Thực trạng vai trò của Nhà nước với việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay .... Thực trạng vai tr
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM THỊ NGÂN XUÂN
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Lý Thị Huệ
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Hà Nội, ngày…… tháng… năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lý Thị Huệ Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là chính xác, trung thực, bảo đảm tính khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày… tháng … năm 2018
Tác giả
Phạm Thị Ngân Xuân
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN 15
1.1 Quan niệm về công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học 15 1.2 Các yếu tố tác động đến vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 33
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 45
2.1 Thực trạng vai trò của Nhà nước với việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 45 2.2 Thực trạng vai trò của Nhà nước với việc tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 53 2.3 Thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 63
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 73
3.1 Giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của Nhà nước với việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 73 3.2 Giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của Nhà nước với việc tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 80 3.3 Giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay 86
KẾT LUẬN 93 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 TÓM TẮT LUẬN VĂN 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bối cảnh cách mạnh khoa học công nghệ hiện đại, nền kinh tế tri thức đóng vai trò vô cùng quan trọng Trong đó, hệ thống giáo dục là “nhân tố tạo tiền đề, tạo cơ sở và là “bà đỡ” cho việc ra đời của những hình thái kinh tế -
xã hội, vừa là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia” [28, tr.137] Trong hệ thống đó, giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng và đối với mỗi người, đây là khoảng thời gian bắt đầu bước vào môi trường học tập thực thụ nhằm hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài trở thành những công dân tích cực trong tương lai Do đó, mục tiêu của bậc học này được xác định rõ ràng là phải đảm bảo trang bị kiến thức cơ bản, đào tạo kỹ năng sống và phát triển nhân cách cho người học
Ở Việt Nam, hơn 30 năm đổi mới, phổ cập giáo dục tiểu học đã đạt được những thành tựu nhất định, như hầu hết ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước
đã đạt chuẩn về số trẻ em đi học đúng tuổi ( năm 2017 là 99,9% [84, tr.727]), mạng lưới cơ sở giáo dục rộng khắp toàn quốc đã mở ra cơ hội học tập cho mọi người, công tác xóa mù chữ được duy trì và từng bước phát triển, người dân tộc thiểu số, con em các gia đình nghèo, trẻ em gái và các đối tượng thiệt thòi ngày càng được quan tâm v.v Chỉ số HDI tăng (năm 1980 là 0,499 lên 0,695 năm
2016 [83, tr.732]) Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại không ít những bất cập, hạn chế Chẳng hạn, như chất lượng giáo dục tiểu học, trung học cơ sở vẫn còn có sự khác biệt giữa các vùng miền, sự phân biệt giới ở một số nhóm dân tộc thiểu số chậm được khắc phục, khả năng đến trường của trẻ em ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, tỷ lệ huy động trẻ em đi học đúng tuổi ở các vùng khó khăn chưa cao, chất lượng cơ sở vật chất của nhà trường ở vùng sâu, vùng xa còn thấp, v.v
Thực tiễn cho thấy, khả năng tiếp cận không công bằng phần nào là do những rào cản về phong tục, tập quán, văn hóa còn lạc hậu và kinh tế còn khó khăn cản trở việc đến trường của trẻ em ở nhiều nơi trên đất nước Tuy nhiên,
Trang 8nguyên nhân chủ yếu là do “sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực và một số vấn đề lớn chưa tập trung, kiên quyết, dứt điểm; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu Năng lực, phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn bất cập” [13, tr.179-180] Điều này đòi hỏi Nhà nước Việt Nam với tư cách yếu tố trung tâm của “kiến trúc thượng tầng”, cột trụ của hệ thống chính trị cần phải thận trọng hơn, khoa học hơn trong các “kịch bản” và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần giảm thiểu sự phân cực giàu - nghèo từ
đó góp phần đảm bảo công bằng trong giáo dục ở Việt Nam nói chung cũng như công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam nói riêng
Tuy nhiên, theo khảo cứu của chúng tôi dường như chưa có một công trình nghiên cứu nào bàn trực diện về vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay (đặc biệt dưới góc độ triết học) Đây
là một “khoảng trống” cần được bổ khuyết Do đó, làm sao để nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay, trở nên cần thiết và cấp thiết hơn bao giờ hết Vì vậy, chúng tôi
chọn vấn đề “Vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục
tiểu học ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu lý luận về vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam
Nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hoàn, trong công trình “Sự khác biệt trong quan niệm của C.Mác và J.Rawls về công bằng xã hội” (2005) đã phân tích quan niệm của C.Mác và của J.Rawls về công bằng xã hội, làm rõ thêm sự khác biệt trong quan niệm của các ông về vấn đề này, nhất là sự khác biệt trong quan điểm
về xuất phát điểm bình đẳng dựa trên sự tự nguyện về quan hệ khế ước bảo đảm công bằng xã hội Trong công trình, nhà nghiên cứu khẳng định: “Cả C.Mác và J.Rawls đều thấy khế ước luôn gắn với quan hệ hợp tác và tự nguyện Song, khác với J.Rawls, C.Mác không tuyệt đối hoá, lý tưởng hoá và trừu tượng hoá sự tự
Trang 9nguyện và xuất phát điểm bình đẳng” [33, tr.45] Công trình là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu các quan điểm về công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Năm 2007 trong công trình “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng
xã hội với tư cách thước đo trình độ giải phóng con người”, nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hoàn đã làm rõ quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác về công bằng xã hội Đồng thời, nhà nghiên cứu làm rõ các khái niệm: tiến bộ xã hội, tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội Nhà nghiên cứu khẳng định: “Tiến bộ xã hội bao giờ cũng là sự thống nhất giữa trình độ phát triển của lực lượng sản xuất với trình độ phát triển con người thông qua việc thực hiện công bằng xã hội với một thước đo bình đẳng thực sự nhằm phát huy vai trò và khả năng con người trong nền sản xuất nói riêng, trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung” [34, tr.14] Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu về các vấn đề lý luận công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Nhà nghiên cứu Lê Hữu Tầng trong công trình “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” (2008) đã đưa ra và luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn xoay quanh việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, nhà nghiên cứu khẳng
định “Sự thực thì hai khái niệm công bằng xã hội và bình đẳng xã hội tuy gần nhau nhưng dẫu sao, chúng vẫn là hai khái niệm khác nhau Khi nói tới bình đẳng xã hội, người ta muốn nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về một phương diện xã hội nào đấy, chẳng hạn, về kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v Còn khi nói tới sự ngang bằng nhau giữa người với người về mọi phuơng diện, tức là ta đã nói tới một sự bình đẳng xã hội hoàn toàn” [80, tr.39] Công trình đã
giúp ích cho tác giả luận văn trong việc làm rõ các khái niệm liên quan đến công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học
Năm 2009, trong cuốn sách Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, nhà nghiên cứu Phạm Thị Ngọc
Trang 10Trầm đã đưa nội dung phân phối thông qua phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc trong quan điểm về công bằng xã hội Đồng thời, nhà nghiên cứu khẳng định công bằng xã hội “vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính đạo lý, phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc, là động lực của
sự tiến bộ xã hội” [99, tr.349] Công trình là tiền đề quan trọng để tác giả luận văn nghiên cứu quan điểm về công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở phân tích những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn
đề công bằng xã hội, nhà nghiên cứu Trần Văn Phòng trong công trình “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (2015) đã làm rõ
“quan niệm của Hồ Chí Minh về công bằng trong Chủ nghĩa xã hội là khoa học
và hợp lý, nhân văn, đó là: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng Quan niệm này hoàn toàn khoa học, đúng đắn, phù hợp thực
tế, bởi lẽ, bản chất của công bằng là cống hiến và hưởng thụ phải ngang nhau” [72, tr.4] Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu các những quan điểm về công bằng xã hội
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tố Uyên trong công trình “Quan điểm của Đảng về công bằng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” (2017) đã phân tích
và làm rõ quan điểm của Đảng về vấn đề công bằng xã hội qua các thời kỳ lịch sử Nhà nghiên cứu chỉ ra: “Công bằng xã hội tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân phát huy tối đa khả năng của họ vào việc tham gia cống hiến vào sự phát triển của
xã hội cũng như quyền được hưởng thụ tương xứng với những cống hiến đó Do vậy, công bằng xã hội chính là nhân tố kích thích, động viên mọi người ra sức tham gia cống hiến cho sự phát triển của xã hội một cách tự nguyện nhất Với ý nghĩa đó, công bằng xã hội trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội nói riêng và sự tiến bộ xã hội nói chung” [103, tr.52] Mặc dù, công trình chưa đề cập trực diện đến vấn đề công bằng trong giáo dục nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Trang 11Ngoài ra, còn rất nhiều công trình trực tiếp bàn về vấn đề công bằng xã hội, công bằng trong giáo dục tiểu học trên phương diện lý luận chung, như
Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục,
Trường cán bộ quản lý và đào tạo Trung ương 1, Hà Nội; Vũ Văn Tảo, Nguyễn
Hữu Quỳnh, Nguyễn Văn Giao, Bùi Hiền (2001), Từ điển giáo dục học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội; Lương Việt Hải (Chủ biên) (2008), Hiện đại hóa xã hội
vì mục tiêu công bằng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội; Trịnh
Duy Luận (2008), “Quá trình bổ sung nhận thức về công bằng xã hội và thực hiện
công bằng xã hội ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 4, tr.3-11; Phạm Xuân Nam (2007), “Về khái niệm công bằng xã hội”, Tạp chí Xã hội học, số 1,
tr.3-9; v.v các nhà nghiên cứu đã chỉ ra và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến công bằng xã hội và công bằng trong lĩnh vực giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Tóm lại, hướng nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng giáo dục ở Việt Nam hiện nay đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội, công bằng trong giáo dục tiểu học Nhưng theo tác giả dường như chưa có một công trình nào có tính hệ thống
và bàn trực tiếp về vấn đề lý luận vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
2.2 Những nghiên cứu lý luận về thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Năm 2005, nhà nghiên cứu Đỗ Thiên Kính, trong công trình “Bất bình đẳng giáo dục ở Việt Nam hiện nay” đã làm rõ thực trạng giáo dục Việt Nam từ khi đổi mới cho đến thời điểm nghiên cứu (2005) Trong công trình, nhà nghiên cứu khẳng định, “xu hướng chung của bất bình đẳng về giáo dục ở Việt Nam là càng học lên cao thì bất bình đẳng về giáo dục càng lớn và bất bình đẳng ở cấp đại học là lớn nhất”, “xu hướng chung của bất bình đẳng về giáo dục là không giảm, có thể khuynh hướng ngày càng tăng theo thời gian” [43, tr.55] Công trình là nguồn tài liệu quý
Trang 12giá cho tác giả luận văn nghiên cứu về thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Trong cuốn Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội năm 2009, nhà nghiên
cứu Nguyễn Minh Hoàn cho rằng, sự phân hóa giàu nghèo và tình trạng bất bình đẳng xã hội hoàn toàn không phù hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Song, “nói như thế không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn chịu bó tay cho tình trạng phân hóa giàu nghèo cứ tiếp tục gia tăng mãi Đó là vì chúng ta có Nhà nước của dân, do dân, vì dân” [35, tr.79] Đồng thời, nhà nghiên cứu khẳng định, trong hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Nhà nước đã tiến hành hàng loạt chủ trương, biện pháp nhằm hạn chế giàu - nghèo, ngăn chặn thu nhập phi pháp, bảo trợ và điều tiết hợp lý, v.v Đây là đóng góp vô cùng hữu ích cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu về thực trạng các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Lê Quốc Hội trong công trình, “Chính sách giáo dục và đào tạo ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị” (2012), đã đề cập đến vai trò của giáo dục và nhiệm vụ quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực Nhà nghiên cứu phân tích thực tiễn phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam, đồng thời khẳng định những chính sách giáo dục đúng đắn nhưng cũng cho thấy nhiều hạn chế và cần thiết có sự đổi mới để tạo ra những bước chuyển căn bản của giáo dục trong giai đoạn tới Trong công trình, nhà nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế của giáo dục là: “Do chưa ban hành đầy đủ và đồng bộ các văn bản pháp quy về cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn thực hiện, v.v.” [37, tr.75] Mà chức năng ban hành và đồng bộ về cơ chế, chính sách là do Đảng
và Nhà nước thực hiện, vì vậy, công trình đã đem đến nguồn tài liệu vô cùng quý giá cho tác giả luận văn trong việc giải quyết thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Trong công trình “Bất bình đẳng giữa đô thị và nông thôn trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam” (2014), nhà nghiên cứu Dương Chí Thiện đã làm rõ sự bất
Trang 13bình đẳng giữa thành thị và nông thôn trong tiếp cận đối với giáo dục hiện nay; từ
đó đề xuất một số giải pháo hướng tới giảm dần sự chênh lệch giừa thành thị và nông thôn trong tiếp cận đối với lĩnh vực giáo dục Nhà nghiên cứu khẳng định,
“Ở các bậc học càng cao thì chi phí cho giáo dục càng lớn, và những người có mức thu nhập thấp thì thường hoàn thành trình độ giáo dục thấp hơn ở những nhóm có mức thu nhập cao hơn” [91, tr.73] Do đó, yếu tố thu nhập và chi tiêu cho giáo dục được xem là những điều kiện quan trọng liên quan đến bất bình đẳng về điều kiện và cơ hội để người dân tiếp cận với giáo dục giữa khu vực đô thị và nông thôn ở Việt Nam hiện nay
Năm 2014, công trình "Bất bình đẳng giáo dục giữa nông thôn và thành thị
ở Việt Nam hiện nay", nhà nghiên cứu Lý Thị Huệ đã chỉ ra, sự chênh lệch rõ rệt
về sự bất bình đẳng về kinh tế, thu nhập, tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản v.v Đồng thời, nhà nghiên cứu khẳng định: “Nổi lên xu thế vận động là càng học lên cao thì sự bất bình đẳng về giáo dục giữa nông thôn và thành thị càng lớn nhất là
ở cấp đại học Điều này, tạo sự lo ngại về sự chênh lệch ngày càng lớn về mọi mặt về đời sống xã hội giữa hai vùng này” [38, tr.79] của người dân sống ở thành thị và nông thôn Đồng thời, công trình đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng giáo dục ở khu vực thành thị và nông thôn ở Việt Nam
Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Hùng, trong công trình “Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam” (2015) đã chỉ ra “từ năm 1986 đến nay, cơ hội giáo dục ở tất cả các cấp, bậc giáo dục đều được mở rộng và tăng lên, tuy nhiên tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục vẫn còn ở mức cao, nhất là ở trung học phổ thông và giáo dục đại học” [38, tr.61] Do vậy, cần phải tiếp tục củng cố thành quả phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, tiến tới phổ cập giáo dục mầm non và phổ cập trung học phổ thông, phổ cập giáo dục đại học
Nhà nghiên cứu Lê Thị Thanh Hà, trong công trình “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” (2016) đã làm rõ luận điểm mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam là một trong tám mối quan hệ
Trang 14lớn ở nước ta Và để giải quyết tốt mối quan hệ này thì: “đòi hỏi vừa cấp thiết vừa lâu dài trong công cuộc đổi mới, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay” [30, tr.6] Đây là nguồn tài liệu quý giá cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, còn nhiều các công trình khác, như Phạm Minh Hạc và các tác
giả (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục: Kinh nghiệm của các quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004) (chủ biên), Một số vấn đề về giáo dục đại học, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội; Đỗ Thiên Kính (2014), “Cản trở đối với tầng lớp nông dân trong hệ
thống phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Xã hội học, số 2, tr.4-14;
Nguyễn Ngọc Thanh (2003), “Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh
miền núi dân tộc”, Tạp chí Giáo dục, số 68, tr.34-36; Phạm Xuân Nam (2008),
“Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
sẽ cố gắng phần nào khỏa lấp
2.3 Những nghiên cứu lý luận về giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Năm 2001, trong cuốn Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ
và công bằng, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam đã đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc hạn chế sự phân hóa giàu - nghèo
Trang 15ở Việt Nam, như “Loại bỏ những thế lực và những phương thức độc quyền, lũng đoạn, bảo đảm cho mọi người bình đẳng về quyền kinh doanh và nghĩa vụ đối với Nhà nước, v.v” [67, tr.38-39] Công trình đã gợi mở cho tác giả luận văn trong việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Công trình “Kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong điều kiện
kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay” được in trong cuốn Vận mệnh lịch sử của chủ nghĩa xã hội (2009), nhà nghiên cứu Lương Đình Hải đã khẳng định, “Nhà nước là
một trong những yếu tố điều chỉnh có vai trò đặc biệt” [32, tr.233] Sự điều tiết của Nhà nước thể hiện trước hết là thu nhập, phân phối và các nguồn lực phát triển cho các vùng miền, ngành nghề khác nhau Công trình đã giúp cho tác giả luận văn trong việc tìm kiếm cơ sở để đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Nhà nghiên cứu Bùi Đình Phong và Nguyễn Tuyết Hạnh trong công trình
“Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội ở nước ta hiện nay” (2012) đã phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Đồng thời, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa mối quan hệ này Nhà nghiên cứu đề xuất: “Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt hơn quan điểm kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước đi và suốt quá trình đổi mới; kiên định với mục tiêu phát triển toàn diện con người và vì hạnh phúc của con người; xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao thành động lực phát triển chủ chốt của công cuộc đổi mới” [71, tr.16] Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho tác giả luận văn nghiên cứu về các giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Năm 2014, nhà nghiên cứu Lê Văn Liêm với công trình “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, nội hàm cơ bản và đặc trưng chủ yếu” đã chỉ rõ “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chỉ sự chuyển biến mang tính tổng
Trang 16thể và sự tiến bộ, toàn diện trên các phương diện của giáo dục như: tư tưởng, chế
độ, nội dung, phương pháp giáo dục Mục tiêu của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo chính là tiếp tục hoàn thiện con người trong môi trường văn hóa đương đại” [48, tr.32] Công trình là nguồn tài liệu quý giá giúp tác giả luận văn đưa ra và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Trong công trình “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và quản lý giáo dục, đào tạo” (2015), nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Khá đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý của Nhà nước về giáo dục và đào tạo Đồng thời, công trình khẳng định “tổ chức và quản lý giáo dục - đào tạo với biện pháp phối hợp liên ngành, với các giải pháp được thực hiện một cách đồng bộ, mang tính hệ thống, sẽ mang lại hiệu quả giáo dục - đào tạo cao, góp phần vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” [42, tr.73] Đây là nguồn tài liệu quý giá giúp tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Bạch Dương trong công trình “Bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của trẻ em mắc chứng tự kỉ” (2017) đã làm rõ về quyền tiếp cận giáo dục hòa nhập trẻ em tự kỷ và giải pháp tuân thủ cam kết quốc tế phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam Công trình chỉ ra “đầu tư của Nhà nước đối với giáo dục đặc biệt cần ưu tiên nhân sự giáo dục đặc biệt và cơ sở vật chất tương ứng cho các trường phổ thông không có sẵn dịch vụ này” [14, tr.32] Đây là nguồn tài liệu quý giá giúp tác giả luận văn nghiên cứu và làm rõ các giải pháp nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Ngoài ra, phải kể đến một số công trình tiêu biểu, như Đặng Quốc Bảo
(2003), Kinh tế học giáo dục: Một số vấn đề lý luận và những ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược giáo dục, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Quốc Bảo
Trang 17(2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội; Lê Bỉnh (2015), “Vài trò của Nhà nước đối với thực hiện
về công bằng cơ hội phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, số 1, tr.8-15; Bùi Đại Dũng (2012), Công bằng trong phân phối: Cơ sở phát triển bền vững, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội; Nguyễn Thị Mai Hoa (2013), “Đảm bảo công bằng xã hội từ góc nhìn nhóm
lợi ích”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4, tr.58-64; v.v
Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu trước kia của những nhà khoa học đi trước là những tài liệu quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong khai thác các vấn đề tiến bộ, công bằng xã hội, công bằng trong giáo dục v.v Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả luận văn thì dường như chưa có công trình nào trực tiếp đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay Như vậy, đây là vấn đề mà tác giả luận văn sẽ tiếp tục hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm kiếm các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay, cũng như trong thời gian tới
2.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn
Trên cơ sở, kế thừa những thành quả nghiên cứu của những công trình đi trước, luận văn tiếp tục triển khai nghiên cứu, làm rõ những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn đưa ra và làm rõ các khái niệm: công bằng xã hội, công
bằng trong giáo dục tiểu học và vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng Nhà nước thực hiện công
bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà
nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Trang 183 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận chung về vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra và làm sáng tỏ các khái niệm: công bằng xã hội, công bằng trong giáo dục tiểu học và vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học
ở Việt Nam hiện nay
Trang 19Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long), giữa thành thị và nông thôn; và giữa dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay cũng như thời gian tới
Luận văn lựa chọn thời gian nghiên cứu bắt đầu từ thời kỳ đổi mới (năm 1986) cho đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách của Nhà nước về công bằng xã hội, v.v Đồng thời, luận văn còn kế thừa những thành tựu đạt được của một số công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước có liên quan đã được công bố
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là các phương pháp logic, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh, lịch sử - cụ thể và sử dụng các phương pháp liên ngành để làm
rõ nội dung nghiên cứu
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đã làm sáng tỏ thêm một số khái niệm, như công bằng xã hội, công bằng trong giáo dục tiểu học và vai trò của Nhà nước với việc thực hiện
công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng vai trò của Nhà nước với việc thực hiện
công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay
Luận văn đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam
hiện nay
Trang 207 Ý nghĩa của luận văn
7.1 Về mặt lý luận
Những nội dung được đề cập và giải quyết trong luận văn sẽ hữu ích cho các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý về vai trò của Nhà nước với thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, chính sách an sinh xã hội nói chung và chính sách giáo dục nói riêng, đặc biệt là các hoạt động nghiên cứu cho sinh viên, học viên ở Học viện Báo chí & Tuyên truyền và các trường Đại học khác Đồng thời, những vấn đề mà luận văn đề cập và giải quyết, góp phần gợi mở cho các cơ quan quản
lý Nhà nước các cấp có những điều chỉnh phù hợp để hoạch định và tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, giám sát các chính sách kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiệu quả hơn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cam đoan, phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận văn, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 21Chương 1 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC TIỂU HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Quan niệm về công bằng xã hội và công bằng trong giáo dục tiểu học
1.1.1 Quan điểm về công bằng xã hội
* Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về công bằng xã hội
Trên cở sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với việc kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các học thuyết, tư tưởng cả những nhà triết học tiền bối, triết học Mác - Lênin đã có đóng góp quý giá khi xây dựng quan niệm về công bằng xã hội
Khi bàn về khái nệm về bình đẳng và công bằng xã hội, trong chương X
“Đạo đức và Pháp quyền Bình đẳng” của tác phẩm Chống Đuyrinh (1878),
Ph.Ăngghen khẳng định: “Quan điểm về bình đẳng dưới hình thức vô sản, bản thân là một sự phát triển lịch sử; để tạo ra quan niệm này thì cần phải có những điều kiện lịch sử nhất định, bản thân những điều kiện này, đến lượt mình, lại giả định phải có một lịch sử lâu dài trước đó Cho nên quan niệm về bình đẳng là cái
gì cũng được, nhưng quyết không phải là chân lý vĩnh cửu Và nếu như ngày nay, theo nghĩa này hay nghĩa khác, nó trở thành điều dĩ nhiên đối với quản đại quần chúng nhân dân” [55, tr.162-163] Thực tiễn phát triển của lịch sử đã chứng minh: Trong xã hội nguyên thủy, công bằng xã hội đồng nhất với bình đẳng, sự công bằng này được xây dựng trên tiền đề một “phương thức sản xuất” thấp kém chỉ là sự ngang nhau của những người không có tư liệu sản xuất; Trong xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến, về bản chất không tồn tại công bằng xã hội vì sự tồn tại của nhiều đẳng cấp, nhiều giai cấp có đặc quyền, đặc lợi riêng
Về bản chất, khái niệm về công bằng và bình đẳng là sản phẩm phát triển của lịch
sử loài người, nhưng trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, khái niệm này lại có những “hình thức” biểu hiện riêng do giai cấp thống trị và các nhà tư tưởng của giai đoạn đó quy định
Trang 22Đồng thời, khi phê phán “ảo tưởng của ông Đuyring” về tương lai Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Nội dung thực sự của yêu sách bình đẳng vô sản là xóa bỏ giai cấp Mọi yêu sách bình đẳng vượt ra ngoài phạm vi đó, nhất định sẽ dẫn đến một điều kiện vô lý” [55, tr.154] và “Các yêu cầu về bình đẳng đi xa hơn bình đẳng vô sản đó, tức là được quan niệm một cách trừu tượng, đang trở thành một điều ngu xuẩn” [55, tr.842] Tức là, xóa bỏ giai cấp là xóa bỏ sự bất công và bất bình đẳng đã từng tồn tại hàng nghìn năm lịch sử để tạo điều kiện cho công bằng
và bình đẳng xã hội có “bước nhảy vọt” mới
Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh nội dung của yêu sách bình đẳng vô sản cao hơn yêu sách bình đẳng tư sản lên một nấc thang mới Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Bình đẳng tư sản (xóa
bỏ đặc quyền giai cấp) rất khác với bình đẳng vô sản (xóa bỏ bản thân giai cấp)”
[55, tr.842] Đồng thời, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gotooa (1875), Mác
và Ăngghen cho rằng, công bằng và bình đẳng xã hội gắn liền với việc xóa bỏ giai cấp bóc lột Nhưng, sau khi xóa bỏ giai cấp bóc lột không có nghĩa là xã hội sẽ công bằng hoàn toàn Bởi, “quyền ngang nhau ấy là một quyền không ngang nhau đối với một lao động không ngang nhau Nó không thừa nhận một sự phân biệt giai cấp nào cả vì bất cứ người nào cũng chỉ là một người lao động như người khác; nhưng nó lại mặc nhiên thừa nhận sự không ngang nhau về năng khiếu cá nhân và
do đó, về năng lực lao động của người lao động, coi đó là những đặc quyền tự nhiên Theo nội dung của nó, đó là một thứ quyền không ngang nhau cũng như bất
cứ quyền nào” [50, tr.479] C.Mác chỉ ra rằng, “dưới chủ nghĩa xã hội, sau khi đã khấu trừ đi những phần cần thiết trong tổng sản phẩm xã hội để thay thế những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng, thực hiện tái sản xuất mở rộng, lập quỹ dự trữ đề phòng mọi tai nạn, cũng như để chi cho quản lý, giáo dục, y tế, nuôi dưỡng những người không có khả năng lao động” [40, tr.22] thì “mỗi một người sản xuất nhận được trở lại vừa đúng cái mà anh ta đã cung cấp cho xã hội Cái mà anh ta đã cống hiến cho xã hội là lượng lao động của cá nhân anh ta” [54, tr.33] V.I.Lênin gọi cách thức phân phối như thế là “phân phối theo lao động” [45, tr.15]
Trang 23Như vậy, sau khi giai cấp được xóa bỏ thì hình thái kinh tế - xã hội mới ra đời phải đối mặt với việc thực hiện chế độ phân phối mới sao cho phù hợp với năng lực, sức lao động mà con người bỏ ra trong quá trính sản xuất, như vậy công bằng mới được thực hiện một cách hợp lý nhất C.Mác và Ph.Ăngghen còn đưa ra quan điểm phân biệt bình đẳng và công bằng, các ông viết: “Cho rằng luận điểm bình đẳng - công bằng” là một nguyên tắc tối cao và là một chân lý cuối cùng, thì thật là ngu xuẩn Bình đẳng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với bất bình đẳng, công bằng chỉ tồn tại trong khuôn khổ đối lập với không công bằng” [55, tr.840]
Theo đó, công bằng và bình đẳng là hai quan điểm vừa “thống nhất” vừa “mâu thuẫn” với nhau, vì vậy khi xem xét hoặc giải quyết các vấn đề về bình đẳng và
công bằng thì phải đặt chúng trong mối quan hệ phù hợp
Từ những luận điểm trên có thể thấy, triết học Mác xây dựng quan niệm
về công bằng xã hội theo chiều dài của lịch sử phát triển xã hội loài người và trên lập trường bảo vệ người lao động với nội dung chủ yếu là phương pháp phân phối theo lao động Cơ sở để thực hiện công bằng xã hội, theo chủ nghĩa Mác - Lênin là phải dựa trên sự bình đẳng giữa người với người và sự tự nguyện tham gia vào các mối quan hệ xã hội Đồng thời, thiết lập công bằng xã hội ở mức bao quát nhất, tức là phải giải phóng con người ra khỏi mọi bất công và bất bình đẳng
xã hội Công bằng xã hội theo quy luật vận động của nó luôn hướng tới giải quyết tốt nhất những nhu cầu căn bản của con người, đảm bảo những điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển toàn diện của mỗi con người trong xã hội Quan điểm của triết học Mác về công bằng xã hội đã cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận để tác giả luận văn đi vào nghiên cứu vấn đề này trong điều kiện Việt Nam hiện nay
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội
Nắm vững bản chất cách mạng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin
và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn, khát vọng xây dựng một xã hội công bằng, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và có điều kiện phát triển toàn diện
Trang 24Khi nhắc đến công bằng xã hội, Người thường gắn với bình đẳng xã hội,
mà ở đây là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, Người viết “Nhân dân có nghĩa
vụ đồng thời có quyền lợi” [61, tr.219] như vậy mới thực sử được hưởng “quyền bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi” [63, tr.310] và được đảm bảo ngang bằng về địa vị làm chủ đất nước, làm chủ tư liệu sản xuất để phát huy được năng lực của mình để vươn lên mục tiêu ấm no và hạnh phúc Quan điểm này của Hồ Chí Minh cũng là một trong những mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và là một trong những đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang hướng tới
Hồ Chí Minh chỉ ra, thực hiện công bằng xã hội trong thời kỳ kinh tế quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn
về mọi mặt không có nghĩa là cào bằng sự nghèo khổ Theo Người, con người có năng lực, trí tuệ, thể chất khác nhau sẽ có những cống hiến khác nhau, vì vậy, không nên để tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ cũng quy vào như nhau Chủ nghĩa bình quân, theo Người là hoàn toàn khác biệt với chủ nghĩa đồng cam cộng khổ để vượt qua khó khăn: “Đồng cam cộng khổ là một tinh thần phải có, nhưng nếu bình quân chủ nghĩa thì lại không đúng Bình quân chủ nghĩa
là gì? Là ai cũng như ai, bằng hết” … “Bình quân chủ nghĩa là trái với chủ nghĩa
xã hội, thế là không đúng” [62, tr.386] Điều này, cho thấy Người đã thấy được mẫu thuẫn bản chất giữa bình quân chủ nghĩa và công bằng Đây là hai khái niệm
về “hình thức” có điểm tương đồng nhưng về “bản chất” là hoàn toàn trái ngược
nhau Nếu công bằng là động lực thúc đẩy xã hội, là yêu cầu bức thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì bình quân chủ nghĩa lại là yếu tố kìm hãm sự phát triển của con người, xã hội, đất nước đến với tiến bộ, công bằng thực sự và xa hơn là chủ nghĩa xã hội Đồng thời, Người chú trọng thực hiện công bằng xã hội trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Trên lĩnh vực kinh tế, Người cho rằng, thực hiện công bằng xã hội là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động với quá trình sản xuất, tất cả mọi người đều phải lao động Bởi, người lao động không phải ai cũng như ai, còn tồn
Trang 25tại rất nhiều sự khác biệt về thể lực, năng khiếu, cá nhân, năng lực và hoàn cảnh gia đình Vì vậy, trên thực tế, với công việc ngang nhau và phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng xã hội thì vẫn có tình trạng người này hưởng nhiều hơn người kia Do đó, quan niệm của Người về vấn đề này rất rõ ràng và đơn giản, người lao động ai “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom” [64, tr.404] Luận điểm này thể hiện sự nhất quán với chủ nghĩa Mác - Lênin về nguyên tắc phân phối công bằng trong chủ nghĩa xã hội, trong điều kiện quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, quan diểm này còn thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của Hồ Chí Minh
Về chính trị, thực hiện công bằng là đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trong bầu cử và ứng cử của nhân dân vào cơ quan Nhà nước “hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử Không phân chia trai gái, giầu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ
là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó” [59, tr.133] Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện công bằng trong chính trị là phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua việc đảm bảo những điều kiện để nhân dân có thể tham gia vào công tác quản lý, giám sát hoạt động của Nhà nước, của đội ngũ cán bộ và được tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình khi Nhà nước thực hiện trưng cầu dân ý Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, thực hiện công bằng là tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong xã hội đều được tiếp cận bình đẳng cơ hội được thụ hưởng thành quả xã hội
Có thể thấy, quan niệm về công bằng xã hội của Hồ Chí Minh là toàn diện, sâu sắc và luôn gắn với vấn đề con người Mọi suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh luôn lấy con người làm trung tâm, gốc rễ của sự phát triển Đồng thời, thực hiện công bằng còn là việc tạo điều kiện cho mỗi người đều có cơ hội như nhau tham gia vào quá trình phát triển của xã hội và thụ hưởng những thành quả của quá trình phát triển xã hội tạo ra, là đảm bảo quyền tự do của mỗi người trong quan hệ gắn bó với cộng đồng
Trang 26*Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan điểm nhất quán về công bằng xã hội trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và điều kiện thực tiễn của đất nước
Thực hiện công bằng xã hội là một chủ trương lớn của Đảng, nhằm tạo động lực vững chắc để đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện được vai trò của chế độ chính trị từ khi giành được độc lập dân tộc cho đến nay Tại Đại hội VIII của Đảng, lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy sự chuyển biến trong quan điểm nhận thức về các vấn đề xã hội, đặc biệt là quan điểm về công bằng xã hội Đại hội VIII khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [19, tr.113]
Cụ thể hóa Nghị quyết của Đại hội Đảng VIII và Hội nghị Trung ương 4
đã nhấn mạnh, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa thành thị với thành thị, giữa nông thôn với nông thôn và giữa các tầng lớp xã hội Quan điểm này vẫn tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội IX: “phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường” [20, tr.88-89] Đến Đại hội X, vấn đề trên được Đảng bổ sung và phát triển, cụ thể là: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội” [24, tr.101] Trong cương lĩnh chính trị năm 2011,
Trang 27Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng chính là động lực mạnh mẽ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [25, tr.79] Như vậy, theo quan điểm của Đảng tại các kỳ Đại hội, Hội nghị Trung ương các khóa, bảo đảm thực hiện công bằng xã hội là giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế với việc thực hiện các chính sách xã hội, đem lại cuộc sống hòa bình, tự do, ấm no và hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời phát triển toàn diện những phẩm chất, năng lực của con người trên tinh thần tất cả vì con người, cho con người
Trên cơ sở tổng kết quá trình 30 năm đổi mới, Đại hội XII của Đảng đã đề
ra hệ thống cơ sở pháp lý cơ bản, tổng thể và hoàn thiện nhất để thực hiện vấn đề này Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội có thể khái quát ở những điểm cơ bản sau:
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định, công bằng xã hội là một trong
những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng, là cơ sở cho sự phát triển cá nhân Thực hiện công bằng xã hội chính là đảm bảo sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, tạo điều kiện cho mọi người dân
“đều có cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện” [26, tr.30-31] Vì vậy, công bằng
xã hội cần phải được thực hiện “ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục” [24, tr.77]
Hai là, tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với công bằng xã hội có mối
quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, tăng trưởng kinh tế là tiền đề, điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại, việc thực hiện công bằng xã hội là động lực để phát triển kinh tế Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Gắn kết chặt chẽ kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, đảm bảo nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước” [26, tr.30] Việc giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội là một trong những mục tiêu lâu dài của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, đồng thời thể hiện bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa
Trang 28Ba là, về nội dung thực hiện công bằng xã hội Theo quan điểm của Đảng,
thực hiện công bằng xã hội thể hiện ở hai nội dung chính: Phân phối công bằng
và tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội để phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình, “công bằng xã hội phải được thể hiện ở các khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội để phát triển và sử dụng năng lực của mình” [20, tr.113]
Bốn là, điều kiện kinh tế thực hiện công bằng xã hội Đảng Cộng sản Việt
Nam chỉ ra, “trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế” [15, tr.50], để thực hiện công bằng xã hội trước hết phải tăng trưởng kinh tế, phải làm sao cho sản xuất phát triển, tạo ra nhiều của cải cho xã hội Đồng thời, tăng cường quản lý của Nhà nước trên các mặt giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, y tế là điều không thể thiếu để thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay Để làm được điều đó, Nhà nước phải đưa ra các chính sách phù hợp với quy luật phát triển của đất nước, phù hợp với thực tiễn khách quan để làm công cụ đắc lực trong quản lý và tổ chức thực hiện công bằng xã hội
* Một số quan điểm hiện đại về công bằng xã hội
Cùng với tự do, dân chủ, công bằng xã hội là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trên thế giới hiện nay, bởi, điều nhân loại cần chỉ là một
cuộc sống “vật chất” thuần túy mà là sự hài hòa giữa vật chất và tinh thần Trong
thời đại ngày nay, công bằng đang trở thành một điều kiện tối thiểu để con người được tư do và hạnh phúc Theo đó, nhiều lý thuyết mới về công bằng xã hội đã ra đời, phản ánh biến đổi trong nhận thức về công bằng xã hội, trong số đó phải kể đến một số quan điểm sau đây:
J.Rawls (1921-2002) một triết gia nổi tiếng người Mỹ đưa ra một quan điểm về công bằng xã hội với “tham vọng” xây dựng một học thuyết mới, khắc phục hạn chế quan điểm về công lý và công bằng trong lịch sử dựa trên những quan điểm khế ước xã hội Trong đó, luận đề căn bản của J.Rawls là “công lý là công bằng” [66, tr.494], công lý được hiểu là lẽ phải, điều thiện và phẩm hạnh tối
Trang 29cao của con người “Công lý trên cơ sở công bằng” [66, tr.495] chính là chuẩn mực của một xã hội lý tưởng Nguyên tắc này được đặt trên nền tảng của cá nhân
tự do và sự bình đẳng với quyền hạn và trách nhiệm, quyền tự do chính trị, quyền
tự do cá nhân và “quyền bình đẳng cơ hội trong một cơ chế xã hội muốn xếp đặt quyền lợi và cơ hội thăng tiến cho mọi người” [66, tr.494], đặc biệt là những thành phần ít lợi thế nhất trong xã hội để nhằm xây dựng một cơ sở nguyên tắc cai quản một xã hội ổn định Từ đó, ông xây dựng quan điểm về xã hội công lý với bản chất là “một hệ thống công bằng cho sự hợp tác từ thế hệ này sang thế hệ khác, chứ không phải là nhất thời hay bất thường” [66, tr.503] và sự hợp tác xã hội ấy phải xây dựng trên cơ sở pháp luật căn cứ vào điều kiện bình đằng cho mọi người tham dự và dưới sự đồng thuận của họ J.Rawls cho rằng, chuẩn mực của công bằng trong một xã hội cụ thể chính là nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi cá nhân và để công bằng trong phân chia lợi ích thì cần phải có
sự công bằng trong phân phối, để làm được điều đó thì cần phân phối cần phân phối theo công lao, nghĩa là sự phân chia kết quả hợp tác xã hội phụ thuộc vào những đóng góp thực tế của các cá nhân vào yếu tố sản xuất trong việc tạo ra của cải xã hội Việc phân phối theo công lao sẽ làm tăng mức độ tự nguyện của mọi người, huy động mọi nguồn lực tham gia vào quá trình sản xuất Với vấn để về bình đẳng về cơ hội, J.Rawls cho rằng, bình đẳng về cơ hội là điều kiện, tiền đề
để thực hiện công bằng xã hội Nhờ có bình đẳng về cơ hội mà những “tài năng con người được phát huy, khai thác được tối đa nguồn lực của con người” [96, tr.38 Để thực hiện được công bằng xã hội, J.Rawls chủ trương phải xây dựng chính phủ lớn, nhà nước tự do dân chủ
Như vậy, với quan điểm công lý với tư cách là công bằng, J.Rawls đã xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về công bằng Một thể chế xã hội được coi là công bằng khi các cá nhân tự nguyện tham gia vào hợp tác xã hội cho dù có sự khác biệt về địa vị xã hội trong cơ chế “hợp tác xã hội” chung Có thể thấy, quan điểm của J.Rawls cũng không tránh khỏi những hạn chế, J.Rawls đã tuyệt đối hóa khế ước xã hội luôn gắn với quan hệ hợp tác tự nguyện và bình đẳng Đồng thời, quan
Trang 30điểm của J.Rawls về bức màn “vô tri” với tính cách là xuất phát điểm bình đẳng
và sự tự nguyện trong mối quan hệ hợp tác xã hội giữa người với người trong xã hội lý tưởng Còn xã hội hiện thực, do luôn có sự khác biệt khả năng bẩm sinh và điều kiện xã hội của mỗi cá nhân, nên vị thế của mỗi cá nhân được mặc định là không thể bình đẳng, mà vẫn phải được coi là xuất phát điểm khác nhau khi tham
dự vào quan hệ hợp tác xã hội, “điều ấy lại không thể tránh khỏi dẫn đến quan hệ hợp tác không tưởng” [54, tr.35]
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về công bằng xã hội dưới nhiều góc độ, phương diện khác nhau Từ đó, quan điểm về công bằng xã hội cũng có nhiều quan điểm khác nhau như:
1 Công bằng xã hội là một phạm trù đạo đức và pháp luật dùng để đánh giá những quan hệ và hành động xã hội với quan niệm là mọi người đều bình đẳng [68, tr.97]
2 Công bằng xã hội chính là “sự ngang nhau giữa người với người không phải về mọi phương diện, cũng không phải về một phương diện bất kỳ, mà chính
là về một phương diện hoàn toàn xác định: về phương diện quan hệ giữa nghĩa vụ
và quyền lợi theo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ (cống hiến) ngang nhau sẽ được hưởng những quyền lợi (hưởng thụ) ngang nhau” [79, tr.34]
3 “Công bằng xã hội có thể được hiểu là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần ngang nhau cho
sự phát triển xã hội thì được hưởng thụ ngang nhau những giá trị vật chất và tinh thần do xã hội tạo ra, phù hợp với khả năng hiện thực của xã hội Đó là một giá trị cơ bản trong các quan hệ xã hội, như quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập; quan hệ giữa quyền sở hữu tư liệu sản xuất và quyền định đoạt sự sản xuất và phân phối; quan hệ giữa mức độ phạm tội và mức độ bị trừng phạt; quan
hệ giữa các thành viên trong xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức độ phát triển trí lực khác nhau và cơ hội tham gia quá trình giáo dục, khám chữa bệnh, hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao” [98, tr.114]
v.v
Trang 31Các khái niệm trên đều có giá trị làm rõ nội dung của công bằng xã hội
Nhưng thế nào là công bằng xã hội thì dường như không có một định nghĩa
chung nhất nào mà nội hàm của nó có thể thích hợp với mọi chế độ xã hội ở mọi
thời đại Bởi lẽ, công bằng xã hội là một khái niệm có tính lịch sử Tùy thuộc vào
trình độ phát triển của xã hội trong các thời đại lịch sử khác nhau, thậm chí tùy thuộc vào lập trường, quan điểm của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng mà người ta có nhận thức khác nhau về công bằng xã hội Ph.Ăngghen viết: “Công lý của người
Hy Lạp và người La Mã [Cổ đại] cho rằng chế độ nô lệ là công bằng; công lý của những nhà tư sản năm 1789 đòi hỏi thủ tiêu chế độ phong kiến, vì chế độ ấy không công bằng” [53, tr.379] Do đó, muốn hiểu đúng nội hàm của khái niệm
công bằng xã hội, không thể tách rời nó ra khỏi điều kiện lịch sử cụ thể mà nó
phản ảnh, tức là phải có quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển và quan điểm toàn diện, tránh những định kiến xã hội
Bởi vậy, chúng tôi chọn phương án tìm kiếm những điểm chung mà các
học giả ít nhiều đã thừa nhận: công bằng xã hội là một giá trị nhằm định hướng cho sự phát triển con người, được hình thành trên cơ sở của bình đẳng giữa những con người về sự phù hợp giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa phẩm chất và năng lực với cơ hội và điều kiện phát triển, giữa phạm tội và sự trừng phạt của cá nhân hay nhóm xã hội v.v trên mọi phương diện của đời sống xã hội, phù hợp với điều kiện hiện thực của xã hội
Công bằng xã hội có nội dung phong phú, tuy nhiên có thể khái quát ở hai nội dung chính:
Thứ nhất, công bằng trong phân phối “các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử
dụng các cơ hội, điều kiện phát triển Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [25, tr.23]
Thứ hai, công bằng xã hội về cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) giữa các tầng lớp dân cư
Nghĩa là những ai có cống hiến ngang nhau thì đều được hưởng thụ ngang nhau
Trang 32Đó là “thước đo” của công bằng xã hội Nhưng “thước đo” ấy chỉ “chuẩn xác” khi những người cống hiến này đều được xuất phát từ cùng một vạch, tức là từ
cùng một mặt bằng trong việc tiếp cận các cơ hội Điều đó có nghĩa là công bằng
về cơ hội chính là tiền đề đảm bảo có công bằng xã hội thực sự
1.1.2 Quan điểm về công bằng trong giáo dục tiểu học
Giáo dục là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Tùy vào từng giai đoạn phát triển của lịch sử, cũng như xuất phát từ lập trường tư tưởng khác nhau mà các triết gia, nhà tư tưởng trong lịch sử triết học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về vấn đề giáo dục Tuy nhiên, chỉ đến triết học Mác, vấn đề giáo dục mới được xem xét một cách toàn diện và có hệ thống Trên cơ sở phê phán những hạn chế của các nhà triết học đi trước khi xem xét về vấn đề này, triết học Mác đã chỉ ra bản chất của giáo dục và con đường để phát triển giáo dục một cách đúng đắn và khoa học
Về vai trò của giáo dục, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng sự phát triển của con người về mọi mặt là hoàn toàn nhờ vào giáo dục và đào tạo, bởi “việc kết hợp giữa lao động sản xuất được trả công, giáo dục trí lực, giáo dục thể lực và giáo dục kỹ thuật tổng hợp sẽ nâng giai cấp công nhân lên cao hơn rất nhiều so với trình độ của giai cấp quý tộc và tư sản” [57, tr.262] Giáo dục chính là yếu tố quan trọng làm thay đổi lực lượng sản xuất và là tiền đề không thể thiếu để phát triển xã hội, “công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn…” và làm cho những thành viên trong xã hội “có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình” [50, tr.474] Như vậy, muốn tồn tại và phát triển, con người phải gia nhập vào môi trường xã hội Chính việc gia nhập vào môi trường xã hội, thông qua các thiết chế xã hội, đặc biệt là giáo dục, con người mới
có thể hoà nhập vào xã hội Giáo dục giúp con người có được những kinh nghiệm cần thiết để sống, thích ứng và phát triển Mặt khác, giáo dục còn đưa lại cho con người tri thức và văn hóa để họ cống hiến nhiều hơn cho xã hội Như vậy, theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, giữa xã hội và hoạt động giáo dục luôn có mối quan hệ biện chứng Trong đó, xã hội đóng vai trò là nhân tố quy định hoạt
Trang 33động giáo dục, định hướng cho sự phát triển của giáo dục, còn giáo dục có tác động tích cực đối với sự phát triển của xã hội
Ph.Ăngghen khẳng định: “Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ Do
đó, công tác giáo dục sẽ làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện nay đang buộc mỗi một người phải theo Như vậy là một xã hội tổ chức theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa, sẽ làm cho những thành viên trong xã hội đó có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của mình” [57, tr.262] Với chiến lược giáo dục đó, theo Ph.Ăngghen sẽ khiến cho mọi người thoát khỏi tình trạng thụ động của sự phân công lao động hiện đang buộc những người lao động phải tuân theo Một xã hội tổ chức theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa sẽ làm cho những thành viên trong xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn diện nhất năng lực của mình để phát triển một cách toàn diện
và hài hòa Cùng với quan điểm của Ph.Ăngghen, C.Mác khẳng định: “Những người công dân tiên tiến nhất cũng hoàn toàn nhận thức được rằng tương lai của giai cấp họ, và do đó, của cả loài người, hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc giáo dục thế
hệ công nhân đang lớn lên” [57, tr.262] Đồng thời, C.Mác nhấn mạnh: “Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện nữa” [58, tr.668] Giáo dục không chỉ giúp con người hòa nhập với xã hội, mà còn giúp họ làm chủ bản thân, nắm bắt được thế giới và biến đổi thế giới theo hướng tiến bộ và phát triển hơn
Kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về giáo dục và đào tạo, V.I.Lênin đã áp dụng vào trong thực tiễn cách mạng nước Nga và bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga vào những thập niên đầu của thế kỷ XX Tại Đại hội Toàn Nga về công tác giáo dục
Trang 34lần thứ nhất (28/08/1918), V.I.Lênin nhấn mạnh: “Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh đổ giai cấp tư sản; chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nối dối và lừa bịp” [46, tr.92] Đồng thời, V.I.Lênin khẳng định: “Những người lao động khao khát
có tri thức, vì tri thức cần cho họ để chiến thắng Chín phần mười quần chúng lao động đã hiểu rõ rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của
họ, rằng sở dĩ họ thất bại là do thiếu học thức; rằng giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực sự được học hành, là do bản thân họ quyết định Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng vì bản thân quần chúng đã bắt tay xây dựng một nước Nga mới,
xã hội chủ nghĩa” [46, tr.93] Với quan điểm trên, V.I.Lênin cho thấy được một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao năng suất lao động và đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải nâng cao trình độ tri thức của quần chúng nhân dân, và điều này chỉ có thể được thực hiện thông qua giáo dục
Về nội dung giáo dục, V.I.Lênin cho rằng, khi cách mạng mới thành công bước đầu củng cố chính quyền thì nội dung của công tác giáo dục là tuyên truyền
và giáo dục về tư tưởng, chính trị là chủ yếu Khi cách mạng bước sang giai đoạn hòa bình, xây dựng đất nước thì nhiệm vụ và nội dung giáo dục phải có sự thay đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh và tình hình mới Đồng thời, V.I.Lênin chỉ ra,
“phải ra sức làm cho trẻ em thuộc tất cả các dân tộc hòa lẫn vào nhau trong những trường học thống nhất ở một địa phương nhất định; phải làm sao cho công nhân thuộc tất cả các dân tộc cùng nhau thực hành chính sách vô sản trong việc giáo dục” [47, tr.767-768] Bên cạnh những quan điểm trên, V.I.Lênin còn có một câu nói hết sức nổi tiếng “Học, học nữa, học mãi”, đã trở thành câu châm ngôn của hàng triệu, triệu các thế hệ không chỉ của nền giáo dục Nga, mà còn là khẩu hiệu của nền giáo dục trên nhiều quốc gia khác
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định được vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động trở lại của nền kinh tế - xã hội đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo Chỉ rõ
Trang 35ý nghĩa to lớn và vai trò quyết định của giáo dục đối với sự phát triển con người, nguồn lực con người nói chung với sự nghiệp phát triển đất nước của mỗi quốc gia
Trên cơ sở, kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin và căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có những quan điểm vô cùng đúng đắn về mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương pháp giáo dục, v.v nhằm phát triển một nền giáo dục toàn diện
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục hướng vào các giá trị đích thực của dân tộc, hiện đại, công bằng, nhân văn, phục vụ Tổ Quốc và nhân dân Trong "Thư gửi cho học sinh" nhân ngày khai trường, ngày 05/09/1945, Người viết: "Một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em" [59, tr.7]
Về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh thường gắn vai trò của giáo dục gắn với những vấn để liên quan tới hoạt động thực tiễn diễn ra trong đời sống Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế văn hoá” [62, tr.184] Đồng thời, Người luôn quan điểm rõ vai trò của giáo dục là nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam, nền giáo dục mới có nhiệm vụ “đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho Nhà nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” [59, tr.40]
Về nội dung giáo dục, trong thư gửi cán bộ, học sinh, cán bộ và thanh niên (31/10/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công” [62, tr.81] Theo Người, trong giáo dục, kiến thức là yếu tố quan trọng
và cần thiết nhất, thì giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng không kém Tại buổi nói chuyện với cán bộ và sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội (21/10/1964), Người khẳng định: “Dạy cũng như học phải chú trọng đến cả tài
Trang 36lẫn đức Đức là đạo đức cách mạng Đó là cái gốc, rất quan trọng Nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài cũng vô dụng” [64, tr.331] Như vậy, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tạo ra những con người mới thì nội dung giáo dục phải toàn diện, khoa học và phù hợp với từng đối tượng, đây là yêu cầu bắt buộc đối với một nền giáo dục mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và công bằng giáo dục thể hiện tính khách quan, toàn diện, khoa học và phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước Có thể thấy, những quan điểm của Người luôn hướng đến một nền giáo dục cho mọi người Để làm được điều đó thì
giáo dục phải có sự phát triển toàn diện cả về “lượng” và “chất” trong cả dạy và
học Như vậy, giáo dục mới thực sự là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Trên cơ sở kết thừa có chọn lọc và vận dụng đúng đắn, sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần khẳng định vai trò của giáo dục là “quốc sách hàng đầu” trong sự nghiệp phát triển đất nước Từ đó, để đảm bảo điều này, Đảng Cộng sản Việt Nam rất chú trọng đến vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục nhằm xây dựng nền giáo dục chất lượng, và tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được sự nghiệp phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay
Năm 1991, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học khẳng định “Giáo dục tiểu học
là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt của đất nước” [73, tr.1] Đồng thời, Luật Phổ cập giáo dục quy định rõ ràng, đối với Nhà nước cần phải “dành ngân sách thích đáng để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học Nhà nước bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học ở vùng dân tộc thiểu
số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn; bảo đảm
từ ban đầu các điều kiện cần thiết để thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học khi xây dựng khu dân cư mới Ưu đãi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục tiểu học công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng hải đảo và vùng có khó khăn” [73, tr.1], đối với gia đình “tạo điều kiện để con hoặc trẻ em
Trang 37được đỡ đầu hoàn thành giáo dục tiểu học” [73, tr.3] Điều này cho thấy nhận thức hoàn toàn mới của Đảng về giáo dục tiểu học và việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam những năm đầu thời kì đổi mới
Ngày 14/01/1993, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
04-có kỳ họp bàn về một số vấn đề giáo dục, trong đó, vấn đề công bằng trong giáo dục lần đầu tiên được đề cập đến bên cạnh các vấn đề giáo dục khác Theo đó, Nghị quyết xác định bốn quan điểm chỉ đạo đối với sự nghiệp giáo dục và đáng chú ý nhất là quan điểm thứ 4: “Đa dạng hoá các hình thức đào tạo Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: Người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học” [18, tr.3]
Đây là quan điểm đánh dấu bước chuyển biến mới về “độ” trong nhận thức của
Đảng về vấn đề công bằng xã hội trong giáo dục khi bước vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới
Năm 2002 tại Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX), Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII về giáo dục - đào tạo Trong Kết luận nhấn mạnh tập trung nhiệm vụ:
“Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục: Có chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên thuộc các gia đình nghèo và các đối tượng chính sách xã hội v.v.” [22, tr.2] Từ đó, Đảng chỉ ra cần phải mở rộng mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục mở - mô hình giáo dục xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục và liên thông giữa các bậc học, ngành học nhằm tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục
Đến năm 2005, Điều 10 Luật giáo dục nêu rõ: “Học tập là quyền và nghĩa
vụ của công dân Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ
Trang 38hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện
để ai cũng được học hành” [104, tr.36] Đồng thời, Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: “Tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách” [95, tr.45] Điều này cũng thể hiện nhận tức tiến
bộ về công bằng xã hội trong giáo dục là một phương thức, một thiết chế xã hội nhằm nâng cao công bằng xã hội
Hiến pháp 2013 quy định “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (Điều 39) [75, tr.9] và tiếp tục khẳng định phát triển “giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” Đồng thời, Hiến pháp quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non, bảo đảm giáo dục tiểu học bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (Điều 61) [75, tr.13] Bởi giáo dục là “đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [75, tr.1]
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chính
Minh, và Đảng Cộng sản Việt Nam, có thể hiểu giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển nhân cách, trí tuệ của trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện để tiếp tục học trung học cơ sở
Theo đó, đặc điểm của giáo dục tiểu học bao gồm:
Đối tượng của giáo dục tiểu học là “tất cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học” [11, tr.2]
Trang 39Mục đích giáo dục tiểu học là giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở [76, tr.9]
Yêu cầu của giáo dục tiểu học là phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật [76, tr.10]
Như vậy, có thể hiểu, công bằng trong giáo dục tiểu học là bảo đảm bình đẳng trong cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản của giáo dục bậc tiểu học cho tất
cả trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, trình độ phát triển cao hay thấp, lạc hậu hay văn minh đều được tạo cơ hội ngày càng tốt để có điều kiện học tập, nâng cao trình độ và phát huy tài năng của bản thân
1.2 Các yếu tố tác động đến vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Quan điểm vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Với tư cách yếu tố trung tâm của “kiến trúc thượng tầng”, cột trụ của hệ
thống chính trị, Nhà nước Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã luôn có tác động một cách sâu sắc và trực tiếp nhằm đảm bảo công bằng xã hội, đặc biệt là thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay, bởi “chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị, và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó” [51, tr.255] Khi sự bất công bằng trong giáo dục ngày càng doãng rộng, thì Nhà nước Việt Nam càng có vai trò mà không một chủ thể, một tổ chức, một lực lượng xã hội nào khác có đủ quyền lực và điều kiện hiện thực để đảm trách
Về mặt phương pháp luận, có thể đánh giá vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay trên nhiều phương diện, nhiều lát cắt khác nhau Trong giới hạn và phạm vi nghiên cứu của
Trang 40luận văn, tác giả chỉ tập trung phân tích và đánh giá vai trò của Nhà nước với việc thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay dựa trên
ba nội dung chính sau đây:
Một là, Nhà nước hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội
nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước Việt Nam hiện nay là
“tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” [17, tr.53] Do đó, với vai trò ủy quyền quản lý xã hội, Nhà nước hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay là một trong những chức năng quan trọng
để phát triển đất nước, bởi: “một trong những mục tiêu của Nhà nước được lập ra
để cuộc sống của con người được cải thiện Sự quản trị của Nhà nước đồng nghĩa với sự tiên liệu, vì lẽ đó một trong những nhiệm vụ quan trọng và nặng nề của Nhà nước hiện nay là phải hoạch định chính sách quốc gia” [12, tr.85] Để hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện công bằng trong giáo dục tiểu học, Nhà nước Việt Nam phải căn cứ vào định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kì Đại hội, như “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ xã hội và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có
cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” [19, tr.113]; “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường” [21, tr.88-89]; “Chính sách xã hội phải đúng đắn, công bằng là động lực mạnh mẽ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [25, tr.79]; “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động” [26, tr.135] Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần đảm bảo công bằng trong giáo dục tiểu học ở Việt Nam hiện nay