Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa dưới góc nhìn của pháp luật sở hữu trí tuệ” để đi sâu vào phân tích, đánh giá những quy định pháp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA LUẬT KINH TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA DƯỚI GÓC NHÌN CỦA
PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
GVHD: THS NGUYỄN PHAN PHƯƠNG TẦN SVTH: NGUYỄN NGỌC THÙY DƯƠNG MSSV: K175011341
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi, tác giả của khóa luận “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
KHOA LUẬT KINH TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA DƯỚI GÓC NHÌN CỦA
PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
GVHD: THS NGUYỄN PHAN PHƯƠNG TẦN SVTH: NGUYỄN NGỌC THÙY DƯƠNG MSSV: K175011341
TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi, tác giả của khóa luận “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa dưới góc nhìn của pháp luật sở hữu trí tuệ” xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, từ sự tìm tòi, thu thập và vận dụng các lý thuyết, dữ liệu và thông tin đã được công bố dưới sự hướng dẫn tận tình của Ths Nguyễn Phan Phương Tần Các nội dung, kết quả trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố dưới bất
kỳ hình thức nào trước đây Các số liệu, kết quả nghiên cứu, quan điểm học thuật cũng như ý tưởng và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, nếu có đều được tôn trọng và trích dẫn nguồn cụ thể
Tôi xin đảm bảo về những lời cam đoan trên, nếu sai sẽ chịu trách nhiệm theo quy chế của nhà trường và pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam
Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 05 năm 2021
Người cam đoan
Nguyễn Ngọc Thùy Dương
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CPTPP Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 5
8 Bố cục chi tiết bài báo cáo 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 7
1.1 Tổng quan về nhãn hiệu 7
1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu 8
1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu 12
1.1.3 Phân loại nhãn hiệu 15
1.1.4 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu 26
1.1.5 Nội dung quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa 28
1.2 Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 36
1.2.1 Khái niệm chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 36
1.2.2 Đặc điểm của chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 37
1.2.3 Lợi ích của hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 38 1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu 40
Kết luận chương 1 42
Trang 7CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ
DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA 44
2.1 Điều ước quốc tế 44
2.1.1 Công ước Paris 1883 về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 44
2.1.2 Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến Quyền sở hữu trí tuệ 1994 46
2.1.3 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 47
2.2 Pháp luật Việt Nam 48
2.2.1 Pháp luật Việt Nam trước 2006 48
2.2.2 Pháp luật Việt Nam từ 2006 đến nay 54
2.3 Pháp luật nước ngoài 61
2.3.1 Pháp luật Trung Quốc 61
2.3.2 Pháp luật Hoa Kỳ 63
2.3.3 Pháp luật Singapore 64
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 67
3.1 Tình hình việc sử dụng nhãn hiệu và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam 67
3.2 Một số khó khăn trong việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 70
3.2.1 Vấn đề xác định giá trị của nhãn hiệu được chuyển giao 71
3.2.2 Vấn đề kiểm soát chất lượng hàng hóa gắn với nhãn hiệu 74
3.2.3 Vấn đề nội dung của hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa 78
Trang 83.3 Một số giải pháp khắc phục cho hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn
hiệu hàng hóa 80
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC – BIỂU ĐỒ 91
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với nhu cầu phát triển nền kinh tế, xã hội, nhất là trong bối cảnh hội nhập
và sự phát triển mạnh mẽ của tài sản vô hình thì chế định pháp luật đối với lĩnh vực
sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng vai trò quan trọng Nhằm bảo vệ các quyền về SHTT, thúc đẩy sự sáng tạo của con người, Việt Nam đã hoàn thành và hoàn thiện chế định pháp luật về tài sản trí tuệ, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động SHTT cũng như sở hữu công nghiệp (SHCN) mà đặc biệt là hoạt động chuyển quyền sử dụng quyền SHCN Trong những năm gần đây, việc tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã tạo cho Việt Nam những bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện
hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền SHTT theo những chuẩn mực đã được quy định bởi WTO, đánh dấu vai trò của hoạt động chuyển quyền SHCN đối với sự phát triển kinh tế Một trong những hoạt động chuyển quyền SHCN được qua tâm đó chính là hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, nhất là trong bối cảnh việc gây dựng sức ảnh hưởng cho một thương hiệu trên thị thường rất khó khăn khi mà nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng khắt khe
Hoạt động chuyển quyền sử dụng quyền SHCN nói chung và nhãn hiệu hàng hóa nói riêng (sau đây gọi là nhãn hiệu), từ lâu đã được quy định trong Bộ luật dân
sự, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) và các nghị định, thông tư hướng dẫn về quyền SHCN Việc quy định rải rác các quy định sẽ gây ra nhiều bất cập trong việc áp dụng pháp luật như có nhiều cách hiểu và thực hiện pháp luật khác nhau cho cùng một vấn
đề, cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội kéo theo sự không phù hợp của pháp luật với thực tiễn Với việc hội nhập toàn cầu và nhu cầu phát triển kinh tế, hoạt động chuyển giao công nghệ sẽ diễn ra mạnh mẽ, nhất là đối với các nước hạn chế về
phát triển công nghệ Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Chuyển giao quyền
sử dụng nhãn hiệu hàng hóa dưới góc nhìn của pháp luật sở hữu trí tuệ” để đi
sâu vào phân tích, đánh giá những quy định pháp luật về nội dung trên với mục đích góp phần giải quyết một số bất cập và đưa ra những đóng góp để hoàn thiện chế định pháp luật Việt Nam về hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề về quyền SHCN nói chung và chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu nói riêng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam trong những năm gần đây, do đó, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này
Thứ nhất, “Phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam” (2016)_tác giả Lưu Đức Anh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật – Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu những lý luận chung về quyền SHCN, nhãn hiệu, phạm vi bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu, đồng thời, phân tích, đánh giá thực tiễn xâm phạm đến phạm vi quyền SHCN đối với nhãn hiệu cũng như những quy định của pháp luật Việt Nam về phạm vi bảo hộ nhãn hiệu, từ
đó, có một số đóng góp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phạm vi bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu Tuy nhiên, luận văn chỉ nghiên cứu về một đối đượng của quyền SHCN là nhãn hiệu, tập trung vào phạm vi bảo hộ theo pháp luật Việt Nam
mà không đề cập đến vấn đề chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, cũng như chưa phân tích, đánh giá được các quy định của pháp luật nước ngoài về bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu Đề tài sẽ kế thừa một số nội dung như những lý luận về nhãn hiệu
và quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Thứ hai, “Chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam” (2015)_tác giả Trần Khánh Ly, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu những lý luận chung về quyền SHCN, quyền sử dụng các đối tượng SHCN, thực trạng và hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN, đồng thời phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia khác về quyền SHCN và góp phần hoàn thiện pháp luật về chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN Tuy nhiên, phạm
vi luận văn nghiên cứu việc chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng SHCN, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng SHCN mà chưa chuyên sâu vào một đối tượng cụ thể Đề tài sẽ kế thừa một số nội dung như lý luận chung về quyền SHCN, quyền sử dụng các đối tượng SHCN,
Trang 11hợp đồng chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN và khái quát pháp luật của một
số quốc gia về chuyển quyền sử dụng các đối tượng SHCN
Thứ ba, “Hợp đồng li-xăng nhãn hiệu hàng hóa trong thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước Ngoài” (2015)_tác giả Bùi Thị Minh, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã nghiên cứu những lý luận về nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (li-xăng nhãn hiệu), thực trạng thực hiện hợp đồng li-xăng thông qua phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục cho quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng li-xăng nhãn hiệu ở Việt Nam Tuy nhiên, luận văn chỉ mới nghiên cứu về một đối tượng của quyền SHCN thông qua khía cạnh hợp đồng li-xăng Do
đó, đề tài sẽ kế thừa một số nội dung lý luận về nhãn hiệu, hợp đồng li-xăng nhãn hiệu và quy định của một số quốc gia về nhãn hiệu
Thứ tư, “Pháp luật Liên minh Châu Âu về hợp đồng li-xăng nhãn hiệu và một
số bài học kinh nghiệm”_tác giả Nguyễn Thị Hạnh Lê, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
số 5(261), năm 2014 Bài viết tập trung nghiên cứu lý luận về nhãn hiệu, hợp đồng li-xăng nhãn hiệu theo pháp luật Liên minh Châu Âu, từ đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam về hợp đồng li-xăng nhãn hiệu Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào khía cạnh hợp đồng li-xăng nhãn hiệu theo pháp luật Liên minh Châu Âu Do đó, đề tài sẽ kế thừa những nội dung về lý luận về nhãn hiệu, hợp đồng li-xăng nhãn hiệu cùng những quy định của pháp luật Liên minh Châu Âu
Thứ năm, “Pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu và những khuyến nghị cho Việt Nam”_tác giả Hoàng Lan Phương, Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp số 12(388), năm 2019 Bài viết tập trung nghiên cứu pháp luật quốc tế về nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu cũng như hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, từ đó, đưa ra những kiến nghị cho pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào pháp luật quốc tế, chưa làm rõ thực trạng cũng như pháp luật Việt Nam
về chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Do đó, đề tài sẽ kế thừa những lý luận
Trang 12về nhãn hiệu, quyền sử dụng nhãn hiệu và những quy định của pháp luật quốc tế về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
Thứ sáu, “Pháp luật về hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam và Hoa Kỳ dưới góc nhìn so sánh”_tác giả Hồ Thúy Ngọc, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, số 7(315), năm 2014 Bài viết tập trung nghiên cứu lý luận về quyền SHCN, thực trạng hợp đồng chuyển giao quyền SHCN thông qua việc so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao quyền SHCN dưới góc độ pháp luật Việt Nam và Hoa
Kỳ thông qua việc so sánh Do đó, đề tài sẽ kế thừa một số nội dung về lý luận quyền SHCN, hợp đồng chuyển giao quyền SHCN cùng với những quy định của pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ về chuyển giao quyền SHCN
Vì vậy, bài báo cáo sẽ kế thừa một số nội dung trên khi phân tích các quan điểm pháp lý cũng như các quy định của pháp luật về nhãn hiệu, quyền đối với nhãn hiệu, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu và hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu ở Chương 1 và Chương 2, đồng thời nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu hơn về hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ở Chương 3
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của bài báo cáo là phân tích, làm rõ các vấn lý luận về khái niệm, đặc điểm, bản chất của nhãn hiệu và hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh và thực tiễn áp dụng pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu Từ đó, tìm ra những bất cập trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật, đồng thời đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật trong việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
4 Đối tượng nghiên cứu
Trong bài báo cáo này, tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá, bình luận những
lý luận chung về các vấn đề liên quan đến chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp
Trang 13luật Việt Nam Đồng thời nghiên cứu những quy định của Điều ước quốc tế cũng như pháp luật nước ngoài về hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, kết hợp với phân tích, so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó đúc kết các kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật Việt Nam
5 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu giữa các chủ thể trong cả nước tại Việt Nam, các hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu trước và sau khi pháp luật về sở hữu trí tuệ có hiệu lực
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu dưới góc nhìn của pháp luật sở hữu trí tuệ”, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên
cứu so sánh, thực hiện so sánh những quy định của pháp luật Việt Nam với các quốc gia trên thế giới khác Ngoài ra, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân tích số liệu thứ cấp, cũng như việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn để làm rõ những bất cập phát sinh khi áp dụng pháp luật vào hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu
7 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay, việc chuyển giao công nghệ đặc biệt là chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu là hoạt động ngày càng chiếm
ưu thế bởi việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa sẽ nhanh chóng làm tăng sự tiếp cận của người tiêu dùng đến hàng hóa đó, hình thành thị phần và thu lợi nhuận nhanh hơn Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế cũng như việc tham gia vào các tổ chức thế giới như WTO, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) bắt buộc Việt Nam phải điều chỉnh pháp luật để phù hợp với các hiệp định về lĩnh vực pháp luật SHTT Từ đó, những vấn đề hạn chế đã xảy
Trang 14ra, khi mà việc việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu còn khá mới mẻ, các quy định của pháp luật kế thừa và thiết lập chưa lường trước được các bất cập thực tế có thể xảy ra đối với bên chuyển giao và nhận chuyển giao Vì vậy, những phân tích, bình luận về thực trạng, bất cập cũng như kiến nghị, đề xuất của bài nghiên cứu này
có thể góp phần vận dụng vào thực tiễn, góp phần đảm bảo hoàn thiện và thực thi pháp luật về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa
8 Bố cục chi tiết bài báo cáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài nghiên cứu báo cáo thực tập còn được cấu thành bởi 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa Chương 2: Các quy định của pháp luật về chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa Chương 3: Thực trạng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa theo pháp luật Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Trang 15NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÃN HIỆU VÀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU HÀNG HÓA
1.1 Tổng quan về nhãn hiệu
Nhãn hiệu hàng hóa đã trải qua một lịch sử phát triển khá dài trong suốt quá trình phát triển của nền thương mại thế giới Từ thời La Mã cổ đại, việc các nhà sản xuất chạm nổi hay đóng dấu lên các sản phẩm của mình là khá phổ biến Đó là một hình thức thể hiện của nhãn hiệu hàng hóa, qua những hình thể chạm nổi hay các con dấu mà họ có thể phân biệt xuất xứ hàng hóa của các nhà sản xuất với nhau.1 Không chỉ vậy, từ lâu, con người đã biết sử dụng nhãn hiệu để đánh dấu lên các đồ vật như một nét riêng của bản thân Việc xây dựng nhãn hiệu như là một tập quán cổ xưa, đã được chứng minh bởi các tên riêng và những dấu hiệu được tìm thấy trên các gạch, chậu, 2 Tuy nhiên, trong giai đoạn đó, việc để lại các dấu tích chỉ mang tính chất cá nhân, để cho mọi người đều biết về chủ sở hữu của đồ vật đó, chứ không mang tính chất cạnh tranh hay tiếp cận việc mua bán Đến nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, việc mua bán, trao đổi hàng hóa ngày càng sôi nổi và mạnh mẽ, các chủ thể kinh doanh càng chú ý đến chất lượng, sự nổi tiếng của hàng hóa mang nhãn hiệu cũng như các lợi ích có thể mang lại thông qua nhãn hiệu hàng hóa của mình Khi thị trường càng có mức độ cạnh tranh cao, hàng hóa mang nhãn hiệu của các chủ thể kinh doanh ngày càng có sự phân biệt về mức độ phổ biến khi tiếp cận với người tiêu dùng Thông qua đó, nhãn hiệu hàng hóa cũng sẽ có những giá trị khác nhau, cùng với sự xuất hiện của hàng loạt các nhãn hiệu uy tín và dần trở nên phổ biến với người tiêu dùng
1 Phan Ngọc Tâm, Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật châu Âu và Hoa Kỳ, Tạp chí Khoa học pháp lý
số 4/2006
2 Garner, Bryan A., and Henry Campbell Black Black's Law Dictionary 9th ed St Paul, MN: West, 2009,
page 213 “Branding is an ancient practice, evidenced by individual names and marks found on bricks,
pots,etc”
Trang 161.1.1 Khái niệm nhãn hiệu
Có thể thấy rằng, nhãn hiệu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đánh dấu sự sở hữu hàng hóa mà còn kết nối giữa các chủ thể kinh doanh và người dùng hàng hóa Bởi lẽ, nhãn hiệu sẽ để lại ấn tượng đầu tiên cho người dùng khi họ tiếp cận đến sản phẩm và dần dần hàng hóa mang nhãn hiệu đó sẽ trở thành một món hàng hóa không thể thiếu trong thói quan tiêu dùng của họ Ngày nay, nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng một cách phổ biến hơn với nhiều thể loại hơn Và nó là một hình thức rất có giá trị của quyền sở hữu trí tuệ bởi vì nó gắn liền với chất lượng cũng như sự mong đợi của người tiêu dùng đối với hàng hóa và dịch vụ.3 Nói đến khái niệm nhãn
hiệu, từ lâu, trong từ điển Tiếng việt đã có định nghĩa nhãn hiệu là “dấu hiệu riêng của nơi sản xuất dán hoặc in trên mặt hàng” 4 Có thể thấy được, theo từ điển Tiếng việt thì để được xem là nhãn hiệu, trước hết, đó phải là một dấu hiệu riêng của nơi sản xuất, tức là dấu hiệu do bên sản xuất tự nghĩ ra hay sáng tạo ra dựa trên nền tảng của những cái khác Ngoài ra, dấu hiệu đó phải được dán hoặc in trên mặt hàng mà mình muốn bán, tức là nhà sản xuất có mục đích muốn đứa hàng hóa của mình ra thị trường tiêu dùng thông qua dấu hiệu riêng đó để mọi người biết đến Để làm rõ hơn
về “dấu hiệu”, từ điển Tiếng việt cũng đã đề cập dấu hiệu là “Dấu dùng để làm hiệu cho biết điều gì” 5 Ở đây, dấu hiệu có thể hiểu là những gì có thể làm cho con người nhận biết được một sự vật, hiện tượng nào đó, thông qua các giác quan của con người
Do vậy, theo từ điển Tiếng việt, nhãn hiệu có thể hiểu là những dấu hiệu riêng của nhà sản xuất được in hoặc dáng trên hàng hóa của họ, mà thông qua các giác quan của mình, người tiêu dùng có thể nhận biết được hàng hóa của nhà sản xuất
Bên cạnh đó, dưới góc độ luật học, theo từ điển Luật học, nhãn hiệu được hiểu
là “Một từ, cụm từ, biểu trưng hoặc biểu tượng đồ họa khác được người bán hoặc nhà sản xuất sử dụng để phân biệt hàng hóa của mình hoặc hoặc hàng hóa từ những
3 David I Bandbride (1999), “Intellectual Property”, London, tr 521
4 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 704
5 Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr 205
Trang 17chủ thể khác”6 Với cách tiếp cận này, từ điển đã cho thấy rõ nhãn hiệu bao gồm một
từ, cụm từ, biểu trưng hoặc biểu tượng đồ họa, tức là để dấu hiệu nào đó được xem
là nhãn hiệu thì cần phải nhìn thấy được Dấu hiệu này phải được người bán hoặc nhà sản xuất sử dụng với mục đích phân biệt hàng hóa của mình với hàng hóa của các đối thủ cạnh trạnh trên thị trường Chủ sở hữu nhãn hiệu ở đây bao gồm cả người bán và nhà sản xuất, tức là với một chủ thể không tự mình tạo ra sản phẩm như mua lại, phân phối, vẫn có thể có nhãn hiệu riêng của mình để đưa sản phẩm ra thị trường Ngoài
ra, nếu chủ sở hữu có một dấu hiệu riêng cho hàng hóa của mình nhưng lại không có khả năng phân biệt với nhãn hiệu của hàng hóa của chủ thể khác trên thị trường thì
đó cũng không được xem là nhãn hiệu Bởi lẽ, mục đích của việc gắn nhãn hiệu vào hàng hóa là để phân biệt hàng hóa cho người tiêu dùng biết đến, việc trùng lắp nhãn hiệu sẽ không thể làm cho chủ thể đạt được mục đích này
Bên cạnh đó, khái niệm nhãn hiệu cũng được ghi nhận tại Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp 1883, sau đó là Hiệp định TRIPS được WTO ký kết năm 1945, 7 Theo Điều 15.1 của Hiệp định TRIPS thì nhãn hiệu được hiểu như sau “Bất
kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá” 8 Có thể thấy tại hiệp định TRIPS, phạm vi nhãn hiệu bao gồm bất cứ dấu hiệu nào, có thể là các dấu hiệu nhìn thấy được hoặc không nhìn thấy được, các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, chỉ cần có thể cảm nhận
6 Garner, Bryan A., and Henry Campbell Black Black's Law Dictionary 9th ed St Paul, MN: West, 2009,
pp 1630 “A word, phrase, logo, or other graphic symbol used by a manufacturer or seller to dis-tinguish its
product or products from those of others.”
7 Nguyễn Xuân Mỹ Hiền, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Huỳnh Thanh Thịnh, “Chế định đăng ký nhãn hiệu mùi
hương theo pháp luật Hoa Kỳ”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 05(108)/2017, tr 26
8 Artical 15.1 TRIPS Agreement 1994 “Any sign, or any combination of signs, capable of distinguishing the
goods or services of one undertaking from those of other undertak ings, shall be capable of constituting a trademark.”
Trang 18qua các giác quan và có khả năng phân biệt với hàng hóa khác thì đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá
Ngoài ra, các quốc gia thành viên của Cộng đồng Châu Âu (EU) cũng xây dựng những quy định về nhãn hiệu với mục đích hài hòa các quy định về nhãn hiệu khác nhau của các quốc gia thành viên Theo đó, tại Điều 2 Chỉ thị 89/104/EEC quy định
về nhãn hiệu “Một nhãn hiệu thương mại có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng được biểu thị bằng đồ họa, đặc biệt là các từ, bao gồm tên cá nhân, thiết kế, chữ số, chữ cái, hình dạng của hàng hóa hoặc bao bì của chúng, miễn là các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một chủ thể từ những chủ thể khác” 9 Có thể thấy, Cộng đồng Châu Âu quy định nhãn hiệu phải là dấu hiệu
nhìn thấy được (đồ họa) và có khả năng phân biệt với hàng hóa của chủ thể khác
Ở Hoa Kỳ, theo văn phòng sáng chế Hoa Kỳ thì nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu và / hoặc thiết kế để xác định và phân biệt nguồn gốc hàng hóa của một bên với nguồn hàng hóa của những bên khác10 Quy định trên cũng được quy định tại Đạo luật Lanham 1946 của Hoa Kỳ, theo đó, Hoa Kỳ cũng chấp nhận nhãn hiệu là những dấu hiệu hình thấy được như tên gọi, biểu tượng, hay sự kết hợp giữ các yếu tố đó
Tuy nhiên, tại Điều 2 Đạo luật này lại có quy định “Không có nhãn hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của người nộp đơn với những hàng hóa của những người khác lại bị từ chối đăng ký vào sổ đăng ký…” 11 Chính điều này đã cho thấy những dấu hiệu ngoài dấu hiệu nhìn thấy được vẫn được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu miễn
là dấu hiệu đó có khả năng phân biệt với hàng hóa của các chủ thể khác Việc mở rộng phạm vi nhãn hiệu của Hoa Kỳ là phù hợp với sự phát triển đa dạng và mạnh
mẽ của hàng hóa cũng như của nền kinh tế
9 Artical 2 First Council Directive 89/104/EEC of 21 Decamber 1988 to approximate the laws of the Member States relating to trade marks
10 https://www.uspto.gov/trademarks-getting-started/trademark-basics/trademark-patent-or-copyright
11 Artical 2 Lanham Act 1946 “No trademark by which the goods of the applicant may be distinguished from
the goods of others shall be refused registration on the principal register on account of its nature unless it”
Trang 19Trong khi đó, tại Việt Nam, nhãn hiệu được quy định tại khoản 16 Điều 4 Luật
SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009, 2019 “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Tuy nhiên, không phải bất
kỳ một dấu hiệu nào cũng có thể được xem là nhãn hiệu mà phải thỏa mãn các điều
kiện tại khoản 1 Điều 72 Luật này “dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” Theo đó, nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam
phải là nhãn hiệu có thể nhìn thấy được, có khả năng phân biệt với hàng hóa của các chủ thể khác
Như vậy, qua việc tìm hiểu các quy định về nhãn hiệu tại từ điển, pháp luật các quốc gia cũng như điều ước quốc tế, có thể thấy rằng, các quy định này không hoàn toàn giống nhau Hiệp định TRIPS quy định phạm vi của nhãn hiệu rất rộng, có thể
là dấu hiệu nhìn thấy được, hoặc không nhìn thấy được mà có thể cảm nhận thông qua các giác quan còn lại như mùi hương, mùi vị, âm thanh, đều có thể được xem
là nhãn hiệu nếu như chúng đáp ứng được điều kiện phân biệt hàng hóa của các chủ thể khác nhau Một nghiên cứu nổi tiếng của giáo sư Pavlov, người từng đoạt giải Nobel năm 1904 đã cho thấy, các dấu hiệu âm thanh thậm chí có thể vượt trội hơn so với các dấu hiệu khác khi tác động lên trí não của con người vì thính giác là cơ quan được cảm nhận tự nhiên hơn là các giác quan khác thường có sự chủ động của con người Các nghiên cứu cho thấy, một âm thanh êm ái có thể khiến con người dễ ngủ hơn, một âm thanh dễ chịu phát ra trong nhà hàng có thể kích thích vị giác và tiêu hóa thực phẩm cho người dùng… 12 Còn về pháp luật các quốc gia, hầu như quy định phạm vi nhãn hiệu hẹp hơn tùy vào điều kiện thực tế mà họ chấp nhận rằng dấu hiệu
đó là nhãn hiệu Song, nhã hiệu có thể nhìn thấy được (thể hiện dưới dạng đồ họa) được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, bởi lẽ do tính hữu hình của nó, dễ dàng ghi nhận, công bố và quản lý một cách khách quan, tránh sự mập mờ ở khả năng phân biệt so các dấu hiệu khác như mùi hương vì sự cảm nhận sự khác nhau của dấu
12 Nguyễn Khánh Linh (2020), “Thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và mùi ở các nước phát triển và gợi ý
cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 4/2020, tr.7
Trang 20hiệu này có thể mang tính chủ quan Nhằm tránh sự chồng chéo pháp luật về nhãn
hiệu ở các quốc gia, hiệp định TRIPS cũng đã quy định “Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” 13
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều các định nghĩa về nhãn hiệu nhưng có thể thấy các định nghĩa về nhãn hiệu đều có những nội dung cơ bản, làm nên những đặc điểm của nhãn hiệu bao gồm (i) dấu hiệu, có thể là dấu hiệu được thể hiện dưới dạng đồ họa hay dấu nhiệu dưới dạng âm thanh, mùi hương, mùi vị, Mỗi quốc gia sẽ có cách nhìn nhận về nhãn hiệu dưới dạng các dấu hiệu khác nhau Nhưng tại Việt Nam, Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 chưa có quy định cho phép xem xét và đăng
ký các dấu hiệu ngoài dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng nhãn hiệu; (ii) các dấu hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa các chủ thể kinh doanh khác trên thị trường
1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu
Chức năng của nhãn hiệu xuất phát từ mục đích ban đầu của chủ sở hữu nhãn hiệu khi gắn lên hàng hóa của mình Nhình chung, cũng giống như các đối tượng SHCN khác, nhãn hiệu hàng hóa sẽ có những chức năng nhất định
Một là, nhãn hiệu giúp xác định nguồn gốc của một hàng hóa cụ thể, phân biệt chúng với các hàng hóa trùng hay tương tự của các chủ thể cạnh tranh khác, giúp cho khách hàng không bị nhầm lẫn về nguồn góc của hàng hóa đó.14 Đây có thể được xem
là một chức năng quan trọng, thiết yếu và cơ bản nhất của nhãn hiệu Để thực hiện chức năng này thì chính bản thân nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt tức là nhãn
13 Arctical 15.1 TRIPS Agreement “Members may require, as a condition of registration, that signs be visually
perceptible”
14 In a 1970 article, K Breier noted that “a trademark serves to distinguish the goods of one
manufacturer from the goods of another The trademark should identify the origin of the goods with a particular company This right shall prevent others from causing confusion as to the origin of the goods and thereby taking unfair advantage of the goodwill embodied in the trademark Such protection is also in the interest of the general public that should be protected against misrepresentation” See F K Beier,
“Territoriality of Trademark Law and International Trade”, 1 IIC (1970), pp 48 ff (61-62)
Trang 21hiệu đó phải có tính độc đáo.15 Pháp luật của cả Việt Nam, Châu Âu và Hoa Kỳ phù hợp với pháp luật quốc tế đều dựa trên chức năng tính phân biệt để đưa ra khái niệm nhãn hiệu Tuy nhiên, tính phân biệt của nhãn hiệu lại được đánh giá dựa vào những dấu hiệu loại trừ khả năng phân biệt Mặc dù đều dựa trên tính phân biệt của nhãn hiệu để đưa ra khái niệm nhãn hiệu nhưng mỗi quốc gia lại có những cách định nghĩa không giống nhau.16 Ngoài ra, tại Thụy Sĩ, tòa án cũng đã nêu rõ chức năng này trong
vụ kiện của Hoffmann-La Roche và Centrafarm, qua đó cho rằng chức năng thiết yếu của nhãn hiệu là đảm bảo nhận dạng về nguồn gốc của sản phẩm được đánh dấu thương mại cho người tiêu dùng hoặc người dùng cuối cùng, bằng cách cho phép họ không có bất kỳ khả năng nhầm lẫn nào để phân biệt sản phẩm đó với các sản phẩm
có xuất xứ khác.17 Có thể hiểu, thông thường, khi mua và sử dụng bất kỳ hàng hóa nào, khách hàng nói chung và người tiêu dùng nói riêng đều có thói quen xem nhãn hiệu hàng hóa trước, xem đó có phải là hàng hóa mình hay sử dụng hay không Bởi
lẽ, với thói quen tiêu dùng, khi một hàng hóa đã được người tiêu dùng hài lòng và tin tưởng chất lượng, thì họ sẽ có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm đó trong tương lai dựa trên
sự nhận biết nhãn hiệu gắn trên hàng hóa, hiếm khi phải thay đổi sang hàng hóa với nhãn hiệu khác Điều này được hiểu rằng chủ thể sở hữu nhãn hiệu phải gắn một nhãn hiệu thể hiện được nguồn gốc của hàng hóa và nhãn hiệu đó phải có khả năng phân biệt với hàng hóa của chủ thể khác Từ đó, khách hàng có thể dễ dàng nhận biết, không bị nhầm lẫn và tiêu thụ sản phẩm, mang lại doanh thu cho chủ thể kinh doanh Bên cạnh đó, sự phân biệt còn góp phần cho chủ sở hữu hàng hóa ngoài việc có thể
15 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”, Bản
dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, tr.69
16 Đào Thị Diễm Hạnh (2010), “Xây dựng khái niệm nhãn hiệu trong Luật Sở hữu trí tuệ”, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, số 8(169)/2010, tr.59
17 ECJ 23 May 1978, Case 102/77, Hoffmann-La Roche/Centrafarm), pp 7, 14 “the essential function of the
trade-mark is to guarantee the identity of the origin of the trade-marked product to the consumer or ultimate user, by enabling him without any possibility of confusion to distinguish that product from products which have another origin.”
Trang 22đưa sản phẩm mà mình muốn kinh doanh đến người tiêu dùng, còn có thể hạn chế việc cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh tranh
Hai là, nhãn hiệu còn góp phần trong các chiến lược quảng cáo và tiếp thị của chủ thể kinh doanh Rõ ràng rằng, khi muốn đưa hàng hóa tiếp cận thì trường, trước hết chủ thể kinh doanh cần quảng bá sản phẩm của mình thông qua các kênh truyền thông, tiếp thị, Qua đó, nếu hàng hóa được người tiêu dùng cảm nhận đạt yêu cầu như họ mong muốn thì ngoài việc ấn tượng về chất lượng sản phẩm thì nhãn hiệu với những dấu hiệu riêng biệt với những màu sắc, hình dạng, ký tự, sẽ làm cho họ ghi nhớ lâu hơn, thậm chí có thể quảng cáo sản phẩm cho các chủ thể khác thông qua nhãn hiệu Do đó, nếu không có nhãn hiệu, việc quảng cáo và tiếp thị sản phẩm sẽ rất khó khăn, do cùng một loại hàng hóa, trên thị trường có rất nhiều chủ thể cùng kinh doanh, ngoài chất lượng thì cái dễ phân biệt và nhằm mục đích quảng bá đến người tiêu dùng đó là nhãn hiệu Ngoài ra, nhiều chủ thể đã lợi dụng chức năng quảng cáo này của chủ sở hữu nhãn hiệu để có nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh Bởi
lẽ, có nhiều trường hợp các nhà quảng cáo internet sử dụng các từ đã đăng ký nhãn hiệu của người khác làm từ khóa để kích hoạt quảng cáo trong một công cụ tìm kiếm như Google, theo một vụ kiện của Google France.18 Hành vi lợi dụng chức năng quảng bá của nhãn hiệu của chỉ sở hữu để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã xâm phạm đến lợi ích của chủ sở hữu
Ba là, sự phát triển mạnh mẽ của nhãn hiệu sẽ góp phần tạo động lực cho chủ
sở hữu nhãn hiệu duy trì và ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm Một khi nhãn hiệu hàng hóa đã chiếm một vị thế nhất định trên thị trường, người tiêu dùng sẽ có nhu cầu về chất lượng hàng hóa mang nhãn hiệu mà họ tin dùng ngày một cao hơn
Sự cải tiến hơn về chất lượng của hàng hóa mang nhãn hiệu uy tín dù có nâng cao giá thành sản phẩm, tuy nhiên người tiêu dùng sẽ tiêu thụ sản phẩm đó do sự nâng cao chất lượng Bên cạnh đó, uy tín cũng như giá trị của nhãn hiệu không chỉ thu hút khách hàng mà còn sẽ góp phần thu hút các nhà đầu tư vào việc sản xuất sản phẩm
18 CJEU 23 March 2010, Joined Cases C-236/08 to C-238/08, Google France, §§ 91 ff
Trang 23mà chủ sở hữu muốn kinh doanh, từ đó, tạo điều kiện để nâng cao uy tín và mở rộng thị trường tiêu thụ
1.1.3 Phân loại nhãn hiệu
Từ các quy định về khái niệm của nhãn hiệu, có thể thấy, có rất nhiều loại dấu hiệu có thể được xem là nhãn hiệu Việc phân loại nhãn hiệu có ý nghĩa rất quan trọng, trước hết, việc phân loại nhãn hiệu sẽ xác định được đặc trưng của nhãn hiệu Điều này sẽ góp phần tạo cảm nhận và ấn tượng cho khách hàng trong khi sử dụng hàng hóa thông qua các nhãn hiệu gắn trên hàng hóa, bởi lẽ những nhãn hiệu được thiết kế tỉ mỉ, khéo léo với màu sắc, hình ảnh, sẽ gây ấn tượng tốt hơn cho khách hàng trong tiềm thức Thông qua những đặc trưng đó, phân loại nhãn hiệu cũng góp phần thể hiện khả năng phân biệt với các loại đối tượng sở hữu công nghiệp khác như kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, Từ đó, chế độ pháp lý của từng loại nhãn hiệu được quy định ở mỗi quốc gia cũng khác nhau đặc biệt là trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu.19 Việc phân loại nhãn hiệu có thể dựa trên nhiều yếu
tố khác nhau, nhìn chung, dựa trên hai yếu tố là dấu hiệu được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu và tính chất, chức năng của nhãn hiệu
Thứ nhất, dựa vào các dấu hiệu được được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, nhãn
hiệu được chia làm ba loại: nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình và nhãn hiệu kết hợp.20
1.3.1.1 Nhãn hiệu chữ
Nhãn hiệu chữ được bảo hộ bao gồm các chữ cái, có thể kèm theo cả chữ số, từ, ngữ có nghĩa hoặc không có nghĩa, có thể là tên gọi, từ tự đặt, cụm từ, Nhãn hiệu chữ hầu hết được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và các quốc gia trên thế giới Hiện nay, có rất nhiều nhãn hiệu chữ phổ biến trên thị trường như Samsung, ASUS, Nokia, Dấu hiệu về từ ngữ thể hiện đầy đủ và chính xác những đặc tính mới mẻ và tối ưu của hàng hóa, rất có lợi thế trong việc quảng cáo Trên thế giới hiện nay có
19 Nguyễn Thị Quế Anh (2010), “Phân loại nhãn hiệu theo hình thức của nhãn hiệu”, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN, Luật học số 26/2010, tr 100-108
20 Nguyen Le Thanh Minh, “Law on the protection of trademarks – the actual situations and
recommendations”, Master Thesis, University of Economics Ho Chi Minh City, tr.16
Trang 24khoảng 80% nhãn hiệu sử dụng là nhãn hiệu chữ.21 Ngoài ra, khi đăng ký nhãn hiệu chữ, chủ sở hữu nhãn hiệu cũng có hai sự lựa chọn đó là đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chữ tiêu chuẩn hoặc bảo hộ nhãn hiệu chữ cách điệu
Theo đó, nhãn hiệu chữ tiêu chuẩn chỉ đơn thuần là được cấu tạo từ các chữ số hoặc chữ in với mầu trắng đen dưới dạng tiêu chuẩn Bảo hộ nhãn hiệu tiêu chuẩn là bảo hộ nội dung cốt lõi của nhãn hiệu bao gồm kết cấu các chữ cái của nhãn hiệu, phát âm cũng như ý nghĩa của nhãn hiệu đó Do vậy, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền
sử dụng khá rộng đối với nhãn hiệu tiêu chuẩn mà mình đã đăng ký, đó là quyền sử dụng nhãn hiệu trong các dạng chữ và màu sắc bất kỳ mà mình muốn chỉ cần là không xâm phạm đến quyền nhãn hiệu của một chủ sở hữu khác Tuy nhiên, với nhãn hiệu tiêu chuẩn, pháp luật chỉ bảo hộ nội dung nhãn hiệu, còn cách trình bày nhãn hiệu, màu sắc, kiểu chữ, sẽ không được pháp luật bảo hộ
Đối với nhãn hiệu chữ cách điệu, nhãn hiệu chữ cách điệu được cấu tạo từ các chữ cái, chữ số, từ ngữ, được cách điệu hoặc hình họa hóa với màu sắc theo ý muốn của chủ sở hữu nhãn hiệu Nhãn hiệu chữ cách điệu cũng giống như nhãn hiệu chữ tiêu chuẩn, tức là sẽ được bảo hộ về nội dung cốt lõi bao gồm kết cấu các chữ cái của nhãn hiệu, phát âm cũng như ý nghĩa của nhãn hiệu đó Ngoài ra, điều khác biệt so với nhãn hiệu tiêu chuẩn là nhãn hiệu cách điệu còn được bảo hộ thêm cách trình bày
có thể là kiểu chữ, cách thể hiện sáng tạo, nên sự bảo hộ nhãn hiệu sẽ được tăng cường hơn, tránh việc các chủ thể khác có ý định cạnh tranh không lành mạnh với việc làm nhãn hiệu tương đồng với các đặc điểm như màu sắc, kiểu chữ, Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu chữ cách điệu sẽ hẹp hơn nhãn hiệu chữ tiêu chuẩn do chỉ bảo hộ đúng như kiểu chữ, màu sắc, cách trình bày, đã được đăng ký mà không được sử dụng với một màu hay một kiểu chữ khác Vì vậy, tùy vào từng mục đích mà chủ sở hữu có thể đăng ký nhãn hiệu chữ theo hai loại như trên
1.1.3.2 Nhãn hiệu hình
21 A.P.Rabetx (2003), “Trademark protection in the Russian Federation – Status and prospects”, Press Law
Center, Saint Petersburg
Trang 25Nhãn hiệu hình bao gồm ảnh chụp, hình vẽ, biểu tượng và hình khối (hình không gian ba chiều) Nhãn hiệu hình sẽ tạo cho khách hàng sự ấn tượng với hàng hóa đó thông qua những hình ảnh, hình vẽ, biểu tượng hay hình khối sinh động với những màu sắc và cách trình bày đẹp mắt Nhãn hiệu hình sẽ được bắt gặp khá phổ biển ở hầu hết các quốc gia Hiện nay có nhiều chủ thể kinh doanh sử dụng nhãn hiệu hình cho hàng hóa của mình như Apple, Nike, Ekco United, các nhãn hiệu này ngày càng thu hút được người dùng không chỉ do chất lượng của hàng hóa mà còn do sự sáng tạo cũng như bắt mắt của thiết kế nhãn hiệu
1.1.3.3 Nhãn hiệu kết hợp
Nhãn hiệu kết hợp là sự kết hợp giữa từ ngữ và hình ảnh Thông qua các từ ngữ
và các hình ảnh với cách thể hiện trắng đen hay phối màu sắc, người dùng sẽ được thu hút nhiều hơn Nhãn hiệu kết hợp có thể bao gồm sự kết hợp của tên chủ thể kinh doanh và hình ảnh biểu trưng cho chủ thể đó được gắn trực tiếp lên loại hàng hóa được sản xuất hoặc kinh doanh Dựa vào nhãn hiệu kết hợp, người dùng không chỉ
có thể ghi nhớ được cả loại hàng hóa mà chủ sở hữu nhãn hiệu muốn kinh doanh mà còn nhớ cả tên chủ chủ sở hữu nhãn hiệu Hiện nay, hầu hết người dùng khi mua và
sử dụng hàng hóa thường chỉ nhớ mặt hàng đó mà không để ý đến chủ thể đã sản xuất hoặc kinh doanh sản phẩm đó Do vậy, nhãn hiệu kết hợp này sẽ có thể hài hòa giữa tên chủ thể sở hữu nhãn hiệu và hình tượng đặc trưng của hàng hóa đó Đó cũng là một trong các lý do mà hiện nay, có rất nhiều chủ thể kinh doanh đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo dạng nhãn hiệu kết hợp này như Honda, BMW, Channel,
Có thể thấy, sự phân loại nhãn hiệu theo dấu hiệu sẽ phản ánh được phạm vi nhãn hiệu được bảo hộ là rộng hay hẹp Tại Việt Nam, dấu hiệu được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được, còn những dấu hiệu không nhìn thấy được như mùi hương, mùi vị, âm thanh, sẽ không được bảo hộ tại Việt Nam Tuy nhiên, nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, các quốc gia thuộc khối EU thì cho phép bảo hộ
cả dấu hiệu không nhìn thấy được Điều này cũng một phần nào đó thể hiện sự phát triển kinh tế, bởi lẽ khi mở rộng phạm vi nhãn hiệu sẽ tạo cơ hội nhiều hơn cho các
Trang 26chủ thể kinh doanh đăng ký bảo hộ, đồng thời, các dấu hiệu không nhìn thấy được sẽ phải có một cơ chế để xác định cũng như quản chuyên biệt từng loại nhãn hiệu đó Tuy nhiên, mặc dù có đầy đủ các điều kiện để được xem là nhãn hiệu nhưng không phải bất kỳ một dấu hiệu chữ, hình hay kết hợp nào cũng được pháp luật bảo
hộ dưới dạng nhãn hiệu Theo Điều 73 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 thì các dấu hiệu không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu bao gồm:22
Một là, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;
Hai là, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức
đó cho phép;
Ba là, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;
Bốn là, dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;
Năm là, dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ
Các dấu hiệu này không được pháp luật bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu, bởi lẽ, tuy không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của một chủ thể kinh doanh khác nhưng lại trùng và tương tự với các biểu tượng của quốc gia, các tổ chức chính trị-xã hội, tên các anh hùng dân tộc, các dấu chứng nhận, kiểm tra bảo hành hay có tính chất lừa dối người tiêu dùng
22 Điều 73 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 27Thứ hai, dựa vào tính chất, chức năng của nhãn hiệu, có thể chia nhãn hiệu thành
nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nổi tiếng
1.1.3.4 Nhãn hiệu tập thể
Nhãn hiệu tập thể được quy định tại nhiều văn bản pháp luật của các quốc gia Tại Trung Quốc, Luật Nhãn hiệu Trung Quốc đã quy định nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu được đăng ký dưới danh nghĩa của một nhóm, hiệp hội hoặc bất kỳ tổ chức nào khác để các thành viên sử dụng trong kinh doanh để chỉ tư cách thành viên.23 Có thể thấy, nhãn hiệu tập thể được quy định tại Trung Quốc là nhãn hiệu được đăng ký và
sử dụng bởi một tổ chức tập thể và thành viên của tổ chức tập thể Chức năng của loại nhãn hiệu này là phân biệt nguồn gốc thương mại của sản phẩm mang nhãn hiệu của bản thân tổ chức tập thể Khi đó, tổ chức tập thể có tư cách như một tổ chức đơn lẻ đứng ra đăng ký nhãn hiệu Ngoài ra, các quy chế về sử dụng nhãn hiệu tập thể thường phải có trong đơn xin đăng ký nhãn hiệu tập thể và bất kỳ thay đổi nào của quy chế này phải được thông báo với Cơ quan nhãn hiệu hàng hóa Tại một số quốc gia như Đức, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ, đăng ký nhãn hiệu tập thể có thể bị hủy bỏ nếu nhãn hiệu đó được sử dụng trái với quy chế hoặc theo cách thức làm cho công chúng hiểu sai lệch hoặc gây nhầm lẫn Do đó, nhãn hiệu tập thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người dùng chống lại các hành vi lừa dối.24
Còn tại Việt Nam, theo khoản 17 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung
2009, 2019 thì “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.” 25 Nhãn hiệu tập thể có nét đặc trưng ở chỗ chủ sở hữu nhãn hiệu không phải là cá nhân mà là một tập thể Nhãn hiệu tập thể thường thuộc sở hữu của một nhóm doanh nghiệp, một hợp tác xã
23 Artical 3 Trademark Law of the People's Republic of China 2013 (amended 2019) “For purposes of this
Law, a collective trademark refers to one that is registered in the name of a group, association, or any other organization for use in business by its members to indicate membership.”
24 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”, Bản
dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, tr.67
25 Khoản 17 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 28hay một hiệp hội, theo đó các thành viên có thể sử dụng nhãn hiệu để tiếp thị cho sản phẩm của mình Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam thì nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi thành viên của một tổ chức tập thể với mục đích chỉ ra tư cách thành viên trong tổ chức đó Mặc dù tổ chức tập thể có thể đứng ra đại diện đăng ký nhãn hiệu loại này và thực thi các quyền của chủ sở hữu nhưng người trực tiếp có quyền gắn nhãn hiệu đó lên hàng hóa là các thành viên của tổ chức tập thể Do đó, các tổ chức này thường xây dựng một tập hợp các các tiêu chuẩn về sử dụng nhãn hiệu tập thể để đảm bảo chất lượng của hàng hóa cũng như uy tín của nhãn hiệu như về hình thức,
an toàn về sinh thực phẩm, Khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể, người nộp đơn cũng phải nộp một bản quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể cho Cục SHTT.26 Nếu các thành viên đáp ứng các tiêu chuẩn đó thì họ được quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể để quảng bá sản phẩm của họ, điều này dẫn đến sự liên kết hiệu quả trong việc quảng bá các sản phẩm của một tập thể
1.1.3.5 Nhãn hiệu chứng nhận
Nhãn hiệu chứng nhận cũng có nhiều điểm khác biệt so với nhãn hiệu tập thể Định nghĩa về nhãn hiệu chứng nhận của các quốc gia thường không giống nhau Tại Hoa Kỳ, không phải bất kỳ ai tuân thủ các tiêu chuẩn xác định đều có thể sử dụng nhãn hiệu chứng nhận, mà chỉ các doanh nghiệp đã được chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận cho phép mới được sử dụng nhãn hiệu đó.27 Ngoài ra, theo Luật Nhãn hiệu Trung Quốc 2013 thì nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu được kiểm soát bởi một tổ chức có khả năng thực hiện giám sát đối với một loại hàng hóa cụ thể và được sử dụng bởi một đơn vị không phải tổ chức đó hoặc bởi một cá nhân đối với hàng hóa của mình Nhãn hiệu chứng nhận được thiết kế để chứng nhận các dấu hiệu của nơi xuất xứ, nguyên liệu thô, phương thức sản xuất, chất lượng hoặc các đặc tính cụ thể
26 Mục i điểm b khoản 7.1 Điều 7 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007, sửa đổi, bổ sung bởi Thông
tư 05/2013/TT-BKHCN
27 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”, Bản
dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, tr.68
Trang 29khác của hàng hoá nói trên.28 Còn tại Nhật Bản, khác với Hoa Kỳ, pháp luật Nhật Bản không quy định nhãn hiệu chứng nhận như một loại nhãn hiệu riêng lẻ Ở Nhật Bản, các nhãn hiệu chứng nhận được điều chỉnh giống như nhãn hiệu thông thường
về khía cạnh xin bảo hộ, điều kiện và thủ tục đăng ký Vì được điều chỉnh như một nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu chứng nhận ở Nhật Bản phải được đăng ký bảo
hộ bởi chính một trong những doanh nghiệp có sử dụng nhãn hiệu chứng nhận đó.29Bên cạnh đó, theo khoản 18 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019 thì “Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.” 30 Có thể thấy rằng quy định về nhãn hiệu chứng nhận của Việt Nam và Trung Quốc có những nét tương đồng với nhau Qua
đó, nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng nhằm mục đích phân biệt các hàng hóa đã được chứng nhận với các hàng hóa cùng loại khác về nguồn gốc, nguyên liệu, phương pháp sản xuất hoặc chất lượng, Tuy nhiên, nhãn hiệu chứng nhận khác với nhãn hiệu tập thể ở chỗ nhãn hiệu chứng nhận không phân biệt nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn Do vậy, bất kỳ chủ thể nào nếu đáp ứng được các quy chuẩn
về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn, của hàng hóa thì đều được phép sử dụng nhãn hiệu đó với sản phẩm mà mình sản xuất hoặc kinh doanh Vì thế nên phạm
28 Artical 3 Trademark Law of the People's Republic of China 2013 “For purposes of this Law, a certification
trademark refers to one that is controlled by an organization which is capable of exercising supervision over
a particular kind of goods or services and that is used by a unit other than the organization or by an individual for its or his goods or services, and is designed to certify the indications of the place of origin, raw materials, mode of manufacture, quality, or other specified properties of the said goods or services.”
29 Vũ Thị Phương Lan (2018), “Khái niệm và các loại nhãn hiệu trong quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Nhật
Bản và Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 16(368)/2018, tr.62
30 Khoản 18 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 30vi sử dụng nhãn hiệu chứng nhận rất rộng, có thể bao gồm các thành viên trong một
tổ chức, hiệp hội, hoặc các thành viên nằm ngoài tổ chức, hiệp hội đó
Một đặc điểm nổi bật của nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu chứng nhận sẽ không được sử dụng bởi người chủ nhãn hiệu và không được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ của người chủ nhãn hiệu Các tổ chức đứng ra đăng ký nhãn hiệu này phải đưa ra một tiêu chuẩn nhất định, thường là tiêu chuẩn về chất lượng, đặc điểm về quy trình sản xuất hay sử dụng nhân công lao động Thông qua đó, các tổ chức này có trách nhiệm đảm bảo tất cả các doanh nghiệp hay cá nhân có mang nhãn phải tuân thủ đúng điều kiện được mang nhãn đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền Thông qua đó, tổ chức cho phép các chủ sở hữu sử dụng nhãn hiệu chứng nhận còn có chức năng kiểm soát chứng nhận chất lượng, đặc tính, độ an toàn, của hàng hóa đăng ký trước khi cho phép các chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu chứng nhận Ở Việt Nam, có một số nhãn hiệu chứng nhận như Chè Ba Vì, Sữa Ba Vì, Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao,
1.1.3.6 Nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu liên kết được pháp luật Nhật Bản đề cập đến với tên gọi “defensive trademark” hay còn gọi là “nhãn hiệu bảo vệ” tại Chương 7 của Luật Nhãn hiệu Nhật Bản 1959 sửa đổi, bổ sung 2019 Theo đó, pháp luật Nhật Bản quy định về nhãn hiệu bảo vệ như là một công cụ để bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng Chủ sở hữu một nhãn hiệu
có thể đăng ký các nhãn hiệu bảo vệ giống hệt với nhãn hiệu đã đăng ký của mình khi nhãn hiệu đã đăng ký trở nên nổi tiếng đối với người tiêu dùng và vì thế người khác không thể sử dụng nhãn tương tự cho các hàng hóa, dịch vụ không cùng loại và qua đó gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nhãn hiệu đã đăng ký.31
31 Artical 64 Trademark Act of Japan 1959 (adamed 2019) “Where a registered trademark pertaining to goods
is well known among consumers as that indicating the designated goods in connection with the business of a holder of trademark right, the holder of trademark right may, where the use by another person of the registered trademark in connection with goods other than the designated goods pertaining to the registered trademark or goods similar thereto or in connection with services other than those similar to the designated goods is likely
to cause confusion between the said other person's goods or services and the designated goods pertaining to
Trang 31Ngoài ra, theo khoản 19 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
“Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương
tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau.” Nhãn hiệu liên kết có đặc trưng về chủ thể bởi việc do cùng một chủ thể
đăng ký nhãn hiệu với với nhiều loại hàng hóa Các nhãn hiệu liên kết phải có dấu hiệu trùng hoặc tương tự nhau và các nhãn hiệu này phải có liên quan với nhau về mẫu nhãn hiệu cũng như các nhóm ngành sản phẩm cung cấp ra thị trường Theo định nghĩa này, có hai loại nhãn hiệu liên kết Loại thứ nhất là nhãn hiệu liên kết bao gồm một loạt các nhãn hiệu tương tự nhau được một chủ sở hữu đăng ký dùng cho các hàng hóa, dịch vụ cùng loại hay tương tự nhau (ví dụ nhãn hiệu LIOA của công ty Nhật Linh được coi là nhãn hiệu chính và để bảo vệ nhãn hiệu đó công ty đã đăng ký bảo hộ cho nhiều nhãn hiệu tương tự như LEEOA, LIWA, LYWA, LYOA.32 Ngoài
ra, ở Việt Nam còn có các nhãn hiệu liên kết như Wave, Wave S, Wave RS, là các nhãn hiệu cho dòng sản phẩm của Honda về xe máy Wave; hay nhãn hiệu Vinmart, Vinhome, Vinschool, Vincom, Vinhouse, do Tập đoàn Vingroup là chủ sở hữu Loại thứ hai là nhãn hiệu liên kết bao gồm các nhãn hiệu giống hệt nhau nhưng đăng
ký cho nhiều sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau, ví dụ nhãn hiệu SONY có thể được đăng ký cho máy chơi nhạc, tai nghe hoặc điện thoại di động Mục đích của loại nhãn hiệu liên kết này là cho phép chủ nhãn hiệu có thể độc quyền
sử dụng một loại nhãn hiệu mà không sợ bị sao chép hay bắt chước của người khác.33
Có thể thấy nhãn hiệu liên kết ngày càng được các chủ thể sử dụng, việc đăng
ký nhãn hiệu liên kết sẽ có nhiều lợi ích cho chủ thể kinh doanh nhiều loại hàng hóa Khi đó, người dùng sẽ dễ dạng nhận ra chủ sở hữu các loại hàng hóa thông qua sự liên kết về nhãn hiệu, đồng thời, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền độc quyền sử dụng
his/her own business, obtain a defensive mark registration for the mark identical with the registered trademark
in connection with the goods or services for which the likelihood of confusion exists.”
32 Viện Nghiên cứu và đào tạo về quản lý, “99 câu hỏi về nhãn Hàng hóa và NHHH”, NXB Lao động 2001,
tr 27
33 Vũ Thị Phương Lan (2018), “Khái niệm và các loại nhãn hiệu trong quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Nhật
Bản và Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 16(368)/2018
Trang 32dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa và ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh đăng ký những nhãn hiệu tương tự với nhãn hiệu của mình
1.1.3.6 Nhãn hiệu nổi tiếng
Nhãn hiệu nổi tiếng được coi như là “chứng chỉ” ghi nhận sự thành công của nhãn hiệu trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai Thậm chí theo một tài liệu nghiên cứu, trên thế giới có những nhãn hiệu nổi tiếng đến mức chúng đã in đậm dấu ấn của mình vào trong trí nhớ của người tiêu dung, ví dụ trường hợp của nhãn hiệu Coca Cola.34 Theo quy định của pháp luật Hoa Kỳ, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được tiến hành khi có các hành vi bị xem là sự bắt chước không hợp pháp, chỉ dẫn sai nguồn gốc thương mại dẫn đến làm giảm giá trị của một nhãn hiệu nào đó.35 Đạo luật Lanham của Hoa Kỳ cũng nêu ra các tiêu chí để đánh giá một nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng, bao gồm các yếu tố: (i) Thời hạn, phạm vi và phạm vi địa lý của việc quảng cáo và phổ biến nhãn hiệu, cho dù được chủ sở hữu hoặc các bên thứ ba quảng cáo hoặc công bố rộng rãi; (ii) Số lượng, khối lượng và phạm vi địa lý của việc bán hàng hóa được cung cấp dưới nhãn hiệu; (iii) Mức độ thừa nhận thực tế của nhãn hiệu (iv) Nhãn hiệu đó đã được đăng ký theo các luật có liên quan của Hoa Kỳ hay chưa.36
34 Lê Xuân Lộc, Mai Duy Linh (2013), “Nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật và thực tiễn”, Tạp chí Khoa học
pháp lý Việt Nam, số 06(79)/2013, tr.60
35 Artical 43.c.1 (U.S.C 1125) Lanham Act 1946 “Subject to the principles of equity, the owner of a famous
mark that is distinctive, inherently or through acquired distinctiveness, shall be entitled to an injunction against another person who, at any time after the owner's mark has become famous, commences use of a mark or trade name in commerce that is likely to cause dilution by blurring or dilution by tarnishment of the famous mark, regardless of the presence or absence of actual or likely confusion, of competition, or of actual economic injury.”
36 Artical 43.c.2.A (U.S.C 1125) Lanham Act 1946 “In determining whether a mark possesses the requisite
degree of recognition, the court may consider all relevant factors, including the following:(i) The duration, extent, and geographic reach of advertising and publicity of the mark, whether advertised or publicized by the owner or third parties (ii) The amount, volume, and geographic extent of sales of goods or services offered under the mark (iii) The extent of actual recognition of the mark (iv) Whether the mark was registered under the Act of March 3, 1881, or the Act of February 20, 1905, or on the principal register.”
Trang 33Đối với Trung Quốc, một nhãn hiệu nổi tiếng sẽ được công nhận là một sự thật cần được xác minh để giải quyết một vụ việc liên quan đến nhãn hiệu theo yêu cầu của bên liên quan Pháp luật cũng đưa ra những yếu tố sẽ được xem xét để công nhận một nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm (i) mức độ công nhận của nhãn hiệu đối với công chúng có liên quan; (ii) thời hạn mà nhãn hiệu đã được sử dụng; (iii) thời hạn, phạm
vi và phạm vi địa lý của tất cả các hoạt động công khai được thực hiện đối với nhãn hiệu; (iv) hồ sơ bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng được cung cấp cho nhãn hiệu đó và (v) Các yếu tố khác làm cho nhãn hiệu trở nên nổi tiếng.37
Bên cạnh đó, theo khoản 20 Điều 4 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009,
2019 “Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam.” Nhãn hiệu nổi tiếng có giá trị rất lớn do được hình thành
trên trí tuệ, vật chất và những nỗ lực kinh doanh của chủ sở hữu nhãn hiệu Ở Việt Nam có nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Trung Nguyên cho sản phẩm và dịch vụ bán
cà phê; Biti’s cho giày dép; Sữa tươi cho Vinamilk; Vietnam Airlines cho dịch vụ vận chuyển hàng không, Bên cạnh đó, ngoài việc nổi tiếng ở trong lãnh thổ quốc gia thì có những nhãn hiệu được coi là nổi tiếng toàn cầu có thể kể đến như nhãn hiệu của Apple, Amazon, CocaCola, NOKIA, Google, Microsof, Để xác định được thế nào là nhãn hiệu nổi tiếng, pháp luật Việt Nam cũng đã đề cập đến các tiêu chí để đánh giá một nhãn hiệu là nhãn hiệu nổi tiếng bao gồm: (i) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; (ii) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hóa, dịch
vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; (iii) Doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượng hàng hóa đã được bán ra, lượng dịch vụ
37 Artical 14 Trademark Law of the People's Republic of China 2013 (as amended 2019) “A well-known
trademark shall be recognized as a fact that needs to be ascertained in dealing with a trademark-related case upon request by the party concerned The following factors shall be taken into consideration in the recognition
of a well-known trademark: (1) the recognition degree of the trademark among the relevant public; (2) the duration in which the trademark has been in use; (3) the duration, extent and geographical scope of all publicity operations carried out for the trademark; (4) the records of protection of a well-known trademark provided for the trademark and (5) Other factors making the trademark well-known.”
Trang 34đã được cung cấp; (iv) Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu; (v) Uy tín rộng rãi của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; (vi) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu; (vii) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng; (viii) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãn hiệu.38
Có thể thấy mỗi quốc gia sẽ có những quy định khác nhau để xác định một nhãn hiệu có được xem là nhãn hiệu nổi tiếng hay không Bởi lẽ nhãn hiệu nổi tiếng rất có giá trị, vì mức độ phổ biến rất rộng rãi đến người dùng Vì vậy, có một số quốc gia còn phân biệt nhãn hiệu nổi tiếng thành nhãn hiệu nổi tiếng (well – known marks) là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi trong phạm vi quốc gia, giống như trong Luật SHTT của Việt Nam quy định và nhãn hiệu rất nổi tiếng (famous marks) là nhãn hiệu được biết đến rộng rãi trên thị trường quốc tế, mang tính toàn cầu Do tính giá trị cao nên nhãn hiệu nổi tiếng không bảo hộ theo cơ chế thông thường mà sẽ được bảo hộ theo
cơ chế riêng
1.1.4 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu
Quyền đối với nhãn hiệu là một trong các quyền SHTT, bảo hộ quyền đối với nhãn hiệu nhằm bảo vệ các chủ sở hữu nhãn hiệu đã được bảo hộ tránh khỏi các hành
vi xâm phạm đến quyền nhãn hiệu của mình Tuy nhiên, để một nhãn hiệu được pháp luật SHTT bảo hộ, phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể Tùy vào mỗi quốc gia sẽ có các chế định pháp luật khác nhau về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu Theo Luật Nhãn hiệu của Trung Quốc thì điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào, bao gồm
từ ngữ, đồ thị, chữ cái, số, ký hiệu ba chiều, sự kết hợp màu sắc, âm thanh hoặc bất
kỳ sự kết hợp nào của chúng, có thể được áp dụng để phân biệt hàng hóa của một chủ thể đăng ký nhãn hiệu với hàng hóa của những chủ thế khác.39
38 Điều 75 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
39 Artical Trademark Law of the People's Republic of China 2013 (as amended 2019) “Any signs, including
words, graphs, letters, numbers, three-dimensional symbols, color combinations, sound or any combination thereof, that are capable of distinguishing the goods of a natural person, legal person or other organization from those of others may be applied for registration as trademarks.”
Trang 35Bên cạnh đó, tại Việt Nam, để một nhãn hiệu được bảo hộ, phải đủ các điều kiện bao gồm: (i) dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc; (ii) các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.40 Ở Việt Nam, Luật SHTT
2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019 chưa có quy định cho phép xem xét và đăng ký các dấu hiệu ngoài dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng nhãn hiệu Do đó, dấu hiệu được xem là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được
Tại Hoa Kỳ, theo pháp luật về SHTT, ngoài dấu hiệu được nhìn thấy thông qua thị giác, các dấu hiệu khác cũng có khả năng được bảo hộ nếu dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác Nổi bật là dấu hiệu về âm thanh, được nắm bắt thông qua thính giác, những âm thanh này sẽ được thu vào băng cát-xét và nộp cho cơ quan sáng chế và cơ quan nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ hoặc dấu hiệu mùi hương được cảm nhận thông qua khướu giác.41 Hoa Kỳ cũng là nước đầu tiên công nhận việc đăng ký nhãn hiệu mùi vị - mùi thơm tươi mát của hoa Plumeria dùng cho chỉ may và thêu ren – TTAB (1990) Trong quyết định này 11 tháng 2 năm 1999, Phòng giải quyết khiếu nại của
cơ quan Hài hòa hóa thị trường nội địa (Nhãn hiệu hàng hóa và Kiểu dáng công nghiệp) của Cộng đồng Châu Âu đã cho phép đăng ký nhãn hiệu mùi “mùi cỏ tươi mới cắt” cho bóng tennis (R/156/1998-2).42
Do vậy, có thể thấy rằng để một dấu hiệu được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu thì cần phải thỏa mãn hai điều kiện đó là điều kiện về dấu hiệu và điều kiện về sự phân biệt Tùy mỗi quốc gia sẽ có những quy định về các dấu hiệu được xem là nhãn hiệu,
có thể là dấu hiệu nhìn thấy được, dấu hiệu âm thanh, mùi hương, Nhưng một điểm
40 Điều 72 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
41 Vũ Thị Hà (2014), “Bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận ở Việt Nam theo luật sở hữu trí tuệ năm 2005”, Luận
văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội
42 Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, “Cẩm nang Sở hữu trí tuệ: Chính sách, pháp luật và áp dụng”, Bản
dịch của Cục Sở hữu trí tuệ, tr.69
Trang 36nổi bật là điều kiện về khả năng phân biệt của nhãn hiệu luôn được quy định trong luật của hầu hết các quốc gia Bởi lẽ, tính phân biệt đóng một vai trò quan trọng trong
sự hình thành và công nhận nhãn hiệu, xuất phát từ mục đích ban đầu của chủ sở hữu nhãn hiệu Các hàng hóa của các chủ thể tuy rằng có thể có tên gọi và hình dáng giống nhau, nhưng chất lượng, mùi vị, nguyên liệu làm ra có thể khác nhau, và đó cũng là
lý do chủ thể kinh doanh muốn phân biệt hàng hóa của mình thông qua nhãn hiệu Bên cạnh đó, khả năng phân biệt của nhãn hiệu còn giúp hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh như giả mạo hàng hóa, gây mất uy tín của chủ thể bị giả mạo, từ
đó, có thể bảo vệ được quyền lợi của chủ sở hữu cũng như người dùng sử dụng hàng hóa
1.1.5 Nội dung quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa
1.1.5.1 Quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa
Quyền SHCN đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.43 Đo đó, để một chủ thể có quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thì chủ thể phải tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu theo quy định của Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, được công nhận và cấp văn bằng bảo hộ Khi đó, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có các quyền đối với nhãn hiệu của mình.44
1.1.5.1.1 Quyền sử dụng và cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu
Chủ sở hữu nhãn hiệu được bảo hộ có quyền sử dụng nhãn hiệu qua việc thực hiện các hành vi sau đây:
Một là, gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện
kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh Đây
là hành vi phổ biến nhất trong quyền sử dụng nhãn hiệu Bởi lẽ, mục đích chính khi
43 Điểm a khoản 3 Điều 6 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
44 Điều 123 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 37chủ thể kinh doanh muốn hình thành và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là muốn gắn nhãn hiệu lên hàng hóa và các phương tiện khác để cho người dùng có thể phân biệt được hàng hóa của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa của chủ thể kinh doanh khác
Hai là, lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang
nhãn hiệu được bảo hộ Sau khi gắn nhãn hiệu lên hàng hóa, việc lưu thông hàng hóa
ra thị trường tiêu thụ đóng vai trò quan trọng trong việc thu lợi nhuận của chủ thể kinh doanh Việc tàng trữ, lưu thông, quảng cáo, chào bán là một phương tiện để khách hàng có thể tiếp cận được với hàng hóa, một khi sản phẩm được khách hàng tin tưởng, khách hàng sẽ thông quan nhãn hiệu gắn trên hàng hóa để tìm mua hàng hóa tại các siêu thị hay giới thiệu hàng hóa cho người khác tiếp cận
Ba là, nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ Có rất nhiều chủ sở
hữu nhãn hiệu muốn mở rộng việc kinh doanh của mình bằng việc thuê gia công hàng hóa mang nhãn hiệu của mình ở nước ngoài Do đó, với vai trò là chủ sở hữu nhãn hiệu, sau khi kết thúc quá trình thi công, chủ sở hữu có thể nhập khẩu hàng hóa của mình về tiêu thụ trên thị trường nội địa Bên cạnh đó, khi chủ thể là chủ sở hữu với vai trò là bên phân phối hàng hóa mang nhãn hiệu của một chủ thể tại quốc gia khác
mà nhãn hiệu đó chưa được đăng ký bảo hộ tại quốc gia của bên phân phối, chủ thể
đó có quyền đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại quốc gia mình và có quyền nhập khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu đó từ nước ngoài mà không bị xảy ra các vấn đề tại hải quan
1.1.1.5.2 Quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu
Chủ sở hữu nhãn hiệu và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng nhãn hiệu
có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu nếu việc sử dụng đó không thuộc trường hợp lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài một cách hợp pháp, trừ sản phẩm không phải do chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường nước ngoài.45 Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền sử dụng nhãn hiệu mà không cần phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu Tuy nhiên, khi có tranh chấp phát sinh, chủ sở
45 Điểm b khoản 2 Điều 125 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 38hữu nhãn hiệu sẽ không có căn cứ thuyết phục là văn bằng bảo hộ để bảo vệ quyền nhãn hiệu của mình Do đó, khi được cấp văn bằng bảo hộ, có nghĩa là chủ sở hữu nhãn hiệu ngoài quyền sử dụng thì còn có quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình Tuy nhiên mục đích chính của chủ sở hữu hàng hóa là đưa sản phẩm của mình ra thị trường lưu thông, do vậy không thể cấm trường hợp chủ thể khác lưu thông, nhập khẩu, khai thác công dụng của sản phẩm được đưa ra thị trường, kể cả thị trường nước ngoài
1.1.1.5.3 Quyền định đoạt đối với nhãn hiệu
Định đoạt là một trong các quyền của chủ sở hữu Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền định đoạt nhãn hiệu thông qua các hành vi:
Một là, chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu Chuyển giao quyền đối với nhãn
hiệu được quy định tại chương X của Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, bao gồm chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu và chuyển quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Theo đó, chuyển chượng quyền đối với nhãn hiệu tức là chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ chuyển giao quyền sở hữu của mình cho tổ chức, các nhân khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu.46 Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng này chỉ phát sinh hiệu lực khi đã được cơ quan đăng kí nhãn hiệu ghi nhận.47Đối với nhãn hiệu có đồng sở hữu, việc chuyển nhượng nhãn hiệu phải được tất cả các chủ sở hữu nhãn hiệu đồng ý Kể từ thời điểm hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu được ghi nhận thì bên được chuyển nhượng có đầy đủ và toàn bộ các quyền của chủ sở hữu đối với đối tượng SHCN Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu cũng có các hạn chế như quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu và quyền đối với nhãn hiệu chỉ được chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký nhãn hiệu đó.48
46 Điều 138 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
47 Khoản 1 Điều 148 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
48 Khoản 4,5 Điều 139 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 39Bên cạnh đó, đối với việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu của mình trong phạm vi quyền
sử dụng của mình đã thỏa thuận trong hợp đồng thông qua hợp đồng chuyển quyền
sử dụng nhãn hiệu.49 Việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cũng có những hạn chế nhất định Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó.50 Điều này có thể hiểu do xuất phát từ lợi ích của tập thể, có thể là hợp tác xã, nhóm doanh nghiệp, nếu quyền sử dụng nhãn hiệu được chuyển giao cho chủ thể khác không phải là thành viên của tập thể đó thì có thể gây ra nhiều sự bất lợi cho tập thể như sự cạnh tranh về hàng hóa mang nhãn hiệu Ngoài ra, bên được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu có nghĩa vụ ghi chỉ dẫn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa về việc hàng hóa đó được sản xuất theo hợp đồng sử dụng nhãn hiệu.51 Điều này nhằm tạo ra sự phân biệt giữa chủ thể tạo ra nhãn hiệu, tức sở hữu nhãn hiệu và chủ thể nhận chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đó
Hai là, quyền từ bỏ quyền sở hữu nhãn hiệu Cũng giống như các quyền sở hữu
khác, một khi chủ sở hữu nhãn hiệu không còn muốn sở hữu nhãn hiệu do nhiều lý
do khác nhau, thì chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền từ bỏ quyền sở hữu này của mình bằng việc yêu cầu chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tại cơ quan có thẩm quyền, khi đó nhãn hiệu đó sẽ không còn được bảo hộ trên thực tế Đối với nhãn hiệu
có nhiều chủ sở hữu, quyền sở hữu nhãn hiệu sẽ không bị mất quyền bảo hộ nếu như một hoặc một số chủ sở hữu đó từ bỏ phần quyền sở hữu nhãn hiệu của mình nhưng vẫn còn một hoặc một số chủ sở hữu khác tiếp tục sở hữu nhãn hiệu đó
Ba là, quyền để lại quyền sở hữu nhãn hiệu thừa kế cho người khác Quyền sở
hữu nhãn hiệu là quyền tài sản nên cũng được coi như là loại tài sản trong khối tài sản thuộc sở hữu của các chủ thể Vì vậy, một khi chủ sở hữu chết, nếu quyền sở hữu nhãn hiệu vẫn đang còn thời hạn bảo hộ thì giống như các loại tài sản khác, tất nhiên
49 Điều 141 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
50 Khoản 2 Điều 142 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
51 Khoản 4 Điều 142 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
Trang 40nó cũng được để lại thừa kế cho những người còn sống khác thông qua di chúc hoặc theo pháp luật
1.1.5.2 Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu
Khi chủ sở hữu nhãn hiệu được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu thì sẽ có quyền sử dụng nhãn hiệu này và các quyền đã được phân tích ở trên Việc bất cứ một chủ thể nào khác khi sử dụng nhãn hiệu này mà không được cho phép của chủ sở hữu sẽ vi phạm quyền nhãn hiệu của chủ sở hữu đó Căn cứ vào dấu hiệu và hàng hóa, các hành
vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu bao gồm:52
Thứ nhất, sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa trùng
với hàng hóa thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó Để hành vi sử dụng nhãn hiệu được xem là hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu theo khoản này, cần phải xem xét hai yếu tố là dấu hiệu và hàng hóa được chủ thể khác sử dụng Đối với dấu hiệu, dấu hiệu được sử dụng ở đây phải là dấu hiệu trùng Dấu hiệu trùng được hiểu tương tự như trên, một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc)53, vì vậy, những dấu hiệu không giống y hệt sẽ không thể áp dụng khoản này Với hàng hóa, dấu hiệu sử dụng được gắn lên hàng hóa phải cùng loại với hàng hóa đã đăng ký kèm theo nhãn hiệu, nghĩa
là hai loại hàng hóa mang ra so sánh phải cùng một lĩnh vực ví dụ như cùng lĩnh vực sữa tắm, lĩnh vực nước hoa, Do đó, nếu hai nhãn hiệu cho dù trùng nhau nhưng được gắn trên hai loại hàng hóa khác nhau thì không xem là hành vi vi phạm theo khoản này
Ví dụ: Cùng một nhãn hiệu ABC nhưng một chủ thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu này cho bánh quy của mình, còn một chủ thể khác lại sử dụng nhãn hiệu ABC gắn trên hàng hóa là bột giặt của mình, như đã phân tích, hành vi này không được xem là
52 Khoản 1 Điều 129 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
53 Khoản 3 Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 119/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hưỡng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ