Thành lập năm 1957, Nhà máy Cá hộp Hạ Long được coi là một trong những đơn vị sản xuất đồ hộp thực phẩm đầu tiên tại Việt Nam. Ngày nay, cùng với sự đổi mới mạnh mẽ của đất nước, nhà máy cá hộp Hạ Long đó đã trở thành Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long (Halong Canfoco), một trong những công ty đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán với hơn 1.000 lao động, 8 nhà máy chế biến và 4 chi nhánh tiêu thụ trên toàn quốc.
Trang 1MỤC LỤC
I.Giới thiệu chung về công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long
1.Lịch sử hình thành và phát triển ……….4
2.Lĩnh vực kinh doanh……… 4
II.Phân tích công ty 2.1Phân tích công ty 2.1.1 Phân tích SWOT……… 17
2.1.2.Phân tích chỉ số tài chính 2.1.2.1Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán ………21
2.1.2.2Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn……… 23
2.1.2.3 Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động ………25
2.1.2.4Nhóm tỷ số về khả năng sinh lời……… 30
2.2.Định giá doanh nghiệp 2.3.Định giá cổ phiếu……… .37
2.4.Phân tích độ tín nhiệm ……… 39
Tài liệu tham khảo ……….42 Các file số liệu exel
I.Giới thiệu chung về công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long:
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Thành lập năm 1957, Nhà máy Cá hộp Hạ Long được coi là một trong những đơn
vị sản xuất đồ hộp thực phẩm đầu tiên tại Việt Nam Ngày nay, cùng với sự đổi mới mạnh mẽ của đất nước, nhà máy cá hộp Hạ Long đó đã trở thành Công ty Cổ phần Đồ
Trang 2hộp Hạ Long (Halong Canfoco), một trong những công ty đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán với hơn 1.000 lao động, 8 nhà máy chế biến và 4 chi nhánh tiêu thụ trên toàn quốc
Sản phẩm của Công ty hiện có mặt khắp các tỉnh thành và được xuất khẩu gần khắp mọi châu lục, từ EU, châu Á, đến Trung Đông, châu Phi
Halong Canfoco là thành viên của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam(VASEP) và hiện đang dành được vị thế của mình trong thị trường thủy sản
1.2 Lĩnh vực kinh doanh:
Cá hộp, thịt hộp, rau quả hộp, xúc xích tiệt trùng đến những sản phẩm đông lạnh nổi tiếng như chả giò hay nem hải sản Halong Canfoco cũng là một trong những cơ sở đầu tiên tại Việt Nam sản xuất các mặt hàng đặc biệt như viên nang dầu cá, gelatin, agar-agar
II.Phân tích công ty
2.1 Phân tích công ty
2.1.1 Phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng
cho việc nắm bắt và ra quyết định cho mọi tình huống đối với
bất cứ tổ chức kinh doanh nào Viết tắt của 4 chữ
STRENGTHS (điểm mạnh), WEAKNESSES ( điểm yếu),
OPPORTUNITY (cơ hội), THREATS ( nguy cơ), SWOT
cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của một công ty hay một đề án kinh doanh SWOT được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản phẩm và dịch vụ
2.1.1.1 Điểm mạnh (Strengths)
Trang 3Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long là đơn vị có truyền thống lâu năm, được thành lập vào năm 1957, nhà máy Cá hộp Hạ Long ( tiền thân của công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long ngày nay) được coi là một trong những nhà máy sản xuất đồ hộp thực phẩm đầu tiên tại Việt Nam Tính đền thời điểm hiện nay công ty đã có 54 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển sản phẩm
Công ty xây dựng một mạng lưới phân phối và tiêu thụ sản phẩm rộng khắp trên toàn quốc, đặc biệt là khu vực miền Bắc Hiện nay, trụ sở chính của công ty được đóng tại Hải Phòng, ngoài ra còn có các chi nhánh khác ở các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng Trụ sở chính, và nhà máy sản xuất của công ty đóng tại Hải Phòng là một lợi thế lớn mà đồ hộp Hạ Long có được so với các đối thủ cạnh tranh khác Với vị trí thông thương quốc tế, cảng Hải Phòng rất thuận lợi cho việc xuất khẩu sản phẩm của công ty ra thị trường thế giới, mặt khác nơi đây cũng tạo thuận lợi cho công ty cho việc tìm kiếm các nhà cung cấp các nguyên liệu như cá, tôm, hải sản khác…
Ngoài ra các sản phẩm của công rất đa dạng va phong phú, đáp ứng được mọi nhu cầu đông đảo người tiêu dùng, đây cũng là biện pháp giúp công ty giảm thiểu được rủi ro Nhiều sản phẩm đồ hộp như thịt, cá, rau, hoa quả, các loại sản phẩm thủy sản đông lạnh, các chế phẩm từ rong biển như Agar, algenat natri nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường trong nước và chen chân ra thị trường nước ngoài Trong đó có không ít các sản phẩm được huy chương vàng như pate gan lợn, cá thu Philê sốt cà chua, thịt gà hầm nguyên xương, cá ngừ ngâm dầu thực vật, Agar, bột cá chăn nuôi hạng 1, thịt lợn hấp
Công ty đang tích cực đầu tư mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến trang thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất lao động Không chỉ có một bề dày truyền thống, công ty không ngừng kiện toàn bộ máy lãnh đạo, đào tạo đội ngũ cán bộ trẻ, nâng cao tay nghề cho công nhân
Là một đơn vị có nhiều sản phẩm đạt các giải thưởng, huy chương tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước, hăng năm công ty đều đạt danh hiệu “ Hàng Việt Nam chất lượng cao” do người tiêu dùng bình chọn
Trang 42.1.1.2 Điểm yếu (Weaknesses)
Bên cạnh những điểm mạnh công ty còn tồn tại một số yếu điểm:
Đội ngũ công nhân của nhà máy còn mang nặng tính sản xuất truyền thống, chưa được đào tạo nhiều về trình độ, vì vậy công ty phải thường xuyên tổ chức các lớp học đào tạo ngắn hạn về trình độ cho công nhân nhà máy, để họ có thể theo kịp được với quy trình an toàn vệ sinh thực phẩm áp dụng theo chuẩn quốc tế, và hệ thống máy móc hiện đại không ngừng được cải tiến
Hoạt động marketing của công ty chưa thực sự phát huy hết tiềm năng của nó Rất nhiều các phương tiện quảng cáo hữu hiệu như TV, radio chưa được sử dụng có hiệu quả Công ty nên xây dựng các chương trình quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại
để giới thiệu sản phẩm và đưa sản phẩm của mình đến gần với công chúng hơn
Vấn đề về nguồn cung rất quan trọng đối với công ty, không những công ty phải đảm bảo về số lượng mà cần quan tâm đặc biệt tới yếu tố chất lượng sản phẩm ngày 10/8/2009 trong lần kiểm tra đột xuất của chi cục thú y TPHCM đối với công ty TNHH một thành viên Hạ Long(công ty con của đồ hộp Hạ Long), đã phát hiện lô hàng heo sữa đông lạnh không ghi rõ nhãn mác bằng tiếng Việt, mà ghi bằng chữ Trung Quốc, lô đùi
gà đã nhiễm khuẩn Sự kiện này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh của công ty, mà còn làm mất lòng tin của người tiêu dùng vào chất lượng sản phẩm của công
ty Qua sự kiện này, công ty nên có những biện pháp kiểm soát chặt chẽ chất lượng sản phẩm nguồn cung
2.1.1.3 Cơ hội (Opportunities)
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam không ngừng phát triển, lớn mạnh Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và thu nhập sau thuế của người dân ngày càng cao, Việt Nam hiện là một thị trường hấp dẫn cho các nhà sản xuất Thực phẩm và
Đồ uống Ngoài ra, ngành dịch vụ du lịch và một lượng lớn dân số di cư sang Việt Nam cũng là nguyên chính tác động mạnh mẽ và tích cực đối với sự phát triển của ngành này Hơn nữa, cuộc sống bận rộn cùng với lối sống hiện đại ở các thành phố lớn dẫn đến nhu
Trang 5cầu về các loại thực phẩm chế biến sẵn ngày càng gia tăng Đây là cơ hội lớn để Halong Coanfoco đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị phần của mình, tiếp tục giữ vững vị trí là một trong những doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm hàng đầu tại Việt nam
Ngày 11/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội rất lớn để các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Halong Canfoco nói riêng có điều kiện hội nhập và phát triển Nếu như đáp ứng được tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, với lợi thế về giá thành của mình, doanh nghiệp sẽ có điều kiện đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu ra các thị trường tiềm năng trên toàn thế giới
Việt Nam là một nước chú trọng đến sản xuất nông nghiệp, với hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực này Do vậy, lượng nguyên liệu cung cấp cho doanh nghiệp khá phong phú và ổn định Đặc biệt, đất nước ta có bờ biển dài hơn 3000km, thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản Chính vì vậy, công ty không phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài, tránh được một loạt các rủi ro có liên quan như rủi ro chính trị, rủi ro
tỷ giá
2.1.1.4 Thách thức (Threats)
Trong những năm vừa qua, số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến trong nước đã tăng mạnh làm tăng thêm tính cạnh tranh của các nhà cung cấp chế biến thực phẩm trên thị trường nội địa Mặt khác hàng hóa nhập khẩu cùng chủng loại cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà sản xuất trong nước nói chung và Halong Canfoco nói riêng Đặc biệt, với một số nước xuất khẩu được ưu đãi về thuế nhập khẩu, sản phẩm của họ có giá cả cạnh tranh hơn so với công ty, dẫn đến nguy cơ giảm sản lượng xuất khẩu Đây là một thách thức không nhỏ đối với công ty
Tính cạch tranh càng cao, càng có nhiều nhà cung cấp sản phẩm, thì chất lượng sản phẩm trở thành một trong những yếu tố tiên quyết quyết định thành công của doanh nghiệp Đặc biệt, với những công ty sản xuất thực phẩm như Halong Canfoco, thì yếu tố chất lượng luôn được ưu tiên hàng đầu Sản phẩm đạt tiêu chuẩn HACCP (hệ thống phân
Trang 6tích, xác định và tổ chức kiểm soát các mối nguy trọng yếu trong quá trình sản xuất và chế biến thực phẩm) trở thành mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm Có thể nói,đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế trở thành một thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp.
Mặt khác, công nghệ luôn luôn biến đổi và được cải tiến không ngừng Để có thể phát triển bền vững, lâu dài và mở rộng thị trường của mình, mỗi doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư vào khoa học kỹ thuật, hiện đại hóa máy móc, nhà xưởng Vấn đề này đòi hỏi một lượng vốn không hề nhỏ và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể làm được, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ như Halong Canfoco Doanh nghiệp cần phải xác định chiến lược rõ ràng để có thể đáp ứng nhu cầu cải tiến công nghệ, đồng thời vẫn
có đủ nguồn lực cho những mục tiêu khác
Vào năm 2012, nếu vòng đàm phán Doha thành công, các nước phát triển sẽ cắt giảm hoặc bỏ trợ cấp nông nghiệp nói chung và ngành chế biến thực phẩm nói riêng, giá nguyên liệu sẽ tăng
2.2 Phân tích chỉ số tài chính
2.2.1 Nhóm tỷ số về khả năng thanh toán:
Các tỷ số này đo lường khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản lưu động của công ty Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền,các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ(tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả người cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác…
*Khả năng thanh toán chung= TS lưu động / Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán chung là thước đo khả năng có thể trả nợ trong kỳ của doanh nghiệp Đồng thời nó cũng chỉ ra quy mô, phạm vi mà yêu cầu của các chủ nợ được trang trải bằng những tài sản có thểchuyển đổi thành tiền phù hợp với thời hạn trả tiền
Trang 7Khi giá trị của tỷ số này giảm có nghĩa khả năng trả nợ của doanh nghiệp giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng.Ngược lại khi tỷ
số này tăng báo hiệu khả năng trả nợ của doanh nghiệp tăng,là dấu hiệu đáng mừng Tuy nhiên, nếu tỷ số này ở mức quá cao có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động thể hiện doanh nghiệp còn có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hay các khoản nợ phải đòi quá nhiều Nói chung, tỷ số khả năng thanh toán chung ở mức 1-2 là vừa Thông thường tỷ số này bằng 2 được coi là hợp lý, được các chủ nợ chấp nhận
*Khả năng thanh toán nhanh=TSLĐ-hàng tồn kho / Nợ ngắn hạn
Tỷ số này cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ của doanh nghiệp Tỷ số này là một tiêu chuẩn khắt khe hơn
về khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn so với khả năng thanh toán chung Nếu tỷ
số này >=1 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan, còn nếu tỷ số này <1 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
*Khả năng thanh toán tức thời(tỷ lệ tiền mặt)=Tiền và CK ngắn hạn/Nợ ngắn hạn
Tỷ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp ngay lập tức Chỉ tiêu này khác nhau tùy thuộc vào từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Thực tế cho thấy nếu tỷ số này >=0,5 thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp tương đối tốt và nếu tỷ số này<0,5 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán ngay Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao thì phản ánh tình trạng vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm và giảm hiệu quả sự dụng vốn, hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp
Ta xét các tỷ số này diễn biến qua 3 năm của công ty:
Trang 82008 2009 2010 2008 2009 2010 2008 2009 2010Công ty cổ
Ngoài ra thì các tỷ số khả năng thanh toán nhanh của công ty hiện nay mặc dù được cải thiện qua 3 năm nhưng đều nhỏ hơn 1 , điều này cho thấy khả năng trả các khoản ngắn hạn của công ty không được đảm bảo.Ta thấy chỉ số ngành 0,98<1, nguyên nhân chủ yếu cuộc khủng hoảng tài chính 2009 nên việc sử dụng những sản phẩm chế biến cũng đã giảm nhiều
Đồng thời ta cũng thấy rằng tỷ số khả năng thanh toán tức thời của công ty rất thấp và giảm nhiều trong năm 2010 do các khoản phải thu trong năm 2010 tăng gần gấp đôi từ 29,631(2009) lên 55,695 Chỉ số thanh toán tức thời của công ty là rất thấp so với ngành nên công ty cần cải thiện chỉ số của mình
Mặc dù khả năng thanh toán nhanh cũng như tực thời của công ty thấp nhưng một phần do đặc điểm của ngành chế biến thì hàng tồn kho là rất cần thiết để đảm bảo cung cấp đủ thực phẩm khi gặp biến động bất ngờ
2.2.2 Nhóm tỷ số về khả năng cân đối vốn:
Khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp thường được đánh giá thông qua việc phân tích nhóm các tỷ số về cơ cấu tài chính Nhóm tỷ số này phản ánh mức độ ổn định
và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp Chúng được
Trang 9dùng để đo lường vốn góp của chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ
nợ đối với doanh nghiệp
* Tỷ số nợ trên tổng tài sản( Hệ số nợ)= Nợ / Tổng tài sản
Trong đó, tổng số nợ gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thời điểm lập báo cáo tài chính Còn tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động và tài sản cố định hay
là tổng toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong phần bên trái của Bảng cân đối kế toán
Đối với chủ nợ, với mục tiêu là an toàn cho các khoản vay, tức là phải đảm bảo thu hồi cả gốc và lãi vay đúng hạn, thì họ mong muỗn tỷ số này ở mức vừa phải, bởi vì ngay cả trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản thì các khoản nợ của
họ vẫn sẽ được đảm bảo
Đối với chủ doanh nghiệp, họ lại mong muốn hệ số nợ cao vì doanh nghiệp được
sử dụng một lượng tài sản mà chỉ đầu tư một lượng nhỏ và các nhà tài chính sử dụng nó nhử một chính sách để gia tăng lợi nhuận Trong điều kiện kinh doanh bình thường, doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, thu nhập trước thuế và lãi vay đạt được lớn hơn lãi vay phải trả thì việc tăng thêm hệ số nợ sẽ làm tăng thêm lợi nhuận dành cho chủ sở hữu Tuy nhiên, nếu hệ số nợ quá cao thì doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng không thanh toán được các khoản nợ đến hạn, điều này làm tăng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Ngoài ra khi hệ số nợ cao, trong trường hợp kém hiệu quả thì doanh lợi vốn chủ sở hữu cũng bị giảm sút nhanh chóng bởi vì khi đó doanh nghiệp phải sử dụng một phần lợi nhuận làm ra để bù đắp lãi vay phải trả
Về mặt lý thuyết, tỷ số này biến động từ 0 tới 1, nhưng thông thường nó dao động quanh giá trị 0,5 vì nó chịu sự điều chỉnh từ hai phía: chủ nợ và doanh nghiệp
* Hệ số tự chủ tài chính=Vốn chủ sở hữu / Tổng tài sản
Trang 10Chỉ tiêu này cho biết khả năng tự tài trợ của nguồn vốn kinh doanh của doanh
nghiệp Hệ số cơ cấu vốn tự có của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn, do đó khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ít chịu sức ép của các khoản vay nợ Các chủ nợ thường quan tâm đến nhưng doanh nghiệp có hệ số cơ cấu vốn chủ sở hữu để đảm bảo khoản vay trả đúng hạn, đó là dấu hiệu an toàn khi quyết định cho doanh nghiệp vay.Tuy nhiên, đối với chủ doanh nghiệp, do tâm lý muốn chiếm dụng vốn kinh doanh của người khác nên họ thường mong muốn hệ số này thấp Do đó, doanh nghiệp cần phải xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý với chi phí vốn thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích giữa chủ sở hữu với người cho vay
Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long đảm bảo phần vốn góp của chủ sở hữu so với phần tài trợ của các chủ nợ tương đối đồng đều qua các năm Điều đó thể hiện doanh nghiệp không có tiềm ẩn rủi ro trong khả năng thanh toán đồng thời gánh nặng nợ gần như không tăng
Hệ số nợ của công ty từ năm 2008 đến năm 2009 không biến động rõ rệt lắm, tuy nhiên có sự gia tăng vào năm 2010( từ 48,07% năm 2009 đến 52,28% năm 2010) hay nói cách khác hệ số tự chủ tài chính giảm từ 51,68% xuống 47,72% Sự gia tăng này la do tổng nợ của doanh nghiệp gia tăng từ 79587 triệu ( năm 2009) lên 102940 triệu năm 2010
Chỉ tiêu cụ thể Công ty Đồ hộp Hạ Long Chỉ số ngành
Hệ số tự chủ tài chính 50,34% 51,68% 47,72% 45,56%
Trang 11Qua đây có thể thấy rằng công ty có tỷ lệ nợ trên tổng tài sản ở mức xấp xỉ và lớn hơn 50%(năm 2010), chứng tỏ rằng công ty đã tận dụng được các tác dụng tích cực của đòn bẩy tài chính Hệ số tự chủ tài chính của công ty cũng ở mức cao, hai tỷ số này của công ty đều ở mức cao hơn trung bình ngành, thể hiện công ty đảm bảo khả năng thanh toán, thu hút được các nhà đầu tư
2.2.3 Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động:
Nhóm tỷ số này dùng để đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp Các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng của tổng tài sản mà còn chú trọng tới từng bộ phận cấu thành nên tổng tài sản của doanh nghiệp Đồng thời tỷ số này còn cho biết về sự tương quan giữa mức độ sử dụng tài sản này với mức độ hoạt động được đo bằng doanh số bán
*Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động= Doanh thu / TSLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn đầu tư vào tài sản lưu đông tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ
Trong quá tình hoạt động, những tài sản lưu động vận động không ngừng Việc
đẩy mạnh tốc độ luân chuyển của tài sản lưu động sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng tài sản Hệ số này thấp có thể do hoạt động của công ty không hiệu quả, tiền tồn quỹ nhiều hoặc các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán ngắn hạn không hiệu quả
Trang 12Hiệu suất sử dụng
TSLĐ
4,075 3,591 4,239
4,02
Nhìn vào bảng trên ta thấy
Công ty đồ hộp Hạ Long có hiệu suất sử dụng TSLĐ bình quân cao hơn trung bình ngành,phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng TSLĐ ngày càng có hiệu quả Tuy nhiện, năm
2009, hệ số này giảm mạnh từ 4,075 xuống 3,591 Một trong những nguyên nhân chủ yếu
là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế 2008, dẫn đến doanh thu không những không tăng mà còn giảm (chỉ bằng 99,28 % so với năm 2008) Năm 2010 có hiệu suất cao nhất là 4,293 tức là 1 đơn vị giá trị TSLĐ tạo ra 4,293 đơn vị giá trị doanh thu thuần, cho thấy TSLĐ được sử dụng có hiệu quả, đồng thời cũng cho thấy tốc độ luân chuyển TSLĐ lớn, góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho hoạt động của công ty Hơn nữa TSLĐ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản nên việc sử dụng hiệu quả TSLĐ góp phần không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng tổng tài sản
Qua đây có thể thấy công ty duy trì một hiệu suất sử dụng TSLĐ tương đối tốt
*Hiệu suất sử dụng tài sản cố định= Doanh thu thuần/ TSCĐ
Trang 13Tỷ số này còn được gọi là mức quay vòng của tài sản cố định, phản ánh tình hình quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu suất sử dụng tài sản cố định Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản
cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng cao Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh Mặt khác,
tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại
có chính sách quản lý TSCĐ tương đối hiệu quả
* Vòng quay hàng tồn kho= Doanh thu thuần / Hàng tồn kho