NỘI DUNG GIÁO DỤC CỦA GIÁO DỤC TIỂU HỌC Nhìn nhận về nội dung giáo dục tiểu học của Việt Nam có thể nói một cách là khá đầy đủ bởi vì nội dung của các môn học đã giúp cho học sinh hiểu b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC LỚP GIÁO DỤC 06
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 11 năm 2009 PHẦN I: GIÁO DỤC TIỂU HỌC VIỆT NAM:
I GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đến mười bốn tuổi; được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi
II MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở Những môn học của Giáo dục Tiểu học ở Việt Nam là: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên
Xã hội ( lớp 1,2,3), Khoa học ( lớp 4,5), Lịch sử ( lớp 4,5), Địa lý (lớp 4,5), Âm nhạc, Mỹ thuật, Đạo đức, Thể dục, Tin học, Tiếng anh
III NỘI DUNG CỦA NHỮNG MÔN HỌC:
Môn tiếng Việt: Đọc, hiểu nghĩa các từ, câu, viết đúng chính tả, nói rõ ràng,…
Môn Toán : tính các phép tính cộng, trừ, nhân, chia,và các đơn vị tính như :yến, tạ ,tấn Học các đơn vị đo:ha,cm Học hình học,……
Môn Đạo đức: Nội dung học như yêu quý người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè, trường lớp Kính trọng người lớn tuổi, nhường nhịn em nhỏ, đoàn kết với bạn bè Có ý thức tham gia công việc của gia đình, có ý thức học tập, giữ gìn vệ sinh, giữ gìn sức khỏe của bản thân, biết giúp đỡ mọi người , quí trọng người lao động và sản phẩm lao động
Có ý thức thực hiện quyền và bổn phận của bản thân trong gia đình và nhà trường Hướng theo cái đẹp, cái thiện, cái đúng Yêu quê hương, đất nước
Môn Khoa học:nội dung học về vai trò các chức năng của các cơ quan vận động, tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, thần kinh Nội dung về một số đặc điểm về một số động
Trang 3và thực vật.Tìm hểu về sự trao đổi chất của cơ thể người và động vật, thực vật với môi trường sống Nội dung về môi trường nước , không khí ánh sáng
Môn Lịch sử: Nội dung về một số sự kiện, hiện tượng , nhân vật lịch sử tiêu biểu của Việt Nam
Môn Địa lý: Nội dung về tự nhiên, dân cư và hoạt động sản xuất ở trung du và miền núi, đồng bằng và duyên hải, học về sử dụng bản đồ
Thể dục : Rèn luyện tư thế, thể dục phát triển toàn thân
IV NỘI DUNG GIÁO DỤC CỦA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Nhìn nhận về nội dung giáo dục tiểu học của Việt Nam có thể nói một cách là khá đầy đủ bởi vì nội dung của các môn học đã giúp cho học sinh hiểu biết đơn giản, cần thiết
về tự nhiên, xã hội và con người; có kĩ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán;
có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về nghệ thuật
Nội dung giáo dục của cấp Tiểu học chỉ là khá đử chứ chưa phải là đủ bởi vì trong nội dung chương trình của cấp Tiểu học không hề có môn học nào có tên gọi là giáo dục kỹ năng sống mà mục đích của môn giáo dục kỹ năng sống là nhằm mục đích giúp các em nhìn nhận được giá trị của bản thân tù đó hình thành niềm tin vào bản thân và niềm tin vào xã hội Do các em không được học nên các em khi bị thay đổi môi trường sống thì các em rất khó thích nghi và như vậy thì rất dễ bị sa đà vào tệ nạn xã hội, sự thiếu xót trong nội dung giáo dục đó chính là không có môn học học kỹ năng sống và quan trọng hơn nữa là môn đâọ đức được coi là môn quan trọng nhất vì nó dạy cho ta phải giao tiếp như thế nào , phải sống ra sao là tốt thì phải ứng xử với người trên ra sao thì điều đó lại không được học nhiều Bởi vì một tuần học sinh chỉ được học 1 tiết(45 phút)
Vào năm học 2009-2010 thì bộ Giáo dục đã lồng ghép nội dung kiến thức về kỹ năng sống vào môn đạo đức ở cấp Môn học này có vai trò nhiều nhất vì môn đạo đức dạy cho các em biết sống thế nào để trở thành một công dân vừa đức mà vừa có tài Có thể nói đạo đức là môn học phục vụ rất đắc lực trong quá trình hình thành một nhân cách tốt cho trẻ thì lại bị bỏ ngỏ vì thời lượng của môn học chưa đáp ứng đủ nhu cầu
Nội dung giáo dục Tiểu học mang nặng tính lý thuyết ít thực hành nên học sinh dễ chán Dường như các em luôn được học những định nghĩa, mục đích của môn hoc Ví dụ
Trang 4các em được về cây lúa thì cô sẽ giảng là cây lúa được mọc như thế nào, phát triển ra sao,
… chứ các em không thể thấy tận mắt thấy cây lúa như thế nào Đó là sự khó khăn của các em học sinh Tiểu học của nước ta là đi học cả ngày mà vẫn còn chưa hết bài, tối về các em lại phải học tiếp mà vẫn chưa biết hết vấn đề Có thể nói là áp lực quá nhiều khiến các em rơi vào trình trang “ sợ học”
Mục đích mà nội dung giáo dục tiểu học đưa ra là mong muốn các em có thể phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mỹ nhưng cuối cùng thì các em vẫn thiếu trầm trọng những kỹ năng sống thường nhất bởi vì lí do đơn giản là các em không được học môn học nào nói đến ba từ kỹ năng sống Do học tập mang nặng tính nhồi nhét, một chiều nên nội dung có đúng, có hay, có bổ ích nhưng học sinh cũng thấy chán ngán và buồn ngủ mà thôi Là một học sinh khi vào lớp 1 có trọng lượng cơ thể dao động khoảng 18-25 kg nhưng các em phải xách cặp tới 3-5 kg Qua đây cho thấy rằng các em phải học nhiều môn trên ngày
Theo qui định của bộ Giáo dục về thời lượng học tập của học sinh Tiểu học là tối thiểu là 35 tuần /năm
Thực hiện kế hoạch giáo dục:
Đối với các trường, lớp dạy học 1 buổi/ ngày
Kế hoạch dạy học ở giáo dục tiểu học: thời lượng tối đa là 5 tiết/ buổi, tối thiểu 5 buổi/ tuần
Nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/ tháng) được thực hiện tích hợp vào các môn Mĩ thuật, Thủ công/Kĩ thuật, Âm nhạc theo hướng dạy học phù hợp điều kiện thực tế địa phương và nhà trường
Đối với các trường, lớp dạy học 2 buổi/ ngày
- Buổi học thứ nhất: dạy theo kế hoạch giáo dục và thực hiện chương trình và sách quy định cho mỗi lớp tức là thời lượng tối đa là 5 tiết/ buổi, tối thiểu 5 buổi/ tuần
- Buổi học thứ hai: tập trung vào các nội dung thực hành kiến thức đã học và tổ chức học sinh tham gia các hoạt động thực tế tại địa phương nhằm hỗ trợ cho việc học tập; giúp đỡ học sinh yếu kém vươn lên hoàn thành yêu cầu học tập, hoặc bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Toán, môn Tiếng Việt, có năng khiếu về Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục; dạy học
Trang 5các môn học tự chọn Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc; tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
(không yêu cầu làm thêm bài tập ở nhà đối với học sinh học 2 buổi/ ngày)
Có nhiều ý kiến về chương trình giáo dục của học sinh Tiểu hoc đó là chương trình của ta nặng hay nhẹ Và câu trả lời của Bộ Giáo dục trả lời là chương trình nội dung giáo dục cấp Tiểu học của ta nặng hay nhẹ là do cách dạy Nếu không thay đổi cách dạy thì dù giảm tải vẫn cứ nặng
Theo PGS Nguyễn Trí có hai phương pháp giảng dạy: thứ nhất là bắt đầu từ khái niệm, dạy theo kiểu truyền đạt lý thuyết cho học sinh Thứ hai là đi từ kỹ năng, dạy cho học sinh các kỹ năng để làm các bài tập Sau khi thực hành học sinh sẽ tự rút ra khái niệm Như vậy sẽ dễ tiếp thu hơn rất nhiều
Theo thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặng Huỳnh Mai cũng cho rằng vấn đề của giáo dục Việt Nam là phương pháp giảng dạy chứ không phải ở nội dung GS Nguyễn Trí nhận xét rằng: chương trình giáo dục tiểu học của Việt Nam khi đối chiếu với các nước thì vẫn thấp hơn cả về thời lượng học lẫn nội dung học So sánh với các nước, nếu thời lượng dạy học và hoạt động giáo dục ở tiểu học VN là 100% thì ở Thái Lan là 147,4%, Malaysia 213,25%, Philippines 180,45%, Indonesia 267% Chương trình học của học sinh lớp 5, lớp 6 ở Việt Nam, các học sinh lớp 4 ở New Zealand đã được học Tình hình kinh tế hiện nay có ảnh hưởng rất lớn đến giáo dục
Có thể nói rằng vào cuối thế kỷ XX kinh tế thế giới phát triển như vũ bão và đi sau
nó là giáo dục cũng phát triển mạnh mẽ bởi vì giáo dục là đòn bẩy để thúc nền kinh tế đi lên Và một đặc điểm quan trong của thời đại hiện nay là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão dẫn đến sự bùng nổ thông tin Trước tình hình , đòi hỏi không ngừng đổi mới, hiện đại hóa nội dung, phương pháp để phản ánh những thành tựu hiện đại các lĩnh vực khoa học Sự thay đổi về khối lượng và tính chất của nội dung dạy học là mâu thuẫn với thời hạn học tập không thể gia tăng Để giải quyết mâu thuẫn này phải đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, mà bản chất của hướng này là khơi dạy và phát huy năng lực tìm tòi độc lập , sáng
Trang 6tạo của người học thông qua việc tạo điều kiện cho họ phát hiện và giải quyết vấn đề , như vậy người học có thể lĩnh hội khái niêm khoa học và học được cách học
Trong cơ chế thị trường hiện nay, giáo dục được quan niệm như động lực của sự phát triển ở việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực thúc đẩy nguồn kinh tế phát triển do vậy đổi mới nội dung và phương pháp là lẽ sống còn của nhà trường trong cơ chế thị trường Nhà trường muốn tồn tại và phát triển phải sáng tạo những hệ dạy học mềm dẻo, đa năng và hiệu nghiệm thich ứng với học sinh Với đặc điểm nêu trên yêu cầu cần phải thay đổi phương pháp giáo dục phù hợp
V PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
Phương pháp là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích đã định Phương pháp bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống hành động, những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, trí tuệ), chủ thể, quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được) Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động có trình tự phối hợp , tương tác của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục đích dạy học Những phương pháp giáo duc được áp dụng đối với học sinh Tiểu học :
1 Nhóm những phương pháp dùng lời, thuyết trình:
-Thuyết trình thông báo – tái hiện
Hiện nay giáo dục Tiểu học đang có sự thay đổi lớn trong phương pháp Giáo dục
là động lực của sự phát triển kinh tế, và khi kinh tế mà phát triển thì tất yếu giáo dục cũng phát triển theo Và trong sự phát triển của giáo dục chúng ta không thể nói đến sự đổi thay của phương pháp giáo dục, mà quan trọng nhất đó là phương pháp giáo dục đối với cấp Tiểu học
Trang 7Trước đây học sinh Tiểu học của nước ta chủ yếu được học phương pháp thuyết trình (đọc – chép) Tức là học sinh đến lớp là có trách nhiệm là lắng nghe và chép bài còn giáo viên thì có trách nhiệm giảng cho học sinh nghe Và giáo viên được coi là trung tâm của buổi học Phương pháp này tuy có nhiều điểm mạnh nhưng cũng có rất nhiều điểm hạn chế như làm mất khả năng chủ động ,sáng tạo, tư duy của học sinh.
Hiện nay đã có nhiều phương pháp học mới được áp dụng vào quá trình giảng dạy
có thể kể như phương pháp dạy học hỏi – đáp , phương pháp nêu vấn đề,…
Thực trạng về phương pháp dạy học hiên nay và trước đây: Có thể nói là trước đây chúng ta áp đặt cho học sinh là vào lớp là phải trật tự, ngồi nghiêm chỉnh để lắng nghe cô giảng, học sinh chỉ có trách nhiệm là lắng nghe bài Làm được như vậy thì các em được gọi là học sinh ngoan, nhưng nay mọi thứ đã khác là học sinh bây giờ đến giờ học có thể trao đổi với bạn bè ngay trong lớp học Tức là học sinh được thầy chia ra thành nhóm (nhóm tự chọn hoạc là thầy chỉ định ) để bàn và tìm hiểu về một vấn đề mà thầy giao Thầy sẽ đi tới từng nhóm để hỏi và trao đổi, giải đáp những ý kiến của trò Khi các em
đã thảo luận xong thì các em lên trình bày những ý kiến và quan điểm của nhóm mình trước lớp
Trước kia là giáo viên muốn cho học sinh biết chữ “q” thì cô ghi lên bảng xong rồi mòi các em đọc như vậy các em học sẽ khó nhớ và dễ chán còn bây giờ người học được tiếp cận những phương pháp trực quan, sinh động Ví dụ như là các em muốn biết được chữ “q” thì các em sẽ được học những đồ vật liên quan đến chữ q như là quả cam, quả quýt, đó là phương pháp học thật sinh động, cụ thể dễ nhớ mà lại làm cho các em hứng thú hơn trong quá trình học bởi vì các em vừa tiếp nhận được chữ “q” và quan trọng là các em còn biết chữ quả quýt, mặc dù hàng ngày các em được người thân nói về quả quýt nhưng không biết là nó viết như thế nào Nay thì các em đã biết
Có thể nói trước đây, phương pháp dạy học mang nặng tính đọc chép tức là mang nặng tính nhồi nhét kiến thức, học sinh chỉ biết tiếp nhận tri thức một cách thụ động, một chiều Hiện nay phương châm học mà chơi, chơi cũng chính là học đang được áp dụng phổ biến trong các trường Tiểu học, tức là các em đến trường không chỉ tiếp nhận được những tri thức khoa học mà các em còn có thể biết được nhiều trò chơi bổ ích, các em
Trang 8được đi nhiều khu di tích, được tham gia nhiều phong trào Và một trong những phương pháp biểu hiện phương châm vừa học vừa chơi đó là phương pháp hỏi đáp, phương pháp này đang được áp dụng trong cấp tiểu học, tức là đến lớp học sinh có thể hỏi bất kể những gì và thầy sẽ trả lời và ngược lại là thầy lại hỏi trò Phương pháp này sẽ rút ngắn khoảng cách thầy – trò, giảm bớt sự mặc cảm( sợ thầy) và đồng thời tạo cho các em học sinh có thể độc lập, chủ động, sáng tạo Và quan trọng là học sinh về nhà không phải làm bài tập hoạc hạn chế bài tập về nhà, bởi phương pháp học tại lớp ( trao đổi với thầy và bạn) đã giúp các em giải được ngay bài tập trên lớp Và quan trọng hơn là phương pháp
đã giúp các em học nhưng không bị ám ảnh bởi sự nhồi nhét quá tải, học là để nạp đủ kiến thức chứ không phải chạy theo thành tích
Khi nội dung và phương pháp dạy học phù hợp thì đi sau nó là chất lương học cũng được nâng cao ,và như vậy là mục đích của giáo dục đã hoàn thành tức biến các em thành những người sống hòa đồng trong cuộc sống, thoải mái, nhẹ nhàng trong học tập đồng thời có tinh thần sáng tạo,chủ động và đặc biệt là biết tư duy và chịu được áp lực trong môi trường sống vào bất cứ hoàn cảnh nào
Ở Ấn Độ đã có một câu nói rất hay về dạy học là:
“Tôi nghe thì tôi quênTôi nhìn thì tôi nhớTôi làm thì tôi hiểu”
Và một nghiên cứu khoa học hiện đại đã đưa ra những thống kê sau:
Học sinh sẽ có thể nhớ 5% kiến thức thông qua đọc tài liệu
Học sinh sẽ nghe được 15% kiến thức khi nghe thầy giảng
Học sinh sẽ học được 20% kiến thức thông qua quan sát
Nếu kết hợp phương pháp nghe và nhìn thì học sinh sẽ thu được 25% kiến thức Thông qua thảo luận thì học sinh có thể nhớ được khoảng 55% Nhưng nếu học sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động để qua đó học sinh tiếp thu kiến thức thì khả năng nhớ tới 75%.con nếu học sinh giảng lại cho người khác thì có thể nhớ tới 90% Điều này cho thấy tác động tích cực của phương pháp dạy học trực quan đã giúp cho
Trang 9học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo.Đồng thời là phương pháp này cũng làm cho người học tiếp thu được nhiều tri thức,và hấp dẫn hơn.
Qua đây đã nói lên là chúng ta cần phải đổi mới cả về nội dung và phương pháp bởi sự đổi mới này một nhu cầu không thể thiếu nếu như muốn Việt Nam trở nên là một đất nước văn minh, giàu có, và lịch thiệp
VI NGUYÊN NHÂN
Trước kia chúng ta sử dụng phương pháp đọc – chép là phương pháp quan trọng nhất
Do điều kinh tế khó khăn nên nước ta chưa thể áp dụng rộng rãi phương pháp học trực quan Phương pháp hỏi đáp,… được vì các phương pháp này cần có nhiều giáo viên và cần nhiều kinh phí
Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế
Do tư tưởng chỉ đạo giáo dục ở nước ta vẫn còn xơ cứng, trì trệ
Công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập
Quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn nặng tính quan liêu bao cấp, vẫn còn tình trạng ôm đồm, sự vụ, làm hạn chế quyền chủ động, sáng tạo và ý thức trách nhiệm của các đơn vị cơ sở
VII KIẾN NGHỊ
Nội dung: Theo nhóm em là cần có bổ sung môn học giáo dục kỹ năng sống vào chương trình học Tiểu học
Cần tăng them thời gian cho môn học Đạo đức
Cần có thêm nhiều buổi ngoại khóa để cho em biết về thế giới xung quanh
Phương pháp : Thực hiện cuộc vận động toàn ngành đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học, biến quá trình học tập thành quá trình tự học có hướng dẫn và quản lý của giáo viên
Cần phải áp dụng phương pháp hỏi – đáp, nêu vấn đề để làm cho buổi học sinh động hơn, hạn chế phương pháp thuyết trinh bởi vì học sinh Tiểu học là giai đoạn ăn và chơi nên nếu bảo các em ngồi một chỗ nghe giảng là điều không hợp lý cho lắm
Trang 10Thứ hai là trong quá trình giảng dạy cần sử dụng những phương tiện dạy học(công nghệ thông tin) vào để bài học trở nên cuốn hút hơn
Áp dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới.(tức là áp dụng các phương pháp giáo dục hợp lý)và quan trọng hơn là giáo viên phải có sư linh hoạt và nhạy bén trong quá trình chọn phương pháp dạy và học, tiếp đến là giáo viên phải có trình độ nhất định về công nghệ thông tin để ứng dụng vào quá trình giảng dạy
PHẦN II: GIÁO DỤC TIỂU HỌC TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI
I GIÁO DỤC TIỂU HỌC CỦA NHẬT BẢN
1 SƠ LƯỢC VỀ VĂN HÓA, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ , CON NGƯỜI NHẬT BẢN: 1.1 ĐÔI NÉT VỀ NHẬT BẢN:
Nhật Bản là một nước nằm ở khu vực Đông Bắc Á, với diện tích 378.000km2 , dân số khoảng 14 triệu người Nhật Bản có khoảng 4000 hòn đảo tạo thành một 1 chuỗi dài hơn 2500km nằm ngoài khơi biển phía đông của phần đất liền Châu Á Dân số sống chủ yếu trên 4 hòn đảo lớn làHonshu, Hokkaido, Shikoku và Kyushu Khí hậu rất đa dạng Các hòn đảo phìa nam có khí hậu ấm áp quanh năm , trong khi khí hậu ở phía bắc thời tiết lạnh hơn, có mưa tuyết trên các dãy núi vào mùa đông Ngưới Nhật rất tự hào về
xứ sở của họ và gội nó là Nippon – đất nước Mặt Trời mọc, vì có thể ngắm mặt trời mọc trên Thái Bình Dương
1.2 VỀ CHÍNH TRỊ:
Nước Nhật theo chế độ quân chủ chuyên chế lâu đời nhất thế giới, kể từ đầu thế kỉ
16 Trong quá khứ , nhà vua nắm quyền lực và người Nhật tôn vinh ông như thượng đế Tuy nhiên vị trí của nhà vua đã thay đổi sau thất bại của phát xít Nhật trong thế chiến thứ
Trang 112, vai trò của ông chỉ còn tính chất tượng trưng Hoàng đế hiện nay là Akahito, vị vua thứ
125 Ông dược nhân dân Nhật tôn kính nhưng không có quyền lực chính trị
1.3 KINH TẾ:
Nói đến Nhật Bản là nói đến sự phát triển kinh tế thần kì trong suốt 4 thập kỉ vừa qua Nhật Bản là một cường quốc về công nghiệp kĩ thuật và là một trong những nước giàu nhất thế giới Sự biến đổi này càng đáng ghi nhận hơn khi Nhật là một nước nhiều núi và thiếu tài nguyên thiên nhiên., hầu hết nguyên liậu thô đều phải nhập từ nước ngoài Người Nhật hưởng một tiêu chuẩn sống cao với một hệ thống giào dục và y tế tốt Tuổi thọ trung bình của người Nhật cao nhất thế giới , chịu ảnh hưởng mạnh của phương Tây nhưng người Nhật vẫn luôn tự hào về truyền thống văn hòa của họ Người Nhật Bản làm việc rất chăm chỉ đó là một trong những lí do chính lí giải nền công nghiệp của nước này
đã phát triển quà nhanh Nhiều công ty lớn như những gia đình cấp nhà và chăm sóc sức khỏe cho công nhân họ
1.4 GIÁO DỤC:
Giáo dục Nhật được đánh giá rất cao Theo nhiều nhà nghiên cứu thì những thành công của nước Nhật trong kinh tế không chỉ đơn thuần do các tác động bên ngoài như viện trợ của Mỹ mà điều chủ yếu là do nước Nhật đã phát huy cao độ nội lực của toàn dân tộc thông qua các chính sách phát triển giáo dục rất sớm và phù hợp với từng thời kì phát triển của đất nước Chiến lược giào dục và phong cách quốc gia của nước Nhật là một mô hình của sự giao lưu văn hóa có tình chất độc lập và thông minh Nhật đã trở thành một nước quan trọngở châu Á tiếp thu văn minh châu Âu ở mức độ cao nhất Sự phát triển một chiến lược giáo dục được lựa chọn kĩ đối với họ là cực kì quan trọng , bởi
vì họ hiểu rằng giáo dục là công cụ hàng đầu tiến tới một nhà nước hiện đại và phong cách quốc gia của mình Do đó nhà cầm quyền đã tổ chức một bộ giáo dục vào năm
1971 và bắt dầu một chương trình tiên tiến để mở rộng giào dục Họ thiết lập một hệ thống song hành với giáo dục sơ học phổ cập và một nhà trường bắt buộc 6 năm cho tất
cả mọi người Sau đó là trường trung học và trường cao trung dẫn tới trường đại học để đào tạo các quan chức cao cấp của Chính phủ , các nhà khoa học các học giả các bác sĩ
Họ thiết lập 8 khu giáo dục của nước Nhật Mỗi khu có một trường đại học Giáo dục
Trang 12được chính phủ coi là một công cụ để đào tạo những người phục vụ trung thành cho nhà nước, Dầu tiên người Nhật dập khuôn hệ thống giáo dục của Hoa Kì và theo xu hướng tiến tới đào tạo thực hành cho tất cả mọi người nhưng sau mô hình bảo thủ của châu Âu
và Khổng Giáo chiếm ưu thế Ngay từ 1971 Nhật Bản đã thành lập Bộ Giáo dục với khẩu hiệu : “ Đất nước phồn vinh , quân sự hùng cường “ và thành lập hệ thống giào dục mới phá bỏ hệ thống giáo dục cũ bất bình đẳng giữa các tầng lớp thường dân và tầng lớp trên
“ Samurai”
Đối với trường tiểu học bắt buộc thì “ sự bình dẳng “ là nguyên tắc tối cao nhưng đối với trường sơ trung thì nguyên tắc tài năng là cao nhất Quan điểm này phù hợp với chính sách phát triển tiềm năng con người Nhật Bản không phân biệt giai cấp, tôn giáo và địa vị xã hội
Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài đã dem dến cho Nhật Bản một sức mạnh tài chính để phát triển giáo dục tạo cơ hội được học tập bình đẳng cho mọi người, nâng cao dân trí Như vậy các yếu tố kinh tế , chính trị, văn hóa , xã hội của Nhật Bản đã có những ảnh hưởng rất lớn lao đến nền giáo dục Song chính giáo dục cũng lại phản ảnh lại rõ nét nhất nền kinh tế, chính trị, văn hóa , xã hội của đất nước
đó Và sự phát triển của ngành giáo dục đã góp phần đưa Nhật Bản lên hàng cường quốc
về kinh tế, dù mới bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh Thế Giới thứ II
Tóm lại từ những điều kiện lịch sử, kinh tế , chính trị, xã hội như vậy đã có ảnh hửong rất lớn tới chiến lược phát triển giáo dục của Nhật Bản
2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC TIỂU HỌC CỦA NHẬT BẢN
Giáo dục tiểu học ở Nhật kéo dài 6 năm Trẻ em vào trường tiểu học vào tháng tư sau ngày sinh lần thứ 6
Năm học ở Nhật Bản bắt đầu vào tháng 4 Hầu hết các trừơng tiểu học sử dụng hệ thống phân chia 3 học kì Học kì 1 bắt đầu từ tháng 4 đến giữa tháng 7, học kì 2 từ tháng
9 đến cuối tháng 12, và học kì 3 từ tháng 1 đến cuối tháng 3 Giữa các học kì là nghỉ hè nghỉ dông và nghỉ xuân Dưới đây là một số nội dung môn học trong nhà trường tiểu học:
Môn tiếng quốc ngữ (Kokugo) Trước đây môn này gồm 3 lĩnh vực:nghe , nói , viết hiện nay thêm 2 phần hiểu và diễn đạt D vậy các hoật dộng dạy và học trong lớp
Trang 13hướng vào rèn các kĩ năng diễn đạt và trình bày báo cáo Nội dung giáo dục này được giảng dạy một cách linh hoạt tùy theo hoàn cảnh của từng sinh viên và từng nhà trừơng
Vì điều kiện giáo dục của học sinh thay đổi từ các thành phố cho đến các làng mạc và từ quận này sang quận khác
Các bài học xã hội: Học sinh lớp 3 và lớp 4 ở tiểu học sẽ đựơc học về cộng đồng địa phương , học sinh lớp 5 sẽ học về nền công nghiệp Nhật Bản và các nước khác
Kinh nghiệm sống: Học sinh lớp 1, 2 được học kinh nghiệm sống người ta hi vọng thông qua tầm nhìn của mộn học này trẻ emsẽ có nhận thức tốt hơn về thế giới xung quanh và môi trường tự nhiên trực tiếp với chúng khi chúng khám phá theo nhiều cách nhìn khác nhau, đồng thời người ta hi vọng cũng trong quá trình đó , trẻ em sẽ hấp thu được các thói quen và kĩ năng cần thiết trong cuộc sống và đặt nền tảng cho khả năng độc lập sau này Tầm nhìn từ môn học này là điểm xuất phát bước ra khỏi con dường chuyển giqo đơn giản 1 chiều các kĩ năng và tri thức vốn có trong phương pháp giáo dục Nhật Bản truyền thống
Hình 1 Giới thiệu số giờ học tiêu chuẩn hàng năm của các trường tiểu học.
Trang 141 Các trường đều nghỉ vào thứ 7
2.Các hoạt động đặc biệt gồm họp lớp, các hội đồng học sinh , các hoạt động câu lạc bộ , các sinh hoạt toàn trường và hướng dẫn học sinh gốm ăn trưa tại trường và làm
Bộ giáo dục qui định số giờ học hàng năm cho mỗi khối lớp.Số giờ học qui định hàng năm cho khối lớp 1, 2, 3 là 850, 910, 980, cho khối lớp 4, 5, 6, là 1015 Để đáp ứng yêu cấu này các trường công đều có tổng số ngày giảng dạy trên lớp ít nhất là 210 ngày hoặc hơn 35 tuần Có trường đề ra số ngày đến trường hàng năm là 220 hoặc hơn Ở Nhật 93% là trường công , chỉ có 0,7% là trường tư Vì vậy các trường thống nhất trong
Trang 15cùng một phương pháp giảng dạy đó là đua học sinh vào tình huống liên quan đến thực
tế dể các em thể hiện dược năng lực và tự khám phá thế giới Do đó đã có dánh giá cho rằng cách giáo dục của Nhật mang tính thực tế rất cao
Ngoài việc dạy cho học sinh những kĩ năng cơ bản về mỹ thuật và thủ công ( art and handcraf), học sinh lớp 5,6 ( nam, nữ ) dược học môn nội trợ ( homemaking) 2h/ tuần Mục dích của mộn học này là nâng cao thêm nhận thức toàn diện của học sinh và sự tham gia của chúng vào cuộc sống gia đình Học sinh được dạy các cách đơn giản để chuẩn bị các bữa ăn và món ăn cơ bản Chúng sẽ được dạy cách tự chăm sóc lấy bản thân như vá quần dơm cúc, giặt lấy quàn áo, tự làm lấy một số đồ vật thông dụng như cặp , túi xách và trang trí cho các vật dụng đó Trong suốt những năm học bắt buộc nền giáo dục Nhật BẢn hết sức tránh có những phân biệt giữa các học sinh trên cơ sở năng lực và thành tích Hoàn toàn không có phân ban không nhóm theo năng lực không có chính sách bổ túc hoặc bồi dữong kiến thức hoặc các chưong trình chọn lọc của học sinh
Ở các em học sinh lớp 1, 2 nhà trừong không hề tổ chức dạy thệm và học thêm trong nhà trường Nếu có nhu cầu cho con em học nâng cao thì lên lớp 3 sẽ bắt dầu học ở
hệ thống các trừong học thêm với mong muốn sau này con vào trường danh tiếng Nếu muốn cho con học thêm thì có thể gửi con đến lớp học thêm, gọi là Kumon, ở đây sẽ nhận dạy 2 môn chủ yếu là Quốc ngữ (tiếng Nhật - nghe, đọc, viết) và Toán Học phí ở Kumon cũng khá cao, khoảng 6-7000 yên/một môn học (1 buổi/tuần) ở tiểu học các em
đã dựoc học tiếng Anh ngay từ lớp 1 và bắt đầu làm quen với tin học Các em lớp 1, 2 học tiếng Anh qua bài hát, các trò chơi dể làm quen với ngôn ngữ, các em lớp 3, 4 sử dụng kịch ngắn và học sinh lớp 5, 6 cùng nhau diễn đạt 1 bài báo bằng tiếng Anh Học sinh lớp 6 có trung bình 13,7 giờ học tiếng Anh mỗi năm, trong khi các trường như trường tiểu học Amano tại Kawachinagano, quận Osaka – một trường điểm được Bộ Giáo dục thành lập hơn 10 năm trước với mục đích nghiên cứu giáo dục – dành khoảng
70 tiết tiếng Anh mỗi lớp hàng năm Hiện nay 93,6% trường tiểu học công lập đã đưa các hoạt động liên quan đến tiếng Anh vào chương trình Nhiều trường sử dụng thời gian ngoại khoá để dạy tiếng Anh, thường sử dụng các bài hát và trò chơi để trẻ làm quen với
Trang 16tiếng Anh Để làm tăng hiệu quả của nhà trường , các trường học đang đưa dần môn tin học vào nhà trường
Như vậy có thể nói nội dung và phương pháp giáo dục Nhật Bản mang tính thích nghi cao để nhằm phù hợp với thực tế đất nước
3 SO SÁNH VỚI VIỆT NAM:
Nhìn chung nội dung các môn học của Nhật Bản và Việt Nam không khác nhau là mấy Ở Nhật học sinh lớp 1 đã được học môn kĩ năng sống , ở nước ta chưa có một môn học nào được gọi là kĩ năng sống cho học sinh tiểu học , nhưng những kiến thức về kĩ năng sống đã được lồng ghép với môn học đạo đức kể từ năm học 2009- 2010 thời gian học của một năm ở 2 nước cũng tuơng đương nhau khoảng 9 tháng
Những điểm khác biệt cơ bản là:
Một năm có 2 học kì
Chú trọng phát triển toàn diện
Phương pháp : vẫn còn mang tính nhồi
nhét , cầm tay chỉ việc , dập khuôn máy
móc Ví dụ như khi phải làm một bài
văn cô sẽ đọc ch cả lớp nghe, sau đó các
em học thuộc khi kiểm tra thì viết lại
Một năm có 3 học kìCoi trọng các môn tự nhiên , khoa học
Phương pháp hướng người học thích ứng cao với máy móc và có năng lực khoa học thực tiễn Ví dụ để giáo dục tính tự chủ, khả năng lãnh đạo , cứ 1 hoặc 2 ngày, 1 cặp học sinh sẽ được cử làm lớp trưởng để sắp xếp trật tự trong lớp giúp giáo viên công việc hành chính
4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Trang 17Trên cơ sở phân tích nội dung và phương pháp giáo dục của Nhật Bản ta rút ra được bài học:
Kinh nghiệm thứ nhất : Trường học phải trở thành môi trường tự nhiện của cuộc sống
Sau khi được học lí thuyết trong trướng các em được tổ chức thăm quan các mô hình thực tế Điều này có thể thực hiện được không chỉ ở thành phố những nơi đựoc cho
là có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cả mà cả những em ở nông thôn cũng có thể được học tập bằng hỉnh thừc này Đó là ta có thể tận dụng những diều kiện sẵn có ở địa phương như các xửong mộc , xửong gạch, các trang trại, các di tích …trên cơ sở đó các em tự học , tự khám phá, rút ra bài học cho bản thân
Kinh nghiệm thứ hai : Nội dung các môn học nên mang tính ứng dụng vào thực
tế Những kiến thức đựoc học phải ứng dụng đựoc vào thực tế Hơn nữa Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hòa hiện đại hóa đất nước do đó sự cần thiết phải đua môn tin học và ngoại ngữ vào trường tiểu học có vậy ta mới có thể “đi tắt đón đầu”
Kinh nghiệm thứ 3: Cần thay đổi nội dung, phương pháp học tập để nâng cao năng lực thực tiễn
Ở Nhật sau chiến tranh việc giảng dạy chỉ chú trọng đào tạo những con người có kiến thức, kĩ năng để thi cử nên có tình trạng học gạo học tủ, méo mó kiến thức , học sinh cố gắng ghi nhớ những kiến thức mà thấy cô truyến đạt trong trường và đua nhau dến các lớp học thệm Ở nước ta tình trạng náy cũng đang là một vấn nạn nhức nhối không chỉ với ngành giáo dục mà cả xã hội cũng đang rất quan tâm Thay vì tăng thêm khối lượng kiến thức sách vở xa rời thực tiễn chúng ta sẽ cung cấp cho học sinh những hoạt động học tập dộc lập của từng cá nhân nhằm mục đích phát huy tiềm năng cá nhân Em nào có sở trường gì thì tạo điều kiện cho các em được phát huy
Với tư cách là ngừoi đi sau ta có thể học tập có chọn lọc kinh nghiệm của Nhật trong việc xây dựng tiềm năng khoa học và công nghệ Để làm dược điều này cấn ưu tiên đầu tư cho tất cả học sinh từ 6 đến 15 tuổi dến trường Những enm này phải được học toán và khoa hộc cơ bản 1 cách có chất lượng cao
Trang 18Tóm lại đối với nước ta việc học tập kinh nghiệm của giáo dục Nhật BẢn trong giai đoận công nghiệp hóa đất nước nhất là sau thế chiến thứ 2 là rất thiết thực do những tương đồng về diểm xuất phát Tuy nhiên trong quá trình đó Nhật Bản cũng vấp phải một
số sai lầm về chạy đua kinh tế phân chia quyền lực , giáo dục hướng tới địa vị quốc gia chứ không hướng tới con người Từ những bài học của Nhật , dựa trên những diều kiện lịch sử, kinh tế chính trị , xã hội con ngừoi , Việt Nam cấn linh hoạt trong cách tư duy và thực hiện
II GIÁO DỤC TIỂU HỌC CỦA PHẦN LAN
1 SƠ LƯỢC VỀ PHẦN LAN:
Phần Lan tên chính thức là cộng hoà Phần Lan, là một nước thuộc khu vực Bắc Âu Phần Lan tiếp giáp với Thụy Điển về phía tây, Nga về phía đông, Na UY về phía bắc và Estonia về phía nam qua Vịnh Phần Lan Dân số là 5 252 778 ( 2005), mật độ 17,1/ km2, diện tích là 338,145 km2, thủ đô là Helsinki, ngôn ngữ chính là tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển, GDP theo đầu người (2003) là 31.208 đô la
1.1 CHÍNH TRỊ:
Trong lịch sử Phần Lan từng là một phần của Thụy Điển, sau đó lại nẳm dưới sự cai trị của Nga Ngày 6 tháng 12 năm 1917 Phần Lan chính thức tuyên bố độc lập và trở thành một nước cộng hoà Sau thế chiến thứ hai Phần Lan giữ vai trò như một nước trung lập và đã chuyển đổi nhanh chóng từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang kinh tế công nghiệp phát triển cao vào hàng bậc nhất Châu Âu Ngày nay Phần Lan là một quốc gia dân chủ theo chế độ cộng hoà nghị viên, quyền lực tối cao nằm trong tay người dân
mà quốc hội là đại diện
Phần Lan là một trong những quốc gia có dân cư thưa thớt nhất Châu Âu
1.2 KINH TẾ:
Phần Lan là một quốc gia có mức sống cao với các ngành kinh tế chủ đạo như chế biến gỗ, công nghệ cao, phần mềm tin học, mạng viễn thông, chế biến kim loại và cơ
Trang 19khí, đặc biệt là đóng tàu, công nghiệp đánh cá có qui mô rất đáng kể, còn nông nghiệp thì chủ yếu sản xuất ra các sản phẩm sữa cho tiêu dùng và xuất khẩu.
1.3 GIÁO DỤC:
Hệ thống giáo dục Phần Lan cũng tương tự như hệ thông giáo dục của các nươc khác trên thế giới Nhưng trong những năm gần đây, các nhà giáo dục từ khắp nơi trên thế giới đã tìm đến thủ đô Helsinki của Phần Lan để tìm hiểu xem nguyên nhân nào đã đưa Phần Lan trở thành một trong những quốc gia có nền giáo dục thành công nhất thế giới Khi nhìn vào những số liệu tổng quát thì hệ thống giáo dục của Phần Lan cũng không có gì nổi trội so với các nươc tiên tiến khác Trẻ em bắt đầu đi học lúc 7 tuổi, ngân sách chi cho mỗi học sinh chỉ ở khoảng 5 ngàn đô la mỗi năm trong khi của Mỹ là 8 ngàn
đô la Tuy nhiên trong mấy năm gần đây Phần Lan đã liên tiếp qua mặt 31 quốc gia khác trong tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế ( OECD) để dẫn đầu trong những cuộc thẩm định học lực quốc tế (http://www.lamchame.com/forum/archive/index.php/t-1164.html)
Về giáo dục tiểu học thì ở Phần Lan giáo dục tiểu học là bậc học được xã hội đặc biệt quan tâm Sự quan tâm ấy không chỉ thể hiện ở mặt nhận thức mà còn rất dễ nhận thấy trong thực tế về chế độ chính sách, về tổ chức nhân sự và về mức độ đầu
2 VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC:
Nội dung giáo dục ở bậc tiểu học của Phần Lan hiện nay được căn cứ vào chuẩn kiến thức do uỷ ban quốc gia giáo dục ban hành
Ở Phần Lan trẻ em bắt đầu đi học khi lên 7 tuổi và sẽ hoàn thành cấp giáo dục tiểu học trong vòng 6 năm Theo luật pháp của Phần Lan qui định thì mọi công dân của Phần Lan kể cả dân nhập cư đều phải hoàn thành tất cả các môn học thuộc nội dung giáo dục tiểu học Việc hoàn thành bậc học này có thể bằng nhiều cách khác nhau như tới trường học hoặc bằng một hình thức khác: tự học Trong sáu năm đầu này các em sẽ được học với giáo viên đứng lớp, người sẽ dạy các em tất cả các môn học ngoại trừ những môn thuộc về năng khiếu mà đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn cao thì họ không dạy
Tất cả nội dung giáo dục tiểu học ở Phần Lan được thể hiện thông qua chương trình học tập của học sinh Chương trình học của các em tập trung chủ yếu vào các môn học chính như tiếng mẹ đẻ ( tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển), toán, khoa học, và đặc
Trang 20biệt là những hoạt động rèn luyện nhân cách, thể chất, thẩm mỹ, những hoạt động nhằm nâng cao tinh thần tự tin, tính năng động, tinh thần trách nhiệm và thói quen chấp hành kỉ luật Khi nhìn vào cấu trúc nội dung giảng dạy chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tính khoa học và ưu việt được thể hiện cách minh nhiên trong kết cấu nội dung chương trình Nội dung giáo dục chủ yếu tập trung vào việc giáo dục những tri thức nền tảng, căn bản
và mang tính phổ thông Vì vậy trong thời gian này việc học các môn như tiếng Phần Lan, toán và các môn khoa học khác cũng tương đối nhẹ nhàng, các em chỉ học những nội dung cơ bản, những kiến thức thường thức chứ không quá nặng về nội dung hay quá cao về trình độ Bên cạnh những nội dung về tri thức khoa học thì một nội dung mà học sinh tiểu học của Phần Lan được học từ rất sớm đó là những nội dung thuộc về giáo dục
kỹ năng và những phẩm chất cần thiết cho cuộc sống sau này Có thể nói nội dung giáo dục tiểu học của Phần Lan thể hiện tính toàn diện và khoa học rất cao Với kết cấu nội dung giáo dục như vậy nhà giáo dục đã xác định đúng và đủ những nội dung cần giáo dục, và mức độ khó khăn, phức tạp của vấn đề cần được giáo dục cũng rất vừa sức học sinh
Với những nội dung giáo dục như vậy học sinh tiểu học của Phần Lan được tổ chức học tập và hoạt động cả ngày trong trường từ 9 giò sáng đến 16 giờ chiều Và một đều không thể thiếu khi đề cập đến nội dung giáo dục tiểu học của Phần Lan là sự tự chủ của giáo viên trong việc xây dựng nội dung chương trình giảng dạy Chính do sự tự chủ này mà nội dung giáo dục của Phần Lan trở nên linh động và phong phú hơn các nước trên thế giới Ở Phần Lan thầy cô giáo là người có toàn quyền trong việc xây dựng nội dung chương trình giảng dạy, họ có thể biên soạn tài liệu giảng dạy, hoặc xuất bản sách giáo khoa để cung cấp cho học sinh Chính vì thế mà họ hoàn toàn có quyền thiết kế bài giảng theo ý mình sao cho phù hợp với đặc điểm, trình độ, ngôn ngữ, sở thích của học sinh và tuân theo những tiêu chuẩn mà uỷ ban quốc gia ban hành là được Bởi lẽ đó mà nội dung giáo dục tiểu học ở Phần Lan rất đa dạng, phong phú và linh hoạt Vì mặc dù vẫn qui hướng vào một chuân nhất định nhưng ở mỗi giáo viên và mỗi lớp học nội dung đều có thể khác nhau, và đặc biệt rõ ràng hơn là yêu cầu về trình độ đối với người học và
Trang 21mức độ phức tạp của những nội dung giảng dạy cũng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm
và năng lực của người học mà sẽ có những nội dung giáo dục tương ứng
gì và dạy như thế nào Trong một lớp tiểu học của Phần Lan thường có một giáo viên chịu trách nhiệm chính và đôi khi có môt giáo viên trợ lý Phương pháp giảng dạy được tiến hành dựa trên nguyên tắc: “học đi đôi với hành” Tất cả những nội dung các em học đều được giáo viên chuyển tải và giảng giải thông qua những hình ảnh, những ví dụ hết sức gần gũi và thực tế, học sinh không phải tiếp thu kiên thức theo kiểu truyền thống hay nhồi nhét nhưng ngược lại các em được học những nội dung kiến thức đã qui định một cách hết sức thoải mái, hứng thú vì hầu hết những giáo viên của các em đều có quyền tự chủ trong nội dung giảng dạy và đều được đào tạo rất tốt nên họ có đủ năng lực để tạo cho các em một cách học tốt nhất và phù hợp nhất Nêu quan sát một giờ học của học sinh tiểu học ở Phần Lan chắc chắn chúnh ta sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi chứng kiến những cảnh tượng có thể là rất lạ so với giáo dục Việt Nam Trong một lớp học chúng ta
có thể thấy có em đứng làm toán trên bảng, có em ngồi trên ghế chăm chú viết, cũng có
em đang đọc to bài sử, có em đang tìm cách xếp hình, có em đang quan sát màn hình vi tính với cô… Có thể chúng ta sẽ thấy lớp học không có gì là trật tự cho lắm cả, thậm chí
là tự do quá mức.Các em không phải luôn học cùng một nội dung nhưng trái lại trong cùng một khoảng thời gian đó, cùng một buổi học đó các em có thể học mỗi người một nội dung, không ai giống ai, các em tới trường không phải chỉ để học những nội dung giáo viên muốn dạy nhưng còn để được hướng dẫn , chỉ bảo những nội dung mà thầy cô gợi mở và các em cảm thấy có hứng thú.Vì giáo viên Phần Lan luôn quan niệm rằng phương pháp giáo dục không nên quá gò bó nhưng phải để các em thoải mái vì tuổi này các em rất hiếu động miễn là phải tập trung vào việc học ( Marita Harvy), với phương
Trang 22châm đó giáo viên để cho học sinh được học theo cách của mình miễn sao là phù hợp nhất và trách nhiệm của giáo viên là làm sao giúp các em đạt được kết quả tốt nhất bằng chính cách học của các em Giáo viên rất quan tâm tới mức độ hứng thú của học sinh với những nội dung mà các em đặc biêt yêu thích rồi từ đó giúp các em học và cứ thế chuyển sang nội dung mới Học sinh được thực hành những kiến thức đã học Chính vì thế mà học sinh Phần Lan nắm bắt kiên thức rất chắc chắn và chính xác Do nắm bắt được tâm lý học sinh tiểu học nên mọi phương pháp giảng dạy đều mang tính trực quan sinh động và nhất thiết phải gây được hứng thú với học sinh, kích thích trí tò mò muốn khám phá của người học Trong các lớp học ở Phần Lan không em nào bị thúc ép hay cưỡng chế học tập cả, các em không bị la mắng hay chịu bất kì một hình phạt nào Các em học theo từng nhóm nhỏ, nhóm lón, cả lớp hay chỉ một mình chỉ cần đạt được mục tiêu là làm sao cho mỗi em phải hiểu bài, tự mình làm được bài Phần lớn thời gian của các em là ở trên trường nên ngay khi vừa tiếp thu những nội dung kiến thức cần thiết là các em sẽ có thể
có những giờ ôn tập, thực hành, ứng dụng những kiến thức đã học để thực hiện một công việc nào đó nhằm giúp các em vận dụng những kiến thức đã học Vì nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình giáo dục của Phần Lan là học đi đôi với hành nên việc tạo cơ hội để học sinh thực hành những kiến thức đã học trong thực tế là điều mà tất cả giáo viên Phần Lan đều quan tâm và dĩ nhiên điều này cũng nằm trong phương pháp giảng dạy của họ Việc tạo cho học sinh những giờ thực hành, ôn tập vừa là cơ hội giúp học sinh biết cách
sử dụng những điều đã học cách hiệu quả, vừa là việc làm nhằm làm giảm sự đơn điệu, khô khan của những tri thức khoa học ( vì nếu không có thực tiễn thì tất cả chỉ là lý thuyết và chúng sẽ trở nên nặng nề, cứng nhắc thậm chí giáo điều).Và không chỉ dừng lại
ở đó nó còn tạo ra một động lực để học sinh học những tri thức mang tính lý thuyết một cách tốt hơn vì chúng biết chúng sẽ cần đến những tri thức ấy khi bước vào phần thực hành Và quan trọng hơn với phương pháp kết hợp những nội dung lý thuyết và thực hành như vậy người học có thể nắm bắt tri thức rất tốt mà không cần phải quá vất vả khi phải tự học ở nhà sau những giờ học ở trường Việc giáo dục học sinh được giáo viên lồng ghép và thực hiện một cách rất linh hoạt, rất thoải mái mà vẫn đạt hiệu quả cao Những bài tập thực hành của học sinh tiểu học Phần Lan cũng không phải là những nội
Trang 23dung quá phức tạp nhưng chủ yếu là thể hiện tính sáng tạo và biết cách vận dụng là chính Đơn cử như các em tìm cách sắp xếp những tấm bìa để có được một cái hộp vững chắc nhất, hoặc có em làm ra một đôi ủng phát hiện rắn bằng cách gắn một pin điện vào đôi ủng cao su kèm theo một thiết bị nhạy cảm để khi bước đi thì chuông kêu báo động Bên cạnh những nội dung thiên về tri thức khoa học thì những nội dung thuộc về kĩ năng cũng được giáo dục một cách rất đầy đủ Họ tận dụng mọi nơi, mọi lúc để giáo dục các
em chứ không phải chỉ giáo dục trong lớp học Một ví dụ điển hình là ngay trong nhà ăn thôi chúng ta có thể bắt gặp hình ảnh của những học sinh Phần Lan, tay cầm dụng cụ ăn
và tự xếp hàng lấy thức ăn rất trật tự, ngay ngắn, gọn gàng Điều đó chứng tỏ trước đó các em đã được giáo dục rất kĩ về kỉ luật, tổ chức trật tự, về thói quen xếp hàng cho những công dân tương lai Với một phương pháp giáo dục tiến bộ như vậy nên những thành quả mà giáo dục Phần lan đạt được là điều tất yếu mà ai cũng phải công nhận
4 MỘT VÀI ĐIỂM SO SÁNH GIỮA VIỆT NAM VÀ PHẦN LAN:
Khi đối chiếu những nội dung và phương pháp của Phần Lan với Việt Nam và chúng ta có thể nhận thấy rõ nét tương đồng và cả sự khác biệt giữa hai nền giáo dục Trước hết là về:
1 NỘI DUNG GIÁO DỤC :
Về nội dung giáo dục thì chúng ta và Phần Lan đều có những nội dung cơ bản là giống nhau Chúng ta cũng dạy cho học sinh tiểu học về ngôn ngữ Việt, về Toán, các môn khoa học…nhưng khác với Phần Lan, ở chúng ta nội dung giáo dục một số kĩ năng( tự tin, năng động, tinh thần trách nhiệm…)chưa được quan tâm đầy đủ So với Phần Lan rõ ràng nội dung của chúng ta quá nặng về lý thuyết nhưng thiếu thực hành và thiếu cả tính thực tế Ở Phần Lan học sinh tiểu học đã được dạy để tự tin giao tiếp với thầy cô Ở Phần Lan giáo viên quan tâm đến việc giáo dục toàn diện và Việt Nam cũng vậy nhưng những nội dung chúng ta triển khai thì hoàn toàn khác họ Ở trường của họ có trang bị cả những đồ chơi và những dụng cụ rèn luyện thể chất cho học sinh ở sân trường
Họ có những phòng gọi là phòng âm nhạc, phòng biểu diễn nghệ thuật và đặc biệt là thư viện Ngay trong trường tiểu học học sinh đã được biết và sử dụng thư viện thường xuyên Ở Việt Nam chúng ta nội dung giáo dục cũng nhằm vào mục đích giúp người học
Trang 24phát triển toàn diện nhưng chúng ta quan tâm nhiều đến việc tiếp thu những tri thức khoa học hơn là việc rèn luyện kĩ năng và các hoạt động vui chơi, và thư viện thì có nhưng không phải là có trong tất cả các trường tiểu học ở Việt Nam
Với cùng những nội dung giáo dục giống nhau nhưng yêu cầu của chúng ta lại rất cao, rất thiên về số lượng kiến thức nên học sinh Việt Nam phải học rất vất vả Chẳng lạ gì khi chứng kiến cảnh tượng một em học sinh tiểu học vừa học bài vừa khóc nức nở Ở Phần Lan, các em cũng học toán, học tiếng mẹ đẻ nhưng các em không phải quá vất vả trong suốt thời gian ở trường( 9 giờ- 16 giờ) và về nhà các em chỉ phải học khoảng 30 phút mỗi ngày thôi Có thể nói những nội dung mà học sinh Việt Nam phải tiếp thu quá nhiều và mang tính nhồi nhét quá cao trong khi đó những hoạt động giáo dục kĩ năng thì chưa được quan tâm giáo dục nhiều Chính vì vậy mà chúng ta thấy học sinh của chúng ta hay nhút nhát, không dám thể hiện mình trước đám đông Trong khi đó, ở Phần Lan, ngay từ khi học tiểu học các em đã có khả năng giao tiếp với thầy cô một cách rất tự nhiên Giáo viên Phần Lan quan tâm đến những kĩ năng này và đưa chúng vào nội dung giáo dục Chính bởi lẽ đó mà phần lớn học sinh tiểu học của Phần Lan rất gần gũi với giáo viên, và học được nhiều kỹ năng cần thiết
2 VỀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY:
Thì rõ ràng phương pháp của Phần Lan mang rất nhiều ưu điểm mà chúng ta có thể quan tâm tìm hiểu Họ cũng có những nội dung giảng dạy giống như nội dung giảng dạy của Việt Nam chúng ta, trong quá trình giảng dạy họ chú ý đến yếu tố tâm sinh lý của học sinh ta cũng làm như vậy Họ sử dụng nhiều phương pháp mang tính trực quan sinh động mà chúng ta đã và đang áp dụng Nhưng nhìn vào giáo dục của họ rõ ràng ta thấy những phương pháp đó phát huy tác dụng còn ở nền giáo dục của chúng ta thì những phương pháp đó cũng mang đến những hiệu quả nhất định nhưng không cao như ở nước
họ Dĩ nhiên yếu tố qui định hiệu quả của một nền giáo dục không phải chỉ do phương pháp giảng dạy nhưng thiết nghĩ cũng nên xem lại cách thức chúng ta thực hiện những phương pháp mà ta cho rằng các nước khác trên thế giới cũng đang thực hiện Ở Phần Lan người ta dạy toán cho học sinh tiểu học theo cách đưa ra một bài tập thực tế về kỹ thuật hay đời sống như đo đạc, tìm phương án tối ưu( tốn ít nhiên liệu nhất , nhanh nhất,