ĐẠI CƯƠNG KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
Trang 2Lời nói đầu
Việt Nam đang bước những bước đi vững chắc trong nền kinh tế đổi mới theo địnhhướng của Đảng và Nhà nước Theo đó hàng loạt các ngành nghề phát triển với mứctăng trưởng đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao , bộ mặt xã hội ngày mộtđổi mới Trong đó phải đặc biệt kể đến sự chuyển biến mạnh mẽ trên lĩnh vực Văn hóa,
Tư tưởng Đóng góp vào việc phát triển nền văn hóa tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dântộc là hàng loạt các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ văn hóa Trong đó cóđóng góp của hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối xuất bản phẩm
Kinh doanh xuất bản phẩm trong điều kiện nền kinh tế hiện nay là hoạt động sản xuấtvà thương mại đặc thù vừa phải đảm bảo mục tiêu kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu tưtưởng văn hóa và tiến bộ xã hội Vì thế kinh doanh xuất bản phẩm có ý nghĩa to lớn đốivới xã hội, nhất là xã hội ta hiện nay Từ đó đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn về hoạtđộng kinh doanh xuất bản phẩm trong nền kinh tế thị trường và có hành vi hoạt độngphù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả của hoạt động này Xuất phát từ đó chúng
tôi biên soạn tập bài giảng” Đại cương kinh doanh xuất bản phẩm”dành cho sinh viên
khoa Xuất bản -Phát hành
Mục đích của môn học là nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản, đủ và
mới nhất về kinh doanh xuất bản phẩm Nhằm để người học hiểu biết được: Khái niệm
cơ bản về biên tập, in, lưu thông xuất bản phẩm trong nền kinh tế hội nhập; Nhận thức rõvà đầy đủ về mặt hàng xuất bản phẩm- loại sản phẩm đặc thù không chỉ đơn thuần làhàng hóa mà còn là sản phẩm tinh thần trí tuệ; Có nhận thức đầy đủ về đặc trưng củakinh doanh xuất bản phẩm trong nền kinh tế hiện nay cũng như vai trò của nó đối vớidoanh nghiệp và xã hội; Hiểu biết về thị trường với các mối quan hệ của nó từ đó hoạchđịnh các chiến lược kinh doanh hoàn hảo cho doanh nghiệp
Đồng thời với đó là môn học còn trang bị những kỹ năng cơ bản cho người họcnhư: Kỹ năng tư duy, năng động và nhậy bén với thị trường; Kỹ năng đánh giá và chuẩnhóa bản thảo; Kỹ năng làm việc với khách hàng và thu hút , hấp dẫn khách hàng; kỹnăng ứng xử thị trường…
Môn học góp phần quan trọng xây dựng cho sinh viên một phong cách, một bản lĩnhcủa nhà kinh doanh trong nền kinh tế hội nhập Đồng thời giúp họ có cái nhìn đúng đắnvề sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa đặc thù là xuất bản phẩm, từ đó mà thực hiệnđúng, chức năng, nhiệm vụ , sứ mệnh với đất nước của mình
Trang 3Yêu cầu của bài giảng: Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, chuẩn, hiện đại
về kinh doanh xuất bản phẩm Rèn luyện các kỹ năng kinh doanh, đặc biệt trong đó là kỹnăng làm việc với thị trường và khai thác khách hàng
Phương pháp nghiên cứu.
- Bài giảng sử dụng phương pháp chung-phương pháp duy vật biện chứng và phuơngpháp lịch sử để phân tích, lý giải, xem xét sự vận động khách quan của thị trường vớiyêu cầu kinh doanh để có biện pháp ứng xử Đồng thời với đó là có cái nhìn khách quanvề xu hướng tất yếu của viêc phát triển kinh doanh xuất bản phẩm trong nền kinh tế toàncầu để đón trước yêu cầu và tìm kiếm giải pháp ứng xử
- Khi nghiên cứu và thể hiện tập bài giảng này, các tác giả đã sử dụng phương pháp cụthể như: Phương pháp thống kê, phân tích, điều tra xã hội để thực hiện các hành vi kinhdoanh và nghiên cứu thị trường xuất bản phẩm
* * *
Trang 4NỘI DUNGCHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM 1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm về hàng hóa xuất bản phẩm.
Trên thực tế, xuất bản phẩm (XBP) là sản phẩm của quá trình lao động sáng tạo vàcông nghệ chế bản Trong điều kiện hiện nay, xuất bản phẩm trở thành hàng hóa, vàđược mua, bán trên thị trường
Để có XBP phải trải qua một quá trình nghiên cứu, sáng tạo và công nghệ chế bản, inấn, quá trình này có chi phí kinh tế Do đó khi XBP được tạo ra phải được trao đổi trênthị trường để bù đắp cho quá trình chi phí, đồng thời phải thu được lợi nhuận cho nhàkinh doanh Vì thế XBP có giá trị và giá trị trao đổi nên nó đã trở thành hàng hóa kinhtế
Theo Luật Xuất bản năm 2012 tại khoản 4, Điều 4 có ghi: “Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu về chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoc, nghệ thuật được xuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản bằng các ngôn ngữ khác nhau, bằng hình ảnh, âm thanh…”(1)
Theo định nghĩa này thì xuất bản phẩm bao gồm các sản phẩm văn hóa rất đa dạngvề thể loại và có nội dung tri thức vô cùng phong phú Có thể hiểu xuất bản phẩm làbách khoa toàn thư về các lĩnh vực tri thức mà loài người đã dầy công nghiên cứu vàsang tạo ra để phục vụ cho chính bản thân mình
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hiện nay, khi có sự giao lưu quốc tế mạnh mẽ, khicó những nhu cầu mới của con người để giải quyết những áp lực trong cuộc sống thìxuất bản phẩm trở lên cần thiết hơn bao hết Từ đó cho thấy, xuất bản phẩm là hàng hóakhông thể thiếu đối với mỗi con người và phục vụ đắc lực cho đòi hỏi về nghiên cứusáng tạo, học tập, ứng dụng và phổ biến tri thức trong xã hội Mặt khác xuất bản phẩmcòn là công cụ quan trọng để giao lưu quốc tế trong mọi lĩnh vực hoạt động của loàingười
Tuy nhiên XBP là hàng hóa đặc thù, khác xa với các hàng hóa thông thường, đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về nó để có biện pháp ứng xử trong kinh doanh chúng một cách đúng đắn nhất.(4)
Trang 5Có thể khái quát những tính đặc thù cơ bản của xuất bản phẩm sau đây:
Thứ nhất : Nội dung của Xuất bản phẩm chứa đựng những giá trị tri thức phong phú,
đa dạng Mang Xuất bản phẩm đến cho người dân( thông qua hoạt động kinh doanh) làđể thực hiện thỏa mãn nhu cầu văn hóa, tinh thần, trí tuệ cho họ Nhằm tuyên truyền giáodục nhân dân hưởng ứng và vững bước đi theo con đường của Đảng, Nhà nước đã vạch
ra Đồng thời với đó, nội dung của xuất bản phẩm góp phần làm hoàn thiện nhân cáchcon người để họ trở thành công dân có ích cho xã hội vừa có đức, vừa có tài
Thứ hai: Hàng hóa Xuất bản phẩm được biểu hiện dưới hình thức và vật mang khác
nhau như: Sách bằng giấy, sách điện tử, các loại băng đĩa, tranh ảnh và các loại văn hóaphẩm khác Đồng thời lĩnh vực trí thức với hàm lượng tri thức chứa đựng trong xuất bảnphẩm nói trên cũng khác nhau Do đó mỗi loại xuất bản phẩm chỉ có thể phù hợp vớimột vài đối tượng khách hàng nhất định chứ không phù hợp với tất cả mọi người trongxã hội Chẳng hạn người có chuyên môn về các lĩnh vực khác nhau sẽ có nhu cầu xuấtbản phẩm khác nhau; Người có trình độ và mức độ hiểu biết cao thấp khác nhau( trongcùng lĩnh vực tri thức) sẽ có mức độ đòi hỏi rất khác nhau về dạng xuất bản phẩm Vì thếviệc lựa chọn xuất bản phẩm kinh doanh phải căn cứ vào nhu cầu thị trường xuất bảnphẩm Đồng thời khi mang xuất bản phẩm đến cho người dân phải quan tâm tới tính
phù hợp với văn hóa bản địa, nhu cầu và trình độ của họ Đây là cả một nghệ thuật với những kỹ năng mà doanh nghiệp xuất bản phẩm phẩm phải nỗ lực twm kiếm và thực
hiện thành công
Thứ ba: Gía Xuất bản phẩm là giá đặc thù, bởi lẽ lao động tạo ra xuất bản phẩm là lao
động đặc thù Đó là người sáng tác- tạo ra bản thảo, người biên tập chỉnh lý, sửa chữanội dung… Đây là lao động trí tuệ, khó lượng hóa về mặt chi phí trong quá trình hoạtđộng Vì thế không thể tính đủ đầu vào của sản xuất các xuất bản phẩm mà chỉ có thểđược tính với chi phí tương đối Đồng thời với đó là Nhà Nước có nhiều chính sách đốivới mặt hàng xuất bản phẩm- hàng hóa đặc thù như phân tích ở trên Từ đó Nhà Nướcđưa ra các chính sách như :
+ Chính sách trợ giá cho quá trình sản xuất ra xuất bản phẩm.
+ Chính sách đặt hàng cho Nhà xuất bản để đáp ứng nhu cầu đọc sách, nâng cao trìnhđộ của nhân dân ở các vùng sâu, xa, vùng khó khăn kinh tế và các đối tượng diện đặcbiệt
+ Chính sách trợ cước phí vận chuyển lên các vùng, miền khó khăn của đất nước vàxuất khẩu xuất bản phẩm ra nước ngoài…
+ Chính sách Đặc biệt đối với các tác phẩm có giá trị đặc biệt( được quy định theoLuật) về khoa học công nghệ, văn hóa, văn học nghệ thuật và giáo dục
Trang 6Do đó giá bán của các loại XBP được tính không giống các loại hàng hóa thôngthường Trên thực tế nhiều loại xuất bản phẩm thường được bán thấp hơn giá trị sử dụngcủa chúng
Thứ tư: Nội dung của xuất bản phẩm có sức lan truyền mạnh mẽ từ người này, sang
người khác, thế hệ này sang thế hệ khác Nó ảnh hưởng mạnh mẽ tới tư tưởng con người,hình thành các trào lưu xã hội và hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp ( Hoàn thiệnnhân cách con người) Vì thế Đảng, Nhà nước ta, từ khi ra đời đã sử dụng xuất bản phẩmnhư là công cụ tuyên truyền, giáo dục sắc bén Ngày nay xuất bản phẩm được sử dụngđắc lực trong quản lý xã hội, giao lưu quốc tế và góp phần xây dựng một xã hội vănminh, hiện đại Với ý nghĩa đó, trách nhiệm của người làm kinh doanh xuất bản phẩmphải là người lính gác đắc lực, trung thành để không đưa ra thị trường những xuất bảnphẩm có nội dung sai định hướng và độc hại cho xã hội
Thứ năm: Xuất bản phẩm là hàng hóa trí tuệ nên tên của XBP, hình thức của nó chưa
thể nói gì về nội dung và giá trị đích thực của nó đối với xã hội Để thực hiện các mụctiêu của mình là bán được hàng hóa, bán đúng đối tượng sử dụng , thực hiện tốt mục tiêukinh tế và xã hội, đòi hỏi người kinh doanh xuất bản phẩm phải làm rõ giá trị nội dungđích thực của nó, hướng vào khách hàng bằng những kỹ năng kinh doanh phù hợp.Thông qua đó kích thích nhu cầu mua, đọc, sử dụng XBP của nhân dân Các kỹ năng nàyvừa mang yếu tố văn hóa, văn minh thương nghiệp, vừa thể hiện tính chuyên nghiệp ,hiện đại trong hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm bối cảnh toàn cầu hóa
1.1.2 Khái niệm về kinh doanh xuất bản phẩm
Kinh doanh là thuật nữ mới xuất hiện ở Việt nam từ sau khi đất nước ta thực hiện đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế (1986) Đối với kinh doanh xuất bản phẩm còn là thuật ngữ
ra đời muộn hơn ở Việt Nam Như trên đã nói, xuất bản phẩm là sản phẩm của quátrình lao động sáng tạo và công nghệ chế bản, đồng thời là một dạng hàng hóa đặc thùnên ngày nay nó cũng là đối tượng của kinh doanh Tuy nhiên để có được nhận thức nhưhiện nay, quá trình đưa XBP từ nơi sản xuất đến người sử dụng cũng trải qua nhưngquan niệm khác nhau:
+ Quan niệm là phát tán, lưu truyền xuất bản phẩm
+ Quan niệm là phân phối theo chỉ định của Nhà nước
+ Quan niệm là phát hành sách
+ Quan niệm là kinh doanh xuất bản phẩm.
- Quan niệm là kinh doanh
Trang 7Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng, kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu củanền sản xuất hàng hóa phát triển Bởi lẽ trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa luôn đặtmục tiêu hàng hóa sản xuất ra phải bán được Thực hiện hành vi kinh doanh khiến chohàng hóa được lưu chuyển nhanh hơn, nhiều hơn trên thị trường Nghĩa là hàng hóa đượctrao đổi giá trị, đáp ứng nhu cầu của cả khách hàng và nhà kinh doanh hay doanh nghiệp.
Từ đó có thể hiểu kinh doanh là : Thực hiện một số hành vi của cá nhân hay tổ chức trong việc tạo ra hàng hóa, mua vào hay bán hàng nhằm mục tiêu của chính mình (3.) Ngày nay nhiều người còn hiểu kinh doanh đơn giản là việc mua vào để bán hàng hoá nào đó nhằm mục tiêu sinh lợi cho cá nhân hay nhóm người và doanh nghiệp.(2)
Như vậy là kinh doanh phải bao gồm các yếu tố cốt lõi như : Tạo ra hàng hóa, muahàng hóa vào và bán hàng hóa ra để đạt mục tiêu của người mua, người bán
Kinh doanh xuất bản phẩm là hoạt động thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, mang yếutố văn hóa cao thông qua việc phổ biến xuất bản phẩm đến nhiều người trong xã hội vàlà khâu trọng yếu của chu trình Xuất bản- in- lưu thông xuất bản phẩm Trong điều kiệnnền kinh tế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, việc đưa xuất bản phẩm từ tay nhàsản xuất đến người sử dụng đã được các doanh nghiệp thực hiện qua hành vi kinhdoanh Nhằm mục tiêu đưa nhanh hơn, nhiều hơn và đúng đối tượng có nhu cầu xuất bảnphẩm theo định hướng của Nhà nước
Từ đó có thể hiểu kinh doanh xuất bản phẩm là quá trình đầu tư vốn( tiền, của) và công sức để tổ chức các hoạt động sản xuất, mua và bán hàng hóa xuất bản phẩm nhằm mục tiêu đạt lợi nhuận (4)
- Kinh doanh phải là một quá trình với hành vi có chủ đích Bởi quá trình đó để nhàkinh doanh nghiên cứu, tính toán và lựa chọn hàng hóa, thị trường đầu tư và kinh doanhhay thiết lập các chiến lược kinh doanh
- Qúa trình đó để khách hàng, đối tác tìm kiếm các mối quan hệ, tìm kiếm thị trườngđể tham gia cũng như các hành vi thực hiện kinh doanh
- Qúa trình đó để người sử dụng tìm kiếm hàng hóa, nhà cung cấp và quyết định muasản phẩm cho mình phù hợp
- Nói tới kinh doanh nói chung, kinh doanh xuất bản phẩm nói riêng , không thể bỏqua các hành vi SẢN XUẤT-MUA- BÁN hàng hóa Tuy nhiên ở các mối quan hệ khácnhau với thị trường và hàng hóa khác nhau sẽ có các hành vi trên đây khác nhau Chẳnghạn sản xuất sách khác với sản xuất tranh, ảnh; Mua buôn, bán buôn khác với mua, bánlẻ; Hành vi mua bán trực tiếp của nhà kinh doanh khác với mua bán gián tiếp; Hoạt độngtrên thị trường thực ( hữu hình ) khác với hoạt động ở thị trường ảo ( vô hình)
Trang 8- Mục tiêu của kinh doanh ( kể cả kinh doanh XBP) là lợi nhuận Tuy nhiên lợi nhuậntrong kinh doanh xuất bản phẩm không chỉ là tiền lãi thu được sau quá trình sản xuất-lưu thông- phân phối hàng hóa mà còn là cái lãi quá trình sử dụng XBP của xã hội Bởilẽ kinh doanh XBP vừa là hoạt động kinh tế, vừa là lĩnh vực văn hóa tư tưởng , phục vụcho sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Trên lĩnh vực Văn hóa tư tưởng và vì mục tiêu xã hội
Hoạt động kinh doanh xuất bản phẩm thực hiện chức năng phổ biến tri thức chứa
đựng trong XBP đến với mọi người dân thuộc mọi miền của đất nước cũng như thế giới.Qua đó nhằm tuyên truyền đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, Pháp Luật củaNhà nước; các tri thức khoa học, tinh hoa văn hóa dân tộc và thế giới, góp phần khích lệ,giáo dục nhân dân hiểu đúng và vững bước đi lên xây dựng, phát triển đất nước Từ đócho thấy, xuất bản phẩm có ý nghĩa to lớn trong công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độnhân thức, tư tưởng chính trị và để giáo dục con người hướng tới chân- thiện,-mỹ Đồngthời nó là sản phẩm không thể thiếu trong việc nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức chuẩnmực, lối sống tốt đẹp của người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Dưới góc độ kinh tế hay mục tiêu kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường , định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, kinh doanh xuấtbản phẩm là một hoạt động kinh tế Do đó đòi hỏi bất kỳ doanh nghiệp hay cá nhân nàokhi tham gia kinh doanh xuất bản phẩm cũng phải đạt mục tiêu có lợi nhuận
Kinh doanh xuất bản phẩm thực hiện thúc đẩy tích cực việc tạo ra hàng hóa văn hóavà phổ biến chúng ra thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội thông qua trao đổi hàng,tiền (H-T) Qúa trình sản xuất xuất bản phẩm và mang phân phối chúng ra thị trường cầnphải có chi phí nhất định (Bản thảo, cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, sức lao động vàtài chính…) Do đó sau một quy trình sản xuất và Phân phối lưu thông phải tạo ra đượclợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là thước đo giá trị đạt được của doanh nghiệp hay đơn vịsản xuất, lưu thông, phân phối xuất bản phẩm Với lợi ích kinh tế thu được giúp các Nhàkinh doanh có thể tái sản xuất sức lao động của người lao động, mở rộng quy mô hoạtđộng, cạnh tranh tốt, khảng định vị thế của mình trên thị trường Đồng thời với đó làkinh doanh xuất bản phẩm làm thỏa mãn tốt nhu cầu của nhân dân, nâng cao dân trí vàthúc đẩy phát triển nền văn hóa tư tưởng của đất nước
Đối với Nhà nước, khi hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, sẽ tạo điều kiện để doanhnghiệp, tổ chức kinh tế thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước thông qua việc nộp thuế vàđóng góp vào ngân sách của quốc gia
Trang 9Đối với khách hàng, khi kinh doanh xuất bản phẩm thực hiện trao đổi hàng hóa có hiệuquả, thỏa mãn nhu cầu xuất bản phẩm cho khách hàng, không chỉ làm cho họ có nhậnthức, có đạo đức tốt mà còn nâng cao năng lực trình độ chuyên môn cho họ Từ đó họ sẽgóp phần tích cực làm ra của cải vật chất dồi dào, xây dựng đất nước phồn vinh, tươi đẹpvà vững mạnh
Từ sự phân tích trên cho thấy, kinh doanh xuất bản phẩm phải đồng thời một lúc thực
hiện hai mục tiêu: Văn hóa tư tưởng và mục tiêu kinh tế Các mục tiêu này cao, thấp
với mức độ khác nhau là tùy thuộc vào những góc độ và vị trí khác nhau của doanhnghiệp, nhà kinh doanh và lực lượng liên quan Trên phạm vi toàn xã hội, dưới góc độquản lý và định hướng của Nhà Nước, mục tiêu tư tưởng, văn hóa được đặt lên hàng đầu,mục tiêu kinh tế là phương tiện hoạt động Dưới góc độ của doanh nghiệp, tổ chức kinhdoanh xuất bản phẩm thì hiệu quả kinh tế giữ vị trí đặc biệt quan trọng Mục tiêu vănhóa, tư tưởng được thực hiện thông qua việc chấp hành nghiêm định hướng của Đảng và
pháp luật của Nhà Nước Vì vậy đối với doanh nghiệp và tổ chức kinh doanh xuất bản phẩm cần kết hợp hài hòa giữa mục tiêu văn hóa tư tưởng và mục tiêu kinh tế.
Để đạt được những mục tiêu nói trên các doanh nghiệp kinh doanh xuất bản phẩm
phải nỗ lực mọi mặt để không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của mình và nhanhchóng đi tới đích Đồng thời đối với Nhà nước sẽ có điều kiện để thực hiện tốt vai tròquản lý và hỗ trợ, tạo điều kiện cho kinh doanh xuất bản phẩm phát triển
1.2 ĐẶC TRƯNG CỦA KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
1.2.1 Về cung – cầu hàng hóa xuất bản phẩm
1 Phân tích cầu XBP
Nhu cầu là biểu hiện sự mong muốn, sự đòi hỏi của con người ta về một hay nhiều cái gì đó hoặc về vấn đề nào đó phục vụ cho đời sống dân sinh (5) Mặt khác, trong
nhiều trường hợp, nhu cầu là biểu hiện sự thiếu hụt của người ta về điều gì đó Sự thiếuhụt này đòi hỏi được bù đắp bằng mọi cách để thỏa mãn
Trong cuộc sống đấu tranh để sinh tồn, con người có nhiều nhu cầu: nhu cầu để tồn tạinhư ăn, mặc, ở, đi lại; Nhu cầu để phát triển như học hành, được khảng định, được sángtao; Nhu cầu được giao lưu chia sẻ và giao bang… Tuy nhiên mỗi loại nhu cầu này cónhững tính chất khác nhau, hình thành khác nhau, đặc biệt là nẩy sinh trong nhữngtrường hợp rất khác nhau và đòi hỏi phải được đáp ứng khác nhau
Trang 10Mọi nhu cầu nẩy sinh đều xuất phát từ những thiếu hút, không có và mong muốn cócủa con người Chẳng hạn muốn ăn vì đói; muốn có xe đi vì phải đi bộ; muốn có bạn vì
cô đơn; muốn đọc sách vì muốn hiểu biết…
Mọi con người dù là ở đâu, làm gì, trình độ ra sao đều có nhu cầu Chỉ có điều nhu cầuđó là đòi hỏi về cái gì( chủng loại) và đòi hỏi ra sao?( mức độ) mà thôi
Như phân tích ở trên cho thấy, trong cuộc sống của con người có rất nhiều nhu cầukhác nhau và được phân theo thứ bậc khác nhau Có thể tham khảo Tháp nhu cầu củaMaslow
THÁP NHU CẦU MASLOW
Trang 11Theo Tháp nhu cầu MSLOW, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính.
- Nhóm nhu cầu cơ bản: gồm 3 bậc cuối cùng, trong đó là đòi hỏi về ăn, mặc, ở, đi lại;
nhu cầu về an toàn thân thế, gia đình việc làm; nhu cầu đòi hỏi được ở trong một nhómcộng đồng, bạn bè tin cậy Đây là các nhu cầu thiết yếu để con người tồn tại, là cơ sở chophát triển cá nhân, nhóm người hay cộng đồng Loại nhu cầu này được hình thành sớmnhất hay còn gọi là nhu cầu bức thiết
Trong tất cả các nhu cầu của con người thì nhu cầu bức thiết là không thể thiếu hụt vìkhông đủ nhu cầu này con người khó tồn tại Nên quá trình sống là quá trình con ngườiphải đấu tranh tích cực để tồn tại
- Nhóm nhu cầu bậc cao ( 2bậc trên cùng của tháp.)
Là nhu cầu tinh thần, con người đòi hỏi có địa vị xã hội, được sự tôn trọng của xã hội;Nhu cầu hiểu biết , muốn sáng tạo và thành đạt…
Loại nhu cầu này xuất hiện và phát triển khi nhu cầu cơ bản được thỏa mãn ở mức độnhất định Theo Tháp nhu cầu Maslow thì nhu cầu xuất bản phẩm thuộc loại nhu cầucấp cao của con người Về cơ bản nhu XBP không phải là nhu cầu bức thiết Tuy nhiêntrong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hiện nay, nhu cầu xuất bản phẩm đã trở nên vô cùngquan trọng đối với mỗi con người Ngày nay, muốn phát triển, phái có sự hiểu biết, phảiđạt tới những trình độ nhất định, phù hợp xu thế thời đại Ở Việt Nam trong vài năm trởlại đây, nhu cầu XBP đã, đang là đòi hỏi không thể thiếu của không ít các tầng lớp xãhội
Có thể định nghĩa nhu cầu XBP như sau: Nhu cầu XBP là sự đòi hỏi của các nhóm khách hàng khác nhau trong xã hội về xuất bản phẩm trong những không gian và thời gian cụ thể ứng với mức giá nhất định(7).
Nhu cầu xuất bản phẩm là đòi hỏi được thỏa mãn về văn hóa tinh thần, trí tuệ của cánhân, nhóm người hay cộng đồng người Nhu cầu xuất bản phẩm của con người khácnhau với điều kiện và thời gian khác nhau sẽ diễn ra rất khác nhau
Nhu cầu xuất bản phẩm phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau, biểu hiện ở các điềukiện chủ quan và khách quan
+ Điều kiện chủ quan là toàn bộ các yếu tố nằm trong bản thân khách hàng: trình độnhận thức, nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính và điều kiện cụ thể với môi trường sống, địavị xã hội, điều kiện địa lý và khả năng thu nhập của bản thân người có nhu cầu
+ Điều kiện khách quan là các yếu tố nằm ngoài khách hàng: Điều kiện chính trị, kinhtế Văn hóa xã hội, sự phát triển của thị trường quốc gia; xu hương phát triển mọi mặt
Trang 12QO
+ Có đòi hỏi bức thiết về XBP nào đó, trong thời gian cụ thể nào đó.
+ Người có nhu cầu có khả năng thanh toán cho đòi hỏi của mình
Có thể hiểu cầu XBP như sau: Cầu XBP là sự đòi hỏi bức thiết của khách hàng về một hay vài XBP cụ thể nào đó trong khoảng không gian, thời gian cụ thể và họ có khả năng thanh toán.(4)
Sự đòi hỏi bức thiết là thể hiện sự mong muốn cháy bỏng về một hay chủng loại xuấtbản phẩm cụ thể nào đó Mong muốn ấy phải được đáp ứng nhanh chóng thể thỏa mãncho khách hàng
Những người có mong muốnvề xuất bản phẩm có khả năng chi trả cho đòi hỏi củamình ( khả năng mua và thanh toán.)
SƠ ĐỒ CẦU XUẤT BẢN PHẨM
Trên sơ đồ, đường câù là đường đi xuống và có ký hiệu kinh tế là D Ở bất kỳ điểm
nào trên đường Cầu chúng ta cũng có thể xác định được mối liên hệ giữa giá cả và khốilượng hàng hóa được mua Đồng thời thấy được những biểu hiện đặc trưng của nó
Các đặc trưng của cầu XBP :
Trang 13- Cầu xuất bản phẩm chịu tác động mạnh mẽ bởi nhân tố khách quan và chủ quan nênđã hình thành lên các đặc trưng riêng biệt của nmình.
+ Cầu XBP tăng trưởng theo thời gian
+ Cầu XBP tỉ lệ nghịch với giá xuất bản phẩm
+ Cầu XBP có sự co, gĩan mạnh trên thị trường(biến động nhanh)
+ Cầu XBP phong phú về nội dung, đa dạng về thể loại
+ Cầu XBP mang tính quốc tế cao
+ Cầu XBP phát triển phụ thuộc vào chính sách nuôi dưỡng và phát triển nhântài của quốc gia và thế giới
- Cầu xuất bản phẩm nhìn chung thường đứng sau cầu về vật chất đơn thuần và nó dễ bịthay thế bởi cầu về sản phẩm khác
2 Phân tích về cung XBP
Định nghĩa cung XBP : Cung XBP là khả năng của một tổ chức, một quốc gia hay thế giới trong việc khai thác đề tài, tạo ra hoặc mang phân phối XBP ra thị trường trong những điều kiện không gian, thời gian cụ thể với mức giá nhất định.(4)
- Khả năng của doanh nghiệp, hay một quốc gia được biểu hiện thông qua: Tài chính,
nhân lực, công nghệ , cơ sở vật chất kỹ thuật, khả năng ứng xử thị trường và khả nănghợp tác mọi mặt với đối tác
-Đối với Việt Nam, việc cung xuất bản phẩm trên thị trường hiện nay ngoài việc phụ
thuộc vào khả năng của các đơn vị như: Nhà xuất bản, nhà nhập khẩu và các công tykinh doanh XBP thì còn là vai trò của Nhà nước ( Phu thuộc vào Nhà nước)
XBP là hàng hóa đặc thù, có tác động mạnh mẽ tới tư tưởng con người và góp phầnlàm hoàn thiện nhân cách con người, nên không phải bất cứ loại nào, nội dung của XBP
ra sao cũng được phép cung ra thị trường Vì thế cung xuất bản phẩm còn phải tuân thủgắt gao các quy định của luật pháp về nội dung tư tưởng thể hiện trong nội dung của nó
- Về thực chất cung XBP là số lượng mà người sản xuất- lưu thông xuất bản phẩm cóvà có khả năng đưa nó ra thị trường để bán Tuy nhiên cung hàng hóa xuất bản phẩmcũng chịu tác động của các nhân tố khách quan và chủ quan Trong đó có nhân tố thúcđẩy và kích thích cung phát triển, đồng thời cũng có các nhân tố kìm hãm, cản trở sựphát triển của cung XBP ra thị trường
- Cung XBP nhiều hay ít và mức độ về chất lượng ra sao còn phụ thuộc vào tính chấtcủa sản xuất xuất bản phẩm Đó là sản xuất mang tính đơn chiếc, kể cả trong điều kiện
Trang 14QO
S
công nghệ hiện đại
Cung xuất bản phẩm trên thị trường ngày nay có sự thay đổi lớn
+ Lực lượng cung phong phú đa dang
+ Lực lượng cung ở mọi thành phần kinh tế, ở mọi quốc gia với nền văn hóa khácnhau
+ Cung khối lượng hàng hóa lớn và phong phú đa dạng
Tuy nhiên Cung hàng hóa nóí chung và Cung xuất bản phẩm nói riêng trong bốicảnh nền kinh tế toàn cầu luôn được xuất phát từ Cầu- từ những mong muốn, đòi hỏi bứcthiết của khách hàng Khách hàng đã dẫn dắt Cung và làm nó biến động không ngừng.Bên cạnh đó là sự định hướng của Nhà Nước cũng tác động mạnh mẽ tới Cung xuất bảnphẩm Có thể biểu diễn đường Cung trên sơ đồ
SƠ ĐỒ VỀ CUNG XUẤT BẢN PHẨM
Trên sơ đồ đường Cung là đường có độ dài đi lên Ở bất kỳ điểm nào trên đường
Cung chúng ta cũng xác định được mối liên hệ giữa giá cả và khối lượng hàng hóa xuấtbản phẩm mang bán
- Các yếu tố tác động đến cung XBP :
+ Điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của quốc gia
Trang 15QO
S
DM
+ Cầu XBP và xu hướng phát triển của nó trên thế giới
+ Khả năng tài chính của các tổ chức sản xuất và lưu thông
+ Khả năng về nhân sự và thu hút nhân tài cho tổ chức
+ Khả năng cạnh tranh thị trường của nhà sản xuất, lưu thông XBP
+ Xu hướng phát triển của ngành và xuất bản thế giới
+ Cung chịu tác động mạnh của giá cả thị trường
Có thể biểu hiện mối quan hệ cung cầu hàng hóa xuất bản phẩm trên sơ đồdưới đây
Sơ đồ mối quan hệ cung cầu.
Trên sơ đồ mối quan hệ cung cầu xuất bản phẩm cho thấy, trên thị trường Cung vàCầu luôn gặp nhau tại những điểm nhất định ( M là điểm gặp gỡ của Cung và Cầu) Tạiđó hàng hóa xuất bản phẩm sẽ được bán với giá cả và lượng hàng hóa mua bán phù hợp(thỏa thuận) với cả người bán và người mua
Trên thị trường hiện nay:
- Cung xuất bản phẩm luôn luôn dịch chuyển ( co, giãn)
- Cầu xuất bản phẩm luôn luôn dịch chuyển ( co, giãn )
Trang 16Qúa trình co giãn đó cung và cầu sẽ gặp nhau và xuất bản phẩm được bán Xuất bảnphẩm được bán sẽ mang lại lợi ích cho cả người bán và người mua Người mua đượcXBP sẽ thỏa mãn nhu cầu sử dụng của mình Người bán thu về giá trị băng tiền Tuynhiên mức độ lợi ích có thể khác nhau với các mối quan hệ cung cầu và ở các thị trườngkhác nhau.
1.2.2 Đặc trưng về giá trị của xuất bản phẩm.
1 Khái lược về giá trị của XBP.
Gía hàng hóa xuất bản phẩm là giá thị trường, giá thị trường là biểu hiện giá trị trao
đổi của hàng hóa trên thị trường
- Gía cả thị trường chịu tác động của nhiều nhân tố:
+ Quy luật cung – cầu
+ Quy luật cạnh tranh
+ Quy luật lưu thông tiền tệ
- Xuất bản phẩm là hàng hóa đặc thù, giá trị của nó được tính bằng lao động sáng tạo raXBP và chi phí quá trình sản xuất, lưu thông
- Công thức tính giá trị của XBP
P = CHI PHÍ SẢN XUẤT + CHI PHÍ KINH DOANH + m
Trong đó : + P là giá trị của hàng hóa trao đổi trên thị trường
+ m là lợi nhuận thu được ( lợi nhuận gộp)
Trong điều kiện hiện nay, muốn giảm giá trao đổi trên thị trường để tăng nhu cầu, cácnhà kinh doanh đã chú ý đặc biệt tới việc giảm chi phí sản xuất và chi phí lưu thông Như vậy xuất bản phẩm đươc trao đổi với giá trị bằng tổng của chi phí sản xuất ra nóvới phí lưu thông ra thị trường và lơi nhuận cho nhà sản xuát- kinh doanh
2 Đặc trưng về giá trị hàng hóa XBP
- Chi Phí sản xuất ra xuất bản phẩm bao gồm:
+ Chi phí sáng tác
+ Chi phí công nghệ
+ Chi phí in, nhân bản
Chi phí sáng tác là chi phí đặc thù, khó lượng hóa được giá trị chính xác Bởi lẽ sángtác là lao động trí tuệ, lao động phải trải qua một quá trình tích lũy kiến thức thông quanghiên cứu, học tập và thể hiện năng lực chuyên môn
Trang 17- Là hàng hóa đặc thù nên một số loại XBP Nhà Nước có sự đầu tư cho sản xuất và trợgiá, bù giá như các XBP về ( chính trị, một số sách công nghệ, sách giáo khoa).
Quá trình lưu thông, phân phối XBP trên thị trường hiện nay cũng có sự hỗ trợ củaNhà nước Trong đó có thị trường Nhà Nước trợ cước phí vận chuyển, tài trợ phí vậnchuyển hàng hoá Nhà Nước có chính sách trên là nhằm mục tiêu tuyên truyền, phổ biếnXBP sâu rộng trong xã hội và ra nước ngoài
1.2 3 Đặc trưng về hàng hóa xuất bản phẩm
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều được phát triểnnhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực khoa học -công nghệ Từ đó đã đã làm nẩy sinh, tăngcường về chất lượng và chủng loại sản phẩm, trong đó có xuất bản phẩm Xuất bảnphẩm là hàng hóa văn hóa tinh thần, ngày nay có sự biến động lớn và tạo lên những đặctrưng riêng biệt của mình
-Xuất bản phẩm là loại hàng hóa thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần trí tuệ cho conngười
- Xuất bản phẩm là loại hàng hóa có tốc độ phát triển nhanh nhất về loại hình , dạnghình và giá trị tri thức của nội dung xuất bản phẩm
- Xuất bản phẩm trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu là loại hàng hóa có nội dungmang tính quốc tế cao nhất và sức lan tỏa nhanh nhất
Sự phong phú dạng hình của xuất bản phẩm thể hiện ở các dạng hình phong phú.
Đó xuất bản phẩm phục vụ mọi đối tượng với trình độ khác nhau, nghề nghiệp và mứcđộ hiểu biết khác nhau
+ Xuất bản phẩm nghiên cứu khoa học Đối tượng của dạng này là những người cótrình độ học vấn cao, các chuyên gia, chuyên ngành Họ sử dụng xuất bản phẩm để sangtạo và phát minh khoa học
+ Dạng xuất bản phẩm ứng dụng sản xuất và đời sống xã hội Dạng xuất bản phẩmnày mang tính ứng dụng cao Đó là các tri thức về phương pháp , kỹ thuật hay kỹ năng Sử dụng dạng xuất bản phẩm này góp phần nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và phát triểnsản xuất vật chất
+Xuất bản phẩm dạng tra cứu Đây là những xuất bản phẩm thể hiện kiến thức chuẩnmực, giup ích cho việc tra cứu, đối chiếu hay đánh giá các vấn đề khoa học một cáchchính xác Ngoài ra còn là tài liệu chuẩn mực để nghiên cứu học tập ngoại ngữ Đốitượng của dạng xuất bản phẩm này rộng hơn và ở các trình độ phong phú hơn
+ Dạng xuất bản phẩm phổ thông Đây là XBP dùng cho lực lượng người sử dụngđông đảo, có trình độ phổ thong Các tri thức ở đây được trình bầy đơn giản, dễ hiểu,
Trang 18mang tính phổ cập giúp ích cho việc tìm hiểu sự việc hay tiếp nhận những thông tin đơngiản về tất cả các lĩnh vực tri thức.
+ Xuất bản phẩm bằng tiếng việt
+ Xuất bản phẩm bằng tiếng các dân tộc it người của Việt Nam
+ Xuất bản phẩm bằng tiếng các nước trên thế giới
Sự phong phú về loại xuất bản phẩm.
Có thể nói xuất bản phẩm ngày nay hơn bao giờ hết có nội dung vô cùng phong phúvề các lĩnh vực tri thức và phục vụ cho tất cả các đối tượng người sử dụng Đó là các loạiXBP :
+ Xuất bản phẩm có nội dung tri thức về chính trị, xã hội
+ Xuất bản phẩm về tri thức khoa học -công nghệ
+ Xuất bản phẩm về văn học, nghệ thuật
+ Xuất bản phẩm về văn hóa -xã hội
+ Xuất bản phẩm về các lĩnh vực kinh tế ( Sản xuất, kinh doanh- thương mại và dịchvụ )
+ Xuất bản phẩm phụ vụ cho nhu cầu của các đối tượng với mục đích sử dụng khác + Xuất bản phẩm về các cấp bậc và lĩnh vực giáo dục
+ Xuất bản phẩm về các tri thức khác…
Tất cả các xuất bản phẩm trên đây hiện nay được tổ chức mua bán trên thị trườngbằng các hình thức và biện pháp khác nhau của các nhà kinh doanh Từ đó đã tạo lên cơhội cho khách hàng tìm kiếm, lựa chọn tự thỏa mãn tốt, đầy đủ nhu cầu của mình Tuynhiên do sự phong phú, phức tạp của hàng hóa xuất bản phẩm trên thị trường hiện naycũng gây khó khăn và bất cập cho công tác quản lý Đặc biệt nhiều xuất bản phẩm ngoàiluồng, có nội dung sai định hường đã tạo nên hiệu ứng xấu cho nhu cầu và các mối quanhệ xã hội Các đơn vị và cá nhân kinh doanh chỉ vì mục tiêu , lợi ích trước mắt mà sẵnsàng tập hợp trong tay mình những hàng hóa có nội dung không tốt Điều này làm chobản chất đích thực của hàng hóa và ý nghĩa xã hội của nó bị sử dụng sai lệch Vấn đềnày đã đặt ra trách nhiệm không nhỏ cho các nhà kinh doanh khi tham gia thị trường vàcác lực lượng quản lý nhà nước đối với thị trường xuất bản phẩm hiện nay
1.2 4 Đặc trưng về hiệu quả kinh doanh.
Trang 19Đối với hoạt động kinh doanh đơn thuần, hiệu quả kinh doanh là mục tiêu duy nhấtvà là cái đích mà nhà kinh doanh phấn đấu hướng tới Sau một quy trình kinh doanh, cáingười ta quan tâm là lượng tiền lãi thu được cho mình bao nhiêu? Nhiều hay ít? Đủ bùđắp chi phí và có dư thừa hay không? Tuy nhiên trong kinh doanh xuất bản phẩm, vì làkinh doanh loại hàng hóa đặc thù nên lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất người tahướng tới Có những mục tiêu cao cả hơn, quý giá hơn làm nâng tầm các nhà kinh doanhvà làm khác biệt giữa mua bán xuất bản phẩm với mua bán các hàng hóa khác.
Hiệu quả kinh doanh xuất bản phẩm được tính trên hai mặt:
- Là hoạt động trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng nên hiệu quả của kinh doanh xuất bảnphẩm là phải hướng vào việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, phải góp phầntích cực vào việc tuyên truyền giáo dục xã hội
- Kinh doanh XBP là hoạt động tạo ra và phổ biến XBP trên thị trường nên nó là hoạtđộng kinh tế Vì thế sau một quy trình kinh doanh phải đạt được mục tiêu lợi nhuận ( lợinhuận tinh bằng tiền lãi thu được trong kinh doanh) Lợi nhuận là thước đo giá trị hoạtđộng của đơn vị, tổ chức hay doanh nghiệp kinh doanh XBP Lợi nhuận là yếu tố quantrọng để tái sản xuất, kinh doanh và không ngừng phát triển các đơn vị kinh doanh xuấtbản phẩm hiện nay ở Việt Nam Lợi nhuận trong kinh doanh xuất bản phẩm là điều kiệncần thiết để các doanh nghiệp cạnh tranh và đứng vững trên thị trường bối cảnh hiện nay
- Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế trong kinh doanh xuất bản phẩm phải được xemxét và thực hiện hài hòa Bởi lẽ nếu thiên về bên nào là doanh nghiệp sẽ đi trệch mụctiêu và không thực hiện được mục đích hoạt động Tuy nhiên quá trình thực hiện điềunày nhiều lúc cũng rất khó khăn, với sự cám dỗ của thị trường và áp lực chi tiêu đãkhông ít đơn vị xa rời mục tiêu xã hội và đơn thuần kinh doanh Đây chính là đặc trưngriêng biệt, làm khác xa giữa kinh doanh XBP và kinh doanh loại hàng hóa thông thường.Đồng thời cũng là nét riêng, là yêu cầu riêng biệt đối với doanh nghiệp xuất bản phẩmhiện nay ở Việt nam
1.3 VAI TRÒ CỦA KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
Do đặc điểm của hoạt động kinh doanh với hang hóa xuất bản phẩm như trên đã phântích, làm cho kinh doanh xuất bản phẩm có vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thiếuđối với bất kỳ quốc gia nào hiện nay Trong đó đối với Việt Nam còn đặc biệt quan trọnghơn
Có thể thấy vai trò của kinh doanh XBP thong qua những điểm cơ bản sau:
1.3.1 Thúc đẩy sản xuất- lưu thông xuất bản phẩm.
Trang 20Kinh doanh XBP là hoạt động kinh tế đặc thù và có vị trí quan trọng trong mọi xã hội,
đặc biệt là Việt Nam hiện nay Đòi hỏi các nhà sản xuất, lưu thông XBP hoặc chuẩn bịlàm nghề này cần có nhận thức đúng, đủ về vai trò của nó để có biện pháp ứng xử phùhợp
- Kinh doanh XBP là góp phần quan trọng vào việc tái sản xuất và kinh doanh.
+ Kinh doanh là việc tạo ra, mua vào và mang phân phối , lưu thông hàng hóa Nghĩa làsản xuất hay mua vào là để bán Vì thế hàng hóa có bản được ( phân phối hết) mới tổchức mua và sản xuất ra Hàng hóa càng phân phối được nhiều sẽ giúp các nhà sản xuấtthu hồi vốn nhanh và quay vòng tạo ra nhiều hơn, nhanh hơn và các chủng loại XBP.+ Kinh doanh đạt hiệu quả cao là XBP sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu người sử dụng,được họ chấp nhận mua và lan tỏa nhu cầu sử dụng trong xã hội Đây là điều kiện giúpcác nhà xuất bản thu hồi vốn nhanh, tăng vòng quay của vốn và nâng cao hiệu quả sửdụng vốn Kinh doanh còn là căn cứ, cơ sở quan trọng để nhà sản xuất phát huy hết khảnăng của mình trong việc nỗ lực tìm kiếm bản thảo, đổi mới công nghệ, nâng cao chấtlượng sản xuất
+ Quá trình kinh doanh XBP còn là quá trình kiểm nghiệm về lượng, loại cũng như nộidung XBP Sự phản ánh qua kiểm nghiệm này sẽ giúp các khâu sản xuất đổi mới quytrình sản xuất , nâng cao hiệu quả công việc để đạt được sự hoàn thiện của xuất bảnphẩm khi đưa ra thị trường
- Đối với lưu thông.
Kinh doanh đạt hiệu quả cao sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy quá trình lưuthông XBP từ nơi sản xuất ra nó tới người sử dụng, làm tăng nhanh vòng quay của vốnkinh doanh Điều này khảng định răng, kinh doanh có hiệu quả sẽ thúc đẩy chính cácdoanh nghiệp lưu thông Làm cho họ tham gia nhanh hơn, nhiều hơn vào quá trình traođổi hang hóa
- Tạo ra mối quan hệ bền vững giữa sản xuất- lưu thông.
Kinh doanh còn tạo điều kiện để thống nhất giữa sản xuất- lưu thông, giữa đầu vào vàđầu ra thành một chỉnh thể Đây là hệ thống khăng khít và tất yếu phải có trên thị trườnglàm cho hàng hóa XBP lưu thông suôn sẻ, làm cho các mắt xích của quá trình này pháttriển đồng bộ, thống nhất hướng tới thị trường có lợi cho cá nhân, cộng đồng và xã hội
1.3.2 Kinh doanh là thực hiện tuyên truyền giáo dục, phổ biến văn minh và đáp ứng nhu cầu XBP cho xã hội.
- Kinh doanh XBP là hoạt động đặc thù, bởi lẽ hàng hóa của nó là sản phẩm của vănhóa tinh thần trí tuệ do con người sáng tạo ra để nhằm mục đích của mình Qúa trình
Trang 21kinh doanh là quá trình XBP được phân phối, lan tỏa rộng rãi trong xã hội Các tri thứcthể hiện trong XBP sẽ được phổ biến rộng rãi đến nhiều người Vì thế mà các tri thứcchính trị, khoa học, văn học, kinh tế, văn hóa nghệ thuật…được tuyên truyên mạnh mẽnhất và sâu rộng nhất.
- Thông qua tay các nhà kinh doanh các kiến thức trên sẽ đến với nhân dân- cộng đồngxã hội và nó có ý nghĩa giáo dục rất lớn làm hình thành lên trong họ những quan điểmvà tư tưởng tốt đẹp Ở đó sẽ là cái nôi gắn kết con người với nhau thành một khối vữngchắc để chia sẻ, đùm bọc , hưởng thụ và phát triển bền vững
Xuất phát từ đó mà nhiều thế kỷ nay nhiều quốc gia đã sử dụng XBP như là công cụđặc biệt, là phương tiện để giáo dục xã hội và coi hoạt động kinh doanh XBP như mộtngành, nghề cao quý Việt Nam từ lâu Đảng ta đã coi lưu thông xuất bản phẩm như mộthoạt động trong công tác chính trị tư tưởng của đất nước
- Thông qua việc thực hiện lưu thông XBP, các doanh nghiệp, tổ chức đã kích thích, làmnẩy sinh nhu cầu XBP ngày càng nhanh, nhiều trên thị trường Người mua để sử dụngXBP không chỉ xuất phát từ tình cảm, sở thích về nó mà còn từ ý chí và dư luận tác dụngxã hội đối với xuất bản phẩm Gía trị sử dụng của xuất bản phẩm cũng như mức độ thỏamãn nhu cầu khách hàng của nhà kinh doanh đạt được sẽ là yếu tố quan trọng để tái tạonhu cầu XBP
1.3.3 Mang lại hiệu quả kinh tế.
Trong điều kiện hiện nay, bất kỳ hoạt động nào của doanh nghiệp cũng được đo bằng
hiệu quả kinh tế Vì vậy người ta luôn luôn nỗ lực, phấn đấu để không ngừng nâng caohiệu quả kinh doanh Kinh doanh đạt hiệu quả cao sẽ là động lực kích thích mỗi cá nhânvà toàn bộ doanh nghiệp năng động, sáng tạo không ngừng cải tiến kinh doanh để tănglợi nhuận
- Đối với doanh nghiệp XBP.
Kinh doanh xuất bản phẩm có hiệu quả cao sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộngphạm vi và quy mô kinh doanh; mở rộng thị trường và tăng nhanh vòng quay của vốnđể tái sản xuất- kinh doanh Đồng thời với đó là nâng cao khả năng cạnh tranh thị trườngvà thu hút khách hàng
-Đối với người lao động.
Kinh doanh xuất bản phẩm đạt hiệu quả cao sẽ nâng cao khả năng thu nhập cho
người lao động và nâng cao chất lượng sống của họ Từ đó kích thích niềm say mê, năngđộng, chủ động sáng tạo của họ để làm nên chất lượng lao động mới Việc sử dụng lợi
Trang 22ích kinh doanh nâng cao đời sống cán bộ sẽ là đòn bẩy kinh tế để làm gắn bó mỗi cánhân với doanh nghiệp và cá nhân với nhau tạo thành sức mạnh bền vững Đây lại làđiều kiện để thúc đẩy kinh doanh xuất bản phẩm phát triển và không ngừng đổi mới
- Đối với Nhà nước
Kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao sẽ là điều kiện để doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ với Nhà nước thông qua nộp thuế Từ đó doanh nghiệp xuấtbản phẩm góp phần xây dựng đất nước phát triển hùng mạnh
1.3.4 Thu hút nguồn lực, làm hòa nhập thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, kinh doanh xuất bản phẩm giữ vị trí quan trọngđối với xã hội cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
- Kinh doanh làm cho thị trường XBP phát triển, sôi nổi góp phần làm thay đổi bộ mặtnền kinh tế- văn hóa xã hội Vì thế kinh doanh đã thu hút sự chú ý của nhiều người vàcủa Nhà nước với các ban ngành, đoàn thể
- “Phi thương, bất phú”, đó là tiêu chí để thu hút nhân lực, nhân tài tham gia tích cựcvào quá trình kinh doanh xuất bản phẩm nhằm mục tiêu có lợi ích
- Kinh doanh là nối liền giữa nhu cầu, người sử dụng và các đơn vị sản xuất, lưu thôngxuất bản phẩm thành một chỉnh thể và gắn các quá trình sản xuất kinh doanh của quốcgia với quốc tế
- Xuất phát từ lợi ích kinh doanh và lợi nhuận siêu ngạch cũng như các lợi thế so sánhmà đã làm hòa nhập thị trường xuất bản phẩm trong nước với thị trường thế giới thôngqua kinh doanh quốc tế
Có thể nói, kinh doanh XBP trong nền kinh tế hội nhập hiện nay có vị trí đặc biệtquan trọng đối với Việt Nam Đây là một hoạt động vừa mang tính tư tưởng chính trị,vừa mang yếu tố kinh tế cao Nhân thức rõ vấn đề này là một đòi hỏi bức thiết đối vớicác doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh và những người sẽ trở thành nhà kinh doanh xuấtbản phẩm trong tương lai
* * *
Trang 23
Câu hỏi ôn tập chương I
1 Phân tích định nghĩa về XBP ?
2 Vì sao XBP lại là hàng hóa đặc thù?
3 Hãy cho biết, sự khác biệt giữa kinh doanh XBP và kinh doanh loại hàng hóa thôngthường
4 Phân tích ý nghĩa của kinh doanh xuất bản phẩm đối với Việt Nam hiện nay?
5 Làm rõ những đặc trưng cơ bản của kinh doanh xuất bản phẩm
Trang 24Chương 2 VẤN Đấ CƠ BẢN CỦA BIấN TẬP VÀ IN XUẤT BẢN PHẨM
2.1 TỔ CHỨC VÀ BIấN TẬP BẢN THẢO SÁCH
2.1.1 Tụ̉ chức bản thảo sách
2.1.1.1 Đờ̀ tài và kờ́ hoạch đờ̀ tài
Cỏc bước cơ bản trong quỏ trình xuṍt bản sỏch.
Đ
* Chú ý
Quy trình trên là quy trình phổ biến thông dụng xong vẫn còn rất nhiều trờng hợp khác nh: Tác giả tự mang bản thảo đến đề nghị xuất bản, Nxb tiến hành mua bản thảo từ tác giả trong và ngoài nớc, Đối tác mang bản thảo đến để liên kết xuất bản….
- Trờng hợp Tác giả hoặc đối tác liên kết đa bản thảo (tác phẩm)
đến, NXB cần xem xét mấy yêu cầu quan trọng
+ Bản thảo có bản quyền hợp pháp không ?
+ Nội dung bản thảo có tốt không ?
Trang 25+ NXB phải xem xét đề tài có phù hợp với NXB không?
+ Đề tài có phù hợp với kế hoạch đề tài của NXB không?
+ Tác giả có vấn đề gì không?
+ Xem xét một cách toàn diện tác phẩm?
Khái niệm đề tài.
Đề tài, theo định nghĩa của lý luận văn học, là phạm vi hiện thực cuộc sống đợc phản ánh trong tác phẩm
Thế nào là một đề tài hay?
Đề tài hay phải thoả mãn hai điều kiện sau:
- Đề tài phải có tính định hớng nghĩa là nố đáp ứng đợc nhiệm
vụ chính trị của Đảng và Nhà nớc.
- Đề tài mang tính khả thi
+ Đáp ứng đợc nhu cầu bạn đọc.
+ Có khả năng tiêu thụ trên thị trờng.
Sau khi biên tập viên xây dựng đợc từng đề tài một thì Nhà xuất bản tổng hợp lại và xây dựng thành bản kế hoạch đề tài Bản kế hoạch đề tài chính là bản tổng hợp và khái quát toàn bộ các kế hoạch đề tài do biên tập viên đề xuất.
Bản kế hoạch đề tài là một bản dự kiến khoa học về các sách sẽ
đợc xuất bản trong năm tới và các năm tiếp theo.
Kế hoạch đề tài gồm có kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch dài hạn,
ợc bboor sung vào kế hoạch hàng năm.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng ngày nay việc xây dựng các kế hoạch đề tài bổ sung là hết sức quan trọng đối với các Nhà xuất bản bởi những lý do sau:
Trang 26Kế hoạch đề tài bổ sung để thay thế những đề tài không thực hiện đợc.
Để bổ sung những đề tài hay do phát hiện muộn đồng thời
đáp ứng kịp thời những nhu cầu mới nảy sinh.
Những căn cứ để xây dựng kế hoạch đề tài.
Để xây dựng đề tài những ngời làm công tác biên tập vào bốn căn cứ sau:
- Thứ nhất căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của Nhà xuất bản
Căn cứ vào đờng lối chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc Căn cứ vào đội ngũ tác giả
Căn cứ vào tiềm lực của Nhà xuất bản.
+ Tiềm lực về lao động nhân sự.
+ Tiềm lực về tài chính.
ý nghĩa của kế hoạch đề tài
Kế hoạch đề tài có một vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt
động của Nhà xuất bản bởi nó là cơ sở cho việc lập kế hoạch xuất bản trong năm đồng thời đây cũng là cơ sở cho việc xác
định các chỉ tiêu khác của nhà xuất bản
2.1.1.2 Công tác cộng tác viên.
Cộng tác viên trong lĩnh vực xuất bản là khái niệm chỉ những ngời trong xã hội có quan hệ cộng tác với Nhà xuất bản để thực hiện kế hoạch đề tài và làm ra sách.
Thứ hai, cộng tác viên phải là ngời có đủ những điều kiện về tri thức, về khả năng thể hiện đối với lĩnh vực chuyên môn riêng
Trang 27biệt mà đề tài đòi hỏi Tiêu chuẩn này đợc lựa chọn trên cơ sở nắm vững yêu cầu, đặc điểm từng đề tài cụ thể.
Để hoạt động xuất bản có hiệu quả, nguồn bản thảo phong phú và ổn định đòi hỏi phải tổ chức cộng tác viên thành miột mạng lới rộng khắp theo nguyên tắc quy hoạch thành ba vòng với hạt nhân là biên tập viên và từ đó có kế hoạch kế thừa bổ sung cũng nh có chế độ hợp lý đối với từng loại cộng tác viên.
+ Vòng 1: Bao gồm những cộng tác viên nòng cốt, là những ngời sẵn sàng thực hiện các đề tài của Nhà xuất bản Những cộng tác viên này gần nh đợc coi là cán bộ nhân viên của Nhà xuất bản và cũng cần có chế độ chính sách hợp lý.
+ Vòng 2: Bao gồm các cộng tác viên thờng xuyên, là những ngời đã có tâm huyết nhiệt tình đóng góp cho Nhà xuất bản, khi tác phẩm đều gửi đến cho Nhà xuất bản Đối với những cộng tác viên này cần phải đợc quan tâm động viên khích lệ kịp thời.
+ Vòng 3: Bao gồm những cộng tác viên nói chung và là những ngời công tác với Nhà xuất bản để hoạt động Những cộng tác viên này cần đợc khuyến khích mở rộng và bồi dỡng để dần trở thành cộng tác viên nòng cốt.
Bồi dỡng về chính trị
Về đờng lối quan điểm của Đảng thuộc phạm vi đề tài.
Về tôn chỉ mục đích, nhiệm vụ chính trị của Nhà xuất bản, cơ quan xuất bản.
Bồi dỡng về nghiệp vụ.
Về đối tợng sử dụng xuất bản phẩm.
Về phơng pháp thể hiện tác phẩm.
Bồi dỡng về vật chất.
Lập sổ tay theo dõi cộng tác viên.
Trang 28t-Ví dụ: Nxb Chính trị QG in những cuốn tiểu thuyết rất hay, nhng rõ ràng là không phù hợp với tiêu chí của Nxb.
Nội dung phản ánh: Phải phản ánh đúng hiện thực khách quan.
Ví dụ: “ Nổi Loạn” của Dơng Thu Hơng - Động viên ngời phụ nữ VN nổi loạn trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trình
độ khoa học
Năng lực sáng tác
Tâm
lý, điều kiện gia
đình
Ghi chú
Trang 29Hình thức.
Khổ giấy:
+ Bản thảo phải đợc viết bằng giáy A4 (khổ 19 x 27), sử dụng tối đa không gian và thời gian đọc Trong đó số dòng vào khoảng 28-30 dòng mối dòng khoảng 14 chữ.
+ Bản thảo phải có lề để viết nhận xét.
+ Bảm thảo phải trình bày rõ ràng sạch sẽ nhằm tạo thuận lợi cho biên tập.
Chữ viết: có hai hình thức viết tay và đánh máy.
+ Bản viết tay phải phù hợp với quá trình sáng tác, chữ phải rõ ràng dễ đọc Hiện nay bản thảo viết tay thờng ít có tác giả sử dụng.
+ Vi tính: đây là dạng bản thảo thờng đợc sử dụng thông dụng nhất, co chữ thờng thống nhất là 11, bản thảo vi tính rất thuận lợi cho ngời làm công tác biên tập.
Hình: hình vẽ, ảnh, …phải đạt tiêu chuẩn.
+ Cách trình bày hình ảnh minh hoạ phải phù hợp và tơng xứng với nội dung trình bày.
Trang 30Chỉ ra u điểm và sai sót của tác phẩm.
Chỉ ra u điểm của tác phẩm nhằm đánh giá cho đúng, đánh giá chính xác bản thảo để xem tác phẩm đó có đạt yêu cầu sử dụng không.
Tuy nhiên vấn đề quan trọng là biên tập viên phải chỉ ra đợc những sai sót của tác phẩm bởi nhiệm vụ của biên tập viên là làm cho bản thảo tốt hơn lên và hạn chế tối đa những sai sót Nếu nh bản thảo của tác giả giàu u điểm cộng với việc biên tập viên khắc phục thiếu sót thì tất yếu sẽ cho ra đời những xuất bản phẩm có chất lợng tốt Bởi bản thảo thuộc về tác giả, tác giả là chủ thể của tác phẩm chứ bản thảo không phải do biên tập viên tạo ra Tuy nhiên để xuất bản phẩm thể hiện rõ đợc chức năng nhiệm vụ của Nhà xuất bản và đáp ứng đợc nhu cầu của bạn đọc thì biên tập viên phải có trách nhiệm kiểm tra lại bản thảo Một điều dễ nhận thấy là khi một tác phẩm hay ra đời ng-
ời ta lập tức nghĩ ngay đến tác giả nhng khi một cuốn sách dở ngời ta thờng truy ngay biên tập viên và Nhà xuất bản
Biên tập viên không chỉ hết đợc u điểm thì sẽ ảnh hởng đến giá trị của tác phẩm song nếu biên tập viên không chỉ hết đợc những thiếu sót đặc biệt là những sai sót về mặt chính trị thì hậu quả sẽ rất lớn ảnh hởng trực tiếp đến sự tồn tại của tác phẩm.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay, khi mà ngày càng có đông đảo lực lợng tham gia vào lĩnh vực xuất bản- in
và phát hành thì công tác kiểm tra đánh giá của các biên tập viên tại các Nhà xuất bản càng quan trọng hơn bao giờ hết Những ngời làm công tác biên tập đã từng phải trả giá rất đắt vì thiếu cẩn trọng trong việc xem xét đánh giá bản thảo.
Ví dụ:
Vạch ra phơng hớng khắc phục.
Sau khi đã chỉ ra những thiếu sót của tác phẩm, biên tập viên cần phối hợp trực tiếp với tác giả nhằm tìm ra biện pháp khắc phục Trong trờng hợp nếu là những sai sót nhỏ biên tập viên có thể tự sửa ngay nhng nếu bản thảo có nhiều sai sót hoặc có những sai sót lớn ảnh hởng trực tiép đến nội dung ý đồ của tác
Trang 31phẩm thì biên tập viên nên trả lại bản thảo cho tác giả tự sửa theo sự hớng dẫn của biên tập viên Khi tác giả sửa lại bản thảo
đòi hỏi phải có sự hớng dẫn của biên tập viên bởi tuy tác giả là ngời tự do sáng tạo nhng sự sáng tạo đó phải theo một định hớng nhất định và biên tập viên là ngời cũng phải chịu trách nhiệm theo định hớng đó.
2.1.2.2 Các nghiệp vụ biên tập bản thảo.
Đọc bản thảo là một thao tác nghề nghiệp nằm trong nghiệp
vụ biên tập vì vậy nó hoàn toàn khác với đọc sách thông ờng.Ta có thể so sánh giữa hai cách đọc này nh sau:
Trang 32+ Tiếp nhận thông tin là phơng tiện để tìm thiếu sót.
- Cơ chế đọc:
+ Huy động toàn bộ những tri thức cần thiết
để tiếp nhận thông tin
Cơ chế đọc:
+ Huy động toàn bộ những tri thức cần thiết để tiếp nhận thông tin + Suốt trong quá trình đọc luôn luôn đặt ra những câu hỏi về sự đúng đắn của thông tin.
Đây là hai yếu tố tạo thành sức chú ý, nó nh là đơn vị thành thạo của đọc phân tích biên tập Do vậy rèn luyện năng lực đọc bản thảo cần phải làm giàu tri thức đồng thời cũng phải nâng cao năng lực đặt câu hỏi Trong đọc bản thảo tính nghề nghiệp biểu hiện ở năng lực đặt câu hỏi của biên tập viên.
Trang 33Ghi chú bên lề là cơ sở để biên tập viên có nhận xét kết luận về bản thảo, đồng thời cũng là những tài liệu cần thiết để tác giả sửa chữa hoàn thiện văn bản.
Yêu cầu ghi chú bên lề:
+ Lời ghi phải khiêm nhờng, biên tậ viên phải tự đặt mình dới tác giả để có lời ghi.
+ Lời ghi phải ngắn gọn, rõ ràng dễ hiểu.
- Yêu cầu nghề nghiệp:
đọc bắt đầu từ chữ đầu tiên
đến chữ cuối cùng, không thích cũng phải đọc, đọc để vừa tiếp nhận thông tin vừa phát hiện sai sót, đọc cẩn thận chi tiết.
- Điều kiện đọc: đọc mọi nơi, mọi lúc, trong mọi
hoàn cảnh có thể.
- Điều kiện đọc: phải có
đầy đủ bàn ghế, ánh sáng, không khí…
Trang 34chủ đề t tởng của tác phẩm; nêu những u khuyết điểm chính
và kết luận.
Đối tợng của bản nhận xét tổng hợp là lãnh đạo Nhà xuất bản và cơ quan xuất bản chứ không phải tác giả vì vậy yêu cầu phải chính xác, ngắn gọn ( thờng không quá 60 chữ).
Luyện tập: Sinh viên tập biên tập và nghi chú bên lề một bài báo hoặc một truyện ngắn theo chủ đề nhất định.
Vòng một: yêu cầu sinh viên đọc khái quát, nêu chủ đề t tởng của tác phẩm.
Vòng hai: Đọc chi tiết, ghi chú bên lề chỉ ra những sai sót cần sửa chữa.
Vòng hai: Nhận xét tổng hợp.
Kết luận:
Trong văn bản tác giả thờng trích dẫn lời của ngời khác là cơ sở
lý luận và thực tiễn cho tác phẩm của mình Khi biên tập đoạn trích dẫn, biên tập viên cần tìm bản gốc và đối chiếu bản gốc với bản thảo.
Yêu cầu của trích dẫn là phải đúng với bản gốc, đủ ý không đợc cắt xén, lời trích phải đợc đặt trong ngoặc kép, có ghi rõ tên tác giả, tên sách, tên Nhà xuất bản, năm xuất bản( nếu là bài báo phải ghi rõ tên bài, tên tác giả, tên báo, số báo, ngày xuất bản ).
Trong văn bản( bản thảo) tác giả cũng có thể sử dụng những tài liệu thực tế để minh hoạ góp phần làm sáng tỏ quan điểm của mình Đối với những bản thảo nh vậy khi biên tập cần phải có tài liệu gốc để đối chiếu và tài liệu đó phải là tài liệu chính thống của đơn vị cung cấp
Trang 35* Quy luật đồng nhất.
Tính xác định của t tởng là điều kiện tồn tại của nó, một văn bản phản ánh đúng hiện thực thì nó mới có lý do để tồn tại còn một văn bản phản ánh sai sự thật thì nó khong có lý do để tồn tại và sẽ bị loại trừ Trong văn bản quy luật này thể hiện là ngôn ngữ sử dụng để phản ánh phải phù hợp với t duy, khi biên tập phải làm thế nào để ngôn ngữ phản ánh đúng t duy.
Tuy nhiên điều này cũng là vấn đề rất khó bởi những nguyên nhân sau:
+ Trong tiếng Việt, yếu tố mơ hồ khá cao
+ Mối quan hệ giữa vật-từ và khái niệm là mối quan hệ hết sức phức tạp Nếu nh vật và từ ít thay đổi thì khái niệm lại thờng thay đổi theo sự biến động của các điều kiện chính trị, kinh
tế, văn hoá-xã hội Ngoài ra mỗi từ lại có thể mang một nghĩa khác nhau trong từng ngànhcụ thể Do đó biên tập viên bắt buộc phải hiểu nghĩa của từ để biên tập đảm bảo đợc tính thống nhất của văn bản.
+ Hệ thống từ Hán-Việt trong các văn bản, đặc biệt là các vb chính thống chiếm đến 50% trong khi suốt hơn bốn mơi năm qua không đợc nghiên cứu đến nơi đến chốn nên thờng bị sử dụng sai.
+ Hiện thực khách vô cùng phong phú và đa dạng nhng biểu hiện ra ngoài lại có thể sai lệch với bản chất nên thờng phản ánh không đúng với hiện thực.
* Quy luật mâu thuẫn.
Trong công tác biên tập đây là thuộc tính không thể vừa có lại vừa không có Vi phạm quy luật này sẽ đẫn tới rối loạn thông tin, thiếu tính thuyết phục, thậm chí gây mất lòng tin cho ngời
đọc vì vậy khi biên tập tuyệt đối không thể mâu thuẫn trong văn bản Trờng hợp đặc biệt khi phát hiện mâu thuẫn mà khong xác định đợc t tởng nào đúng, t tởng nào sai phải có lời nói
đầu của ban biên soạn giới thiệu vấn đề có mâu thuẫn để nhiều ngời cùng đóng góp ý kiến.
2.1.2.3 Hoàn thiện bản thảo.
Trang 36 Sửa lỗi bản thảo.
Thực tế cho thấy hầu nh tất cả các bản thảo đều có những lỗi nhất định cần sửa chữa trong khi biên tập, các lỗi này đợc phân loại thành ba cấp độ:
+ Sửa chữa nhẹ nh lỗi chính tả, dấu câu, viết hoa, viết tắt, phiên âm…
+ Sửa chữa trung bình nh từ, cụm từ, câu
+ Sửa chữa lớn nh đảo câu, đảo đoạn, cắt xén…
Khi biên tập, biên tập viên chỉ sửa chữa ở mức độ một còn đối với những lỗi nặng cần sửa ở cấp độ hai và ba cần phải thông qua tác giả và tác giả trực tiếp sửa bởi tác giả là chủ thể sáng tạo của tác phẩm, tác giả có quyền đối với bản thảo của mình Hơn nữa tác giả là ngời hiểu tác phẩm hơn ai hết nên việc sửa chữa
sẽ thuận lợ hơn.
Sau khi biên tập xong bản thảo việc đầu tiên là kiểm tra lại tên
đề tài có phù hợp với tên sách không để chỉnh sửa hoàn thiện tên sách
Việc đặt tên sách phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Tên sách và nội dung phải phù hợp với nhau.
+ Tên sách phải ngắn gọn Ví dụ: Tên bản thảo của nhà văn Nguyễn Đức Thuận “Từ những trận chiến đấu ác liệt thắng lợi trở về” đổi thành “Bất Khuất”
+ Từ đẹp, trình bày đẹp.
+ Tên sách không đợc sáo rỗng.
Lời nói đầu là lời của Nhà xuất bản do biên tập viên tự viết Nội dung của lời nói đầu phải nêu rõ lý do xuất bản, nội dung có bản của tác phẩm và cách sử dụng sách( nếu cần).
Thông thờng lời giới thiệu có thể nhờ một nhà lãnh đạo có uy tín, một nhà khoa học tên tuổi, một chuyên gia đầu ngành về lính vực đó hay một nhà văn nhà thơ lớn tuỳ theo thể loại chủ đề
Trang 37của tác phẩm Họ dùng uy tín của mình để giới thiệu tác phẩm, tác giả đến với bạn đọc.
Sửa lỗi morat là việc đọc so sánh đối chiếu giữa bản thảo gốc với bản vi tính, bản can và bản in thử Đây là việc kiểm tra cuối cùng trớc khi tiến hành in nhân bản hàng loạt vì vậy việc xem xét chủ yếu là hình thức ký tự của ngôn ngữ thể hiện chứ không phải nội dung của văn bản.
Nếu nh đọc biên tập là đọc nội dung thông qua ký tự thì đọc morat là đọc ký tự bỏ qua nội dung Để tiến hành đọc sửa morat ngời ta thờng sử dụng hai phơng pháp cơ bản là đọc một ngời
và đọc hai ngời.
Phơng pháp một ngời đọc cho phép ngời sửa trực tiếp tiếp cận với bản gốc bởi ngời đọc vừa đọc bản gốc vừa đọc bản cần sửa song cần phải có thời gian nhiều hơn khi sử dụng phơng pháp một ngời đọc một ngời sửa Đối với những tài liệu quan trọng việc sửa morat yêu cầu phải sử dụng cả hai phơng pháp trên Trong quá trình đọc sửa morat ngời sửa sử dụng những dấu sửa morat do Nhà nớc quy định bao gồm sáu loại dấu cơ bản là: dấu thay, dấu đảo, dấu nhấn, dấu chèn, dấu bỏ và dấu lấy lại 2.2 Quy trình in xuất bản phẩm
2.2.1 Những phơng pháp in chính hiện nay.
Những sản phẩm in đợc in bằng nhiều phơng pháp khác nhau, nhng tập trung ở ba phơng pháp chủ yếu sau:
2.2.1.1 In Ty – pô ( in cao).
Đây là phơng pháp in truyền thống trớc đây đợc phổ biến trong lĩnh vực in sách Công nghệ in này có đặc điểm:
- Những phần tử in cao hơn phần tử không in và chúng có độ cao nh nhau.
- Những phần tử không in không nhất thiết phải có độ cao nh nhau.
Trang 38- Độ nông sâu phụ thuộc vào khoảng cách của các phần tử in Phần tử in Phần tử không in
2.2.1.2 In ốp – xét ( in phẳng).
In ốp-xét là một trong những phơng pháp thờng dùng trong việc phục chế những loại tranh ảnh màu thuộc nhóm văn hoá phẩm…Về cấu trúc khuôn in ốp xét cúng gồm hai phần: phần tử
in và phần tử không in
- Những phần tử in và không in gần nh cùng nằm trên một mặt phẳng nhng giữa chúng có tính chất hoá lý khác nhau Những phần tử in chỉ bắt mực không bắt nớc và ngợc lại những phần tử
không in chỉ bắt nớc chứ không bắt mực Đó là tính thẩm thấu
có lựa chọn của khuôn in ốp-xét.
Từ khuôn in đặc biệt này ngời ta có thể nhận đợc các tờ in vì: trớc mỗi lần chà ực lên các phần tử in, bản in đã đợc làm ẩm bằng hệ thống lô nớc ( những phần tử không in bất nớc khi lô nớc chà lên bản in) và những phần tử không in sẽ không bắt mực Kết quả là vhỉ có những phần tử in đợc truyền sang bề mặt của vật tiếp xúc trong quá trình ép in.
Phơng pháp in ốp xét là phơng pháp phổ biến nhất và có nhiều u điểm hơn cả, nổi trội là:
Khả năng truyền tầng thứ, màu sắc tốt.
Loại bỏ đợc một số nguyên vật liệu độc hại trong ngành in nhờ
đó cải tiến một bớc rất xa về điều kiện làm việc của công nhân ngành in.
Tạo điều kiện áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ vào ngành in( công nghệ thông tin, số hoá, kỹ thuật laser, điều khiển tự động …)
Hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn rất nhiều so với các
ph-ơng pháp in khác.
Trang 39H2 Mắt cắt khuôn in và tờ in ốp xét
Phân loại máy in ốp xét:
- Theo hình dạng cấp giấy khi in có:
+ Máy in ốp xét tờ rời: khổ nhỏ( từ 360mm x 520 đến
480mm x 660mm); khổ trung bình (từ 520mm x 915mm đến 640mm x 915mm); khổ trung bình lớn(720mm x 915mm); khổ lớn( từ 890mm x 1260mm đến 1200mm x 1600mm)
+ Máy in ốp xét giấy cuộn
- Theo chức năng của hệ lô mực ngời ta phân thành:
+ Máy in ốp xét một màu, hai màu, bốn màu, sáu màu…trên một mặt in
+ Máy in ốp xét một màu, hai màu, bốn màu, sáu màu trên hai mặt in đồng thời.
Trang 40Độ nông, sâu của những phần tử in của khuôn in ống đồng phụ thuộc vào độ nhạt đậm của bản mẫu : ứng với những bộ phận nhạt của bản mẫu là là những phần tử in có độ sâu thấp; ứng với những bộ phận đậm của bản mẫu là những phần tử in có
độ sâu lớn hơn.
Trong quá trình in, mực đợc phủ kính mọi bề mặt của khuôn
in Sau đó, nhờ một một dao gạt mực có góc độ thích hợp, mực
in đợc gạt khỏi những phần tử để trắng, chỉ còn lại trong những hố của các phần tử in Khi quá trình in kết thúc, sẽ nhận
đợc từ in mang hình ảnh các phần tử in của khuôn in Nh vậy việc phục chế các bản mẫu tầng thứ bằng phơng pháp in ống
đồng đợc thực hiện nhờ độ dày khác nhau của lớp mực trên khuôn in do đó khả năng phục chế ở phơng pháp in ống đồng lớn hơn ở phơng pháp in tipô.
Mực in rất độc hại và rất dễ cháy(dung môi độc hại).
Phải in với số lợng rất lớn vì chi phí chế tạo khuôn in quá đắt.