốn chủ sở hữu CTCP đồ hộp Hạ Long khi niêm yết

Đến năm 2011, về cơ bản cơ cấu vốn chủ của Doanh nghiệp không thay đổi nhiều; tỷ

lệ vốn góp của Nhà nước giảm xuống còn 27,75% và vốn góp của các đối tượng khác tăng lên đến 72,25%

Trang 5

Trong số các cổ đông, những cổ đông chiến lược là:

phần

Tỷ lệ sở hữu

Loại cổ phiếu

đã lưu ký

đã lưu kýNăm 2006, còn một cổ đông nước ngoài của CTCP Đồ hộp Hạ Long là Goldchurch Limited, chiếm 10,71% số cổ phần của Doanh nghiệp tương đương 375.000 cổ phần Tuy nhiên đến năm 2008, Goldenchurch Limited đã bán hết số cổ phần này nên cổ đông chiến lược nước ngoài của CAN chỉ còn Balestrand Limited chiến 4,91% cổ phần Việc cổ đông chiến lược nước ngoài rút khỏi Doanh nghiệp mà chưa có cổ đông nước ngoài nào khác có ý định tham gia mua cổ phần của Doanh nghiệp cho thấy họat động của công ty chưa thực sự tốt đủ để thu hút những nhà đầu tư này

I.5 Phân tích SWOT

- CAN là một doanh nghiệp lớn với truyền

thống lâu năm trong ngành thực phẩm

- Các loại sản phẩm của công ty tương đối

đa dạng

- CAN là một trong những thương hiệu

mạnh, nhiều lần nằm trong “Top 100

Thương hiệu mạnh Việt Nam” và được

nhận giải thưởng Sao Vàng đất việt –

giải thưởng tôn vinh các thương hiệu

Việt Nam

- Thị phần chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc mà chưa mở rộng ra các khu vực khác

- Tuy sản phẩm đa dạng nhưng chưa có sản phẩm nào thực sự dẫn đầu trên thị trường

- Các Doanh nghiệp thực phẩm cạnh tranh ngày càng nhiều

- Việc hội nhập kinh tế quốc tế mang lại

những cơ hội kinh doanh mới cho doanh

- Việc gia nhập WTO đồng thời sẽ làm tăng tính cạnh tranh trong môi trường

Trang 6

nghiệp do việc dần dần loại bỏ các rào

cản thị trường và hạn chế thương mại

- Nhịp sống hiện đại với cuộc sống bận

rộn và mức thu nhập gia tăng kéo theo

nhu cầu về các sản phẩm đóng hộp tiện

lợi ngày càng được ưa chuộng hơn

Trang 7

II Phân tích theo mô hình truyền thống

Việc phân tích các nhóm chỉ số tài chính được thực hiện dựa trên việc tính toán các chỉ số, so sánh giữa các năm, so sánh với đối thủ cạnh tranh cùng ngành (Công ty thủy sản số 4) và so sánh với các chỉ số trung bình ngành (được tính toán dựa trên việc tính trung bình các chỉ số của 4 công ty thuộc lĩnh vực chế biến thực phẩm)

II.1 Nhóm tỷ số thanh khoản

Số liệu của CTCP ĐHHL Số liệu TS4 Số liệu ngành

Năm 2010

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

toán lãi vay 4,19 5,73 5,20 10,91 23,47 3,29 22,90 17,12 23,19

Tỷ số khả năng thanh toán hiện thời= (Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn): Đây là

chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, hay nói cách khác đây là hệ số để xem xét DN có thể chi trả các khỏan nợ ngắn hạn dựa trên tài sản ngắn hạn hay ko Nói chung thì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện hành quá cao cũng không phải luôn là dấu hiệu tốt, bởi vì nó cho thấy tài sản của doanh nghiệp bị cột chặt vào tài sản lưu động quá nhiều

Trang 8

và như vậy thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là không cao.Chỉ số này của

DN qua các năm thấp hơn so với chỉ số của toàn ngành và có xu hướng giảm đi qua các năm do tổng tài sản của doanh nghiệp và tổng nợ ngắn hạn đều có xu hướng tăng qua các năm, nhưng tốc độ tăng của nợ ngắn hạn (35%) cao hơn tốc độ tăng của tổng tài sản (19%)

Tỷ số khả năng thanh toán nhanh= ((Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho)/ Nợ ngắn hạn): Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản chính xác hơn Chỉ

những tài sản có tính thanh khoản cao mới được đưa vào để tính toán chỉ số này Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác không được tính đến trong công thức này vì khi cần tiền để trả nợ việc bán các tài sản này sẽ mất nhiều thời gian và có thể bán với giá trị thấp hơn giá trị thực nên tính thanh khoản khá thấp.Con số này có thể cho bạn biết rằng công

ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển các tài sản lưu động khác thành tiền mặt Chỉ số này của DN cũng thấp hơn so với chỉ số của các công ty cùng ngành chứng tỏ khả năng thanh tóan nợ ngắn hạn của DN phụ thuộc rất nhiều vào hàng tồn kho và các tài sản mà tính thanh khỏan không cao Trong trường hợp doanh số bán sụt giảm một cách đáng kể thì rủi ro mất khả năng chi trả các món nợ của DN là rất lớn Tuy nhiên, xét riêng về Doanh nghiệp thì do hàng tồn kho của CAN đang giảm mạnh qua các năm, đặc biệt là năm 2010 (giảm 20 tỷ) nên tỷ

số thanh toán nhanh lại có xu hướng được cải thiện

Tỷ số khả năng thanh toán tiền mặt= (( Tiền mặt + CK phải thu)/Nợ ngắn hạn):

Chỉ số tiền mặt cho biết bao nhiêu tiền mặt và chứng khoán khả mại của doanh nghiệp để đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn Nói cách khác nó cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và chứng khoán khả mại đảm bảo chi trả? Chỉ số này của DN ở mức rất thấp và thấp hơn so với trung bình ngành chứng tỏ lượng tiền mặt và chứng khóan khả mại của DN chỉ chiếm 1phần rất nhỏ trên tổng nợ ngắn hạn và DN có mức rủi

ro mất tính thanh khỏan khá cao Nhìn vào báo cáo tài chính các năm, ta có thể thấy thay vào việc đầu tư tài chính ngắn hạn, Doanh nghiệp lại có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn

Trang 9

Việc giữ tiền mặt nhiều tại Doanh nghiệp có thể tăng khả năng an toàn trong việc thanh toán các khoản nợ nhưng nếu giữ quá nhiều tiền mặt thì có thể gây ứ đọng vốn.

Hệ số thanh toán lãi vay= (EBIT/Lãi vay): Chỉ số này chú trọng khả năng doanh

nghiệp tạo ra đủ thu nhập để trang trải lãi vay Lãi vay là khoản chi phí DN buộc phải vượt qua nếu không muốn phá sản Hệ số thanh tóan lãi vay liên quan trực tiếp tới khả năng trả lãi vay của DN nên thường được các Ngân hàng quan tâm Chỉ số này của DN cũng ở mức thấp so với các công ty cùng ngành tuy nhiên doanh thu của DN đủ để đảm bảo chi trả các khỏan lãi vay nhưng điều này là chưa đủ kết luận là DN có an toàn hay ko

vì ngoài chi phí lãi vay DN còn có các chi phí tài chính khác như trả gốc vay và thanh toán phí thuê tài sản cùng rất nhiều loại chi phí khác Hơn nữa còn phải tính khấu hao vào thu nhập Về các khoản vay Ngân hàng, DN đã từng có các khoản vay với Ngân hàng IndoVina, BIDV, Eximbank và Vietcombank trong những năm trước và đến năm 2011, Doanh nghiệp đã thanh toán xong các khoản vay ngắn hạn cho ngân hàng BIDV, Exim

và Vietcombank Hiện nay, DN chỉ còn các khoản vay ngắn hạn và dài hạn với Ngân hàng IndoVina Qua chi tiết các khoản vay Ngân hàng, ta có thể thấy CTCP Đồ hộp hạ long có khả năng chi trả các khoản vay khá cao, có lịch sử tín dụng tốt với các Ngân hàng

II.2 Nhóm tỷ số kết cấu tài chính/tài trợ

Số liệu của CTCP ĐHHL Số liệu TS4 Số liệu ngành

Năm 2010

6T/

2011

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Trang 10

Tỷ số nợ

dài hạn 0,09 0,06 0,09 0,07

0,39 0,23 0,07 0,12 0,08

Tỷ số nợ = (Tổng nợ/ Tổng tài sản): cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của

doanh nghiệp là từ đi vay và các khoản nợ, qua đó biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp Nếu tỷ số này quá nhỏ, hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức vay nợ Ngược lại, nếu tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu vay nợ để

có vốn kinh doanh Điều này có thể tăng mức độ rủi ro vợ nợ của doanh nghiệp

Đối với công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long, trong 2 năm 2008 và 2009, mức vay nợ của doanh nghiệp là không có nhiều thay đổi, dao động ở mức 48-49% tổng tài sản Năm

2010, mức vay nợ tăng lên, chiếm 52,3% tổng tài sản Sang sáu tháng đầu năm 2011, con

số này lại tăng lên mức 58,4% Tỷ số vay nợ này của công ty cổ phẩn đồ hộp Hạ Long cao hơn trung bình ngành Điều này thể hiện công ty đang có xu hướng dựa vào đòn bẩy tài chính nhiều hơn Nếu biết sử dụng ở mức hợp lý thì đòn bảy tài chính có thể giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn Ngược lại, nếu DN vẫn tiếp tục tăng tỷ số này lên đến mức quá cao thì nguy cơ vỡ nợ cũng sẽ theo đó tăng lên

Tỷ số nợ/ vốn chủ sở hữu = (Tổng nợ/ Tổng vốn chủ sở hữu): cho biết quan hệ

giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu Tỷ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp

ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ; có thể hàm ý doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế

Cũng như tỷ số nợ, tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long trong hai năm 2008 và 2009 không có nhiều biến động, nằm trong mức trên 90% Năm

2009, tỷ số này có phần giảm đi đôi chút so với năm 2008 Sang năm 2010, tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu tăng vọt, lên mức trên 109% khiến gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp mặc dù lợi ích thuế được tận dụng có phần tốt hơn Sang năm 2011, trong 6 tháng đầu năm, tỷ số này lại tiếp tục tăng lên mức 140,37% Như vậy, tổng nợ của Doanh nghiệp đang gia tăng

về cả số tuyệt đối và số tương đối

Trang 11

Hệ số tự tài trợ = (Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản): chỉ tiêu phản ánh khả năng

tự bảo đảm về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần Giá trị của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm về mặt tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại

Hệ số tự tài trợ của công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long trong năm 2009 là 51,8% tổng tài sản, tăng nhẹ hơn 1% so với năm 2008 Sang năm 2010, giá trị của tỷ số này giảm đi, xuống còn 47,71% Sang 6 tháng đầu năm 2011, hệ số tự tài trợ của doanh nghiệp giảm xuống còn 41,1% phản ánh mức giảm trong khả năng độc lập về tài chính với mức vay nợ tăng cao So với toàn ngành, con số này thấp hơn đôi chút Như vậy, doanh nghiệp có khả năng tự chủ về tài chính thấp hơn và vay nợ nhiều hơn so với mức trung bình của toàn ngành hàng tiêu dùng

Tỷ số nợ dài hạn = (Nợ dài hạn/ Tổng tài sản): phản ánh mức độ tài trợ bằng

vốn vay một cách thường xuyên, qua đó thấy được rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải chịu,qua việc loại bỏ các khoản nợ ngắn hạn (tín dụng thương mại phi lãi suất và những khoản phải trả ngắn hạn)

Năm 2009, tỷ số nợ dài hạn của công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long có mức giảm so với 2008, chênh lệch 2,6% Năm 2010, tỷ số này tăng mạnh, về mức xấp xỉ so với năm

2008 Sáu tháng đầu năm 2011, trị số của tỷ số này đã giảm nhẹ, xuống mức trên 7% So với mức tỷ số nợ dài hạn chung của thì tỷ số nợ dài hạn của doanh nghiệp là ở mức trung bình thấp Như vậy, có thể thấy được doanh nghiệp vay nợ nhiều nhưng chủ yếu là nợ ngắn hạn nên rủi ro về mặt tài chính mà công ty phải gánh chịu là thấp hơn so với mức trung bình của toàn ngành

II.3 Nhóm tỷ số hoạt động

Số liệu của CTCP ĐHHL Số liệu TS4 Số liệu ngành

Trang 12

Tỷ số hoạt

động

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

6T/

2011

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Hiệu quả sử dụng tài sản= (Doanh thu/ Tổng tài sản bình quân): cho biết khả

năng tạo ra bao nhiêu doanh thu từ một đồng tài sản của doanh nghiệp Vòng quay tài sản cao cho thấy công ty hoạt động trong lĩnh vực thâm dụng vốn và ngược lại, nếu vòng quay tài sản thấp thì lĩnh vực hoạt động của công ty yêu cầu khối lượng vốn nhỏ hơn

Trong 3 năm (2008-2010), hiệu quả sử dụng tài sản của công ty thay đổi trong khoảng từ 2,59 – 2,9 do tổng tài sản và doanh thu đều tăng mỗi năm nhưng với tốc độ khác nhau Năm 2009, doanh thu thuần của công ty giảm 0,4% trong khi tổng tài sản tăng 15% dẫn đến vòng quay tài sản giảm xuống còn 2,59 Tuy nhiên, năm 2010, doanh thu thuần tăng 28% cao hơn so với mức tăng của tổng tài sản là 12% giúp vòng quay tài sản tăng lên 2,95 So với trung bình ngành, chỉ số này của doanh nghiệp ở mức trung bình

Kỳ thu tiền bình quân (ngày)= (360*Phải thu bình quân/ Doanh thu): phản ánh

số ngày của một vòng quay khoản phải thu Kì thu tiền càng ngắn, tốc độ thu hồi tiền càng nhanh, doanh nghiệp càng ít bị chiếm dụng vốn

Từ 2008- 2010, tỉ số này của công ty đều tăng, cụ thể thời gian trung bình từ lúc bán hàng cho đến khi thu được tiền bán hàng tăng từ 21 ngày (2008) lên 23 ngày (2009)

và 29 ngày (2010) Điều này cho thấy doanh nghiệp đang cho khách hàng mua chịu trong thời gian dài hơn, nói cách khác, doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn lâu hơn Trong 6 tháng đầu năm 2011, kì thu tiền bình quân của công ty đã tăng lên hơn 55 ngày Tuy

Trang 13

nhiên, so với các công ty trong ngành, kỳ thu tiền bình quân của CAN lại được đánh giá

là khá ngắn như vậy so với ngành, CAN đang áp dụng chính sách tín dụng thắt chặt hơn với các đại lý của mình

Theo nguyên tắc chung, kì thu tiền bình quân của doanh nghiệp không được quá (1+ 1/3)x số ngày của kì hạn thanh toán Do đó, tùy theo quy định về kì hạn thanh toán của công ty mới có thể đánh giá được kỳ thu tiền bình quân hay tốc độ thu tiền của các khoản phải thu khách hàng có hợp lý hay không

Vòng quay hàng tồn kho= (Giá vốn hàng bán/Trung bình hàng tồn kho): cho

biết trung bình một năm doanh nghiệp có bao nhiêu chu kỳ xuất/nhập hàng tồn kho Vòng quay càng nhiều cho thấy doanh nghiệp có tỉ lệ tồn kho hiệu quả và ngược lại, vòng quay ít cho thấy việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp là kém hiệu quả

Hàng tồn kho không sinh lãi, bên cạnh đó doanh nghiệp còn phải chịu chi phí bảo quản, lưu kho Bởi vậy, lượng hàng tồn kho cao trong thời gian dài sẽ làm mất khả năng sinh lời của đồng tiền, nhưng nếu tỉ lệ hàng tồn kho thấp thì doanh nghiệp có thể không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng khi cần thiết Do đó, duy trì tỉ lệ hàng tồn kho tối

ưu phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh là rất quan trọng với doanh nghiệp

Vòng quay hàng tồn kho của công ty thực phẩm đồ hộp Hạ Long từ năm 2008 –

2010 ở trung bình (4,5 – 6,6) chứng tỏ công ty sử dụng hàng tồn kho linh hoạt Tỉ số vòng quay hàng tồn kho có ý nghĩa rất lớn bởi công ty hoạt động trong lĩnh vực thực phẩm (thủy, hải sản, ) và đồ hộp nên cần thiết phải duy trì tỉ lệ hàng tồn kho hợp lý Tuy nhiên, theo số liệu nửa năm 2011, số ngày tồn kho của công ty đang ở mức cao 118 ngày bởi vậy, công ty cần có sự điều chỉnh nâng cao hoạt động bán hàng, tăng vòng quay hàng tồn kho trong 6 tháng cuối năm

II.4 Nhóm tỷ số khả năng sinh lời

Một trong những chỉ tiêu khó xác định nhất của doanh nghiệp là khả năng sinh lời.Tuy nhiên thì khả năng sinh lời của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ và lãi Do vậy, khi cho vay nhân viên tín dụng cũng cần quan tâm đến phân tích

Trang 14

khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Tùy theo mục tiêu phân tích khả năng sinh lợi, chúng ta có thể sử dụng các chỉ số sau đây:

Số liệu của CTCP ĐHHL Số liệu TS4 Số liệu ngành

Tỷ số khả

năng sinh lời

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Tỷ suất lãi ròng= (Lãi ròng/Doanh thu): thể hiện 1 đồng doanh thu có khả năng

tạo ra bao nhiêu lợi nhuận ròng Mức tỷ suất lãi ròng xấp xỉ 3% của Doanh nghiệp so với mức tỷ suất 5% của ngành là thấp hơn khá nhiều Kết hợp với việc Doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính khi vay nợ khá nhiều cho thấy Doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự hiệu quả so với các công ty khác trong ngành Doanh nghiệp cần biết sử dụng đòn bẩy tài chính đang có để khuyếch đại lợi nhuận của mình

Tỷ suất lãi gộp= (EBIT/Doanh thu): Tỷ số lãi ròng của công ty khá ổn đinh, giao

động trong khoảng từ 2,85% cho đến 2,9% và đạt mức cao nhất vào năm 2009 với 2,96% Có thể thấy so với nhóm ngành thực phẩm nói chung và đồ hộp nói riêng thì đây

là con số tương đối cao Sự ổn định trong chỉ số qua các năm cũng cho thấy việc sử dụng nguồn vốn hiệu quả của công ty

Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)= (Lợi nhuận ròng sau thuế/ Tổng tài sản bình quân): đo lường khả năng sinh lợi so với tài sản, hay nói khác đi tỷ số này cho biết

mỗi đồng giá trị tài sản của công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận So với ngành sản

Ngày đăng: 01/07/2014, 23:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w