Do vậy, đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học loại hình công lập có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn vì quản lý đối với các trường tiểu họ
Khái niệm, vai trò, mục tiêu giáo dục tiểu học
Khái niệm giáo dục tiểu học
Thuật ngữ “giáo dục” tiếng Anh - "education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh
Educare có nghĩa là làm lộ ra những tiềm năng Vì vậy, giáo dục được hiểu là tổng hợp các phương thức và quá trình giúp bộc lộ các khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục, như khả năng nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ, thông qua các tác động tích cực từ người dạy và người học Qua đó, giáo dục đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển toàn diện và hoàn thiện nhân cách của người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.
Giáo dục là khái niệm được bàn đến từ rất sớm trong lịch sử tư tưởng; ngay từ thế kỷ IV TCN, Platon cho rằng một xã hội ổn định được xây dựng khi mỗi cá nhân phát huy năng khiếu tự nhiên và làm việc có ích cho cộng đồng, nhiệm vụ của giáo dục là nuôi dưỡng những năng khiếu ấy để phục vụ mục tiêu xã hội Đến giữa thế kỷ XVIII, Jean-Jacques Rousseau đưa ra quan điểm mang tính cách mạng: con người sinh ra đã thiện, còn xã hội có xu hướng làm hỏng sự thiện ấy; vì vậy sứ mệnh của giáo dục là duy trì và phát triển bản tính tốt đẹp của con người chứ không chỉ đào tạo theo lợi ích của xã hội đã bị tha hóa.
Cuối thế kỷ XVIII, Kant trình bày một quan điểm khác khi cho rằng nhân loại bắt đầu lịch sử của mình dưới sự khống chế của tự nhiên, chứ không phải với tư cách con người là một sinh vật có lý trí, vì tự nhiên chỉ cung cấp bản năng và ham muốn; do đó Kant khẳng định: con người là tạo vật duy nhất cần được giáo dục, hay nói ngắn gọn: con người là những gì được giáo dục tạo nên Ở phương Đông, Khổng Tử (551–479 TCN), một nhà tư tưởng và giáo dục lớn của Trung Quốc, cũng có quan điểm giáo dục: giáo dục phải hướng đến Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, tức những nguyên tắc sống để làm người.
3 http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c
Hiện nay, giáo dục được các học giả bàn đến dưới nhiều giác độ tiếp cận khác nhau Theo từ điển tiếng Việt do Lưu Văn Hy chủ biên, giáo dục là hoạt động có tác động một cách hệ thống lên sự phát triển tinh thần và thể chất của con người Điều này cho thấy giáo dục là một quá trình rộng, không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn hình thành và rèn luyện toàn diện các năng lực và nhân cách của mỗi người.
Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đến thế hệ khác 5
Những khái niệm trên, dù có cách tiếp cận khác nhau, đều thống nhất ở chỗ giáo dục là quá trình dạy và học, là truyền thụ và phổ biến tri thức, rèn luyện suy luận đúng đắn và sự hiểu biết, và là phương tiện để đánh thức cũng như nhận diện năng lực tiềm ẩn của mỗi cá nhân, từ đó khơi dậy trí tuệ của từng người.
Tiểu học là bậc học đầu tiên trong giáo dục phổ thông tại Việt Nam, kéo dài từ lớp 1 đến lớp 5 và là nền tảng cho các cấp học tiếp theo Đây là cấp học bắt buộc đối với mọi công dân và nhận trẻ từ 6 tuổi vào chương trình tiểu học Nếu trẻ không lưu ban và không bỏ học, chương trình tiểu học sẽ được hoàn tất ở khoảng 11 tuổi.
Giáo dục tiểu học là quá trình được tổ chức có ý thức nhằm khơi gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực Nó có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn diện của nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục tiểu học đóng vai trò nền tảng để nâng cao dân trí và tạo nền móng cho sự phát triển trí tuệ của mỗi công dân Đây là cơ sở ban đầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách và kiến thức cho trẻ em Nhờ những nền tảng này, việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước được đảm bảo và góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ, ổn định và thịnh vượng.
Vai trò của giáo dục tiểu học
Giáo dục trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là quá trình hình thành và phát triển đồng thời trí tuệ, thể chất và năng lực tổ chức, hoạt động; đồng thời nuôi dưỡng tình cảm với gia đình, bạn bè, quê hương và đất nước Đây là giai đoạn cơ bản nhằm định hướng toàn diện sự phát triển của trẻ về sau, và những gì trẻ học được ở lứa tuổi tiểu học sẽ đặt nền tảng cho sự phát triển tương lai và cho nhân cách xã hội của mỗi người.
World Bank (WB), một tổ chức quốc tế uy tín, nhấn mạnh rằng giáo dục tiểu học là đòn bẩy quan trọng giúp đất nước thoát khỏi đói nghèo và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững Đầu tư vào giáo dục tiểu học không chỉ trang bị cho trẻ em những kiến thức nền tảng mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó tăng năng suất và đẩy mạnh sự chuyển đổi kinh tế xã hội Việc cải thiện tiếp cận và chất lượng giáo dục tiểu học giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, giảm bất bình đẳng và mở ra cơ hội việc làm cho thế hệ trẻ Vì vậy, ưu tiên phát triển giáo dục tiểu học được xem là chiến lược then chốt để mỗi quốc gia tiến tới tăng trưởng kinh tế lâu dài và giảm nghèo bền vững.
4 Lưu Văn Hy (2009), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, tr.441
5 Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, tr.27
UNICEF và UNESCO đã dành sự quan tâm đặc biệt tới giáo dục tiểu học, đặt ra những mục tiêu cơ bản nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả toàn diện của bậc học này Theo đó, sản phẩm giáo dục tiểu học được công nhận và có thể đo lường thông qua các chỉ tiêu về đọc viết, làm toán và các kỹ năng sống thiết yếu Những mục tiêu này hướng tới nâng cao kết quả học tập, phát triển bền vững cho học sinh tiểu học và đảm bảo sự tiến bộ liên tục cùng sự tiếp cận giáo dục công bằng cho mọi trẻ em.
Tháng 8 - 1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội CHXHCN Việt Nam Khóa 8 đã thông qua Luật Phổ cập giáo dục tiểu học Luật này đã thể chế hóa việc giáo dục tiểu học bắt buộc cho trẻ em từ 6 -14 tuổi, là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành giáo dục tiểu học cho toàn bộ trẻ em Việt Nam, tạo điều kiện để nâng cao dân trí, phát triển nhân cách con người Việt Nam
Giáo dục tiểu học đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển nhân cách, trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng cơ bản thiết thực để các em tự tin bước vào đời sống thực tiễn và làm cơ sở cho việc học tập ở các cấp học cao hơn Với vị trí và tầm quan trọng đó, cần có sự đối xử xứng đáng từ các chính sách đến các biện pháp cụ thể, từ kế hoạch, tài chính đến công tác tổ chức quản lý, nhằm hiện thực hóa mục tiêu của giáo dục tiểu học nói chung và giáo dục tiểu học công lập nói riêng, để giáo dục nước ta góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học
Luật giáo dục năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005, thay thế Luật Giáo dục năm 1998 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động giáo dục góp phần phát triển nền giáo dục Việt Nam một cách bền vững Điều 2 của Luật giáo dục năm 2005 khẳng định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Điều 27 Luật giáo dục năm
2005 quy định: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”
Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là hình thành và phát triển tri thức, đạo đức, sức khỏe, trình độ thẩm mỹ, lý tưởng và niềm tin; xây dựng nhân cách con người Việt Nam mới với sự trung thực, tự chủ trước hoàn cảnh, tinh thần phê phán và ý thức trách nhiệm với quê hương đất nước Đối với giáo dục tiểu học, mục tiêu ấy phải hướng tới phát triển cả trí tuệ, tài năng và đạo đức để làm người, trong đó giáo dục nhân cách được đặt lên hàng đầu.
Quản lý nhà nước về giáo dục
Khái niệm quản lý
Quản lý là điều khiển và chỉ đạo một hệ thống hoặc một quá trình dựa trên các quy luật, định luật và nguyên tắc tương ứng Mục đích của quản lý là vận động hệ thống theo ý muốn của người quản lý và đạt được các mục tiêu đã định trước.
Quản lý là quá trình tác động có chủ đich của chủ thể quản lý để huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh và điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức, với nội lực được ưu tiên, nhằm tối ưu hóa việc đạt được mục tiêu của tổ chức và đạt hiệu quả cao nhất.
Quản lý nảy sinh khi có nhu cầu tổ chức hoạt động của nhiều người nhằm đạt được các mục tiêu chung H Koontz cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu, giúp phối hợp nỗ lực của từng cá nhân để thực hiện mục tiêu của tập thể Mục tiêu của mọi nhà quản lý là hình thành một môi trường để con người có thể đạt được các mục tiêu của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân được giảm thiểu Với tư cách thực hành, quản lý được xem như một nghệ thuật; còn hệ thống kiến thức có tổ chức về quản lý được coi là một khoa học.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và xã hội, nên mỗi ngành xem quản lý dưới một góc độ riêng Tuy nhiên, quan niệm phổ quát về quản lý được xây dựng trên cơ sở điều khiển học: đó là sự tác động có định hướng lên một hệ thống nhằm trật tự hóa nó và định hướng sự phát triển của hệ thống theo những quy luật nhất định.
Từ nhận thức cơ bản về bản chất của quản lý như đã nêu trên, quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức và có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Quản lý bao gồm xác định mục tiêu, phân bổ nguồn lực, điều phối hoạt động và kiểm soát kết quả để đảm bảo hiệu quả và hiệu suất Đây là hoạt động phối hợp giữa con người, quy trình và công nghệ nhằm tối ưu hóa các nguồn lực và thích ứng với sự biến động của môi trường kinh doanh.
7 Nguyễn Ngọc Điệp (1999), 1200 Thuật ngữ pháp lý Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr.258
8 Trần Kiểm (1997), Giáo trình quản lý giáo dục và trường học, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội, tr.15
9 Harold Koontz Cyril O”donnell Heinz Weihrich (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr33
Theo Nguyễn Cửu Việt trong Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam (2008), hệ thống quản lý được thiết kế nhằm trật tự hóa và định hướng sự phát triển của quản lý hành chính theo các quy luật nhất định Quá trình này góp phần tăng cường tính đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy nhà nước, đồng thời đảm bảo hoạt động quản trị công khai, phù hợp với khung pháp lý và thực tiễn quản trị.
Khái niệm quản lý nhà nước
Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị và là bộ máy chuyên thực hiện cưỡng chế cùng các chức năng quản lý đặc biệt Nó được thiết kế nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.
Quản lý nhà nước là tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội theo quy định của pháp luật 11
Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là tổng thể mọi hoạt động của nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước Theo nghĩa này, quản lý nhà nước được thực hiện trên toàn xã hội thông qua ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động hành pháp của nhà nước, gồm việc chấp hành hiến pháp và luật và điều hành trên cơ sở hiến pháp và các luật đó; nó không bao gồm các hoạt động lập pháp và tư pháp.
Chấp hành là sự thực hiện trên thực tế các luật và văn bản mang tính chất pháp lý của Nhà nước Điều hành là hoạt động dựa trên cơ sở luật để chỉ đạo trực tiếp các hoạt động của đối tượng bị quản lý Đặc trưng của hoạt động điều hành là các cơ quan hành chính (chủ thể quản lý) ban hành văn bản dưới luật mang tính chủ đạo và quy phạm, hoặc văn bản mang tính cá biệt; các văn bản này được thực thi bằng sự thuyết phục và khả năng áp dụng cưỡng chế của nhà nước Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là hoạt động thực thi quyền hành pháp, nhằm làm cho pháp luật đã được ban hành có hiệu lực và được thi hành trên thực tế.
Như vậy, quản lý nhà nước về giáo dục là một loại quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp.
Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành như hai thành phần bổ sung, nhằm truyền đạt và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người cho thế hệ tương lai để kế thừa và phát triển Để đạt được mục tiêu này, quản lý được coi là yếu tố tổ chức và chỉ đạo việc thực thi các cơ chế giáo dục đã đề ra, đảm bảo sự nhất quán và hiệu quả của quá trình giáo dục Nhờ quản lý giáo dục, hoạt động giáo dục có định hướng rõ ràng, giúp giáo dục khẳng định vai trò then chốt trong việc lưu giữ và truyền lại di sản văn hóa, đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển của xã hội.
11 Hoàng Phi (chủ biên) (2000), Từ Điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẳng, tr.187
Quản lý giáo dục được nhận diện ở nhiều cấp độ, nổi bật nhất là hai cấp độ vĩ mô và vi mô Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hệ thống ở quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống giáo dục; phía sau nó là các hệ thống con với hoạt động quản lý vi mô riêng Sự phân cấp này là tương đối: ở phạm vi toàn quốc, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) được xem như cấp vi mô so với Bộ GD&ĐT (cấp vĩ mô); còn ở phạm vi một tỉnh/thành phố, Sở GD&ĐT lại đóng vai trò cấp vĩ mô so với Phòng GD&ĐT (cấp vi mô) Điều quan trọng khi xem xét quản lý là xác định đúng cấp độ của chủ thể quản lý để nhận ra mối quan hệ giữa cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Quản lý giáo dục là tập hợp các tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý đến từng mắt xích của hệ thống từ trung ương đến cơ sở giáo dục, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội kỳ vọng ở ngành giáo dục.
Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức điều phối và giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, cơ sở giáo dục và các bên liên quan để tối ưu hóa hiệu quả nguồn lực, tăng cường chất lượng giáo dục và bảo đảm tính bền vững của hệ thống giáo dục trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội.
Các khái niệm này tương ứng với sự phát triển của hệ thống giáo dục trên quy mô cả nước hoặc quy mô tỉnh/thành phố Chúng không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau: khái niệm đầu tiên nhấn mạnh sự định hướng, sự đồng bộ và tính toàn diện của tác động quản lý, trong khi khái niệm thứ hai đòi hỏi tính cụ thể của những tác động quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Đáp ứng yêu cầu của quản lý ở cấp vĩ mô, hai khái niệm này phối hợp để đảm bảo hệ thống giáo dục được định hướng và thực thi một cách đồng nhất và hiệu quả Đối với cấp vi mô, các nguyên lý này được áp dụng để điều chỉnh và tối ưu hóa các hoạt động quản lý ở cấp cơ sở, phù hợp với đặc thù địa phương và thực tiễn địa bàn.
Quản lý giáo dục thực chất là các tác động của chủ thể quản lý lên quá trình giáo dục do tập thể giáo viên và học sinh thực hiện, được sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội Đây là quá trình nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh, đồng thời đảm bảo mục tiêu đào tạo của nhà trường được thực thi một cách có hệ thống.
12 Trần Kiểm (2007), Khoa học quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, tr.37
Quản lý giáo dục ở cả cấp vĩ mô lẫn vi mô bao gồm bốn yếu tố cốt lõi: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Những yếu tố này không tách rời mà luôn tương tác, phối hợp với nhau để thực hiện mục tiêu chung của nền giáo dục Việc nhận diện đúng vai trò của từng yếu tố và thiết kế các hoạt động quản lý phù hợp sẽ tăng cường hiệu lực và chất lượng của quá trình giáo dục ở mọi cấp độ Do đó, quản lý giáo dục cần xây dựng một hệ thống liên thông giữa chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và khách thể quản lý để đạt được mục tiêu giáo dục một cách toàn diện.
Khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, cũng như của các tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia Do vậy, bất cứ quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù đang phát triển hay đã phát triển cũng luôn phải quan tâm đến giáo dục Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là việc nhà nước sử dụng quyền lực công để tổ chức, điều hành toàn bộ hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
Quản lý nhà nước về giáo dục thực thi các chủ trương và chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục và chú trọng thực hiện các mục tiêu, nâng cao chất lượng giáo dục Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là quá trình có tổ chức và có sự điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục do các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo từ trung ương đến cơ sở tiến hành, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ được nhà nước trao quyền, phát triển sự nghiệp giáo dục, duy trì kỷ cương, đáp ứng nhu cầu giáo dục của nhân dân và thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà nước.
Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo là quá trình thực thi quyền hành pháp nhằm tổ chức, điều hành và điều chỉnh toàn bộ hoạt động giáo dục trên phạm vi cả nước Để quản lý đạt được hiệu lực và hiệu quả, quyền hành pháp cần được phối hợp với quyền lập pháp, quy trình lập quy và hoạt động thanh tra, kiểm tra xuyên suốt toàn hệ thống giáo dục.
Nội dung quản lý nhà nước đối với giáo dục
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, đã xác định rõ: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” (Điều 35) và “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng” (Điều 36) Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.”
Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về GD&ĐT được quy định tại Điều
99 của Luật Giáo dục năm 2005, bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch chính sách phát triển giáo dục;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng chứng chỉ;
4 Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;
5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
7 Tổ chức chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;
10 Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11 Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có công lao đối với sự nghiệp giáo dục;
13 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, tr.26
14 Luật giáo dục năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, tr.7
12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
Phân tích Điều 99 Luật Giáo dục năm 2005 cho thấy các khoản 1,2,3,4,5 thực chất là hoạt động hoạch định chính sách và ban hành văn bản pháp quy cho các hoạt động giáo dục - đào tạo; các khoản 6,7,11 thực chất là vấn đề tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, cán bộ và chính sách đãi ngộ; các khoản 8,9,10 thực chất là huy động, quản lý các nguồn lực để phát triển giáo dục; còn khoản 12 của Điều 99 là nội dung nói về thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật Như vậy, qua phân tích Điều 99 Luật Giáo dục năm 2005, nội dung quản lý nhà nước về giáo dục có thể nhóm lại thành 4 nhóm chủ yếu: hoạch định chính sách và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho giáo dục; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, cán bộ và chính sách đãi ngộ; huy động và quản lý nguồn lực để phát triển giáo dục; thanh tra và kiểm tra việc chấp hành pháp luật.
(1) Hoạch định chính sách cho giáo dục và đào tạo và ban hành các văn bản pháp quy về các hoạt động giáo dục - đào tạo
(2) Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục, công tác cán bộ và chính sách đãi ngộ
(3) Huy động và quản lý các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục
(4) Thanh tra, kiểm tra nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục
Tuy nhiên, quản lý nhà nước về GD&ĐT ở các cấp độ khác nhau được cụ thể hóa với những nội khác nhau nhất định
Chính ph ủ : Là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo,
Chính phủ trình Quốc hội các chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trên phạm vi cả nước, đồng thời định hướng cải cách nội dung chương trình ở các cấp và hàng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục cũng như việc thực hiện ngân sách giáo dục Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, là cơ quan thay mặt Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, Bộ tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau: xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển ngành; xây dựng cơ chế, chính sách và quy chế quản lý nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo; tổ chức thanh tra, kiểm tra và thẩm định.
Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện) thông qua cơ quan chuyên môn của mình là Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục theo Nghị định 115/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 Các cơ quan này tập trung triển khai các nhiệm vụ được giao trong quản lý giáo dục, bao gồm xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương, chỉ đạo thực hiện và giám sát việc thực hiện; đồng thời hỗ trợ UBND các cấp trong quản lý công tác chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức biên chế và quản lý tài chính, tài sản của các trường theo sự phân cấp quản lý nhà nước về các hoạt động giáo dục ở địa phương.
Thực hiện kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực giáo dục địa phương theo quy định của pháp luật Đối với cấp cơ sở (cấp trường), tập trung làm tốt các nội dung chủ yếu sau: tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách giáo dục thông qua việc thực hiện mục tiêu và nội dung giáo dục, đồng thời bảo đảm các quy chế chuyên môn được thực thi nghiêm túc.
Quản lý hiệu quả đội ngũ giáo viên và học sinh, cùng với cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính theo đúng quy định của pháp luật Nhà trường điều hành các hoạt động dựa trên điều lệ và nội quy đã ban hành, đồng thời thiết lập hệ thống giám sát để đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ của toàn trường.
Kết hợp các hoạt động kiểm tra nội bộ trường học với thanh tra của các cấp quản lý
Như vậy, mặc dù nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đã được thể chế hóa thành Điều 99 Luật Giáo dục năm 2005 nhưng trong thực tiễn cần nhấn mạnh các nội dung theo cấp độ quản lý, nếu ở cấp trung ương chú trọng đến nội dung xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển cho ngành ở phạm vi cả nước, thì cấp địa phương (sở - tỉnh, phòng - huyện) lại khu trú ở phạm vi nội dung trên địa bàn được phân cấp, còn cơ sở (nhà trường) - nơi mà quản lý nhà nước được hiểu rất cụ thể là thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước ủy quyền triển khai các hoạt động quản lý nhà trường thì lại coi trọng việc tổ chức thực hiện những quy định của nhà nước (Điều lệ nhà trường) ở những hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục cụ thể.
Quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học loại hình công lập
Đặc điểm của trường tiểu học loại hình công lập
Quyết định số 51/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 31 tháng 8 năm 2007 và Thông tư số 41/2010/TT-BGD&ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường tiểu học lần lượt năm 2007 và năm 2010 đều nêu rõ: trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng; học sinh học ở trường tiểu học công lập được miễn học phí.
Trường tiểu học là một tổ chức giáo dục trực tiếp có nhiệm vụ giáo dục học sinh tiểu học, đồng thời chịu sự quản lý của các cấp quản lý giáo dục Bên cạnh đó, nhà trường là một hệ thống độc lập, tự quản với khả năng tự chủ trong tổ chức và thực hiện các hoạt động giảng dạy nhằm đáp ứng các chuẩn mực giáo dục và phát triển toàn diện cho học sinh.
Trường tiểu học được tổ chức dưới hai hình thức là công lập và tư thục Nhà nước tạo điều kiện cho các trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân, và các trường này được quản lý bởi Ủy ban nhân dân cấp huyện, gồm quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.
Trường tiểu học loại hình công lập có các đặc điểm sau đây :
Thứ nhất, do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên
Thứ hai, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể đối với trường tiểu học loại hình công lập
Học sinh học ở trường tiểu học công lập không phải đóng học phí, vì mọi kinh phí bảo đảm cho hoạt động của trường đều từ ngân sách nhà nước; điều này đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để bảo đảm giáo dục tiểu học tại trường công lập là nền tảng, không cho phép các hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc có lệch lạc như ở các trường tư thục Trường tiểu học tư thục là cơ sở giáo dục phổ thông thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân tự bảo đảm kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước; được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động giáo dục.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học loại hình công lập
Quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học công lập nhằm bảo đảm trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động giáo dục, từ đó thực hiện đúng các mục tiêu đã được Luật Giáo dục quy định Việc thực hiện đồng bộ các chuẩn mực quản lý và giám sát giáo dục tiểu học công lập góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, an toàn cho học sinh và phát triển toàn diện theo đúng pháp luật hiện hành.
Chủ thể quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học công lập ở địa phương là UBND tỉnh, với cơ quan tham mưu giúp việc là Sở Giáo dục và Đào tạo (Sở GD&ĐT) và UBND.
Quy chế Tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục ban hành kèm theo Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống trường học Tại cấp huyện, cơ quan tham mưu giúp việc cho quản lý giáo dục là Phòng Giáo dục và Đào tạo (Phòng GD&ĐT) Đối tượng của quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học công lập là hoạt động giáo dục tiểu học tại các trường tiểu học công lập trên phạm vi toàn quốc.
Ở trường tiểu học công lập, Hiệu trưởng là người trực tiếp thực hiện quản lý và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của nhà trường Tập thể giáo viên vừa là đối tượng chịu tác động của Hiệu trưởng vừa là chủ thể quản lý khi thực hiện nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy cho học sinh Học sinh vừa là đối tượng bị ảnh hưởng bởi Hiệu trưởng, giáo viên và các lực lượng giáo dục khác, vừa là chủ thể tự quản trong việc học tập tự giác và tu dưỡng hạnh kiểm.
Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục tiểu học loại hình công lập
Ban hành văn bản về giáo dục và quản lý giáo dục là hoạt động cơ bản của quản lý giáo dục nhằm xây dựng cơ sở pháp lý để quản lý và thực hiện các hoạt động giáo dục Hệ thống văn bản về quản lý giáo dục rất phong phú và phức tạp, từ Luật Giáo dục đến các văn bản dưới luật, do các cơ quan trung ương cũng như địa phương ban hành.
Hiện nay, hầu hết các quy định về giáo dục tiểu học không có sự phân biệt đáng kể giữa công lập và tư thục về quản lý nội dung chương trình, sách giáo khoa, và các chuẩn giáo viên tiểu học cùng chuẩn Hiệu trưởng tiểu học; cả hai loại hình đều phải tuân thủ các quy định của nhà nước về giáo dục tiểu học Tuy nhiên, sự khác biệt chủ yếu nằm ở nội dung quản lý về ngân sách và tài chính cũng như quy trình tuyển dụng giáo viên giữa khu vực công và khu vực tư.
Tuy nhiên, có thể nêu những nội dung về quản lý giáo dục tiểu học công lập trong một số văn bản sau:
- Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1999; Luật giáo dục năm 2005; Điều lệ trường tiểu học
Hoạt động ban hành văn bản pháp luật về giáo dục tiểu học loại hình công lập có thể khái quát như sau:
Chính phủ tập trung ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Giáo dục và Luật Thanh tra bằng cách ban hành các Nghị định, trong đó Nghị định số 75/2006/NĐ- được coi là ví dụ điển hình Việc sử dụng nghị định nhằm làm rõ hiệu lực thi hành, quy định cụ thể về trình tự, thẩm quyền và các biện pháp thực hiện các quy định của hai luật này Điều này giúp tăng tính thống nhất và minh bạch trong quản lý nhà nước về giáo dục và thanh tra, đồng thời tạo khung pháp lý thuận tiện cho cơ quan quản lý, nhà trường và người dân trong việc thi hành và tuân thủ các quy định.
Chính phủ ban hành hệ thống nghị định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục năm 2005, nổi bật là Nghị định 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 và Nghị định 31/2011/NĐ-CP ngày 11/5/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật giáo dục; cùng với Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 về chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2010 Bên cạnh đó, các văn bản này xác định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với giáo dục, quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục công lập, bao gồm giáo dục tiểu học, thông qua Nghị định 115/2010/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP về quản lý nhà nước đối với giáo dục, tổ chức biên chế và tài chính đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị định 49/2005/NĐ-CP cũng góp phần vào khung pháp lý giáo dục.
2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung ban hành các Quyết định, Thông tư, Chỉ thị, Quy chế hoạt động và Điều lệ trường tiểu học Ủy ban nhân dân các tỉnh, huyện ban hành các Quyết định, Chỉ thị và Kế hoạch nhằm chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các quy định của cơ quan quản lý chuyên môn, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh.
Quy trình thực hiện các văn bản quản lý giáo dục tiểu học được thực hiện theo chu trình: Bộ GD&ĐT ban hành văn bản và gửi tới Sở GD&ĐT, Sở GD&ĐT lại chuyển tới Phòng GD&ĐT và Phòng GD&ĐT gửi tới Trường tiểu học Trường tiểu học tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả về Phòng GD&ĐT; Phòng GD&ĐT tổng hợp và gửi báo cáo lên UBND cấp huyện và Sở GD&ĐT Sở GD&ĐT trình UBND tỉnh xem xét phê duyệt, và khi được UBND tỉnh phê duyệt thì báo cáo lại Bộ GD&ĐT.
1.3.3.2 Quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học loại hình công lập về chuyên môn, nghiệp vụ
Chuyên môn là lĩnh vực kiến thức riêng của một ngành, còn nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề; hai khái niệm này thường được hiểu là thuộc về kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Đối với lĩnh vực giáo dục tiểu học, chuyên môn và nghiệp vụ là những kiến thức và kỹ năng công việc liên quan đến hoạt động giáo dục tiểu học Quản lý hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và hiệu quả của các hoạt động giáo dục tiểu học.
Ở cấp tiểu học các trường công lập, quản lý trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của giáo viên là một trọng tâm, tập trung vào hướng dẫn, nâng cao trình độ thông qua các lớp tập huấn và đào tạo về phương pháp giảng dạy, rèn luyện kỹ năng sư phạm, nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tiểu học có phẩm chất chính trị, đạo đức và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm vững vàng.
Chương trình tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ được xây dựng dựa trên yêu cầu nhiệm vụ của giáo viên và cán bộ quản lý trường tiểu học ở từng giai đoạn cụ thể Trên cơ sở đó, các Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp trên đến các trường tiểu học trên địa bàn, đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong công tác nâng cao chất lượng giáo dục.
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL trường tiểu học công lập
Có kế hoạch đào tạo giáo viên tiểu học đạt chuẩn và trên chuẩn
Chương trình tập huấn dành cho Hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao năng lực lập kế hoạch, quản lý nhà trường và phát triển trường học, đồng thời trang bị kỹ năng thực hiện đánh giá giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp Nội dung tập huấn được xây dựng trên cơ sở Thông tư số 14/2011/TT-BGDĐT ngày 8 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học, giúp hiệu trưởng nắm vững các yêu cầu, tiêu chuẩn và nguyên tắc đánh giá giáo viên; từ đó tăng cường quản trị nhà trường, nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả giáo dục Chương trình tập trung vào lập kế hoạch chiến lược và kế hoạch ngắn hạn, quản lý nguồn lực và tài chính, phát triển môi trường học tập tích cực, và triển khai đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp một cách công bằng, minh bạch và hiệu quả để xây dựng trường học đạt chuẩn.
Chương trình tập huấn dành cho giáo viên tiểu học tập trung vào nội dung, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông do Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 5/5/2006; đồng thời công nhận và xếp loại giáo viên dựa trên Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 4/5/2007.
Chương trình bồi dưỡng và tập huấn nhằm nâng cao năng lực lập kế hoạch bộ môn cho giáo viên tiểu học, được thiết kế theo năm học và từng học kì để đảm bảo tính hệ thống và thực tiễn Nội dung tập trung vào xây dựng kế hoạch dạy học cá nhân dựa trên chuẩn đầu ra, mục tiêu môn học và đặc điểm từng lớp, đồng thời hướng dẫn cách sắp xếp thời khóa biểu, lựa chọn phương pháp và đánh giá phù hợp Qua đó, giáo viên có thể lập và điều chỉnh kế hoạch bộ môn một cách linh hoạt theo diễn biến năm học, nâng cao chất lượng giảng dạy và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
Vận dụng các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh, phù hợp với môn học, đối tượng học và đặc thù vùng miền, thực hiện theo Công văn 896/BGD&ĐT-GDTH ngày 13 tháng 02 năm 2006 của Bộ GD&ĐT về đổi mới cách dạy và học ở tiểu học Ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học, tích cực xây dựng đề án sáng kiến kinh nghiệm trong dạy học sinh tiểu học Để thực hiện những nội dung này, các Sở, Phòng GD&ĐT phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình, đối tượng để tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên và CBQL trường tiểu học sao cho đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
1.3.3.3 Quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học loại hình công lập về giáo viên, chương trình, kế hoạch dạy học
Quản lý về giáo viên tiểu học
Giáo viên tiểu học là người thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục nhằm thực hiện chương trình giáo dục tiểu học và kế hoạch dạy học Nhiệm vụ của họ gồm soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá và xếp loại học sinh; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức và tham gia các hoạt động chuyên môn Giáo viên chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy và giáo dục, đồng thời trau dồi đạo đức nghề nghiệp, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các em Ngoài ra, giáo viên còn đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp để nâng cao chất lượng giáo dục.
Theo Quyết định 48/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 13 tháng 11 năm 2000 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế đánh giá xếp loại chuyên môn nghiệp vụ giáo viên tiểu học nhằm quản lý và động viên giáo viên phấn đấu nâng cao chất lượng dạy học Việc đánh giá được thực hiện cho toàn bộ giáo viên tiểu học định kỳ mỗi năm học tại cấp trường, chia thành bốn loại: Xuất sắc, khá, đạt yêu cầu và chưa đạt yêu cầu Kết quả đánh giá, xếp loại là điều kiện để công nhận, dự thi giáo viên dạy giỏi và bình xét danh hiệu thi đua ở các cấp đối với tiểu học.