1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp Đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

66 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Đồng Chuyển Giao Quyền Sử Dụng Nhãn Hiệu
Tác giả Nguyễn Đoàn Thị Xuân Xuân
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 760,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do nghiên cứu đề tài (7)
  • 2. Tình hình nghiên cứu (9)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (12)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (13)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Ý nghĩa và giá trị ứng dụng của đề tài (14)
  • 7. Bố cục của đề tài (14)
  • CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU (16)
    • 1.1. Khái quát về nhãn hiệu (16)
      • 1.1.1. Khái niệm về nhãn hiệu (16)
      • 1.1.2. Đặc điểm của nhãn hiệu (19)
      • 1.1.3. Phân loại nhãn hiệu (25)
      • 1.1.4. Phân biệt nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (29)
    • 1.2. Khái quát về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (32)
      • 1.2.1. Khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (32)
      • 1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (36)
      • 1.2.3. Phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (40)
  • CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT (43)
    • 2.1. Đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (43)
      • 2.1.1. Thực trạng pháp luật về đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (43)
      • 2.1.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật (46)
    • 2.2. Nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (47)
      • 2.2.1. Thực trạng pháp luật về nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (0)
      • 2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật (54)
    • 2.3. Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (56)
      • 2.3.1. Thực trạng pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (56)
      • 2.3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật (60)

Nội dung

Theo đó, trên cơ sở pháp lý là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được ký kết giữa chủ sở hữu nhãn hiệu bên chuyển giao, thông thường là những nhãn hiệu được biết đến và đạt đư

Lý do nghiên cứu đề tài

Trong thời đại hiện nay, người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sử dụng hàng hóa và dịch vụ từ những nhãn hiệu uy tín Nhiều cá nhân và tổ chức đã tận dụng các nhãn hiệu đã có sẵn để sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ Để đáp ứng nhu cầu này, pháp luật đã ban hành quy định về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng giữa chủ sở hữu nhãn hiệu và bên nhận chuyển giao Bên nhận chuyển giao sẽ sử dụng nhãn hiệu của chủ sở hữu để sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận Hoạt động này ngày càng phổ biến nhờ vào lợi ích như tiết kiệm chi phí marketing và nghiên cứu phát triển, bởi các nhãn hiệu này đã có độ tin cậy cao trên thị trường.

Tuy nhiên, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu vẫn còn một số điểm chưa phù hợp như sau:

Theo hiệp định TRIPS, "nhãn hiệu" bao gồm từ ngữ, tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình họa và tổ hợp màu sắc, với khả năng đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa Trong khi đó, pháp luật Việt Nam chưa công nhận "chữ số" như một phần của khái niệm nhãn hiệu Định nghĩa nhãn hiệu ở Việt Nam nhấn mạnh vai trò phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, cho thấy "chữ số" có thể tạo ra nhãn hiệu dễ nhận biết khi kết hợp với các yếu tố khác Mặc dù Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN đã công nhận "chữ số" là dấu hiệu của nhãn hiệu theo Luật SHTT sửa đổi, vẫn tồn tại sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành về nội hàm của nhãn hiệu.

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không quy định trực tiếp về kiểm soát chất lượng hàng hóa, dịch vụ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu Thay vào đó, nội dung này được đề cập gián tiếp thông qua quyền của bên nhận chuyển nhượng quyền, như quy định tại khoản 1 điều 144.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Luật SHTT 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022), nội dung hạn chế bất hợp lý quyền của bên nhận chuyển quyền trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận chuyển quyền khỏi các điều khoản không hợp lý Ưu điểm của quy định này là liệt kê chi tiết những điều mà bên chuyển quyền không được phép đưa ra, giúp bảo vệ quyền lợi của bên nhận chuyển quyền Tuy nhiên, nhược điểm là phương pháp liệt kê có thể không bao quát hết các trường hợp mà bên chuyển quyền có thể áp đặt Thêm vào đó, theo điểm b khoản 2 Điều 144, pháp luật chỉ cấm bên chuyển quyền hạn chế việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ mà không xem xét đến các hành vi khác như nhập khẩu, lưu thông, chào bán, quảng cáo, cũng được coi là hành vi sử dụng nhãn hiệu Quy định này nhằm bảo vệ bên nhận chuyển quyền khỏi những hạn chế bất hợp lý từ bên chuyển quyền.

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là một loại hợp đồng chuyên biệt, liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản vô hình và quyền sở hữu công nghiệp Việc giao kết và thực hiện hợp đồng này có những đặc điểm khác biệt so với các loại hợp đồng khác, với quy định pháp luật riêng biệt không chỉ trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, mà còn phải tuân thủ các điều kiện theo Luật Sở hữu trí tuệ.

Bài viết này tập trung vào việc nghiên cứu “Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu” tại Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Luật SHTT vừa được sửa đổi bổ sung năm 2022 Tác giả mong muốn cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định pháp luật liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những bất cập trong quy định hiện hành và đưa ra kiến nghị sửa đổi luật nhằm phù hợp hơn với sự phát triển và hội nhập sâu rộng của thương mại Việt Nam vào thị trường quốc tế.

Tình hình nghiên cứu

Quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là nhãn hiệu, vẫn là lĩnh vực mới mẻ và phức tạp đối với các nhà thực tiễn và lý luận tại Việt Nam Nghiên cứu cho thấy có một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài này.

Hà Thị Nguyệt Thu (2009) đã nghiên cứu về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005 trong luận văn thạc sĩ của mình tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ các quy định pháp lý liên quan đến bảo vệ nhãn hiệu trong bối cảnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Bài luận văn này phân tích lý luận về quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu, đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hiện hành về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Từ những phân tích đó, bài viết cũng đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Bùi Thị Hải Như (2009) trong luận văn thạc sĩ của mình tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam Nghiên cứu này tập trung vào các quy định pháp lý và tiêu chí cần thiết để đảm bảo sự bảo vệ hiệu quả cho nhãn hiệu trong bối cảnh phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Luận văn này phân tích lý luận về nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu, cùng với các điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Ngoài ra, luận văn còn đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.

Nguyễn Thanh Tùng (2013) trong luận văn thạc sĩ "Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam" đã hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam và so sánh với các điều ước quốc tế cùng quy định của một số quốc gia về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Luận văn này không chỉ làm rõ các vấn đề lý luận liên quan mà còn góp phần hoàn thiện kiến thức trong lĩnh vực pháp lý về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Nguyễn Thị Hồng Linh (2014) trong luận văn thạc sĩ của mình tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã phân tích lý luận về tên miền và nhãn hiệu, cùng mối liên hệ giữa chúng Luận văn cũng xem xét pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu liên quan đến tên miền, đồng thời so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác Từ đó, tác giả đã đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hiện nay và đưa ra kiến nghị sửa đổi một điều trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam liên quan đến vấn đề này.

Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014) đã nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong bài viết "Điều khoản kiểm soát chất lượng trong hợp đồng li–xăng nhãn hiệu" đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Bài báo cung cấp cái nhìn tổng quan về hợp đồng này và phân tích sâu sắc các điều khoản kiểm soát chất lượng, nhấn mạnh tầm quan trọng của chúng trong việc bảo vệ giá trị thương hiệu và đảm bảo tiêu chuẩn sản phẩm.

Bùi Thị Minh (2015) đã nghiên cứu về hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế, phân tích theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài Luận văn thạc sĩ này được thực hiện tại Khoa Luật, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến li-xăng nhãn hiệu trong bối cảnh thương mại toàn cầu.

Đại học Quốc gia Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam và so sánh với quy định của một số quốc gia và tổ chức quốc tế Luận văn này không chỉ hệ thống hóa các lý luận liên quan mà còn phân tích thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam Qua đó, nghiên cứu cung cấp cái nhìn đa chiều về tình hình hiện tại, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân gây ra các vấn đề trong thực tiễn.

Trần Chí Thành (2016) trong luận văn thạc sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội đã phân tích sâu về nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp liên quan Luận văn tập trung vào thực trạng pháp luật về nhãn hiệu tại tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhãn hiệu.

Lưu Đức Anh (2016) trong luận văn thạc sĩ của mình tại Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu về phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam.

Luận văn này phân tích nhãn hiệu và phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu Bên cạnh đó, nó cũng xem xét các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn vi phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhãn hiệu.

Hà Thị Nguyệt Thu (2017) trong luận án tiến sĩ tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phân tích lý luận về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam Tác giả nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm bổ sung quy định pháp luật liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Nguyễn Thị Thủy (2018), Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở

Việt Nam hiện nay đang chú trọng vào việc bảo vệ nhãn hiệu và quyền sở hữu công nghiệp Luận văn thạc sĩ tại Học viện Khoa học Xã hội đã trình bày khái quát về nhãn hiệu và các quyền liên quan Từ đó, bài viết phân tích thực trạng pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu, đồng thời đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về điều kiện và thủ tục bảo hộ nhãn hiệu.

Hoàng Lan Phương (2019), Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: Những bất cập cần khắc phục, Tạp chí Khoa học & công nghệ Việt Nam, 61(10), 29

– 33 Đây là bài báo viết khái quát về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cũng như giải pháp khắc phục một số bất cập của hoạt động này

Mục đích nghiên cứu

Bài viết phân tích quy định pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam, chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng pháp luật liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Từ đó, tác giả đề xuất các biện pháp sửa đổi nhằm cải thiện hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Khái quát và phân tích lý luận về nhãn hiệu, hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Phân tích quy định pháp luật về nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là cần thiết để hiểu rõ những điểm mạnh và điểm yếu trong hệ thống pháp lý hiện hành Việc xem xét các quy định này giúp xác định những khoảng trống pháp lý và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn Từ đó, cần đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, thúc đẩy sự phát triển của thị trường và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng đến các phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở phân tích các yếu tố mà tổng hợp kết quả và đưa ra kết luận cho các vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phân tích được sử dụng để nghiên cứu và hiểu rõ nội dung của các quy định trong văn bản pháp luật liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu.

Phương pháp bình luận mang lại cái nhìn đa chiều và sâu sắc về vấn đề nghiên cứu, giúp rút ra những kết luận chính xác và khoa học Phương pháp này thể hiện tư duy, tính mới mẻ, sáng tạo và cách lập luận chặt chẽ của tác giả.

Phương pháp so sánh luật được tác giả áp dụng để đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật của Liên minh Châu Âu, cùng với các hiệp định quốc tế như Trips và CPTPP Nghiên cứu này tập trung vào các quy định liên quan đến nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

Ý nghĩa và giá trị ứng dụng của đề tài

Luận văn nghiên cứu hệ thống hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của quan hệ này Bằng cách phân tích nội dung hợp đồng, luận văn giúp các bên tham gia hiểu rõ vấn đề cần thương lượng trước khi ký kết, cũng như quyền và nghĩa vụ của họ Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, luận văn đưa ra các đề xuất hữu ích cho nhà lập pháp và doanh nhân, đặc biệt là những nhà đầu tư nhỏ, giúp họ tiết kiệm chi phí, thời gian và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 02 chương

Chương 1: Lý luận chung về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Chương 1 sẽ tổng quan về khái niệm và đặc điểm của nhãn hiệu, cùng với phân loại nhãn hiệu và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Những nội dung này sẽ tạo nền tảng lý luận để phân tích thực trạng áp dụng pháp luật liên quan.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Chương này sẽ phân tích và bình luận về thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Từ đó, bài viết đề xuất các kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế và bất cập trong quy định pháp luật hiện hành.

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU

Khái quát về nhãn hiệu

1.1.1 Khái niệm về nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp quan trọng, gắn liền với hoạt động sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Từ khoảng 5000 năm trước công nguyên, con người đã sử dụng miếng kim loại nung đỏ để tạo dấu hiệu trên bò, giúp phân biệt giữa các con vật Khoảng 4000 năm trước, thợ thủ công Trung Quốc đã khắc chữ ký hoặc biểu tượng lên hàng hóa để tạo dấu ấn riêng, qua đó khẳng định quyền sở hữu và đảm bảo chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng.

Mục tiêu ban đầu của việc tạo ra các dấu hiệu là xác định chủ sở hữu và bảo vệ người tiêu dùng Sau đó, các dấu hiệu được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các nhà sản xuất và phường hội Ở giai đoạn tiếp theo, các nhà sản xuất sử dụng dấu hiệu để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu nhãn hiệu.

Pháp luật hiện nay đã công nhận các dấu hiệu trên hàng hoá là một loại tài sản quan trọng, bên cạnh các loại tài sản khác Với sự phát triển của nền kinh tế, nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ ngày càng trở nên đa dạng Điều này không chỉ giúp đảm bảo chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng mà còn khẳng định vị thế của chủ sở hữu trên thị trường.

Tài sản vô hình hiện nay đóng vai trò quan trọng trong giá trị của doanh nghiệp và toàn bộ thị trường Chúng không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế chung.

Trần Chí Thành (2016) trong luận văn thạc sĩ "Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang" nhấn mạnh rằng tài sản vô hình, đặc biệt là quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), đóng vai trò quan trọng trong thành công của hàng hóa Theo luật SHTT, nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Nhãn hiệu có những đặc tính như vô hình và gắn liền với uy tín doanh nghiệp, do đó, việc xâm phạm và sử dụng trái phép nhãn hiệu diễn ra phổ biến Hành vi sao chép nhãn hiệu có uy tín để sản xuất hàng giả và bán trên thị trường là vi phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu, theo Điều 129 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022.

Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc cá biệt hoá hàng hoá và dịch vụ, giúp người tiêu dùng nhận diện nguồn gốc và xuất xứ sản phẩm Để đảm bảo tính độc quyền, nhãn hiệu không được trùng lặp hoặc gây nhầm lẫn với các sản phẩm khác Tổ chức và cá nhân sẽ không được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu nếu có sự trùng lặp, điều này có thể gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc tìm kiếm sản phẩm phù hợp với nhu cầu Do đó, hệ thống pháp luật về nhãn hiệu cần có quy định kiểm tra chặt chẽ giữa các nhãn hiệu đã được bảo hộ và những nhãn hiệu đang trong quá trình đăng ký Với đặc tính vô hình của nhãn hiệu, pháp luật quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan.

2 Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

Theo Khoản 2 Điều 90 của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, quy định rõ về phạm vi và điều kiện bảo hộ nhãn hiệu Luật cũng nêu rõ hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu và các biện pháp chế tài xử lý những hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến nhãn hiệu.

Trên thế giới, khái niệm nhãn hiệu đã được sử dụng từ hàng nghìn năm trước, khi thợ thủ công khắc ký hiệu lên sản phẩm như gốm, trang sức và vũ khí để phục vụ cho việc trao đổi Ngày nay, nhãn hiệu trở thành công cụ quan trọng giúp người tiêu dùng nhận diện và lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ uy tín, phù hợp với nhu cầu của mình Nó cũng đóng vai trò là dấu hiệu đánh giá chất lượng giữa vô vàn nhãn hiệu trên thị trường, hỗ trợ người tiêu dùng trong quyết định mua sắm.

Theo Điều 15 của Hiệp định TRIPs, nhãn hiệu được định nghĩa là bất kỳ dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác Các dấu hiệu này bao gồm từ ngữ, tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình học, tổ hợp màu sắc, và bất kỳ tổ hợp nào của các dấu hiệu đó, miễn là chúng có khả năng được đăng ký làm nhãn hiệu.

Theo hiệp định CPTPP, không bên nào có quyền yêu cầu dấu hiệu phải nhìn thấy được để được đăng ký, và không bên nào có thể từ chối đăng ký nhãn hiệu chỉ vì nó là âm thanh Mỗi bên cần nỗ lực để đăng ký nhãn hiệu mùi, có thể yêu cầu mô tả ngắn gọn, chính xác hoặc đồ họa của nhãn hiệu Do đó, các nhà làm luật Việt Nam đã nội luật hoá nhãn hiệu âm thanh vào hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ.

Theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 2009, 2019, và 2022, nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân.

4 Trần Thị Thanh Huyền (2021), “Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử”, luận án tiến sĩ, Trường đại học luật Hà Nội

Khoản 1, Điều 15 Hiệp định TRIPs định nghĩa "dấu hiệu" là những biểu tượng có thể nhìn thấy, bao gồm chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố này, thể hiện qua nhiều màu sắc hoặc âm thanh dưới dạng đồ họa Khái niệm này có nhiều điểm tương đồng với các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam, được sửa đổi và bổ sung qua các năm 2005, 2009, 2019 và 2022.

Nhãn hiệu là tập hợp các dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Những dấu hiệu này có thể bao gồm chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều, màu sắc đa dạng hoặc âm thanh được thể hiện qua hình ảnh đồ họa.

1.1.2 Đặc điểm của nhãn hiệu

Theo Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Từ định nghĩa này, có thể rút ra hai đặc điểm chính của nhãn hiệu: đầu tiên, nhãn hiệu giúp phân biệt sản phẩm và dịch vụ giữa các chủ thể khác nhau; thứ hai, nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Các dấu hiệu trong một tổ hợp có thể bao gồm chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này, thể hiện bằng nhiều màu sắc hoặc âm thanh dưới dạng đồ họa Những dấu hiệu này có thể là hữu hình hoặc vô hình, như âm thanh không nhìn thấy được.

6 Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

7 Khoản 1 điều 72 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

8 Khoản 16, Điều 4 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

9 Khoản 1 điều 72 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

Khái quát về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

1.2.1 Khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, nhãn hiệu là tài sản trí tuệ mà chủ sở hữu có quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng cho hoạt động sản xuất và cung ứng dịch vụ Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể là tổ chức hoặc cá nhân được cấp văn bằng bảo hộ hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế Quyền sử dụng nhãn hiệu bao gồm việc khai thác công dụng và hưởng lợi tức từ tài sản, ví dụ như thu nhận sản phẩm tự nhiên hoặc lợi nhuận từ việc cho thuê Việc sử dụng tài sản tiêu hao như thức ăn cũng thể hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu Pháp luật trao quyền sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký, cho phép họ thực hiện các hành vi như gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, quảng cáo và nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ Để được bảo hộ, chủ sở hữu phải thực hiện thủ tục đăng ký theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

59 Khoản 1 điều 121 Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

60 Điều 189 Bộ luật dân sự 2015

Theo Khoản 5 Điều 124 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, được sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền sử dụng và định đoạt nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ Điều này có nghĩa là họ có thể chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức hoặc cá nhân khác Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu tập thể, quyền sử dụng chỉ được chuyển giao cho các tổ chức hoặc cá nhân là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó.

Hiện nay, nhiều quốc gia, bao gồm Việt Nam, đã công nhận hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng chuyển giao Tổ chức hoặc cá nhân sở hữu văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có toàn quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu Hiệp định TRIPS cho phép các quốc gia thành viên quy định điều kiện chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Tại Việt Nam, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản Trong quá trình thực hiện hợp đồng, tổ chức hoặc cá nhân sở hữu nhãn hiệu không được tự ý từ bỏ quyền sở hữu mà cần có sự đồng ý của bên nhận chuyển giao.

Hơn 162 quốc gia đã tham gia Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp 1883 Theo Điều 6 Quater của Công ước, nếu luật của một nước thành viên quy định rằng việc chuyển nhượng nhãn hiệu chỉ có hiệu lực khi đồng thời chuyển nhượng cơ sở sản xuất hoặc thương mại có nhãn hiệu, thì để công nhận hiệu lực của việc chuyển nhượng đó, một phần của cơ sở sản xuất hoặc thương mại phải được chuyển giao cho người nhận cùng với quyền độc quyền sản xuất hoặc bán hàng hóa mang nhãn hiệu tại nước đó.

62 Điều 21 Hiệp định TRIPS Về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

Bài viết của Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014) trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6(262) tập trung vào pháp luật Liên minh châu Âu liên quan đến hợp đồng li-xăng nhãn hiệu Tác giả phân tích các quy định pháp lý và đưa ra những bài học kinh nghiệm quý giá từ hệ thống pháp luật này, nhằm nâng cao hiểu biết về quản lý nhãn hiệu trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Công ước Paris đã gián tiếp thừa nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ Vào ngày 15 tháng 04 năm 1994, Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ được ký kết, đánh dấu sự kiện lịch sử khi các nước lần đầu tiên thống nhất về vấn đề này Hiệp định TRIPS dành riêng mục 2 với 07 điều quy định về quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, cho phép các thành viên quy định các điều kiện cấp chuyển quyền sử dụng và chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa, đồng thời nhấn mạnh rằng việc cấp chuyển quyền sử dụng không được thực hiện một cách không tự nguyện Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu, có hoặc không kèm theo việc chuyển nhượng cơ sở kinh doanh.

Quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác đã được công nhận trong Công ước Paris và Hiệp định TRIPS Các quốc gia thành viên, bao gồm Việt Nam, đã thực hiện cam kết của Công ước Paris 1883 và Hiệp định TRIPS 1994 bằng cách cụ thể hóa các quy định này vào hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể quyết định sử dụng trực tiếp nhãn hiệu cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu của mình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, được ban hành năm 2005 và sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019, và 2022, quy định về việc chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu.

Điều 21 của Hiệp định TRIPs quy định rằng chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ công nghiệp có quyền cho phép tổ chức hoặc cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong phạm vi quyền của mình.

Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là quá trình mà chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển nhượng quyền sử dụng cho tổ chức hoặc cá nhân khác, nhằm phục vụ cho việc sản xuất hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trong một khu vực địa lý nhất định và trong một khoảng thời gian xác định.

Việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được coi là hoạt động thương mại, trong đó các bên tham gia hợp đồng đều hướng đến mục tiêu sinh lợi Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tìm kiếm lợi nhuận từ việc sử dụng nhãn hiệu đó, trong khi bên chuyển giao quyền nhận được khoản phí bù đắp, đặc biệt trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng độc quyền.

Quyền độc quyền sử dụng nhãn hiệu thuộc về tổ chức hoặc cá nhân được cấp giấy chứng nhận đăng ký trong thời gian bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam Để sử dụng nhãn hiệu, các tổ chức, cá nhân cần có sự cho phép từ chủ sở hữu Thông qua việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu có thể thu được lợi ích tài chính hoặc vật chất, đồng thời vẫn duy trì quyền kiểm soát việc sử dụng nhãn hiệu mà không cần trực tiếp sử dụng, thông qua bên nhận chuyển giao.

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là thỏa thuận giữa chủ thể nhận quyền và chủ sở hữu nhãn hiệu, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong việc sử dụng nhãn hiệu.

65 Khoản 1, Điều 141 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

Bài viết của Phan Quốc Nguyên, Đinh Thảo Chi, Lê Thị Thanh và Kiều Diệu Ngân (2022) tập trung vào việc hoàn thiện luật sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thị trường chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Nghiên cứu này được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 02 và 03 Các tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện khung pháp lý, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển nhượng nhãn hiệu, góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là thỏa thuận bắt buộc phải lập thành văn bản, khác với các thỏa thuận dân sự khác có thể được thể hiện bằng lời nói hoặc hành vi Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu (bên chuyển giao) cho phép tổ chức hoặc cá nhân khác (bên nhận chuyển giao) sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn mà hai bên đã thỏa thuận.

1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Chủ thể, đối tượng, nội dung, hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được thể hiện cụ thể như sau:

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

2.1.1 Thực trạng pháp luật về đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Quyền sử dụng nhãn hiệu là đối tượng trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cho phép bên nhận chuyển giao kinh doanh và thu lợi từ nhãn hiệu Theo Luật SHTT 2005 và các sửa đổi, quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu Việc chuyển giao quyền sử dụng mà không có sự cho phép của chủ sở hữu là hành vi trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của chủ sở hữu và quyền lợi của bên nhận chuyển giao Để giải quyết vấn đề này, các bên cần căn cứ vào quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đã được Cục SHTT chấp nhận Quy chế này giống như luật riêng, yêu cầu các bên tuân thủ, và càng rõ ràng, chi tiết thì càng hiệu quả trong việc dự đoán và giải quyết các tranh chấp.

Các bên tham gia tranh chấp nên giải quyết vấn đề dựa trên tinh thần thiện chí, thông qua các phương thức thương lượng và hòa giải, nhằm bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan.

Theo Khoản 2 Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022, nhãn hiệu tập thể cần duy trì mức độ uy tín tối thiểu để tránh bị ảnh hưởng xấu Trong trường hợp xấu nhất, nhãn hiệu có thể bị chấm dứt hiệu lực bảo hộ nếu chủ sở hữu không kiểm soát hiệu quả việc sử dụng nhãn hiệu Do đó, Luật SHTT Việt Nam đã quy định hạn chế chuyển quyền đối với nhãn hiệu tập thể nhằm giảm thiểu các hậu quả pháp lý có thể xảy ra.

Theo Luật SHTT 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019), nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu nhìn thấy dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố này, có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Luật SHTT 2022 đã sửa đổi khoản 1 Điều 72, bổ sung nhãn hiệu âm thanh vào danh sách các loại nhãn hiệu được bảo hộ, với điều kiện nhãn hiệu âm thanh phải là tệp âm thanh và có bản thể hiện dưới dạng đồ họa.

Theo luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, nhãn hiệu hàng hóa và dịch vụ chỉ được bảo hộ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện, bao gồm việc là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố này.

71 Điểm đ khoản 1 Điều 95 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

72 Điều 72 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009,2019

Theo Khoản 2 Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, yếu tố này được thể hiện thông qua một hoặc nhiều màu sắc hoặc dấu hiệu âm thanh, và có thể được trình bày dưới dạng đồ họa.

Theo hiệp định CPTPP, không bên nào được yêu cầu dấu hiệu phải nhìn thấy được để đăng ký, và không bên nào có quyền từ chối đăng ký nhãn hiệu chỉ vì dấu hiệu đó là âm thanh Các bên cũng cần nỗ lực để đăng ký nhãn hiệu mùi, có thể yêu cầu bản mô tả hoặc đồ họa của nhãn hiệu Luật SHTT sửa đổi bổ sung 2022 đã công nhận dấu hiệu âm thanh trong danh sách các dấu hiệu được bảo hộ, cho thấy sự phù hợp của pháp luật SHTT Việt Nam với hiệp định CPTPP.

Theo hiệp định TRIPS, nhãn hiệu bao gồm các yếu tố như từ ngữ, chữ cái, chữ số, hình hoạ và màu sắc, có khả năng đăng ký làm nhãn hiệu hàng hoá Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa công nhận “chữ số” trong khái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu được định nghĩa là dấu hiệu phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Do đó, “chữ số” có khả năng phân biệt khi kết hợp với các yếu tố khác như chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, tạo nên nhãn hiệu dễ nhận biết và dễ ghi nhớ.

Theo Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN, "chữ số" được xác định là một dấu hiệu của nhãn hiệu, như quy định tại khoản 1 điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

74 Khoản 1 điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

75 Điều 18.18 Hiệp định CPTPP về Loại dấu hiệu có thể đăng ký làm nhãn hiệu

76 Điều 15 Hiệp định TRIPs Về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

77 Khoản 1 điều 72 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

Theo Khoản 2 Điều 74 của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005, đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, hiện đang tồn tại sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật SHTT về định nghĩa và nội hàm của nhãn hiệu.

2.1.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo quy định của Luật SHTT 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022), nhãn hiệu bao gồm các dấu hiệu như chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều, hoặc sự kết hợp của các yếu tố này, cùng với dấu hiệu âm thanh Tuy nhiên, dấu hiệu “chữ số” không được công nhận là một phần của nhãn hiệu Mặc dù vậy, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN lại quy định rằng “chữ số” có thể được xem là dấu hiệu của nhãn hiệu, với điều kiện nếu sử dụng chữ số không phải là chữ số Ả-rập hoặc La Mã, thì phải chuyển đổi sang chữ số Ả-rập Việc sử dụng chữ số Ả-rập hoặc La Mã trong nhãn hiệu giúp đảm bảo tính phân biệt giữa hàng hóa và dịch vụ của các chủ thể khác nhau.

Có sự không thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên quan đến nhãn hiệu Tác giả đề xuất bổ sung "chữ số" vào điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ để đảm bảo sự đồng bộ với Hiệp định.

79 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN quy định như sau:

“37.4 Yêu cầu đối với tờ khai

(iv) Nếu nhãn hiệu có chứa chữ số không phải là chữ số Ả-rập hoặc chữ số Lamã thì phải dịch ra chữ số Ả-rập

39.2 Đánh giá sự phù hợp giữa đối tượng nêu trong đơn đăng ký nhãn hiệu và yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu a) Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Sở hữu trí tuệ, dấu hiệu được đăng ký với danh nghĩa là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định

39.3 Đánh giá khả năng phân biệt của dấu hiệu dạng chữ viết, chữ số (sau đây gọi là “dấu hiệu chữ”) theo quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật Sở hữu trí tuệ b) Mặc dù là ký tự nguồn gốc La-tinh nhưng dấu hiệu chỉ bao gồm một chữ cái hoặc chỉ bao gồm chữ số, hoặc mặc dù có hai chữ cái nhưng không thể đọc được như một từ - kể cả khi có kèm theo chữ số; trừ trường hợp các dấu hiệu đó được trình bày dưới dạng đồ họa hoặc dạng đặc biệt khác;”

80 Điểm iv khoảng 37.4 điều 37 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN

TRIPS đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật, giúp pháp luật sở hữu trí tuệ (SHTT) Việt Nam phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

2.2.1 Thực trạng pháp luật về nội dung hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Theo Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022 thì hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có những nội dung sau:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cần có các thông tin quan trọng như tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên nhận quyền, căn cứ chuyển giao quyền sử dụng, dạng hợp đồng, phạm vi chuyển giao bao gồm giới hạn quyền sử dụng và lãnh thổ, thời hạn hợp đồng, giá chuyển nhượng quyền sử dụng, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Nhãn hiệu là một đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp, do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cần tuân thủ các nội dung này.

Để đảm bảo hiệu quả trong việc giao kết hợp đồng, các bên cần cung cấp tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền Đồng thời, việc xác minh tính chính xác của thông tin đối tác là điều cần thiết.

81 Khoản 1 điều 144 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

Căn cứ chuyển giao quyền sử dụng bao gồm văn bằng bảo hộ đã cấp cho bên chuyển quyền, quyết định đăng ký nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền Điều này đảm bảo sự tồn tại của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được bảo hộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Dạng hợp đồng là điều khoản quan trọng xác định loại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu mà hai bên ký kết, bao gồm hợp đồng độc quyền, không độc quyền hoặc hợp đồng thứ cấp.

Phạm vi chuyển giao quyền sử dụng bao gồm việc xác định rõ giới hạn quyền sử dụng và lãnh thổ Điều này giúp bên nhận chuyển quyền hiểu rõ các hành vi sử dụng mà họ được phép thực hiện và khu vực quốc gia nào có thể áp dụng Việc xác định này là cơ sở để hai bên thỏa thuận về giá và phương thức chuyển giao Giới hạn lãnh thổ được hiểu là khu vực mà bên nhận chuyển giao có quyền sử dụng nhãn hiệu bảo hộ, đảm bảo không xâm phạm quyền lợi của bên chuyển giao và bên thứ ba, có thể là trong một quốc gia hoặc nhiều quốc gia tùy theo thỏa thuận giữa các bên.

Hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cần xác định rõ ràng thời hạn, không vượt quá thời gian bảo hộ nhãn hiệu hoặc thời hạn hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền Khi hết thời hạn hợp đồng, bên nhận chuyển giao có thể yêu cầu ký kết hợp đồng mới, và thời hạn của hợp đồng mới cũng phải tuân thủ quy định về bảo hộ nhãn hiệu hoặc thời hạn chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền.

Giá chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là yếu tố thiết yếu trong hợp đồng chuyển nhượng, phụ thuộc vào độ nổi tiếng của nhãn hiệu và lợi nhuận dự kiến của bên nhận Việc định giá này thuộc quyền tự do của các bên liên quan và không bị pháp luật can thiệp, tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận linh hoạt trong quá trình kinh doanh.

Quyền của bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu chính là quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu có các quyền đặc thù cơ bản sau:

Thứ nhất, nhận phí chuyển giao theo mức và cách thức do các bên thỏa thuận

Các bên có quyền ngăn chặn việc bên được chuyển quyền chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên thứ ba, trừ khi có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu độc quyền được ký kết.

Bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có quyền kiểm tra chất lượng hàng hóa và dịch vụ để đảm bảo chúng đạt yêu cầu tương tự như sản phẩm do chính bên đó sản xuất Hành động này không chỉ giúp người tiêu dùng tiếp cận hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao mà còn bảo vệ uy tín của nhãn hiệu bên chuyển giao.

Bên chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có các nghĩa vụ sau đây:

Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu chỉ được thực hiện trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật Đối với nhãn hiệu sở hữu chung, bên chuyển quyền chỉ có thể chuyển nhượng phần quyền của mình nếu nhận được sự đồng ý từ các đồng sở hữu khác Nếu một hoặc một số đồng sở hữu không đồng ý nhưng không có lý do chính đáng để từ chối, họ vẫn không thể ngăn cản việc chuyển giao quyền sử dụng.

Đảm bảo rằng việc chuyển giao quyền sử dụng không gây tranh chấp với bên thứ ba là rất quan trọng Nếu xảy ra tranh chấp với các chủ thể khác, cần giải quyết vấn đề này một cách hợp lý, ưu tiên lợi ích của bên nhận chuyển giao quyền.

Bên chuyển giao quyền không được đưa ra các điều khoản cấm hoặc hạn chế quyền của bên nhận chuyển giao, đặc biệt là những điều không thuộc quyền của bên chuyển giao, như việc hạn chế xuất khẩu sản phẩm sản xuất theo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu sang các vùng lãnh thổ mà bên chuyển quyền không sở hữu nhãn hiệu hoặc không có quyền độc quyền xuất khẩu hàng hóa Ngoài ra, bên chuyển quyền cũng không được yêu cầu bên nhận chuyển giao phải mua toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định nguyên liệu, linh kiện, thiết bị từ bên chuyển quyền hoặc từ nguồn do bên chuyển quyền chỉ định, trừ khi nhằm mục đích đảm bảo chất lượng dịch vụ hoặc hàng hóa.

Thứ tư, nộp thuế chuyển quyền sử dụng theo pháp luật về thuế

Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có các quyền sau đây:

Thứ nhất, sử dụng nhãn hiệu độc quyền hoặc không độc quyền trong phạm vi, thời hạn và điều kiện ghi trong hợp đồng

Trong trường hợp chuyển quyền sử dụng độc quyền, bên nhận quyền có thể chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho bên thứ ba thông qua hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thứ cấp, nhưng cần có sự cho phép từ chủ sở hữu nhãn hiệu.

Bên nhận chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ:

Thứ nhất, trả phí cho bên chuyển giao quyền theo mức và theo sự thỏa thuận về phương thức thanh toán;

Thứ hai, chịu sự kiểm tra về chất lượng dịch vụ, hàng hóa của bên chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nếu các bên có thỏa thuận;

Thứ ba, ghi chỉ dẫn trên sản phẩm, bao bì sản phẩm về việc sản phẩm được sản xuất theo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

82 Điểm c khoản 2 điều 144 Luật SHTT sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu không được phép chứa các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên nhận chuyển giao, đặc biệt là những điều không liên quan đến quyền của bên chuyển giao Ví dụ, không được yêu cầu bên nhận chuyển giao phải chuyển giao miễn phí các cải tiến về sở hữu công nghiệp mà họ tạo ra, hay hạn chế xuất khẩu hàng hóa sang các khu vực không thuộc quyền sở hữu của bên chuyển giao Ngoài ra, bên nhận chuyển giao không nên bị buộc phải mua nguyên liệu hoặc thiết bị từ bên chuyển giao mà không có lý do bảo đảm chất lượng, cũng như không bị cấm khiếu kiện về hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp của bên chuyển giao.

Khi hai bên tham gia thỏa thuận hợp đồng, họ có thể bổ sung các điều khoản hợp pháp như điều kiện sửa đổi, đình chỉ, và vô hiệu hợp đồng Những điều khoản này giúp các bên chủ động điều chỉnh hợp đồng cho phù hợp với thực tế Các bên cần chú ý đến các trường hợp có thể dẫn đến việc chấm dứt hoặc đình chỉ hợp đồng, nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cả hai bên Việc thỏa thuận các điều khoản có lợi cho cả hai là cần thiết để tránh tình huống hợp đồng bị vô hiệu Mặc dù hợp đồng được xây dựng trên nguyên tắc trung thực và thiện chí, mâu thuẫn vẫn có thể xảy ra, do đó, việc thỏa thuận và giải quyết các vấn đề phát sinh là rất quan trọng.

Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

2.3.1 Thực trạng pháp luật về hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu

Thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là cần thiết nhưng không bắt buộc theo luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 Các bên có thể lựa chọn đăng ký hay không, nhưng để hợp đồng có hiệu lực với bên thứ ba, việc đăng ký là cần thiết Điều này đặt ra câu hỏi về khái niệm "bên thứ ba", bao gồm những chủ thể nào, giúp các bên đưa ra quyết định phù hợp Nếu bên thứ ba được hiểu là bất kỳ chủ thể nào ngoài bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao, thì việc đăng ký trở nên quan trọng để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng trong thực tế.

Pháp luật SHTT không định nghĩa rõ ràng về thuật ngữ "bên thứ ba", dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Bên thứ ba có thể là nhà cung ứng nguyên vật liệu, cơ quan giải quyết tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu, hoặc khách hàng sử dụng dịch vụ và hàng hóa từ bên nhận chuyển nhượng Việc liên quan đến bên thứ ba là điều khó tránh khỏi trong quá trình thực hiện hợp đồng, mặc dù thủ tục đăng ký không bắt buộc, nhưng thực tế lại cho thấy nó trở thành cần thiết do mọi hợp đồng đều có liên quan đến bên thứ ba Điều này tạo ra một cơ chế hành chính phức tạp và làm giảm tính tự nguyện của việc đăng ký.

Cụm từ “bên thứ ba” trong hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu chưa được định nghĩa rõ ràng bởi pháp luật Theo cách hiểu thông thường, “bên thứ ba” bao gồm các chủ thể liên quan như cơ quan giải quyết tranh chấp, khách hàng, và đối tác kinh doanh Điều này cho thấy rằng không có trường hợp nào thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu mà không có sự liên quan của bên thứ ba Mặc dù pháp luật quy định hợp đồng có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, để hợp đồng có giá trị pháp lý với bên thứ ba, cần thực hiện thủ tục đăng ký Thực tế cho thấy, hầu hết các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu đều có sự liên quan chặt chẽ đến bên thứ ba.

Luật sửa đổi bổ sung Luật SHTT 2019 đã loại bỏ yêu cầu đăng ký để hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu có hiệu lực với bên thứ ba Cụ thể, theo quy định mới, hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, ngoại trừ hợp đồng sử dụng nhãn hiệu, cần phải đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước để có giá trị pháp lý với bên thứ ba Sự thay đổi này được xem là bước tiến quan trọng, đáp ứng nhu cầu thực tế trong việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, khi luật công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng giữa hai bên mà không cần thông qua thủ tục đăng ký.

Hợp đồng chứa các điều khoản gây hạn chế quyền một cách bất hợp lý sẽ không có hiệu lực theo quy định của Luật SHTT 2005, đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019, và 2022 Luật này cấm bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao quyền thỏa thuận về các điều khoản hạn chế quyền của bên một cách trái pháp luật.

Theo Khoản 3 Điều 148 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005, được sửa đổi và bổ sung năm 2009 và 2019, việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu phải tuân thủ các quy định hợp pháp Nếu hợp đồng chứa các điều khoản hạn chế quyền của bên nhận chuyển nhượng một cách không hợp lý, những điều khoản đó sẽ tự động vô hiệu, dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu một phần Tuy nhiên, các phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực thi hành Do đó, các bên cần thận trọng trong việc soạn thảo hợp đồng để đảm bảo không có điều khoản nào hạn chế quyền một cách bất hợp lý, nhằm duy trì hiệu lực toàn bộ của hợp đồng.

Nếu bên chuyển nhượng quyền không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu sẽ bị vô hiệu Ngoài ra, nếu bên chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu là bên nhận chuyển quyền với hợp đồng độc quyền và tiến hành chuyển nhượng cho tổ chức hoặc cá nhân khác mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, hợp đồng đó cũng sẽ bị vô hiệu.

Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu phát sinh từ việc đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chủ sở hữu nhãn hiệu là người duy nhất có quyền quyết định việc chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu cho tổ chức, cá nhân khác Nếu bên chuyển nhượng chưa có văn bằng bảo hộ nhưng vẫn ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng, hợp đồng này sẽ vô hiệu, dẫn đến bên nhận chuyển nhượng không có quyền sử dụng nhãn hiệu Tình huống này có thể gây ra tranh chấp nếu nhãn hiệu được chuyển nhượng trùng lặp.

91 Khoản 2 Điều 142 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

Theo Khoản 3 Điều 142 và Khoản 3 Điều 143 của Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) năm 2005, đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019, và 2022, việc nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác có thể xảy ra Do đó, trước khi ký kết hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, bên nhận chuyển giao cần xác minh quyền sở hữu nhãn hiệu của bên chuyển giao bằng cách kiểm tra tính hợp lệ của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ.

Luật SHTT 2005, được sửa đổi và bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, quy định rõ ràng về các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên nhận chuyển quyền trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Theo đó, các hợp đồng này không được phép bao gồm các điều khoản gây thiệt hại cho bên nhận chuyển quyền, đặc biệt là những điều khoản không xuất phát từ quyền của bên chuyển quyền Cụ thể, luật cấm các điều khoản yêu cầu bên nhận chuyển quyền phải chuyển giao miễn phí các cải tiến do họ tạo ra, hạn chế xuất khẩu hàng hóa sang các vùng lãnh thổ không thuộc quyền sở hữu của bên chuyển quyền, buộc bên nhận chuyển quyền phải mua nguyên liệu hoặc thiết bị từ bên chuyển quyền mà không nhằm đảm bảo chất lượng, và cấm bên nhận chuyển quyền kiện về hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam bảo vệ quyền lợi của bên nhận chuyển quyền và duy trì sự cạnh tranh công bằng trên thị trường, ngăn chặn lạm dụng quyền độc quyền của bên chuyển quyền.

93 Khoản 2 Điều 144 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022

Luật SHTT Việt Nam quy định các điều khoản hạn chế quyền của bên nhận chuyển giao, với ưu điểm là liệt kê chi tiết những điều khoản không được phép trong hợp đồng, tạo cơ sở cho việc soạn thảo và đánh giá hiệu lực hợp đồng trong tranh chấp Tuy nhiên, nhược điểm là chỉ liệt kê, dẫn đến danh sách đóng, không bao quát hết các điều khoản có thể gây hạn chế quyền hợp pháp Trong thực tế, bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao có thể thỏa thuận những điều khoản không được nêu trong luật, xâm phạm quyền lợi của bên nhận chuyển quyền và ảnh hưởng đến thị trường cạnh tranh Sự tồn tại của những điều khoản này, mặc dù không được liệt kê, gây thiệt hại cho quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng và khách hàng, cho thấy sự thiếu sót lớn trong pháp luật SHTT và hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu.

2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Theo quy định tại khoản 2 Điều 144 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung năm

Các quy định từ năm 2009, 2019 và 2022 về việc hạn chế quyền của bên nhận chuyển quyền trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi của họ khỏi các điều khoản bất hợp lý Những điều khoản này chi tiết liệt kê những điều mà bên chuyển quyền không được phép áp đặt, giúp bảo vệ quyền lợi của bên nhận chuyển quyền Tuy nhiên, nhược điểm của quy định là phương pháp liệt kê không thể dự liệu hết các trường hợp có thể xảy ra, dẫn đến khả năng bên chuyển quyền vẫn có thể áp đặt các điều khoản hạn chế bất hợp lý Do đó, cần có quy định mở hơn để đảm bảo quyền lợi của bên nhận chuyển quyền được bảo vệ hợp pháp.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 144 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung

Vào các năm 2009, 2019 và 2022, pháp luật chỉ cấm bên chuyển quyền hạn chế việc xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của bên nhận chuyển quyền mà không xem xét đến các hành vi khác như nhập khẩu, lưu thông, chào bán và quảng cáo, những hành vi này cũng được coi là sử dụng nhãn hiệu Quy định này nhằm bảo vệ bên nhận chuyển quyền khỏi các hạn chế không hợp lý từ bên chuyển quyền Tác giả đề xuất nên mở rộng các hành vi bị cấm, yêu cầu bên chuyển quyền không được "trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tại các vùng lãnh thổ không phải là nơi mà bên chuyển quyền nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp tương ứng hoặc có độc quyền sử dụng hàng hóa đó."

Theo điểm b khoản 2 điều 144 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005, đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 2009, 2019 và 2022, việc hạn chế bên được chuyển quyền xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ theo hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là không được phép Cụ thể, bên chuyển quyền không được trực tiếp hoặc gián tiếp ngăn cản việc xuất khẩu sang các vùng lãnh thổ mà bên này không nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp tương ứng hoặc không có độc quyền nhập khẩu hàng hóa.

95 Khoản 5 điều 124 Luật SHTT 2005 sửa đổi bổ sung 2009, 2019, 2022

Chương hai của luận văn tập trung vào việc phân tích thực trạng quy định pháp luật liên quan đến đối tượng, nội dung và hiệu lực của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu Qua phân tích này, kết hợp với các lý luận đã trình bày ở chương một, luận văn chỉ ra những bất cập trong các quy định hiện hành về đối tượng, nội dung và hiệu lực của hợp đồng.

Ngày đăng: 16/12/2024, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hà Thị Nguyệt Thu (2009), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005, luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005
Tác giả: Hà Thị Nguyệt Thu
Năm: 2009
8. Bùi Thị Hải Như (2009), Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hải Như
Năm: 2009
9. Nguyễn Thanh Tùng (2013), Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Đại Học Quốc Gia Hà Nội – Khoa luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Tùng
Năm: 2013
10. Bùi Thị Minh (2015), Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài, luận văn thạc sĩ, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài
Tác giả: Bùi Thị Minh
Năm: 2015
11. Trần Chí Thành (2016), Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu từ thực tiễn tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Trần Chí Thành
Năm: 2016
12. Lưu Đức Anh (2016), Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lưu Đức Anh
Năm: 2016
13. Hà Thị Nguyệt Thu (2017), Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam, luận án tiến sĩ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Nguyệt Thu
Năm: 2017
14. Nguyễn Thị Thủy (2018), Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở việt nam hiện nay, luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ nhãn hiệu theo pháp luật sở hữu trí tuệ ở việt nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thủy
Năm: 2018
15. Trần Thị Thanh Huyền (2021), Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử, luận án tiến sĩ, Trường đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong thương mại điện tử
Tác giả: Trần Thị Thanh Huyền
Năm: 2021
1. Hiệp định TRIPS – Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ 1994 Khác
2. Hiệp định CPTPP – Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Khác
3. Chỉ thị 2008/95/EC của nghị viện Châu Âu và Hội đồng liên minh Châu Âu 4. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 Khác
1. Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (2010), Nhà xuất bản Hồng Đức, Trường đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Khác
2. Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014), Điều khoản kiểm soát chất lượng trong hợp đồng li-xăng nhãn hiệu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 23(279), 33 – 42 Khác
3. Nguyễn Thị Hạnh Lê (2014), Pháp luật Liên minh châu Âu về hợp đồng li- xăng nhãn hiệu và một số bài học kinh nghiệm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 6(262), 22-30 Khác
4. Hoàng Lan Phương (2019), Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những những khuyến nghị cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 12(388) T6/2019, 57-63 Khác
5. Hoàng Lan Phương (2019), Pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: Những bất cập cần khắc phục, Tạp chí Khoa học & công nghệ Việt Nam, 61(10), 29 – 33 Khác
6. Phan Quốc Nguyên, Đinh Thảo Chi, Lê Thị Thanh & Kiều Diệu Ngân (2022), Hoàn thiện luật sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thị trường chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 02 + 03 (450+451), 12-21 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN